Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, February 6, 2013

Ði lạc đường không biết


 

Ngô Nhân Dụng

TRÊN đời này chắc chỉ có một người như bà Sabine Moreau ở nước Bỉ (Belgique). Ngày 5 Tháng Giêng năm 2013, bà lái xe hơi từ làng Hainault Erquelinnes để đón bạn tại một nhà ga xe lửa tại thủ đô Bruxelles, cách nhà khoảng 150 cây số; không ngờ bà đi lạc sang tới ngày hôm sau chưa đến nơi.

Người bạn đứng chờ ở nhà ga may mắn, theo tin của báo La Nouvelle Gazette ở Bruselles, đã nhờ được người đưa về nhà. Anh con trai của bà chỉ còn cách đi báo cảnh sát. Cuối cùng, cảnh sát nhờ ngân hàng theo dõi cuộc hành trình của bà Moreau qua những lần bà dùng thẻ tín dụng để mua xăng, mua thức ăn, do đó biết bà đang ở Zagreb, thủ đô xứ Croatia, một đoạn đường xa gần 1,500 cây số.

Câu chuyện này có thật, mới được tờ báo Tin Tức (Het Nieuwsblad) ở Bruselles đăng lên, rồi tờ Thế Giới (El Mundo) thuật lại hôm qua, nay các mạng tin tức chuyền nhau cho nên cả thế giới biết và thắc mắc! Tính ra bà Moreau đã đi qua biên giới bốn lần, ngang qua các nước Ðức, Áo, Slovenia, rồi vào Croatia. Tại sao người ta có thể lầm lẫn đến như vậy?

Một phần có lẽ vị bà cụ năm nay đã 67 tuổi; mà người có tuổi thường hay quên. Nhưng bà Sabine Moreau cũng cho báo El Mundo (Tây Ban Nha) biết là bà đã dừng lại đổ xăng mấy lần, có lúc đậu xe bên đường ngủ cho đỡ nguy hiểm nếu ngủ gật; tức là bà vẫn còn tỉnh táo, khôn ngoan lắm. Bà giải thích với nhà báo rằng bà hơi đãng trí: “Tôi yên bụng lái đi, không để ý gì cả. Tôi nhìn thấy hai bên đường có những tấm bảng chỉ đường viết bằng chữ Pháp, rồi chữ Ðức, nhưng vẫn cứ thế mà đi. Sau cùng thấy những chữ Croatia, tôi mới nghĩ ra là mình đã ra khỏi nước Belgique rồi!” Chắc bà Moreau may mắn, không hiểu được chữ Croatia cho nên mới thắc mắc và ngừng xe; nếu không, bà có thể cứ thế mà lái xe sang đến bên Tàu!

Nhưng dù có đãng trí người ta cũng không thể đủ kiên nhẫn lái xe mười mấy giờ đồng hồ mà không thắc mắc chi cả. Bà phải biết thành phố Bruselles có xa lắm cũng chỉ cách nhà mình vài giờ đồng hồ lái xe. Có lý do nào khác khiến bà Moreau vững bụng lái xe xa đến như vậy mà không tự hỏi lại xem mình có lầm không? Nếu dừng lại, tự kiểm soát bằng cách hỏi thăm những người sống bên đường, chắc bà đã không đi xa đến như vậy.

Có một lý do, đó là bà Sabine Moreau tin tưởng vào cái máy chỉ đường, GPS, dùng các tín hiệu điện tử, qua vệ tinh chỉ cho người lái xe đi đâu. Có thể là bà đã cho máy GPS một địa chỉ sai, ở Croatia. Hoặc là hệ thống dùng GPS có chỗ sai. Máy GPS ở Châu Âu chắc cần điều chỉnh nhiều lắm! Cách đây gần hai năm, chính người viết mục này đã dùng GPS đi từ Hòa Lan, qua Ðức, về Ðan Mạch. Máy chỉ cho một con đường, mà khi mình chọn đi đường khác rồi, nó cứ tiếp tục chỉ theo đường cũ chứ không chịu định vị trí mới và tính toán lại; như các máy GPS khác. Có lúc cái máy GPS cho biết xe tôi lái đã tới một cái phà, bảo phải lên phà. Rồi nó cứ cho chiếc xe đi trên một mặt biển xanh. Mà quả thật, lúc đó chiếc xe đang đi trên đường nhựa!

Khi bắt đầu kể chuyện này, tôi viết: “Trên đời này chắc chỉ có một người như bà Sabine Moreau.” Nhưng khi suy nghĩ lâu một chút về một người cả tin vào máy GPS, thì phải thấy bà Moreau không phải là người duy nhất đã sai lầm kiểu đó. Có những người cũng tin tưởng một cách máy móc vào một giáo điều, một chủ nghĩa, rồi đi lạc đường hàng vạn dặm mà không biết. Ðó là các đảng viên cộng sản, trên khắp thế giới. Họ tin vào những giáo điều, y như tin cái máy GPS. Ở Nga và Ðông Âu, hàng chục triệu đảng viên cộng sản đi theo cái máy đó đến nửa thế kỷ mới thấy ra là mình lạc đường, bèn dựng lại quay đầu trở về nhà. Tức là trở về cuộc sống bình thường, trước khi có chế độ cộng sản.

Chủ nghĩa Cộng sản đặt trên niềm tin thứ nhất, là lịch sử loài người đi theo một con đường duy nhất, sẽ tiến theo trình tự đó, không thể nào tránh được. Ðây là một ý kiến do Hegel nêu ra, được Karl Marx mượn, rồi đảo ngược đầu đuôi. Niềm tin “lịch sử tất định” này giống như cái máy GPS. Bây giờ loài người không còn tin thuyết lịch sử tất định nữa; nhưng trong cả thế kỷ trước vẫn có nhiều người tin. Người ta tin như tin một tôn giáo. Ai đã tin cái GPS rồi, cứ cho địa chỉ vào máy, nó sẽ chỉ đường mà đi. Nếu máy tốt thật, nhưng cho một địa chỉ sai vào thì nó cũng làm người ta đi lạc!

Một sai lầm dễ nhận ra nhất của chủ nghĩa cộng sản là khi dùng máy GPS họ lại ghi cái địa chỉ sai, cho nên lạc đường! Nhiều người bây giờ vẫn còn mơ mơ màng màng nói tới “lý tưởng cộng sản.” Lý tưởng là một thứ rất mơ hồ. Ai làm việc gì cũng có thể bịa ra là mình có ý định rất tốt. Anh tướng cướp cũng có thể nói mình theo lý tưởng “san sẻ của cải” trong thiên hạ, cho tiền bạc được chia công bình hơn. Câu hỏi là: Anh thực hiện cái lý tưởng đó theo con đường nào? Và anh đã đi tới đâu rồi?

Chủ nghĩa Cộng sản đã dùng GPS để tìm đường, với các địa chỉ có sẵn. Tất cả những lý thuyết đấu tranh giai cấp, tư bản giẫy chết, chuyên chính vô sản của Marx, cho tới những câu thần chú trong “Nhà nước và Cách mạng” của Lenin đều là những địa chỉ sai lầm. Tới năm 1989, cả thế giới cộng sản biết họ đi lầm, quay đầu trở lại. Cũng như lời bà Sabine Moreau nói với nhà báo La Nouvelle Gazette rằng: Khi tới Zagreb, tôi tự bảo mình phải quay trở lại mới được! Nhưng các đảng viên cộng sản ở Nga, Ðông Âu không thể nói một cách thản nhiên như vậy. Vì trong khi đi lạc đường hơn nửa thế kỷ, họ cũng làm cho hàng chục triệu người chết oan, hàng trăm triệu người đau khổ.

Ở Trung Quốc và Việt Nam, các tay lãnh tụ cộng sản bợm hơn trong việc đánh lừa dân và đánh lừa các đồng chí đảng viên của họ. Khi thấy đế quốc Liên Xô sụp đổ, họ biết ngay là cả cái máy GPS của họ đã vô dụng, mà cái địa chỉ cho vào máy cũng sai lầm. Nhưng họ không cho các đảng viên biết, cứ giả bộ như vẫn còn cái máy GPS tốt, vẫn hô hào đám đảng viên theo mình đến chết không được bỏ.

Trong khi đó, họ đã thay cái máy GPS mới và đi tới các địa chỉ mới.

Cái máy GPS của các lãnh tụ đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam bây giờ là bộ máy cũ đã được các nước tư bản sử dụng vào thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Nó là chế độ kinh tế tư bản thời hoang dã, không bị kiềm chế bằng pháp luật, cũng chưa có các định chế dân chủ tự do đóng vai kiểm soát. Họ biết cái máy này đã xài thử, và có công hiệu. Công hiệu của nó là giúp cho một thiểu số ngày càng giầu sụ hơn, mặc kệ những người khác, ra sao thì ra. Ở Việt Nam đã nhiều người nói tới “Chủ nghĩa Mặc Kệ,” thay thế cho Chủ nghĩa Mặc Xịt! Ðó là cái GPS mới mà bà con không biết, kể cả một số đảng viên.

Chủ nghĩa Mặc Kệ tiêu biểu bằng đồng chí Ếch. Chúng nó đem đồng chí ra “mổ xẻ,” thiếu điều “mổ xẻ” coi trong tim gan có những cái gì, nhưng đồng chí có thể tiếp tục ngồi yên trên cái ghế thủ tướng không động đậy. Ðồng chí X là Chủ nghĩa Mặc Kệ lên tới điểm cao nhất. Bên dưới đồng chí Ếch có những đảng viên cộng sản “thức thời” đã quay chung quanh đồng chí, cũng noi gương theo Chủ nghĩa Mặc Kệ. Mặc kệ tất cả, miễn mình còn nắm giữ được quyền hành và dùng quyền hành để làm giầu!

Tội nghiệp nhất là có những đảng viên cộng sản biết cái máy GPS cũ đã hỏng, không xài được, nhưng vẫn cứ ôm lấy với ảo vọng về “lý tưởng cộng sản.” Họ vẫn cứ tiếp tục nói lý tưởng cộng sản nó tốt lắm; chỉ có việc thực hành nó sai lầm thôi. Nhưng tại sao một cái lý tưởng tốt mà lại cứ toàn dẫn vào những con đường cụt suốt một thế kỷ qua? Chủ nghĩa đó cứ xét lại, rồi đổi mới, rồi xét lại lần nữa, đổi mới lần nữa, vân vân, mà cuối cũng vẫn chưa đi đến đâu cả, ngay Tòa thánh Mát Cơ Va của nó cũng sụp đổ rồi? Có phải đặc tính của chủ nghĩa cộng sản là “luôn luôn sai lầm,” “luôn luôn cần xét lại” không bao giờ thoát được cái vòng luẩn quẩn đó hay không?

Khác với bà Sabine Moreau, những đảng viên cộng sản còn ngây thơ tin ở lý tưởng đã trông thấy những tấm bảng chỉ đường hoàn toàn xa lạ, viết những chữ mình không hiểu được; mà họ vẫn không chịu tỉnh ra; không chịu quay đầu lại, trở về ngôi nhà thật của mình. Cứ như vậy, họ sẽ phải sống giả dối, tự dối mình và dối cả con cháu; chỉ vì không chịu thú nhận rằng cuộc đời có những sai lầm cay đắng.

 

 

 

__._,_.___

‘Bên Thắng Cuộc’, Hiệp Ðịnh Paris và...


 

 

‘Bên Thắng Cuộc’, Hiệp Ðịnh Paris và...

Song Chi

Những ngày vừa qua, có hai sự kiện được báo chí, dư luận trong ngoài nước, cả “lề đảng” lẫn “lề dân” nhắc đến nhiều nhất là việc xuất bản cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Ðức tức blogger Osin, và kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris (27.1.1973-27.1.2013).

Sau 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, sắp 38 năm sau 30 tháng 4, 1975, nhiều trẻ em ở Việt Nam vẵn thiếu cơm ăn và áo mặc. (Hình: Blog Mai Thanh Hải)

Cả hai sự kiện chẳng ăn nhập gì đến nhau nhưng vô hình trung lại có những điểm giống nhau.

Thứ nhất, cùng cho thấy sự khác biệt trong cái nhìn của nhà nước đang cầm quyền và người dân đối với một sự việc/sự kiện, và sự khác biệt, chia rẽ, những trạng thái tâm lý phức tạp giữa người Việt Nam với nhau trong cách nhìn nhận, đánh giá về quá khứ chưa xa.

Cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” viết về lịch sử Việt Nam, chủ yếu là miền Nam, sau năm 1975, đã nhận được vô số lời khen, chê khác nhau. Bị “đánh” từ cả hai phe - “bên thắng cuộc” là đảng cộng sản VN, qua những bài viết trên các tờ báo đảng, và “bên thua cuộc,” từ những bài viết cho đến những cuộc biểu tình của người Việt chống cộng tại Little Saigon.

Nếu cuốn sách bị đánh bởi “bên thắng cuộc” thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì đã trình bày những sai lầm, ấu trĩ đưa đến vô số hậu quả tai hại cho đất nước, dân tộc VN sau chiến tranh của nhà nước cộng sản, điều mà họ không bao giờ muốn nhớ lại.

Nhưng cuốn sách cũng bị đánh bởi những người của “bên thua cuộc.” Ðiều đó cho thấy sự chia rẽ sâu sắc trong lòng người VN từ những chỗ đứng khác nhau. Và vết thương của cuộc chiến tranh, của những năm tháng đen tối ở Sài Gòn và miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã buộc hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi, vẫn còn rỉ máu, dù đã hơn ba mươi năm trôi qua.

Sự kiện 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris thì lại chủ yếu cho thấy sự khác biệt trong cách nhìn nhận, đánh giá một sự kiện lịch sử của nhà cầm quyền - vẫn là “bên thắng cuộc” và người dân, “bên thua cuộc” nói chung.

40 năm trôi qua vừa nhanh như một cái chớp mắt trong cả chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của một dân tộc. Nhưng cũng lại rất lâu, rất dài, nếu so giữa quãng đường đi của một dân tộc, một quốc gia này với một dân tộc khác, quốc gia khác, bắt nguồn từ một quyết định đúng hay sai.

Trong khi đảng và nhà nước cộng sản phấn khởi, tưng bừng kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, báo chí truyền thông nhà nước tung ra hàng chục bài xung quanh sự kiện này, tiếp tục những lời tụng ca nào thắng lợi lịch sử, đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam, v.v. và v.v. Thì người dân Việt Nam, những ai đã nhìn ra sự thật về sự kiện Hiệp Ðịnh Paris, đối chiếu với cuộc sống xã hội Việt Nam hiện tại, lại có cái nhìn khác.

Ngay cả cái chiến thắng mà đảng cộng sản vẫn tuyên truyền cho đến tận giờ phút này, là một chiến thắng dựa trên sự lừa dối vĩ đại, một nền hòa bình phải trả bằng một giá quá đắt. Sau 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, người dân Việt Nam đã được gì?

Ðúng là Việt Nam đã thống nhất, đã có hòa bình, nhưng đất nước vẫn nghèo nàn, tụt hậu, thua xa các nước láng giềng trong khu vực về nhiều mặt chứ chưa nói đến thế giới. Nhân dân không được hưởng tự do dân chủ thật sự, nhân quyền không được tôn trọng, đời sống bất an, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, thể thao... đều lạc hậu hàng chục, hàng trăm năm. Một phần lãnh thổ, biển, đảo bị mất, VN bị lệ thuộc nặng nề vào TQ và đang đứng trước nguy cơ mất nước...

Thứ hai, cả hai sự kiện - cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” và 40 năm ngày ký Hiệp Ðịnh Paris, cho thấy một điều (mà phần lớn chúng ta đều biết): Những “lỗ hổng” về lịch sử (dù mới xảy ra chưa bao lâu) trong đời sống sách vở, thông tin chính thức ở Việt Nam và trong kiến thức của một bộ phận giới trẻ sinh ra sau 1975.

Những “lỗ hổng” đó do nhà cầm quyền tạo ra. Cũng như họ đã tạo ra vô số “lỗ hổng” khác, khi họ viết lại lịch sử Việt Nam từ khi có đảng cộng sản ra đời, và kể cả trước đó nữa, bằng cái nhìn của “bên thắng cuộc.”

Cho đến giờ phút này, 40 năm sau Hiệp Ðịnh Paris, 38 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền vẫn không có đủ dũng cảm nhìn thẳng vào những sự thật bị bưng bít.

Họ vẫn tiếp tục say sưa ngợi ca những thắng lợi của quá khứ, như đối với sự kiện Hiệp Ðịnh Paris. Và vẫn tức giận điên cuồng khi có ai đó lôi ra những mảng tối bị che giấu, như trong trường hợp cuốn sách “Bên Thắng Cuộc.”

Hơn nữa, đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn, khủng hoảng của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Vì thế, họ càng phải bám lấy những “thành tích,” “hào quang” đã qua để níu kéo lý do tồn tại, càng trở nên “nhạy cảm” với mọi sự nhắc nhở đến những sai lầm.

Và cuối cùng, cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” hay sự kiện 40 năm Hiệp Ðịnh Paris, một lần nữa, đặt ra cho người Việt Nam câu hỏi: chúng ta đã bắt đầu hành trình lấp kín những khoảng trống lịch sử, sám hối và rút ra những bài học hay chưa?

Chờ đợi nhà cầm quyền làm điều đó là dường như vô vọng, dựa trên kinh nghiệm xương máu của người Việt Nam bao nhiêu năm qua. Thực tế đã chứng minh, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn có những chọn lựa, quyết định sai bởi vì họ luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ, phe nhóm và bản thân lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc.

Mặt khác, họ là những người học rất chậm những bài học của quá khứ. Về mặt này, các thế hệ lãnh đạo của Việt Nam có tầm nhìn ngắn hơn và rụt rè hơn các ông anh Trung Quốc của họ nhiều.

Nhưng còn người dân Việt Nam?

Không chỉ giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản, sự thật cay đắng là chính người Việt Nam, khi đứng trước những thời điểm buộc phải có những quyết định sinh-tử có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, cũng thường chọn lựa sai hoặc phó mặc vận mệnh đất nước cho thời cuộc xoay vần.

Lịch sử Việt Nam kể từ thế kỷ XX đến nay là lịch sử của những sự chọn lựa sai lầm, những quyết định sai lầm của cả những người lãnh đạo lẫn người dân. Là một lịch sử quá cay đắng, bất hạnh, nếu chúng ta so sánh với nhiều nước khác, trong những hoàn cảnh, thời điểm tương tự.

Nhưng liệu bây giờ chúng ta có đủ cương quyết để tự mình giành lấy quyền chọn lựa lại, quyền quyết định về tương lai, vận mệnh đất nước thay vì ngồi trông chờ nhà cầm quyền biết sửa đổi?

Hoặc thảm hơn, trông chờ Hoa Kỳ nhúng tay hỗ trợ chúng ta, trông chờ chiến tranh TQ-Hoa Kỳ xảy ra và Trung Quốc thất bại, bị xé ra thành từng mảnh nhỏ và không còn là một mối đe dọa đối với Việt Nam? Hay Trung Quốc tự chuyển đổi trước thành một nước dân chủ và Việt Nam sẽ theo sau v.v...

Một thách thức không nhỏ khác nằm trong tính cách của người Việt, đó là bi kịch của đất nước trong bao nhiêu năm đã gây nên sự nghi kỵ, chia rẽ sâu sắc trong lòng người Việt Nam. Có thể nhận thấy điều đó qua những cách đánh giá rất khác nhau về cuốn “Bên Thắng Cuộc” chẳng hạn.

Sự khác nhau trong nhận định, quan điểm là chuyện bình thường, nhất là với một cuốn sách mà ngay chính tác giả cũng thừa nhận sẽ có những thiếu sót. Nhưng nếu với một sự việc nhỏ mà người Việt vẫn chưa thể bao dung với nhau thì con đường để cùng nhau thay đổi vận mệnh đất nước sẽ còn khó khăn gấp nhiều lần.

Một dân tộc đã từng phải trải qua những bi kịch cay đắng như Việt Nam, dân tộc ấy lẽ ra cần phải học nhanh hơn các dân tộc khác, những bài học đắt giá của lịch sử.

Tuesday, February 5, 2013

ĐỪNG TUNG HY VỌNG HÃO LỪA QUỐC NỘI, HÃY NHẰM TỬ HUYỆT KT.CSVN MÀ ĐẬP


ĐỪNG TUNG HY VỌNG HÃO LỪA QUỐC NỘI,

HÃY NHẰM TỬ HUYỆT KT.CSVN MÀ ĐẬP

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 24.01.13. Cập nhật 30.01.13


Cập nhật 30.01.13

Tuần trước ngày 24.01.2013, chúng tôi viết ĐỪNG TUNG HỎA MÙ THEO KẾ CSVN, HÃY NHẰM TỬ HUYỆT KINH TẾ. Những Hỏa mù mà CSVN đang tung ra như :

* Tại Quốc nội : «Dân góp ý sửa đổi Hiến pháp«

* Tại Hải ngoại :

=> «Hòa Giải Hòa Hợp« từ nhóm Trần Nhân Tông Boston

=> «Đối Thoại» từ nhóm Hoàng Duy Hùng Houston

=> Phỏ biến «Bên Thắng Cuộc« của Báo Người Việt ở Nam Cali

=> Nguyễn Phú Trọng sang Vatican

Nếu những Hỏa mù này do tay sai của CSVN làm theo chủ CSVN phát động, thì tuần này, chúng tôi muốn kêu gọi chính những người chống Cơ chế CSVN hiện hành hãy quy tụ quả đấm của mình vào TỬ HUYỆT KINH TẾ MAFIA CSVN.

Những người thực tình chống lại Cơ chế CSVN hiện hành thường than phiền rằng Người Việt Hải Ngoại chưa ĐOÀN KẾT lại thành một MỘT TỔ CHỨC DUY NHẤT. Chúng tôi thì không dám kêu gọi MỘT TỔ CHỨC DUY NHẤT để có ĐÒAN KẾT, nhưng chỉ kêu gọi MỘT MỤC ĐÍCH DUY NHẤT dù có nhiều TỔ CHỨC khác nhau. Chính cái MỤC ĐÍCH DUY NHẤT là yếu tố để tạo ĐOÀN KẾT. Thực vậy, ngay trong một Tổ chức, nếu mỗi thành viên ngầm theo mục đích cá nhân của mình, thì đó là yếu tố tạo nghi kỵ và tan rã. Tỉ dụ cùng trong chiến tuyến chống lại Cơ chế CSVN hiện hành, nếu có Tổ chức chỉ nhằm «Cải cách Cơ chế CSVN« , thì Tổ chứ này sẽ không có ĐOÀN KẾT với Tổ chức khác nhằm «Dứt bỏ hẳn Cơ chế CSVN « .

Ở cùng chiến tuyến chống Cơ chế CSVN hiện hành, mỗi Cá nhân hay mỗi Tổ chức dễ đặt ra những Phong trào Đấu tranh nhằm làm cho Tổ chức mình có TIẾNG trong Cộng đồng, nghĩa là cùng chiến tuyến chống Cơ chế CSVN, nhưng mình tìm cách để cái DANH, cái TIẾNG của Cá nhân hay Tổ chức mình được quảng cáo nổi bật lên hơn Cá nhân hay Tổ chứ khác. Đó là cái nguồn gây CHIA RẼ dù cùng đứng ở một chiến tuyến với nhau.

Một điều tệ hại hơn nữa là một số Cá nhân hay Tổ chức, vì nhằm cái DANH, cái TIẾNG riêng, mà tung ra những Phong trào Đấu tranh NỔI BẬT lên hơn Cá nhân hay Tổ chứ khác mặc dù biết rằng Phong trào Đấu tranh NỔI BẬT ấy không đưa đến MỤC ĐÍCH tối hậu là DỨT BỎ ĐƯỢC CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH. Những Phong trào NỔI BẬT này phần lớn dùng những tên đao to búa lớn như Liên Hiệp Quốc, các Chính phủ của các Cường quốc, các Tòa án Quốc tế… làm như họ tận tình xả thân tích cực cùng đấu tranh với mình. Chúng tôi chỉ sợ rằng những Phong trào Đấu tranh NỔI BẬT như vậy tung ra bong bóng HY VỌNG dễ làm cho Quốc nội tin tưởng để rồi Quốc nội giảm đi sức mạnh NỔI DẬY hiện hành. Đứng về phương diện này, những Phong trào Đấu tranh NỔI BẬT ở Hải ngoại mang lại cho Quốc nội sự hy vọng nguy hại vậy.

Nguyễn Phúc Liên

Từ cuối năm 2011 và suốt năm 2012, điều CSVN sợ hãi là việc phá sản Kinh tế mà lý do chính là Cơ chế làm cho THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ tràn lan. Những Tổ chức Quốc tế liên quan đến Tài chánh/ Kinh tế đều cấp thiết đòi buộc Việt Nam phải Cải tổ tận căn nguyên, nghĩa là phải đi trên con đường Dân chủ hóa Kinh tế.

Qua Hội Nghị trung ương 6 CSVN và Đại Hội 18 đảng CSTQ, người dân nhìn thấy sự bất lực Cải cách tận căn nguyên Cơ chế giống như đàn chó khi đã ngậm được cục xương rồi thì khó lòng nhả ra. Chính vì sự bất lực này mà hai Cơ chế CSTQ và CSVN đã phải công khai tuyên bố rằng họ lo ngại việc phá sản Kinh tế đang đẩy quần chúng đến bạo loạn xã hội và đạp đổ chính Cơ cấu Chính trị hiện hành.

Vì sự bất lực Cải cách tận căn nguyên trước thôi thúc cấp bách của Quốc tế và làn sóng phẫn uất của quần chúng, CSVN đang phát động chiến dịch tung ra những hỏa mù nhằm kéo chú ý của Quốc tế và Dân chúng đi xa khỏi cái TỬ HUYỆT Kinh tế với hy vọng kéo dài thêm sự tồn tại của Cơ chế hiện hành.

Bài này nói đến những điểm sau đây :

=> TỬ HUYỆT Kinh tế CSVN vẫn còn đó

=> Chiến dịch CSVN tung ra những Hỏa mù

=> Hãy đặt trọng tâm đấu tranh vào TỬ HUYỆT Kinh tế CSVN

TỬ HUYỆT Kinh tế CSVN vẫn còn đó

Bản Tin sau đây được đăng tải trên BBC ngày 16.01.2013, nghĩa là rất mới đây, cho thấy rằng đảng CSVN đã công khai chia chác nhau hơn 60 tỉ đo-la:

« Doanh Nghiệp Nhà Nước VN nợ 60 tỉ đo-la để chia nhau »

Cập nhật: 09:58 GMT - thứ tư, 16 tháng 1, 2013

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hội nghị

Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.

Báo trong nước cho hay ông thủ tướng dự hội nghị để "lắng nghe tiếng nói từ phía các doanh nghiệp, cùng các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất trong năm tới".

Người đứng đầu chính phủ đã phải nghe báo cáo của ông Phạm Viết Muôn, Phó Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, về tổng quan hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2012, trong đó ông Muôn đưa ra các thống kê giật mình.

Theo báo cáo, tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, hệ số nợ phải trả / vốn chủ sở hữu bình quân là 1,82 lần (lớn hơn tỷ lệ 1,77 lần của năm 2011). Tổng tài sản/ tổng nợ phải trả là 1,6 lần.

Báo cáo cũng cho hay nợ nước ngoài của các công ty mẹ tập đoàn, tổng công ty là 158.865 tỷ đồng; tương đương 21,5% tổng nợ phải trả, tăng 11% so với năm 2011.

Các công ty mẹ của nhà nước có số nợ nước ngoài lớn là Điện lực Việt Nam (EVN), Hàng không Việt Nam (VNA)...

Ông Phạm Viết Muôn, trong khi khẳng định rằng hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước "vẫn nằm trong giới hạn cho phép", nhưng nói nếu xét riêng rẽ, một số tập đoàn, tổng công ty thì tỷ lệ này "cá biệt có nơi rất cao".

Năm 2012, các doanh nghiệp nhà nước có doanh thu đạt trên 1.621.000 tỷ đồng, chỉ bằng 92% kế hoạch năm.

"Rõ ràng là tình hình tài chính của các tập đoàn, tổng công ty tiếp tục xấu đi chứ không được cải thiện." (Tiến sỹ Lê Đăng Doanh)

Lỗ phát sinh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2012 là khoảng 2.253 tỷ đồng; lỗ lũy kế của 10 tập đoàn, tổng công ty hàng đầu vào khoảng 17.730 tỷ đồng.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước lỗ đi lỗ lại nhiều năm liên tiếp.

Tổng nộp ngân sách của các công ty là khoảng 294.000 tỷ đồng.

Các doanh nghiệp được trích lời nói đang trông chờ chính sách của chính phủ để tiếp tục xử lý khó khăn và điều chỉnh đầu tư.

Họ cũng yêu cầu được hỗ trợ tái cấu trúc doanh nghiệp.

Sự cố Vinashin và Vinalines trong năm 2010, 2011 với tổng nợ lên đến 6,5 tỷ đôla đã buộc chính phủ phải tăng nỗ lực cải cách các doanh nghiệp nhà nước, vốn chiếm một phần ba nền kinh tế và chiếm hết vốn đầu tư vào tư doanh.

Cải cách kinh tế ở Việt Nam bị giới quan sát cho là không giải quyết cốt lõi của vấn đề khi "Đảng Cộng sản vẫn còn nắm giữ vai trò chủ đạo, và doanh nghiệp Nhà nước vẫn là công cụ ổn định kinh tế vĩ mô".

Tình hình tiếp tục xấu

Nhận định về những con số mới công bố, Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh từ Hà Nội nói: "Rõ ràng là tình hình tài chính của các tập đoàn, tổng công ty tiếp tục xấu đi chứ không được cải thiện".

"Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước tăng rất thấp so với năm 2011 (chỉ tăng 1%, năm 2011 tăng 9% so với năm 2010), nếu trừ đi chỉ số lạm phát thì tăng trưởng âm".

Ông cho rằng tình hình tài chính của không ít tập đoàn, tổng công ty "rất mất an toàn, trong đó có một số tổng công ty không bảo toàn được vốn chủ sở hữu do kinh doanh thua lỗ".

Tiến sỹ Doanh nhắc lại rằng cả Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN tháng 10/2011 cũng như Hội nghị 6 tháng 10/2012 đều đề ra yêu cầu về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

"Thế nhưng tại Hội nghị này (16/1) chưa thấy báo cáo gì về kế hoạch tái cấu trúc, tiến bộ thực hiện kế hoạch này trong khi tình hình tài chính của các tập đoàn, tổng công ty tiếp tục xấu đi."

Ông Doanh cảnh báo rằng "núi nợ 1,33 triệu tỷ đang đè nặng lên nền kinh tế năm 2013".

"Thực hiện các nghị quyết về tái cấu trúc đã trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, không thể để chậm trễ hơn nữa".

Chiến dịch CSVN tung ra những Hỏa mù

Chiến dịch này được tung ra trong những tháng gần đây tại Hải ngoại cũng như tại Quốc nội, trực tiếp do chính đảng CSVN hay qua những kẻ tay sai nằm giữa chúng ta, nhằm mỵ dân hay che mắt Quốc tế, nhằm kéo cuộc đấu tranh của chúng ta đi xa cái TỬ HUYỆT Kinh tế.

Tại Quốc nội

Chính đảng CSVN trực tiếp phát động trong toàn Dân việc «Dân góp ý sửa đổi Hiến Pháp«. Đây chỉ là trò hề mỵ dân trong lúc Cơ chế đang làm phá sản Kinh tế. Chúng tôi khẳng định đây là là trò hề vì một mặt kêu gọi sửa đổi Hiến Pháp, một mặt lại công khai tuyên bố giữ lại Độc tài Chính trị nắm Chủ đạo Kinh tế, nghĩa là giữ lại toàn diện cái Cơ chế đã làm phát sinh và lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ làm nguyên cớ phá sản Kinh tế quốc dân. Chúng tôi có lý do gọi đây là Hỏa mù trò hề vì những tuyên bố sau đây của chính từ phía đảng CSVN :

* Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban soạn thảo sửa đổi Hiến Pháp, tuyên bố: “Ban soạn thảo vẫn thống nhất giữ nguyên điều 4 Hiến Pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng”.

* Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng, tuyên bố: “Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương lãnh đạo, kiểm tra việc lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến Pháp… chỉ đạo chặt chẽ công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan kịp thời đấu tranh, ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta”.

* Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng,Trưởng ban chỉ đạo tổng kết thi hành Hiến Pháp, tuyên bố: “Khẳng định điều 4, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là một nội dung rất quan trọng. Vì vậy việc sửa đổi phải hướng tới xác định rõ chỉ một Đảng lãnh đạo…”.

Giữ Điều 4 Hiếp Pháp để đảng cướp nắm Độc tài Chính trị mà quyết định những Điều trong Bộ Luật Hình sự: Điều 78: tội phản bội Tổ quốc, Điều 79: tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, Điều 80: Tội gián điệp, Điều 87: Tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, Điều 88: Tội tuyên truyền chống Nhà nước v.v…

Cái căn nguyên của Cơ chế làm phát sinh và lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ tàn phá Kinh tế Quốc gia vẫn được giữ toàn vẹn: Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để đảng tiếp tục ăn cướp tài sản của Dân làm của riêng.

Như vậy chiêu bài “Dân góp ý sửa đổi Hiếp Pháp “ được tung ra ở Quốc nội chỉ là kế hoạch lừa đảo ở giai đoạn sợ dân mà thôi.

Tại Hải ngoại

CSVN đã sử dụng phần lớn những tay sai trong khuôn khổ Nghị Quyết 36 để tung ra những Hỏa mù với mục đích kéo sự chú ý đi xa cái TỬ HUYỆT Kinh tế mà Quốc tế và quần chúng Quốc nội đang chĩa mũi dùi vào. Chúng ta có thể điểm danh những Hỏa mù sau đây :

1. Nhóm ở Boston lấy danh Vua TRẦN NHÂN TÔNG để tung ra Hỏa mù « Hòa Giải Hòa Hợp « dân tộc nhằm kêu gọi mọi người hãy cùng với đảng CSVN mà giữ lại Cơ chế bóc lột hiện hành.

2. Nhóm Hoàng Duy Hùng tại Houston tung ra Hỏa mù « Đối Thoại « cũng trong mục đích hợp tác với CSVN để giữ sự tồn tại của Cơ chế hiện hành.

3. Nhóm báo «Người Việt« yểm trợ phát hành cuốn sách «Bên Thắng Cuộc«. Đây là cuốn sách ca tụng đảng CSVN và đồng thời chê bai Việt Nam Cộng Hòa. Đã có nhiều người viết về cuốn sách này. Chúng tôi không viết về cuốn sách này vì không muốn tiếp tay với mưu mô tung cuốn sách ra như một Hỏa mù quảng cáo.

Việc trước hết cái cuộc này là « CUỘC » gì ? Cuộc đá banh, cuộc chơi thể thao, cuộc đánh bài cào hay cuộc lừa đảo ăn cướp ? Tác giả đã không định nghĩa rõ cái bản chất của «CUỘC« này là như thế nào để từ đó mới có thể thẩm định ai thắng ai thua. Người dân Việt Nam đều biết cái bản chất của «CUỘC« này mà tác giả văn nô Huy Đức ca tụng đảng CSVN như bên « thắng cuộc «. Cái bản chất của « CUỘC « này là đảng CSVN làm tay sai cho Cộng sản quốc tế để bành trướng chế độ Cộng sản sang vùng Đông Dương mà chính yếu là Việt Nam. Đối với dân chúng Việt Nam, đây là cuộc xâm lăng. Chiến thắng hay không là do dân thẩm định xem cái cuộc mà đảng CSVN làm có phục vụ cho lợi ích của dân chúng Việt Nam hay không. Việc áp đặt chế độ Cộng sản lên dân chúng VN là một tội ác đối với Dân Tộc. Dân chúng đã thẩm định về hai « CUỘC « xâm lăng tội ác này :

=> Năm 1954 : gần 1 triệu rưỡi người dân Miền Bắc đã từ bỏ «bên thắng cuộc« CSVN để vào Miền Nam chọn tự do

=> Năm 1975 : gần 3 triệu người dân Việt Nam đã từ bỏ « bên thắng cuộc « CSVN để ra nước ngoài chọn tự do.

Dân chúng đã thẩm định ai thắng cuộc, ai thua cuộc !

4. Việc Nguyễn Phú Trọng đến Vatican gặp Đức Giáo Hoàng cũng chỉ nằm trong chiến dịch tung Hỏa mù để mong giữ lại Cơ chế CSVN đang phá sản Kinh tế. Một mặt muốn Vatican làm lá chắn để che đậy cho tội ác trước Quốc tế, một mặt dùng Vatican để « hạ nhiệt « sức đấu tranh của Giáo dân VN, nhất là Giáo dân Hà Nội và Vinh đang có ngòi bùng lên do vụ CSVN phá dòng Camêlô Hà Nội và mới kết án 14 thanh niên Công gío phần lớn thuộc Giáo phận Vinh.

Hãy đặt trọng tâm đấu tranh vào

TỬ HUYỆT Kinh tế CSVN

Chúng tôi đã viết rất nhiều bài, ngay cả những cuốn sách để phân tích về mặt Lý thuyết cũng như về Thực tế sự phá sản của Mô hình Kinh tế Việt Nam. Đây là cái TỬ HUYỆT như Định mệnh chôn vùi Cơ chế CSVN. Trong nhiều bài chúng tôi đã nêu rõ rằng Mô hình này không thể tự Cải cách được nếu Độc tài Chính trị vẫn nắm chủ đạo Kinh tế.

Xin nhắc lại một xác tín mà chúng tôi coi như Kết luận cho bài: chỉ còn một con đường duy nhất là Dân chúng NỔI DẬY để cứu lấy chính cuộc sống của mình bằng chôn vùi đảng cướp CSVN, những kẻ đã cướp giật tài sản quốc gia và nhà đất của dân nghèo để làm tài sản riêng. Đảng cướp này nay trở thành đê hèn, dùng đủ mọi biện pháp ĐỘC TÀI để chận họng những ai muốn phanh phui ra tài sản cướp giật của họ. Quần chúng NỘI DẬY phải cho những tên cướp này thấy SỨC MẠNH của mình, nếu không chúng sẽ liều chết để bảo vệ tài sản cướp giật của chúng.

Cuộc đấu tranh hiện giờ là đặt trọng tâm vào TỬ HUYỆT Kinh tế CSVN, chứ đừng hô hào tranh luận những phạm trù trừu tượng lùng bùng co giãn để CSVN lợi dụng tung ra những Hỏa mù làm chúng ta đi xa ra khỏi tử huyệt và để CSVN tiếp tục kéo dài Cơ chế cướp bóc.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 24.01.2013. Cập nhật 30.01.13

VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC


 

LÝ ĐẠI NGUYÊN

 

VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC

 

 

Toàn thể nhân loại đang nỗ lực hướng dẫn, dìu dắt nhau tiến lên, bước sang Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu. Do đó thế giới đòi hỏi tất cả các Quốc Gia phải có một Nền Giáo Dục Toàn Triển,Toàn Diện, Toàn Cầu, rộng mở, đáp ứng với nhu cầu thời đại đang ra sức loại bỏ ý niệm hận thù, tham vọng khống chế, hành vi bạo ác, bạo lực, bạo động, thay thế vào đó bằng những sinh hoạt có Văn Hóa Tính hòa ái, hiểu biết, bao dung và giúp nhau cùng thăng hóa khắp mặt cuộc sống của nhân sinh và vạn hữu.
 
 
Văn Hóa Tính luôn luôn có nhiệm vụ Bảo Lưu tất cả những công trình tim óc, và các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo và tạo tác ra, để đóng góp trong kho tàng văn hóa các dân tộc và nhân loại, tạo ra một Cuộc Sống Người Văn Minh.
 
 Rồi từ đó các thế hệ sau hướng dẫn nhau, học hỏi nhau, thâu thái, dung hóa, triển hóa, nhằm thăng hóa Nền Văn Hóa Chung, làm cho cuộc sống con người từ tình cảm, suy tư tới hành xử, và các sản phẩm con người sáng tạo và tạo tác ra, tất cả dần dần chứng đạt được đúng hướng Chân Thiện Mỹ, luôn luôn Thăng Hóa.
 
 Đó là tiêu chuẩn từ ngàn xưa, tới ngàn sau của Văn Hóa Nhân Loại. Đây chính là Nội Dung của Nền Giáo Dục Nhân Chủ Nhân Văn, Toàn Triển, Toàn Diện, Toàn Cầu vậy.   

 

Có lập căn đúng như thế, các bậc thầy ở Học Đường mới hội đủ căn bản, điều kiện để hướng dẫn - chứ không áp đặt, nhồi sọ - nhằm giúp cho giới trẻ tự triển khai Thân Tâm, Tài Đức, Tri Thức và Khả Năng Chuyên Môn của mỗi người, để trở thành những Con Người tự tìm hiểu về mình, hiểu biết về giá trị tự do là phải có tinh thần tự chủ và trách nhiệm, hiểu biết mọi mối tương quan giữa Người với Người trong thực tại xã hội của từng quốc gia, cả về quá khứ lịch sử, lẫn thực tại cuộc sống toàn diện từ Gia Đình, Quốc Gia, Quốc Tế, các Tôn Giáo, các nền Đạo Học, các ngành Khoa Học, để có đủ tự tin, tự làm chủ mình, để hoàn thiện khả năng và giá trị Nhân Chủ - Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo - thấy rõ được trách nhiệm và sứ mạng của mình là phải cùng đóng góp tâm tình, tài trí, tạo tác, công sức của mình với tha nhân vào việc thăng hóa xã hội, thăng hóa lịch sử, thăng hóa vạn hữu.

 

Như thế, mới thể hiện được giá trị của nền Giáo Dục Toàn Triển Toàn Diện là Học, Hỏi, Hiểu, Hành khắp mặt Tâm Dục, Thể Dục, Đức Dục, Tri Dục, và Chuyên Môn đúng với hướng vươn lên không cùng của Văn Hóa Tính. Chính vì mục đích của hệ thống Giáo Dục là thể hiện nền Văn Hóa Nhân Chủ Toàn Triển Toàn Diện Toàn Cầu, nên việc nuôi dậy giới trẻ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Học Đường, Gia Đình, Cộng Đồng, Quốc Gia, và Quốc Tế.
 
Mỗi đơn vị đó đều phải hoàn tất sứ mệnh và trách nhiệm của mình, trong sự nghiệp giáo dục các thế hệ nối tiếp, làm cho Con Người, Cuộc Sống, Thế Giới ngày một tốt, đẹp, sáng, mới thêm mãi trong Dòng Sinh Mệnh Văn Hoá, trong Cuộc Sống Xã Hội và trong Lịch Sử Thăng Hóa của các Dân Tộc, giữa ngôi  nhà chung của Nhân Loại.

 

GIÁO DỤC TÂM LINH

Sự trực nhận của các bậc chân sư đại giác khi công bố rằng: “Ta là tất cả, tất cả là Ta” thì thật là một điều không mấy dễ hiểu đối với nhận thức của con người bình thường. Nhưng đây lại là những điều ngày càng đúng với những khám phá của nền khoa học hiện đại. Đi tới tận cùng của sự khám phá các hiện tượng Vật Chất thì chúng chẳng vô hồn, ù lỳ, bất biến, duy vật chút nào cả. Chúng vốn là những hiện tượng tập hợp xoắn kết của Nguồn Năng Lực Siêu Thể  Vô Sắc, Vô Biên, Vô Hạn, vĩnh chuyển, hằng hóa, thăng hoá.
 
Sự xoắn kết của nguồn năng lực vô hình, động lực dũng mãnh, linh năng vi diệu này đã hình thành ra các hiện tượng Khối Vật Thể Hữu Sắc, Hữu Hình, Hữu Biên, Hữu Hạn. Vật thể cực vi là Nguyên Tử, bao gồm các dòng năng lực: Âm điện tử - electron. Dương điện tử - proton. Trung hoà tử - neutron. Chuyển động xoắn tít vào trung tâm nội tại, tạo ra nhóm vi diệu Neutrino, Antineutrino và Hyperon.

 

Mỗi nguyên tử chia ra làm 2 phần, các đơn vị Electron xoay chuyển chung quanh Nhân Nguyên Tử với tốc độ khủng khiếp lên tới 297,000 cây số trên dưới 1 giây, gần bằng tốc độ của ánh sáng 300,000 cây số 1 giây.
 
Nhân Nguyên Tử gồm các năng lực Proton, Neutron, Neutrino, Antineutrino, Hyperon chuyển động dũng mãnh cực nhanh liên tục theo luật tự nhiên là Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp với nhau, để vừa hoàn chỉnh tự thân, vừa tự phân hóa ra làm nhiều nguyên tử mới, tạo thành khối lượng Vật Chất. Vậy, Vật Chất Hữu Hình, Hữu Tính, Hữu Dụng cũng chỉ là Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Sắc vĩnh chuyển, hằng hóa, thăng hóa mà thành, trụ, hoại, không.
 
Trụ là Vật Thể Hữu Hình. Hoại trở về Siêu Thể Vô Hình, đễ vĩnh viễn tồn tại, trợ duyên, cũng như trực tiếp đóng góp trở lại cho các hiện tượng Vạn Hữu, ngày một Thăng Hóa không cùng. Nhưng nếu nguồn năng lực ngưng chuyển động thì đơn vị Vật Chất lập tức biến mất thành Không. Đúng với vũ trụ quan Nhà Phật: “Sắc, Sắc, Không, Không”. “Chân Không Diệu Hữu”.

 

Con Người là kết tinh vi diệu của Nguồn Tâm Linh Siêu Thể Vô Hạn phát triển trong Một Thân Thể Hữu Sinh Hữu Hạn, nên vốn có sức mạnh Tư Tưởng với khả năng vươn tới vô hạn, nội tại trong Mỗi Người. Do dó vấn đề Giáo Dục Tâm Linh để khai triển Trí Tuệ làm cho Tư Tưởng rộng mở vô biên, mới phải đặt ra. Lẽ cố nhiên với những trẻ thơ tâm linh trinh trắng, việc đặt nét chấm phá về tâm linh quan trọng nhất là ở đầu đời, công việc đó thuộc về Mẹ Cha.
 
 Nhưng cha mẹ thường đặt niềm tin vào Tôn Giáo mình theo, hay một nền Đạo Học nào mà mình tin tưởng, hoặc do quán tính Văn Hóa truyền thống của Dân Tộc mình, để khai mở tâm linh cho con cái ở bước đầu. Bởi vậy chính các Giáo Lý Tôn Giáo, các Tu Sĩ Tôn Giáo; các Luận Thuyết Đạo Học, các Trí Giả Đạo Học; các Truyền Thuyết Dân Tộc, các Trí Thức Dân Tộc là những người mặc nhiên nắm giữ phần Giáo Dục Tâm Linh của Con Người, thông qua mẹ cha của con trẻ, và trở thành linh hướng cho mỗi tín đồ trọn đời.

 

Nhưng suốt thời đại Mặc Thức Nhân Nhiên, qua thời kỳ Ý Thức Nhân Loại, thường thường các Tôn Giáo đều tuyệt đối tin tưởng vào sự an bài của các đấng Thần Linh; các nền Đạo Học vẫn còn tuyệt đối tin vào thuyết Định Mệnh; các Dân Tộc còn trong chế độ Phong Kiến, tin nhận Nhà Vua là Con Trời quyết định tất cả.
 
Chính vì vậy mà Tư Tưởng Con Người bị đóng khung trong chiếc vỏ cứng, không tự tin vào mình, chưa tự làm chủ được tư tưởng mình, chưa tin vào phương pháp tự khai mở tâm linh của mình, dù trên Hai Ngàn Năm nay, từng có các học thuyết hướng tâm, cũng như Đạo Phật đã đề nghị phương pháp tự tu, tự chứng, để mỗi người tự khai mở tâm linh trí tuệ từ tâm của mình, nhằm quán đạt được Nguồn Gốc Tâm Linh mình, nhưng chưa được phổ cập rộng khắp .
 
Vì thế, tất cả các tu sĩ tôn giáo, các nhà tư tưởng thời đó, chưa làm tròn sứ mệnh hướng dẫn tâm linh, nên chỉ còn là những nhà rao truyền Đạo Đức Luân Lý Xã Hội mà thôi.

 

Thế rồi, cũng đến lúc, nhân loại đã phát hiện ra mình có nhu cầu tự do tư tưởng, tự do lên tiếng, tự do sinh hoạt, cũng đã nhận chân được ‘muốn có tự do thì phải được tự chủ’, nhất là việc lựa chọn và kiểm soát chế độ và luật lệ mà mình tạo ra, để mình được sống tự do có luật pháp bảo vệ. Do đó Ý Thức Dân Chủ Trọng Pháp xuất hiện, tạo thành các cuộc Cách Mạng Dân Chủ Tự Do. Kinh nghiệm dậy rằng: “Các nước dù lớn, hay nhỏ, mà thực thi chế độ Dân Chủ Trọng Pháp, đều trở thành giầu mạnh và được nể trọng”.
 
 Nên người dân ở tất cả các nước trên thế giới ngày nay, đều mong muốn thực hiện công cuộc Dân Chủ Hoá Toàn Cầu. Từ đấy, nhân loại mới bước hẳn vào Thời Đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển Toàn Cầu, mà Nền Giáo Dục Toàn Triển Toàn Diện sẽ tạo ra cho các thế hệ nối tiếp những bước đi vững vàng  ở Thời Đại Mới.

 

GIÁO DỤC THỂ LỰC

 

Khi đã nhận chân được chính Nguồn Năng Lực Siêu Thể Vô Sắc đã xoắn kết tạo thành các Nguồn Năng Lực Điện Tử  trong đơn vị gốc của Vật Chất là Nguyên Tử. Rồi các Nguyên Tử theo nguyên lý tự nhiên vĩnh chuyển, hằng hóa, thăng hóa để Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp với nhau, tăng trưởng không ngừng, tạo thành Vạn Hữu, nhỏ vi ti là các Nguyên Tử, lớn vĩ đại là các Thiên Hà, với Vạn Hữu muôn hình, vạn trạng, muôn màu, muôn vẻ, mà tất cả đều có chung một Nguồn Nội Lực là Năng Lực Siêu Thể hiện hoá, diễn hóa, thăng hoá liên tục, khiến cho Vật Thể sinh ra các thể loại với tính chất và năng lực khác nhau. Ở dạng Vật Chất chỉ là Nguồn Điện Tử, ở dạng Sinh Vật là Nguồn Sinh Năng, ở dạng Nhân Loại là Nguồn Tâm Năng, nhưng không thể thiếu các Nguồn Điện Tử vật chất, các Nguồn Sinh Năng sinh vật, và các Nguồn Năng Lực vi diệu khác hiện có trong Vũ Trụ, làm thành cơ thể  sống động hoàn chỉnh nơi Con Người.

 

Tâm Năng là nguồn tinh lực chi phối chỉ huy toàn bộ cơ thể, lẫn sự rung cảm, suy tư, hành xử của Con Người. Bởi thế khi tình cảm vui vẻ, suy tư trong sáng, hành xử chân chính, con người sảng khoái tươi vui, cởi mở, với ý chí hướng thượng, sẵn sàng giúp đỡ tha nhân và phục vụ đại nghiã, thì cuộc sống chắc chắn thoải mái, nhất định sẽ ảnh hưởng lớn lao tới nguồn sinh lực trong cơ thể sống động khỏe mạnh nơi mỗi người.
 
 Chính vì vậy, mà Thân Thể Con Người đúng là Nguồn Nhiên Liệu để thắp sáng Ngọn Đèn Trí Tuệ  trong Tâm mỗi người, và Tâm Linh lại là nguồn sống mạnh khỏe của Thân Thể.  “Tinh Thần Minh Mẫn trong một Thân Thể Cường Tráng” là thế. Do đó vấn đề Giáo Dục Thể Lực không thể thiếu trong Nền Giáo Dục Toàn Triển Toàn Diện được.

 

Từ trước tới giờ khi nói về Thể Dục, người ta thường chỉ luyện tập các môn thể thao về gân bắp và sức dẻo dai. Đến nay các Đại Học Hoakỳ và một số đại học trên thế giới, đã có chương trình dậy Yoga - Thể Thiền. Như thế là bước đầu dẫn tới lãnh vực Tâm Thiền - Zen, sẽ được đưa vào chương trình giảng dậy, tu tập tại Học Đường chắc không còn xa. Nhằm làm giảm chứng trầm cảm và loạn tâm thần của giới trẻ say mê điện toán, để tự phong bế tình tự, tâm tư, ý thức, nhận thức của mình lại.
 
Đó cũng là phương pháp làm giảm bớt căng thẳng nơi giới chuyên môn. Đồng thời giúp Con Người vượt thắng được những khắc nghiệt, phức tạp, trở lực trong cuộc sống. Tất nhiên những môn Thể Thiền, nhất là Tâm Thiền chưa thể áp dụng cho những trẻ nhỏ, mà chính là nhằm hướng dẫn cho Mẹ Cha và Thầy Cô, để họ có cuộc sống nội tâm an nhiên, tự tại, phong phú và niềm tin vào những khái niệm về các môn học quan trọng này.
 
 Từ đó chính Mẹ Cha và Thầy Cô sẽ dùng Thân Giáo để làm gương cho các em, qua việc cha mẹ và những người thân sống dưới một mái nhà cư xử với nhau, cũng như việc tập thở, tập uống, tập ăn, tập ngủ, tập nghỉ, tập chơi… hướng tới các môn thể thiền và tâm thiền, khiến cho con trẻ có được nếp sống điều độ, hồn nhiên, lành mạnh, khỏe khoắn.

 

Rõ ràng là Nguồn Tâm Năng không những quyết định các sinh hoạt Tinh Thần của Con Người cả về các mặt Rung Cảm – Suy Tư – Hành Xử, mà quan trọng hơn hết là chi phối nguồn sinh lực và tất cả các bộ phận trong Cơ Thể Con Người. Vì lãnh vực Tâm Năng nơi Con Người là kết tinh cao độ của cuộc thăng hoá kỳ vĩ nơi Nguồn Năng Lực Siêu Thể trong Vũ Trụ, đã trường kỳ thể hiện trong sự diễn hóa, thăng hoá ở các hiện tượng Vạn Hữu. Chính vì thế, mà Nguồn Năng Lực Siêu Thể nơi Con Người đã trở thành Nguồn Tâm Năng có Linh Năng, Tính Năng, Cảm Năng, Thức Năng, Tưởng Năng, Giác Năng. Có thể gọi đó là Nguồn Siêu Thức làm nền cho Tâm Thức mỗi người.
 
Khi tổ tiên loài người ở mặt đất này đã đủ điều kiện, cảm biết được công việc thay thế Luật Tự Nhiên, người Nam + Nữ giao phối với nhau, tạo ra Nòi Giống Người thì lập tức hình thành “bản đồ DNA - Chủng Tử” để ghi dấu ấn Nguồn Di Thức của dòng dõi huyết hệ vào Tâm Thức của Con Cháu đời đời.  Siêu Thức Vũ Trụ và Di Thức Huyết Thống trở thành nhất thể của Tâm Thức Mỗi Người, để thường xuyên rung ứng tiếp thu thêm các Nguồn Năng Lực Linh Diệu của Vũ Trụ. Đến lúc ra khỏi bụng mẹ là lúc Con Người từ từ tiếp thu Nguồn Thế Thức, qua việc học tập, bồi dưỡng kiến thức, và trải nghiệm trong cuộc sống xã hội, và thiên nhiên.

 

Chính vì vậy, mà việc Giáo Dục Thể Lực cả về mặt tinh thần lẫn vật chất, phải áp dụng chương trình Thai Giáo, ngay khi vợ chồng quyết định sinh con, nhằm tạo điều kiện và môi trường cho Thai Nhi tiếp thu những nguồn năng lực anh hoa của Vũ Trụ và  tinh nhuệ của Dòng Giống. Nội Tâm mỗi người đều kết tinh của 3 nguồn: Siêu Thức, Di Thức, Thế Thức trở thành Tâm Thức bao gồm các công năng là Mặc Thức, Ý Thức, Nhận Thức, để có được khả năng Suy Tư, Tư Tưởng và Giác Ngộ. Như trên đã đề cập, chính Cơ Thể của Con Người là Ngưồn Nhiên Liệu để thắp sáng Ngọn Đèn Trí Tuệ.
 
Thế nên việc Giáo Dục Tâm Linh, và Giáo Dục Thể Lực, tuy hai mà là một, nhằm giúp Con Người dùng phương pháp Thể Thiền để làm cho Thân Thể phát triển, điều hòa, sung mãn, đủ sức thực hiện phương pháp Tâm Thiền: “Tập trung ý chí và tư tưởng, vận hành hơi thở và nội lực của thân - tâm, theo quy trình ‘quán - định’, để vui vẻ buông bỏ tất cả”. khiến Lực Trí Tuệ khai mở làm bừng nở Đức Từ Bi, trở thành bậc Nhân Chủ chính giác, phục vụ Tha Nhân, làm trong sáng, tốt lành, vui đẹp và luôn luôn tươi mới cho cuộc sống văn hóa và thực tại của nhân loại.

 

GIÁO DỤC ĐỨC TÍNH

 

Việc Giáo Dục Đức Tính, khởi đi từ tình yêu thương và cuộc sống của Mẹ Cha, ngay lúc Thai Nhi vừa hình thành. Khi đó, chính là lúc Tinh Lực Siêu Thức hợp nhất với Huyết Thống Di Thức, thành Nội Lực Tâm Thức của Thai Nhi, nên sự giao hòa Tâm Tính, Linh Thức, Tình Cảm, và sự yêu thương trân quý giữa Cha Mẹ với sự yêu Con, cũng như việc dưỡng mẫu, dưỡng thai, trở thành môi trường thiêng liêng tuyệt hảo, tiếp giúp cho Tâm Hồn con mình, trở thành một Con Người có căn cơ đức hạnh, thông minh, giầu tình người. Lúc con trẻ ra đời là lúc tiếp nhận Nguồn Thế Thức ở người chung quanh. Từ cảm tình, lời nói, thái độ, cử chỉ, cách sống…của những người sống trong Gia Đình và các người lân cận, đúng là bài học ban đầu của trẻ sơ sinh, sống và tiếp thu bằng Bản Năng Mặc Thức. Vì vậy, mà mọi người phải triệt để áp dụng Phương Pháp Thân Giáo, dùng bản thân mỗi người làm bài học đầu đời cho con trẻ.

 

Phương Pháp Thân Giáo còn cần áp dụng triệt để với bậc Thầy Cô ở các lớp Mầm NonMẫu Giáo. Nhưng cha mẹ cũng không được quyền khoán trắng cho Nhà Trường, mà Gia Đình với Nhà Trường phải phối hợp khắng khít với nhau để nuôi dậy con trẻ. Thầy Cô ở các lớp mầm non, mẫu giáo, nhà trường thường sử dụng các Cô để có tâm tính, tình cảm của Người Mẹ dễ gần và thương yêu các trò nhỏ của mình, bằng tình yêu người mẹ hiền đối các con cái mình. Họ có đủ kiên nhẫn, chăm sóc, chỉ dậy từ: cách thở, ăn, nói, ngủ, nghỉ, đi, đứng, nằm, ngồi, học tập, vui đùa, giao tiếp với bạn học, nhất là không để cho khuynh hướng bạo lực và hành vi bạo động, có cơ hội xuất hiện trong cuộc sống vừa chơi, vừa học với bạn bè, có sự chăm sóc của Thầy Cô. Biết kính mến Thầy Cô, quý trọng Gia Đình, tôn trọng Người Lớn, trắc ẩn với những Người Thiếu May Mắn, thương yêu bạn học, có tinh thần bao dung tha thứ lỗi lầm người khác, thành thật nhận lỗi và biết vui vẻ xin lỗi của mình. Ở tuổi này, cha mẹ chớ bắt ép con cái mình làm những việc mình muốn, mà chúng không thích. Nhưng nếu đó là điều ích lợi và cần thiết cho chúng, thì nên hội ý với Cô Giáo của chúng, để họ tế nhị, kiên nhẫn thuyết phục chúng, chắc sẽ thành công. Nên nhớ, Cô Giáo ở các lớp Mầm Non và Mẫu Giáo chính là vị “Nữ Thần” của chúng đấy.

 

GIÁO DỤC TRI THỨC

 

Hệ thống giáo dục ở các nước tiên tiến hiện nay rất phong phú, đa dạng; Ngay ở Hoakỳ, chính phủ Liên Bang không trực tiếp chi phối Hệ Thống Giáo Dục của Quốc Gia, mà do các chính phủ Tiểu Bang hoàn toàn quản lý: Có trách nhiệm phân phối, ấn định Ngân Sách, Chương Trình, và mọi Sinh Hoạt của hệ thống Học Đường. Bởi vậy, chương trình giáo dục hoàn toàn phụ thuộc vào đặc tính của mỗi Tiểu Bang về văn hóa địa phương, nhu cầu đào tạo, nhu cầu công việc, kể cả tính cách Đa Văn Hóa, Đa Tôn Giáo và những yếu tố liên quan tới địa hình, thời tiết của mỗi Bang. Mặc dù vậy vẫn có một số điểm chung về cách tổ chức và quy định lớp lang, trình độ học vấn. Đây đúng là nền Giáo Dục của Chế Độ Tự Do Dân Chủ, không để cho Nhà Nước trở thành Độc Tài Toàn Trị.

 

Ở mỗi địa phương, mỗi trường có quyền phân cấp từ Tiểu Học lên Trung Học đệ I cấp, tới Trung Học đệ II cấp , dài, ngắn khác nhau. Nhưng chỉ hạn định trong vòng 12 năm. Sau đó học sinh tiếp theo học Đại Học Chính Quy 4 năm. Ngoài ra còn có Cao Đẳng Cộng Đồng 2 năm. Học hết 2 năm, đủ điểm, có thể ghi danh vào Đại Học Chính Quy 4 năm. Còn không tiếp tục nữa, thì có thể vào trường Cao Đẳng Huấn Nghiệp 2 năm để học nghề.  Sau 4 năm tối nghiệp Đại Học Chính Quy, nếu sinh viên theo các ngành như Y, Dược, Luật, Thần Học…thì học tiếp ra Bác Sĩ, Dược Sĩ, Luật Gia…Còn những sinh viên đủ điểm quy định, được vào chương trình Cao Học Khoa Học 2 năm, nếu luận án tốt nghiệp đủ điểm quy định sẽ tiếp tục chương trình Tiến Sĩ và phải trình luận án có tính sáng tạo. Với các Sinh Viên không đủ điểm thì sẽ theo chương trình Cao Học Ứng Dụng.

  

Tới tuổi vào Tiểu Học, chương trình Giáo Dục Tri Thức, chữ nghĩa, kiến thức, tuy là chính, nhưng thầy cô, cha mẹ vẫn phải quan tâm giúp các em hướng vào Tâm Linh, rèn luyện Đức Tính, siêng tập Thể Lực, chơi các môn thể thao thích hợp với mỗi em. Tùy vào năng khiếu văn nghệ mỗi em, Thầy Cô và Cha Mẹ khuyến khích các em luyện tập các môn nghệ thuật, mà họ có sở trường. Ở bậc Tiểu Học và Trung Học, nhà nước và địa phương đã có một chính sách chung về chương trình và ngân sách. Dân chúng mỗi địa phương, bầu ra Hội Đồng Học Khu để đôn đốc, giám sát các sinh hoạt của Học Đường. Tức là 4 bên: Nhà Trường, Gia Đình, Nhà Nước và Cộng Đồng Địa Phương đều phải tận tâm góp sức vào việc bảo vệ, dậy dỗ, xây dựng nên những Con Người Toàn Triển Toàn Diện cho tương lai đất nước.

 

Ở bậc Trung Học có tính cách Phổ Thông, nên một lớp phải có nhiều Giáo Sư, Thầy Trò không còn gắn bó nhiều như ở các lớp Mầm Non, Mẫu Giáo, Tiểu Học nữa. Tuy các Giáo Sư vẫn không thể quên phương pháp Thân Giáo, cộng với Ngôn Giáo và Tâm Giáo cần phải có, thể hiện qua cung cách, tài năng, đức độ của mình để thuyết phục, chinh phục, khuyến khích, thúc đẩy, gợi ý cho học sinh ham vui học - hỏi, hỏi, hiểu, hành - để bắt tay vào việc Thí Nghiệm, Thực Nghiệm, Kiểm Nghiệm. Tạo điều kiện, cơ hội cho Học Sinh nêu ra tất cả những khó khăn, vướng mắc trong bài học, trở ngại trong việc thâu thái. Cũng như phát biểu ý kiến trước Thầy, Bạn, và các chương trình Dã Ngoại, quan sát thực tế xã hội, cơ xưởng, thiên nhiên, tham gia sinh hoạt xã hội cộng đồng… Chương trình Trung Học đa dạng, nhưng chỉ là khái quát, để học sinh mở rộng kiến thức, giúp cho họ tự tìm ra môn học chính cho mình, khi chọn lựa các ngành trên Đại Học, không một ai, - kể cả cha mẹ - không một thế lực nào, được quyền ép buộc học sinh phải lựa chọn những môn học, mà họ không thích hợp. Các Đại Học danh tiếng ở đất nước phát triển, hầu hết đều có quy chế Tự Trị Đại Học, với chương trình Rộng Mở, sẵn sàng khai phá và mở thêm các phân khoa mới, đáp ứng với nhu cầu và sự phát triển của thực tế. Nhà Nước có chương trình trợ giúp cho sinh viên nghèo và cho tất cả sinh viên được vay tiền học. Nhà Nước, các Sáng Hội, các Công Ty và Tư Nhân còn có những chương trình cấp học bổng cho các sinh viên ưu tú.

 

Chương trình Giáo Dục ở các nước Dân Chủ ngày nay, đều đã có chung một hướng là, xây dựng thành những Con Người tự do, tự chủ, sáng tạo, có đủ sức khỏe, tinh thần, thể chất, nhận thức sáng suốt, tài đức cao rộng, khả năng sáng tạo, trước khi là chuyên gia, bác học để phù hợp và đóng góp với cuộc sống thực tế, hoà ái, phát trỉển, trong xã hội nhân văn, tự do, công bằng, trọng pháp. Bởi thế ngoài các môn như toán và khoa học, các bài vở khai mở tri thức và chuyên khoa, thì nền Giáo Dục Nhân Chủ Nhân Văn, Toàn Triển, Toàn Diện, Toàn Cầu, cần phải chuyên chở các nội dung có văn hóa tính của Dân Tộc, Nhân Loại, với giá trị tự chủ, trách nhiệm tự do, đức tính công bằng và tinh thần trọng pháp, để Người Người sống yên vui, Nhà Nhà hạnh phúc giữa thế giới văn minh của Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển Toàn Diện Toàn Cầu này.

 

LÝ ĐẠI NGUYÊN - Little Sàigòn ngày 01/01/2013 - Mùa Xuân Quý Tỵ

--

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-20/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link