Có phải rằng Nhật Bản sẽđánh úp vào Trung Quốc hệt như một trận Trân Châu Cảng thời Thế Chiến 2?
Hay, nếu không đánh úp thực tiễn bằng Hải, Lục, Không, Quân, có thể sẽ có những binh đoàn tin tặc ẩn danh đánh sập các lưới điện và hệ thống truyền thông Trung Quốc khi có dấu hiệu nhà nước Bắc Kinh dự tính vọng động ở Biển Đông (của VN) hay ở Biển Hoa Đông (của Nhật)?
Chắc chắn rằng tất cả các Bộ Quốc Phòng đều phải có sẵn vài phương án để sẵn trong túi, hễ khi hữu sự là dốc túi ra đánh cạn láng liền.
Nhưng sẽ tới mức đánh úp Bắc Kinh cụ thể không? Có thể là không như người ta nghĩ, vì những cuộc chiến ở tương lai mang hình thái tàng hình nhiều hơn là xe tăng phi pháo như cũ.
Ngoại Trưởng Philippines là Albert del Rosario cảnh báo rằng những hành động “đầy hăm dọa” của Trung Quốc tại Biển Đông (tên gọi theo VN, Philippines gọi là Biển Tây Phi, TQ gọi là Nam Hải) đang đưa ra cơ nguy bất ổn tại Châu Á.
Ông nói như thế sau buổi họp ở Manila với Ngoại Trưởng Nhật Fumio Kishida trong khi 2 nước cam kết kết thân an ninh và các quan hệ khác đểđối phó TQ.
Cả Nhật và Philippines đều dính vào tranh chấp biển đảo với TQ từ nhiều thập niên, nhưng chỉ gần đây TQ mới hung bạo đưa tàu chiến vào biển Nhật Bản và biển Philippines.
Trong khi đó, chơi màn “bốc lửa bỏ tay người,” một học giả Bắc Kinh là La Viện, cũng là một Thiếu Tướng quân đội, chuyên phân tích tình hình biển Hoa Đông và Biển Đông -- cảnh báo TQ đừng có lơ là vì Trung Quốc phải đề phòng bị "nước khác" đánh úp trong năm 2013.
Báo Giáo Dục VN viết:
“Bài báo "La Viện: Trung Quốc cần phải đề phòng bị nước khác đánh úp, năm nay sẽ có khả năng khai chiến" đăng ngày 8/1 trên tờ Herald, một phiên bản của Tân Hoa Xãđược truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa lại...”
Trong khi đó, báo SGTT từ Việt Nam ghi nhận rằng:
“Tại họp báo thường kỳ của bộ Ngoại giao ngày 10.1, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Đài Loan tuyên bố tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn bộ Ngoại giao, ông Lương Thanh Nghị khẳng định, việc này là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông...”
Mặt khác, báo Sống Mới từ Hà nôi cho biết, rằng vào tháng 5 tới Trung Quốc sẽ tung tàu ngầm “dân sự” vào Biển Đông.
Bản tin nói, tờ Hoàn cầu của Trung Quốc đưa tin trong tháng 5 và tháng 6 tới đây tàu ngầm Giao Long sẽ hoạt động thử nghiệm tại Biển Đông.
Bản tin viết:
“Đây là loại tàu ngầm được Trung Quốc tuyên bố phát triển với mục đích nghiên cứu khoa học và chạy đua với kỷ lục lặn sâu với tàu ngầm của Mỹ. Tuy nhiên, không loại trừ tàu ngầm “dân sự” này còn thực hiện cả nhiệm vụ trinh sát.”
Bản tin VOA cho biết, Bắc Kinh sẽ tiếp tục các cuộc tuần tra thường lệ tại các vùng biển mà Trung Quốc nhận chủ quyền trên Biển Đông và ngoài khơi quần đảo Điếu NgưĐài.
Truyền thông Trung Quốc ngày 10/1 trích tuyên bố của Cục Hải dương Quốc gia rằng Bắc Kinh sẽ tiếp tục chống lại bất kỳ sự xâm phạm nào từ Việt Nam, Philippines, và Nhật Bản đối với chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này.
Bản tin khác của VOA cũng ghi nhận rằng Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga vào hôm Thứ Năm, 10/01/2013 đã xác nhận thông tin, theo đó tân Thủ tướng Shinzo Abe sẽ dành chuyến viếng thăm nước ngoài đầu tiên từ khi ông tái nhậm chức, cho ba nước ASEAN là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Vòng công du kéo dài từ ngày 16 đến 19/01, trùng hợp với dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệđối tác Nhật Bản – ASEAN.
Theo ông Yoshihide Suga, mục tiêu chuyến công du của Thủ tướng Nhật là nhằm «củng cố quan hệ hợp tác với các nước ASEAN để bảo đảm hòa bình và thịnh vượng cho khu vực, trong một bối cảnh chiến lược đang thay đổi».
Bản tin VOA ghi rằng, theo bà Mireya Solis, chuyên gia nghiên cứu cao cấp về Nhật Bản tại Viện Brookings, điều quan trọng làông Abe đã quyết định không đến thăm Trung Quốc, vìưu tiên của Tokyo vào lúc này là vươn đến những nước ủng hộ mình, cũng như các đồng minh của mình. Trong tình hình đó, «khu vực Đông Nam Áđang vươn lên thành một đối tác rất quan trọng cho Nhật Bản vào lúc quan hệ Tokyo-Bắc Kinh đang trong cơn sóng gió».
Mục tiêu sâu xa là như vậy, nhưng theo Chánh văn phòng Nội các Nhật vào hôm nay, chuyến thăm Đông Nam Á của tân Thủ tướng Abe hoàn toàn không phải làđể thành lập một thế đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.
VOA nói, vòng công du ba nước lớn trong ASEAN của Thủ tướng Abe được cho là dấu hiệu chứng tỏ mối quan tâm chiến lược của Tokyo đến khu vực Đông Nam Á. Chiến lược đó còn thể hiện qua việc tân Ngoại trưởng Nhật Bản cũng chọn ba nước ASEAN (Philippines, Brunei,
Singapore) để thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên của mình.
Thực tế, nếu vòng công du này vẽ ra trên giấy, đó chính là vòng kim cô vây quanh TQ.
Có thể làm gì với chú khỉ Tề Thiên Bắc Kinh không?
Có câu thần chú nào để xiết vòng kim cô quanh đầu Tề Thiên Bắc Kinh không?
Không ai biết rõ. Nhưng đểđánh úp Bắc Kinh, hẳn là chuyện rất xa vậy.
Blogger Lê Anh Hùng bị
CA bắt cóc đưa vào trại tâm thần
Anh Lê Anh Hùng, người cần biểu ngữ có nội dung
'Đoàn kết dân tộc là sức mạnh', (bên phải) trong cuộc biểu tình chống TQ
tại Hà Nội (Ảnh: Facebook Nguyễn Lân Thắng)
CTV
Danlambao - Bạn bè của anh Lê Anh
Hùng loan tin khẩn báo về việc blogger này bị CA lén lút bắt cóc đưa vào trại
tâm thần Hà Nội. Anh Lê Anh Hùng (sinh năm 1973) là một blogger được biết đến
với nhiều tác phẩm dịch và các bài viết nhận định về tình hình chính trị tại
Việt Nam. Ngoài ra anh Hùng đã phổ biến gần 70 lá đơn tố cáo những nhân vật
chóp bu trong đảng Cộng Sản.
Tin từ blog của chị Bùi
Thị Minh Hằng cho biết: Lê Anh Hùng bị 6 viên an ninh, mật vụ bắt vào lúc
10 giờ 15' sáng ngày 24/1/2013, ngay tại công ty anh đang làm việc thuộc Hưng
Yên.
Những viên mật vụ đi trên 1 chiếc xe Inova yêu
cầu giám đốc cty cho gặp anh Hùng với lý do "Liên quan đến giấy tạm trú,
tạm vắng". Sau đó, những người này áp tải anh Lê Anh Hùng đi mất.
Có tin nói rằng hiện nay anh Lê Anh Hùng đang bị
đưa về giam giữ tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội (Ứng Hòa, Hà Nội).
Đây là nơi chuyên giam giữ những người mắc bệnh tâm thần.
Là người từng tiếp xúc với Lê Anh Hùng, chị Bùi
Thị Minh Hằng khẳng định trên blog:
Thật là một điều man rợ và phi lý. Lê Anh Hùng
không hề có bất cứ biểu hiện gì về tâm thần nếu những ai đã gặp mặt, tiếp xúc
với Hùng. Càng không thể là "tâm thần" khi nhìn nhận những việc làm
và cuộc sống hàng ngày của Lê Anh Hùng. Trong khi đó ai cũng biết Lê Anh Hùng
đã kiên trì theo đuổi vụ việc và nộp đơn tố cáo nhiều lãnh đạo có tên tuổi tới 70
lần nhưng chưa nơi nào lên tiếng ĐÚNG- SAI
Vậy việc bắt Lê Anh Hùng đưa vào trại "tâm
thần" rõ ràng là một âm mưu GIẾT NGƯỜI bịt khẩu.
Chúng ta, tất cả những con người có lương tri
không thể thờ ơ trước tội ác man rợ và tàn độc của nhà cầm quyền này hơn được
nữa. Chúng ta cần lên tiếng để bảo vệ một tiếng nói đấu tranh.
Chúng ta cần lên tiếng ngay lập tức cho cộng
đồng cũng như các tổ chức Quốc tế được biết về trường hợp này.
Ngay lập tức chúng ta hãy gọi điện, gửi email
cho các đại sứ quán và các lãnh sự nước ngoài được biết để họ chứng kiến và
theo dõi việc làm bất chính của công an Việt Nam.
HÃY CỨU NGƯỜI - HÃY CỨU LẤY DÂN TỘC NÀY.
Kính mong độc giả góp tiếng nói cứu Lê Anh Hùng
bằng cách gọi đến nới đây yêu cầu bác sĩ không được xâm phạm tới sức khỏe của
Hùng và hãy nói cho họ biết rõ về tình trạng bị trả thù này của em HÃY CỨU LÊ
ANH HÙNG- HÃY CỨU DÂN TỘC VIỆT NAM!
Tại sao Việt Nam không dám hành động như Philippines?Không thể dùng từ gì khác ngoài từ "Bán Nước"
Như Nguyên (Danlambao) - Vừa qua bộtrưởng ngoại giao Philippines đã thông báo cho cộng đồng thế giới biết là đãđưa đơn kiện Trung Quốc (TQ) ra tòa án của Liên Hiệp Quốc trong vụ tranh chấp chủ quyền ở biển Đông và đã triệu tập đại sứ của Trung Quốc tại Manila thông báo cho sự kiện trên. Hành động của Philippines là một ứng xử bình thường của một quốc gia thành viên của Liên hiệp Quốc vẫn thường làm khi chủ quyền đất nước mình bị xâm phạm.
Việt Nam chúng ta tại sao không có hànhđộng như vây? Việt Nam chúng ta có phải là một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc không? Trong thời gian vừa qua, có nhiều trang mạng đã có những bài viết dẫn chứng cho sự trao đổi giữa đảng csvn và đảng cstq để dẫn đến việc biên giới phía Bắc của tổ quốc đã mất 20.000km vuông và vùng biển của Việt Nam bịgiới hạn còn 12 hải lý tính từ đất liền ra. Cho dù có hàng ngàn bài viết với những bằng chứng thuyết phục đi nữa, tất cả sẽ bị vô hiệu hóa nếu Việt Nam không có một hành động tương tự như Philippines và hải quân Việt Nam hành động như những gì mà các anh hùng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã thể hiện trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974
Chúng ta sẽ dùng ngôn từ gì để nói vềnhà cầm quyền csvn trong quan hệ với TQ? Trước làn sóng phẫn nộ của người dân về những hành động ngang ngược và những âm mưu xâm chiếm nước ta của TQ, người phát ngôn viên bộ ngoại giao cho chạy đi, chạy lại băng casset cũ rích từ hồi bà Phương Nga và điều tồi tệ hơn nữa là an ninh Việt Nam đã có những hành động bán nước đối với những người phản đối TQ xâm lược Việt Nam. Không thể dùng từgì khác ngoài từ "Bán Nước" để nói về những hành xử tàn bạo của an ninh Việt Nam đối với những người yêu nước. Mặt khác, cách ứng xử của VN đối với TQ về ngoại giao đã cho công đồng thế giới thấy rõ Việt Nam là chư hầu của TQ. Theo một thông lệ về nghi thức ngoại giao, khi một nước phản đối hoặc đồng tình với một quốc gia khác về một vấn đề nào đó, thì bộngoại giao của nước sở tại triệu tập đại sứ của nước quan hệ và trao công hàm về vấn đề có liên quan. Chính quyền Việt Nam đã chọn phương cách của mình làđích thân bộ ngoại giao VN đến đại sứ quán TQ dâng công hàm!
Trong suốt chặn đường xây dựng và phát triển của dân tộc Việt Nam, không có một triều đại nào là không có sai sót. Nếu thật sự đảng csvn một lòng vì nước vì dân như vẫn thường rêu rao thì hãy dũng càm nhìn nhận và công khai cho dân biết những sai lầm và những sự dối trá củađảng csvn trong thời gian qua. Nếu không dám nhìn nhận sư thật thì những sai lầm trong quá khứ sẽ lập lại và nguy cơ bị Bắc thuộc một lần nữa là không tránh khỏi, khi đó tất cả đảng viên công sản sẽ không chạy đâu để thoát tội, ngay cảkhi xuống âm phủ trình diện Diêm Vương cũng sẽ bị những linh hồn của những người đã hy sinh trong việc bảo vệ tổ quốc trị tội một cách đích đáng.
Hôm nay 23/01/2013, báo chí Philippines cho biết : Bộ Ngoại giao nước này đã ra thông báo chính thức giải thích về quyết định đưa tranh chấp chủ quyền trên vùng Biển Đông với Trung Quốc ra tòa án Liên Hiệp Quốc. Thông báo này đồng thời kêu gọi người dân Philippines thể hiện tình thần yêu nước và hậu thuẫn cho quyết định của chính phủ.
Sau khi phân tích cụ thểquyết định kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế được Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario công khai loan báo hôm qua, hãng tin GMA News đã trích dẫn nguyên văn thông cáo của Bộ Ngoại giao nhấn mạnh đến ý nghĩa bảo vệ chủ quyềnđất nước trong động thái đó : « Nếu ai đó tự tiện xông vào nhà của ta, và tim cách lấy đi một cách bất hợp pháp những gì của ta, thì liệu ta có thể không làm gì để chống lại kẻ xâm nhập hay không? Hành động của chúng ta là nhằm bảo vệlãnh thổ quốc gia và vùng biển của mình ».
Bản thông cáo ngay sau đó đã đưa ra lời kêu gọi : « Mọi người Philippines nênđứng đằng sau Tổng thống để bảo vệ những gì là của chúng ta. Tất cả chúng tađều nên đoàn kết nhất trí trước toàn thể thế giới để biểu thị vai trò lãnh đạo toàn diện của Tổng thống trên vấn đề này. »
Về nội dung các khiếu nại của Philippines nhắm vào Trung Quốc, công hàm do Trợlý Ngoại trưởng Teresa Lazaro chuyển cho Đại sứ Trung Quốc tại Manila vào hôm qua nêu rõ là phía Philippines muốn chấm dứt tình trạng Trung Quốc chiếm đóng hay hoạt động tại 8 đảo hay bãi ngầm thuộc chủ quyền Philippines ngoài BiểnĐông.
Đó là những thực thể mang tên quốc tế là Mischief Reef, McKennan Reef, Gaven Reef, Subi Reef, Scarborough Shoal, Johnson Reef, Cuarteron Reef và Cross Reef Fiery Reef.
Công hàm của Philippines nói rõ : « Việc chiếm đóng và các hoạt động xây dựng tại các nơi này đã vi phạm quyền chủ quyền của Philippines. ». Không những thế,Manila cũng tố cáo Bắc Kinh cản trở « một cách phi pháp » quyền tự do hàng hải của Philippines khi chiếm cứ các khu vực kể trên. Theo ghi nhận của hãng GMA News, đơn khiếu nại của Philippines nhắm vào Trung Quốc trước tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc là một hồ sơ tổng hợp toàn bộ những lời phản đối của chính quyền Manila về các động thái bành trướng của Trung Quốc trong vòng 17 năm gần đây.
Quyết định khiếu nại Trung Quốc của Philippines đã được Liên Hiệp Quốc đón nhận một cách thận trọng. Theo hãng tin Pháp AFP, vào hôm qua, 22/01, khi được hỏi về việc Philippines đã đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc ra trước một tòa án của Liên Hiệp Quốc, Tổng Thư ký Ban Ki-moon cho biết ôngđang theo dõi một cách « cẩn thận » vụ việc này.
Ông cho rằng : « Điều quan trọng đối với các nước trong khu vực là giải quyết mọi vấn đề (tranh chấp ngoài Biển Đông) thông qua đối thoại một cách hòa bình và thân thiện ». Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh là đinh chế quốc tế này «sẵn sàng trợ giúp đỡ về mặt kỹ thuật và chuyên môn, nhưng điều cơ bản là mọi vấn đề tranh chấp phải được giải quyết giữa các bên liên can ».
Hoa Kỳ tự trói tay để thua CSVN…chứ không do VNCH.
Mường
Giang
Cựu Ngoại trưởng Kissinger
xác nhận
Sau
hơn ba mươi bảy năm Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ tính từ ngày 30-4-1975, nhưng
tới nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc khi viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa
vào các tài liệu tuyên truyền của cộng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi
lúc thật hàm hồ bừa bãi.
Chính
những cuốn sách này, đã khiến cho ai khi đọc tới cũng đều có cái cảm tưởng là
“Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó toàn ngu xuẩn hay điên rồ”, nên mới bị sa
lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã. Riêng đối
với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường
Đông Dương để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời
hứa “bảo đảm quyền sống tự do của đồng bào Nam VN, Lào, Cambốt”. vẫn cứ phải
loay hoay giữa “tự ái và lương tâm” khi muốn giải đáp trước công luận, lý do
tại sao “Một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và ngay cả ngày
nay”, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cộng sản Bắc
Việt? cho dù đối phương có được Nga, Tàu viện trợ và chống lưng.
Ngày
nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần
hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan
trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận
rõ phần nào giải đáp trên, khi đã biết rõ thực chất của cuộc chiến Việt Nam
(1955-1975).
Tất
cả từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn “không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước
thương dân”, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh
và đảng VC trong suốt cuộc chiến, vì họ bị tuyên truyền một chiều.
Nay
sự thật đã bị phanh phui, gây chiến tại Ðông Dương lần thứ 2 (1946-1975), thật
sự “là không cần thiết lúc đó”.
Vì
đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cộng
sản đệ tam quốc tế”. Ðiều này ngày nay cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC
như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt.. xác nhận. Còn hậu cứ lớn không phải tại Hà
Nội, mà ở tận Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, được Hồ Chí Minh cùng đồng đảng mang về
bành trướng khắp nước. Sứ mạng của Hồ đã hoàn thành một phần, ít ra là đã nhuộm
đỏ được ba nước Việt-Lào-Cao Miên trên bán đảo Ðông Dương.
Nhưng
chiến thắng không phải do quân sự mang tới, mà nhờ vào “sự hèn nhát thụ động,
của tập thề quần chúng trong vùng”, vì sợ sự khủng bố tàn độc của chủ nghĩa
cộng sản nên cúi đầu tùng phục, để được yên ổn sống, dù là kiếp sống nô lệ hèn
thừa bên lề đường như hiện tại trong thiên đường xã nghĩa VN. Do đó, hầu hết đã
phó mặc vận mệnh của đất nước, của chính bản thân và gia đình mình cho ai muốn
làm lãnh tụ cũng được, coi đó như là chuyện không có liên can gì tới họ.
Tóm
lại “Chiến tranh VN vừa qua” là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, giống như Pháp
năm 1954, người Mỹ đã thua cộng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh
Ðốn và tàn nhẫn bất công ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường
Ðông Dương.
Cũng
từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ “No more Việt Nam” như một thứ
mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan
vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn
công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cộng sản quốc tế.
Từ
đó người Mỹ mới thôi cúi mặt và bắt đầu phục hồi danh dự cho những chiến binh
Hoa Kỳ, đã tham chiến tại VN từ 1955-1975, và gọi đây là một trong những cuộc
chiến chính nghĩa vĩ đại nhât, mà nhân dân Hoa Kỳ đã thực hiện được kể từ ngày
lập quốc tới nay.
Ðối
với Việt Nam Cộng Hòa dù người lính miền Nam đã hy sinh tột đỉnh nhưng cũng chỉ
giữ được nửa mãnh đất quê hương từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, vỏn vẹn chỉ có hai
mươi năm trường kỳ máu lệ. Tất cả “không phải vì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh
đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ Việt
Nam Cộng Hòa không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain từng tuyên
bố trên báo chí..” mà làNƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU Việt Nam.
Nói
đúng hơn, chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong
canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cộng
sản, đã sắp xếp sẵn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc.
Nhiều
nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi
nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẵn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gỡ
được gông cùm nô lệ cộng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần
lớn khối cọng sản đệ tam quốc tế tan rã.
Theo
nhận xét của GS người Mỹ Hans Morgenthau, thì đây là trò che đậy sự bất đồng,
cũng là sự phân chia sẵn ranh giới chính trị, quân sự giữa khối cộng sản và Tây
Phương, sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến. Tại Châu Âu, từ năm 1947 Liên Xô xé
bỏ cam kết, mặc sức tung hoành, dùng quân sự lần hồi cưỡng chiếm các nước quanh
vùng, dựng khối Ðông Âu, cô lập trong bức màn sắt. Tây Bá Linh và hai nước đồng
minh của Mỹ lúc đó là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị nguy khốn, sắp rơi vào tay
cộng sản.
Ðể
đối phó với tình trạng trên, Tổng Thống Mỹ Truman buộc lòng phải ban hành chiến
lược “Ngăn Chặn”, đồng thời khai sinh chường trình “Marshall”, viện trợ giúp
cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, quân sự đã bị thế chiến tàn phá. Song
song Mỹ và các nước trên thành lập Tổ chức Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, nhằm
liên kết quân sự, để bảo vệ lẫn nhau và chống lại sự xâm lăng của Liên Xô và
khối cọng sản quốc tế.
Nói
chung những nước nào được Mỹ khoanh vùng, thì được gọi là Ðồng Minh và tận tình
bảo vệ như Cao Ly và Ðài Loan ở Viễn Ðông. Nhưng dù chiến tranh có xảy ra dưới
một hình thức nào chăng nữa, kể cả cuộc chiến thế giới tại bán đảo Triều Tiên
năm 1950, thì chủ trương của nước Mỹ qua tuyên bố của Tổng Thống Truman, chỉ để
“tái lập hòa bình và biên giới sẵn có đã được qui định từ trước”. Ðây cũng là
chiến lược của Mỹ khi tham chiến tại VN từ 1960-1975, qua nhiều đời tổng thống
của lưỡng đảng, chỉ nhằm mục đích “ngăn chận làn sóng đỏ đừng lấn qua ranh giới
đã phân chia sẵn”, chứ không phải tới để giúp cho VN “giải phóng khỏi ách nô lệ
cộng sản”.
Vì
vậy cuối cùng để hoàn thành chiến lược, cần phải thương thuyết hòa bình, chứ
không phải đánh nhau để kết thúc chiến tranh tại đó, khi người Mỹ đã đạt được
chiến lược toàn cầu, có lợi cho quyền lợi của nước Mỹ. Ðiều bất hạnh nhất của
dân tộc VN mà bất cứ ai cũng nhận thấy, là đã có chung biên giới với nước Tàu.
Ðã
vậy còn bị lọt vào quỹ đạo của người Mỹ, khi Hoa Lục và Bắc Việt bị nhuộm đỏ.
Nên vừa nhậm chức Tổng Thống Mỹ, Eisenhower đã tuyên bố không để mất Ðông Dương
vì đây là một trong những quân bài Domino toàn vùng Ðông Nam Á, mà VN là tiền
đồn quan trọng nhất. Còn John Kennedy, từ lúc còn là thượng nghị sĩ vào năm
1956 cũng đã coi VN rất quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ, qua
các yếu tố địa dư chính trị.
Vì
vậy khi đắc cử Tổng Thống, Ông đã chọn Miền Nam VN làm một thí điểm tại Châu Á,
để thực thi nền dân chủ tự do chống lại chủ nghĩa độc tài khủng bố cộng sản.
Ðây cũng là một cuộc trắc nghiệm đầu tiên sau hai cuộc thế chiến vừa qua, để đo
lường về ý thức trách nhiệm cùng bổn phận của siêu cường Mỹ đứng đầu khối tự
do.. chống lại chủ nghĩa cộng sản.
Nhờ
vậy ngày nay người ta mới có được những kết luận rất mẫu mực, về cái gọi là
“chính nghĩa mập mờ của người Mỹ tại chiến trường VN”, nói là để giúp dân tộc
này chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tất cả chỉ là “một chiến lược què
quặt bất nhất”, do một mặt “thì sợ dư luận của quần chúng Mỹ phản đối bị mất
phiếu..”, mặt khác “cứ ham muốn đạt nhanh chiến thắng tại chiến trường” nhưng
lại không cho phép phe mình tấn công tiêu diệt địch quân, với lý do “sợ đụng độ
với Trung Cộng”.
Ngoài
ra các vị Tổng Thống có liên quan tới chiến tranh VN như J.Kennedy, Johnson,
Nixon và Ford đều chỉ xử dụng những phương tiện nhỏ để đòi đạt chiến thắng lớn,
nên cuối cùng phải bị sa lầy về mặt đạo đức, làm cho nước Mỹ bị thế giới cười
chê về thủ đoạn con buôn chính trị, từ sau tháng 5-1975 tới nay vẫn chưa lấy
lại được uy tín cũ đã đánh mất tại VN. Nhưng dù tại chiến trường VN trước năm
1975, Hoa Kỳ không hề bị sa lầy vẫn phải đóng kịch tháo chạy vì mục đích nối
kết với Trung Cộng, phá vỡ thế liên hoàn Nga-Hoa đã hoàn thành từ 1972..
1-
Hoa Kỳ Không Bao Giờ Sa Lầy Tại Nam VN:
Sau
khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia
Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho khối
cộng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như:
Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục
Kissiger.. đã hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh
giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của
Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công
mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị-Bình Long và Kon Tum, Bình Ðịnh của Việt Nam Cộng
Hòa.
Cũng
nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp
Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình đã bán đứng đồng minh bạn bè cho
kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ
động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược,
kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô.
Theo
Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học
Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí
mật của Kissinger tại Bắc Kinh, khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ
thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo để tặng Trung Cộng.
Sau
đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Hoàng Hoa
nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô để chuyển về Tàu. Tuy vậy để
che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình
chống nhau tại bàn hội nghị.
Như
trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau
này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lần để gặp cả Mao-Chu và Trung
Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên
giới Nga-Hoa để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô.
Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cử giữ chức trưởng trạm
tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ.
Tháng
4-1975 theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G. Ford đã viện trợ cho
Trung Cộng rất nhiều quân trang, quân dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết
bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội
dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ
khả tín của người Mỹ trong lúc cùng hợp tác đồng minh, để từ đó chúng ta mới
nhận diện rõ ràng “về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN”, mà các sử gia trong và
ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.
Ðọc
lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, tổng thống hèn kém như Carter
hoặc cứng rắn cỡ Reagan, thì ưu tiên số 1 của chính phủ cũng vẫn là làm sao cho
dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước, để đảng nọ đảng kia mới còn cơ
hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nữa, mới cảm thấy bớt uất
nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 của
các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí.
Rồi
đang lúc Việt Nam Cộng Hòa sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại
chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang
Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972... thì Tổng Thống Mỹ là
Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973
“tháo chạy khỏi VN”, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cộng sản đệ tam quốc tế”
cưỡng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975”.
Ngày
nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật “Quyền tự do tư liệu và thông tin”,
nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên quan tới
cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ,
từ Truman cho tới Carter. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch
đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những
chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mạng của VN, phần lớn
là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong
quân ngũ hay trốn quân dịch như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này.
Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xử dụng hết khả năng chiến đấu,
nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến
trường nào, rất được thế giới nể sợ.
Còn
một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới
chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trang, quân
dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhãn đổi
hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho
Bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào, bắn giết chẳng những Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường
VN.
Nói
chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa bành trướng
sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng
mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau
để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi. Ðó là chân lý của nền chính
trị con buôn kiểu tư bản Mỹ, vừa la làng xúi gịuc cũng như viện trợ để đồng
minh chống cộng. Rồi cũng Mỹ lại rất tích cực buôn bán đủ thứ kể cả quân dụng
vũ khí tối mật quốc phòng với các nước cộng sản trên.
Như
hiện tại cuộc giao dịch giữa Mỹ và hai nước Trung Cộng-Ðài Loan, ai cũng thấy.
Ðây cũng là một chứng minh thực tế, để cho bất cứ ai còn đang mang ảo tưởng
vọng ngoại, trong công cuộc quang phục đất nước khỏi gông cùm cộng sản, xin chớ
có hoài công đợi chờ. Vì con đường giải thể chế độ Việt Cộng hiện nay chỉ có
toàn dân Việt Nam phải chịu lăn xả hy sinh đổ máu như người Miến, người Tây
Tạng... thì mới hy vọng tháo gỡ được cùm gông, vì chính họ trong quá khứ đã tự
mình mang vào cổ ách nô lệ cộng sản.
2-
Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CS Bắc Việt, Chứ Không Phải Tại VNCH:
Riêng
về câu hỏi tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm, lại để cho
55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương? cuối cùng tháo
chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc
Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích ‘
cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách
của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang
mềm dẻo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị
để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi
chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ ‘.Ðây cũng là kết
quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng
Thống J.Kennedy từ năm 1961:
“Nếu
Hoa Kỳ tới Việt Nam với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm
lăng của cộng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể
không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng. Nhưng tiếc thay,
đất Bắc nơi phái sinh ra cuộc chiến Việt Nam, lại là vùng đất bảo đảm an toàn
nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho Việt Cộng ...”
Ðã
vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt,
tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên
phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích
trữ lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ Việt Nam
Cộng Hòa..
Chính cựu Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao
TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu não của quân Bắc Việt tại Hà
Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẫn nộ, vì nhận được lệnh đánh
nhau với Việt Cộng phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi
các luật lệ. Có thể dùng thời điểm Tổng Thống Mỹ Eisenhower gởi thư thông báo
cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vào tháng 10-1954 với lời hứa giúp Việt Nam Cộng
Hòa trở thành một quốc gia mạnh, trường tồn, có khả năng chống lại mưu toan xâm
lăng của Bắc Việt... như là một cột mốc quan trọng về sự nhập cuộc của Hoa Kỳ
tại VN.
Năm
1961 lúc Tổng Thống J.Kennedy nhậm chức, quan điểm của nước Mỹ vẫn không thay
đổi về việc Bắc Việt đang xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, qua hình thức lập Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam.. Tuy nhiên trong thành phần chính phủ Mỹ lúc đó đã có
nhiều khuynh hướng, như thay thế Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay tăng cường viện
trợ, quân sự kể cả gởi quân tới giúp Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống lại sự
xâm lăng của Hà Nội.
Sự
tự tin hiểu biết về tình hình VN của các tổng thống Mỹ, sau này được các nhà
báo Norman Podhoretz, Theodore H.White.. mai mỉa là không nhũn nhặn mà cũng
chẳng khôn ngoan chút nào, khi thật sự Hoa Thịnh Ðốn lúc đó không hiểu biết cho
mấy về cái chiến trường VN nhỏ bé xa xôi tận miền Viễn Ðông, thế mà dám đề ra
phương thức, chiến lược tràng giang, để giải quyết tình hình chính trị, xã hội,
quân sự, kinh tế của đất nước ấy.
Ðiều
này mãi tới năm 1981 mới thấy một sĩ quan cao cấp Mỹ nêu lên trong tác phẩm của
mình “chiến tranh tại VN là chiến tranh du kích, đáng lẽ ngay khi nhập cuộc,
quân đội Mỹ phải hiểu rõ thực chất của cuộc chiến, để có chiến thuật chống
khuynh đảo, diệt du kích, mà quân đội của các nước khác đều được huấn luyện học
hỏi, trước khi nhập trận”.
Tóm
lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cộng sản dùng chiêu bài “chiến tranh
giải phóng”, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao
giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt
khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó
tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN.
Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự
kiện cộng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới
trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá
chính phủ dữ dội, còn hơn Việt Cộng thứ thiệt ở Việt Nam cũng chưa thấy hoạt
động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ.
Ðây
là một nghịch lý nổi bật và mai mỉa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN. Ðó là sự
kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), đã công khai đứng hẳn về
phía Hà Nội, cổ võ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc
biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, lên đài phát thanh truyền hình chửi
bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ Chí Minh... Khi than rằng “Chúng ta đã
đánh bại chính ta”, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả
bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch,
nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng Việt Cộng bằng chính trị, một chiến
lược giá rẻ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặc
này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cộng
sản quốc tế.
Năm
1967, Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghĩ tới nước Mỹ sẽ leo thang
chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài. Ông ta cũng giống
như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không
muốn Việt Nam Cộng Hòa phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng..
Nhưng
cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai
cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính
quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ Bắc
vào Nam và sự khuynh đảo chính trị tại Việt Nam Cộng Hòa.
Khi
Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm
để nhen nhúm sự nối kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời
chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không
bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vừa phản lại lời hứa “rút quân” khi
ứng cử, vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ
Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam.
Ðó
là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam
VN, cho Việt Nam Cộng Hòa tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng “Việt Nam Hóa
Chiến Tranh”.
Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao
cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã... ta mới biết được
gánh nặng của các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng
Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương... tất cả đều bị
Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực VN phải thi hành theo đường hướng
của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973. Ngoài ra những bức
thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT.Nguyễn Văn Thiệu, với
sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là “thực chất của sự mưu tìm hòa bình
trong danh dự” và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật “Nixon-Kissinger”,
trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.
Không
được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn
tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ Tổng thống hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa là
TT Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam
thiếu lãnh đạo. TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ
đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn
thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973,
mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam. Nói là “Việt
Nam Hóa Chiến Tranh” nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang, quân
dụng như lời hứa, khiến cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lâm vào tình trạng kiệt
quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ, vì không có phương tiện để phòng thủ.
Rồi
trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa,
thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng,
qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lúc đó.
Cuối cùng
từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là không
chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ. Nhưng
giấy làm sao gói được lửa, và chắc là bị lương tâm cắn rứt dầy vò chịu không
nổi, nên cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự thú “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là
do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải Việt Nam Cộng Hòa”.
Lời phát biểu trên của
Kissinger, tuy quá muộn màng vì thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ, nhưng có còn hơn
không, vì ít ra ông cũng còn đủ can đảm đứng ra gián tiếp thay mặt cho nước Mỹ
để trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.