Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, February 14, 2013

Thủy quân Lục chiến Mỹ trao quà Tết cho trẻ em Việt Nam


Thủy quân Lục chiến Mỹ trao quà Tết cho trẻ em Việt Nam



Binh sĩ TQLC Mỹ trao quà cho trẻ em Việt Nam (Ảnh: Ðại sứ quán Hoa Kỳ)

 

Tin liên hệ



12.02.2013

 

Đội Thủy quân Lục chiến của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội mới đây đã trao tặng 100 đồ chơi và thú bông cho các trẻ em tại Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương.

Các sĩ quan đã mang theo các đồ chơi mà các nhân viên cơ quan ngoại giao Mỹ đã quyên góp trong đợt phát động thường niên có tên gọi ‘Đồ chơi dành cho Tết’.

Các giới cấp cao Mỹ trong đó có Tổng thống Barack Obama và Ngoại trưởng John Kerry mới đây cũng đã gửi lời chúc mừng năm mới tới người dân các nước đón Tết Nguyên Đán, trong đó có Việt Nam.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear cũng đã chúc mừng người dân Việt qua một thông điệp bằng video.

Ông Shear cho biết ông vui vì được đón cái Tết thứ hai tại Việt Nam, và ấn tượng với hoa đào hiện diện khắp các phố phường khi Tết đến.

Đồ chơi dành cho Tết (Toys for Tet) tại Việt Nam có hình thức tương tự như ‘Toys for Tots’, một sáng kiến của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ năm 1947.

Khi ấy Thị trưởng Bill Hendricks và một nhóm quân nhân dự bị ở Los Angeles đã gom góp và phân phát 5.000 đồ chơi tới các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Chương trình hiện nay diễn ra trên toàn thế giới, với những đồ chơi mới được Thủy quân Lục chiến thu thập trong những tháng cuối cùng của năm và tặng lại cho trẻ em nghèo trong cộng đồng vào dịp lễ Tết.

Tại Việt Nam, Đội quân nhân Thuỷ quân Lục chiến đã trao tặng đồ chơi cho những trẻ em trong trại trẻ mồ côi hoặc nơi tạm trú tại địa phương trong khoảng thời gian của Tết Nguyên đán.

Nguồn: US Embassy

 


 

 

 

 

 

Tân Ngoại trưởng Mỹ và vấn đề nhân quyền Việt Nam

Việt Hà, phóng viên RFA

2013-02-12

Đối với những người quan tâm đến tình hình Việt Nam, việc Thượng nghị sĩ John Kerry được chọn làm Ngoại trưởng Mỹ đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến thái độ và cách tiếp cận của ông với tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

AFP photo

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 06/2/2013. Ông đã chính thức tuyên thệ nhậm chức ngày 01 tháng 2 năm 2013.


Những thắc mắc hay thậm chí nghi ngờ này có những căn cứ nhất định, xuất phát từ mối quan hệ lâu dài giữa tân Ngoại trưởng Mỹ và Việt Nam trong quá khứ.

Thách thức tân ngoại trưởng

Ngày 1 tháng 2 năm 2013, Thượng nghị sĩ John Kerry chính thức tuyên thệ trở thành Ngoại trưởng mới của Hoa Kỳ. Ông là một trong không nhiều thượng nghị sĩ đã có gắn bó lâu dài với Việt Nam, và không ít thì nhiều cũng dành được những cảm tình nhất định từ phía chính quyền Việt Nam vì những đóng góp không nhỏ trong việc bình thường hóa quan hệ hai nước. Tuy nhiên, ngay trước khi vị tân Ngoại trưởng lên nhậm chức, tình hình Việt Nam đã có nhiều thay đổi, nhất là vấn đề nhân quyền đang bị cộng đồng quốc tế chỉ trích là xuống dốc trong những năm trở lại đây. Đây là một thách thức không nhỏ cho vị tân Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong khi cả Mỹ và Việt Nam đang hướng tới việc đưa mối quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược.

Nhận định về nhiệm kỳ tới của ông John Kerry, giáo sư Carl Thayer, thuộc học viện Quốc phòng Úc, chuyên gia về Việt Nam, đã viết trên trang blog cá nhân của mình vào ngày 6 tháng 2 như sau:

Nhiệm kỳ tới của Thượng Nghị sĩ John Kerry sẽ phản ánh những ưu tiên của Tổng thống Obama và những di sản do Ngoại trưởng Hillary Clinton để lại. Vào năm 2010, Tạp chí Quốc phòng của Bộ Quốc phòng Hoa kỳ đã xếp Việt Nam vào một trong ba đối tác chiến lược tiềm năng tại Đông Nam Á. Hai nước kia là Malaysia và Indonesia…. Việt Nam là một quốc gia trung bình đang nổi lên trong khu vực và sẽ giữ một vị trí quan trọng với Mỹ bởi vai trò của Việt Nam trong ASEAN.

Tuy nhiên, chỉ 1 ngày trước khi vị tân Ngoại trưởng Mỹ tuyên thệ nhậm chức, một báo cáo dài 8 trang của tổ chức Theo dõi Nhân quyền Quốc tế công bố cho thấy tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2012 đã trở nên tồi tệ. Báo cáo viết: ‘nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do hội họp trong ôn hòa; họ trừng phạt những người đặt vấn đề với chính quyền về chính sách, vạch trần tham nhũng, hoặc kêu gọi một giải pháp dân chủ thay thể chế độc đảng. Công an thường xuyên quấy nhiễu, đe dọa các nhà hoạt động và gia đình của họ. Nhà cầm quyền tùy tiện bắt giam các nhà tranh đấu, biệt giam họ lâu dài mà không xét xử bằng pháp luật, không cho gia đình viếng thăm, tra tấn và truy tố họ tại những tòa án được đảng hướng dẫn để kết án tù dài hạn với tội danh vi phạm luật an ninh quốc gia rất mơ hồ’.

Theo báo cáo của tổ chức này, trong năm 2012, chính quyền Việt Nam đã bỏ tù ít nhất 33 nhà hoạt động và bắt giữ thêm ít nhất 34 nhà vận động tôn giáo và chính trị khác.

Theo Giáo sư Carl Thayer thì tình hình nhân quyền đang xuống dốc tại Việt Nam là một cản trở, khiến cho những đối thoại đối tác chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam phải chững lại. Vì vậy ông Kerry sẽ phải duy trì sức ép lên Hà Nội để đảo ngược chiều hướng này.

Gây sức ép hay thuyết phục Việt Nam?

Thượng nghị sĩ John Kerry vốn là người đã có gắn bó lâu dài với Việt Nam kể từ cuộc chiến Việt Nam hồi những năm 1960 và ông đã từng được tặng huân chương vì những hành động anh hùng khi tham chiến tại đây. Trở về Mỹ, ông là người tích cực tham gia phản chiến. Đầu những năm 1990 ông là một trong số ít các thượng nghị sĩ góp phần xây dựng mối quan hệ hai nước từng là cựu thù của nhau. Ông cũng đã từng đến thăm Việt Nam nhiều lần. Những gắn bó này đã giúp ông tạo dựng được mối quan hệ có thể nói là khá tốt đẹp với giới lãnh đạo Việt Nam. Điều này cũng có ảnh hưởng phần nào tới cách ông tiếp cận và làm việc với giới lãnh đạo tại Việt Nam về những vấn đề quan trọng. Giáo sư Carl Thayer nhận xét về điều này trên trang blog của mình:

Ngoại trưởng Kerry có kinh nghiệm làm việc đáng kể với giới lãnh đạo Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua. Hơn nữa, là một thành viên và sau đó là Chủ tịch Ủy ban đối ngoại thượng viện, ông đã gặp tất cả các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam khi họ đến thăm Mỹ. Thượng nghị sĩ Kerry sẽ có thể có những đánh giá độc lập về tính cách, giá trị và mục đích của họ. Và bởi Việt Nam có vai trò quan trọng trong các mối quan hệ cá nhân của ông, điều này sẽ có lợi cho Ngoại trưởng Kerry khi ông dự Hội nghị Bộ trưởng ASEAN và Diễn đàn khu vực ASEAN sắp tới.

TS Nguyễn Quốc Quân (giữa) được chào đón tại sân bay quốc tế Los Angeles ở California vào ngày 30 tháng 01 năm 2013. AFP photo

Thế nhưng Ngoại trưởng Kerry cũng là người thực tế. Ông đã từng nói ‘ở đâu có quyền lợi chung thì cả Mỹ và Việt Nam có thể làm việc cùng nhau’. Mỹ nhìn thấy ở Việt Nam một đối tác chiến lược tiềm năng trong khu vực trước một Trung Quốc đang trỗi dậy thách thức vị trí hàng đầu của Mỹ trên thế giới. Còn Việt Nam nhìn thấy ở Mỹ một thị trường lớn. Theo dự báo của Bộ thương mại Mỹ vào năm ngoái, kim ngạch hai chiều Mỹ Việt đạt khoảng hơn 24 tỷ đô la trong năm 2012. Mỹ hiện là thị trường tiêu thụ lớn nhất cho xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch hơn 14 tỷ đô la trong năm 2012.

Thực tế này cũng làm một số người lo ngại vị tân Ngoại trưởng vì quyền lợi của nước Mỹ sẽ có thể bỏ qua vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Ông David Brown, một nhà cựu ngoại giao Mỹ tại Việt Nam, nhận xét:

Tất nhiên, ông ấy sẽ thúc giục Việt Nam phải đảm bảo quyền tự do được quy định trong hiến pháp và cam kết của Việt Nam khi tham gia vào Tuyên bố về nhân quyền của Liên hiệp quốc….Ông ấy biết là các lãnh đạo Việt Nam muốn có hợp tác chặt chẽ hơn trong trao đổi quân sự, phát triển năng lượng hạt nhân và mở cửa thị trường. Với những kinh nghiệm lâu năm khi còn là thành viên trong Quốc hội, ông ấy có thể giải thích với đối tác Việt Nam rằng có nhiều dân biểu và nghị sĩ quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đến mức nó có thể cản trở mối quan hệ chặt chẽ hơn mà các lãnh đạo Việt Nam đang tìm kiếm.

Theo tôi nghĩ ông Kerry với những liên hệ tốt đẹp với nhà cầm quyền cộng sản, và bây giờ ở vị trí ngoại trưởng thì ông có thể làm được nhiều việc hơn cho vấn đề nhân quyền Việt Nam.
BS Nguyễn Quốc Quân

Theo bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, Chủ tịch Ủy ban yểm trợ cao trào nhân bản, tại tiểu bang Virginia, rất có thể vị tân Ngoại trưởng sẽ tiếp cận Việt Nam theo hướng mềm mỏng về vấn đề nhân quyền. Ông nói:

Tôi có liên lạc và nói chuyện với cố vấn của ông Kerry, và tôi có than phiền và được họ trả lời là họ vẫn can thiệp nhân quyền nhưng họ chủ trương đường lối khác, thuyết phục và không làm cộng sản Việt Nam mất mặt. Theo tôi nghĩ ông Kerry với những liên hệ tốt đẹp với nhà cầm quyền cộng sản, và bây giờ ở vị trí ngoại trưởng thì ông có thể làm được nhiều việc hơn cho vấn đề nhân quyền Việt Nam. Điển hình là khi ông vừa nhậm chức thì có thả luật sư Lê Công Định và tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân.

Hôm 30 tháng 1 vừa qua, Việt Nam đã trả tự do cho nhà vận động nhân quyền Việt kiều Mỹ, tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân sau khi giam giữ ông 9 tháng. Sau đó vào ngày 6 tháng 2, Việt Nam tiếp tục trả tự do cho một nhà hoạt động xã hội khác, luật sư Lê Công Định.

Rõ ràng, những kinh nghiệm làm việc với Việt Nam trong quá khứ đang là một điểm lợi cho vị tân Ngoại trưởng Mỹ. Nó có thể làm một số người lo lắng cho rằng mối quan hệ cá nhân của ông với Việt Nam sẽ có thể làm ảnh hưởng đến những quyết định quan trọng. Tuy nhiên, nói như nhận xét của giáo sư Carl Thayer, ông John Kerry cũng giống như Thượng nghị sĩ John McCain, sẽ không để tình cảm riêng tư ảnh hưởng đến đánh giá của mình. Ông John Kerry là người phản chiến nhưng chắc chắn không phải là người theo cộng sản.

Theo dòng thời sự:


 

 

GIÁO HOÀNG BENEDICT XVI VÀ NHÀ THẦN HỌC RATZINGER


 

 
GIÁO HOÀNG BENEDICT XVI VÀ
NHÀ THẦN HỌC RATZINGER
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 13.02.2013
 
Sáng thứ hai 11.02.2013, tôi phải vất vả lắm lái xe từ Thủ đô BERNE trở về GENEVA. Đường chỉ có chừng 200 cây số, nhưng tôi phải mất 6 tiếng đồng hồ bởi vì từ YVERDON đến LAUSANNE rồi GENEVA, trời xuống tuyết tầm tã, xe chạy chậm rì nối đuôi như đàn rùa bò !
         Về được đến nhà tại Geneva, cú điện thoại đầu tiên mà tôi nhận được là từ đài RFI báo tin Đức Giáo Hoàng BENEDICT XVI tuyên bố “Démission“ vào ngày 28.02.2013 đúng 20 giờ. Chúng tôi không dám dịch nguyên văn tiếng Pháp “Démission“ là TỪ CHỨC. Cuối cùng đài RFI rất thông minh và tế nhị đề nghị dịch là TỪ NHIỆM. Tôi hoàn toàn đồng ý với hai chữ TỪ NHIỆM.
         Thế rồi, suốt ngày, tôi theo rõi và ghi lại Tin Tức và Bình Luận từ các đài Truyền Hình như EURONEWS, CNN, TSR1 (Thụy sĩ), TF1 (Pháp), A2 (Pháp).
         Tháng 4 và 5 năm 2005, nghĩa là cách đây 8 năm, tôi đã có dịp viết về nhà Thần Học Josef RATZINGER được mau chóng bầu lên Tân Giáo Hoàng. Và tháng 2 năm nay 2013, tôi lại có dịp viết về Giáo Hoàng BENEDICT XVI từ nhiệm để dành quãng đời còn lại sống ẩn dật tại một Nhà Dòng trong khuôn viên Vatican đẩ cầu nguyện và viết sách. Giáo sư Thần Học Josef RATZINGER trở lại vơiù suy tư và viết sách trong một phòng vắng của Nhà Dòng.
         Con người của Nhà Trí thức Tôn giáo này đã được sự tin tưởng của Đức Cố Giáo Hoàng GIOAN-PHAOLÔ II để bảo vệ Đức Tin Công Giáo. Một số người nói rằng Ngài là bảo thủ. Đức Tin Công Giáo, dựa trên nền tảng của Lời Dậy Phúc Aâm, đã trải qua trên 20 Thế kỷ, không thể nhân danh “Cấp Tiến“ mà vẽ vời ngang dọc thay đổi theo thời tiết mùa đông tuyết rơi hay mùa hè nắng cháy. Thời đại ngày nay có những ồn ào cho phép hai tên “đực rựa râu xồm“ ôm nhau hôn hít và lấy nhau. Đó chỉ là nhất thời xung động. Quan điểm Công giáo về Gia đình không thể thay đổi theo với ồn ào xung động nhất thời. Nhà Thần Học Josef RATZINGER tuy thân xác đã yếu với tuổi 86, nhưng tinh thần và Đức Tin của Ngài vẫn vững như bàn thạch.
Nhà Thần Học Josef RATZINGER âm thầm sống tại một căn phòng nhỏ bé tại Nhà Dòng ở Vatican. Tôi tin tưởng rằng Vị Tân Giáo Hoàng sắp tới sẽ có dịp đến hỏi ý kiến của Giáo sư Thần Học Josef RATZINGER về những đổi thay xung động nhất thời ngày nay.
Trong bài này, chúng tôi sẽ viết về những điểm sau đây:
=>     Nhà Thần Học Josef RATZINGER được mau chóng bầu lên Giáo Hoàng năm 2005
=>     Con người Giáo sư Thần Học RATZINGER vững chắc bảo vệ Đức Tin
=>     Giáo Hoàng BENEDICT XVI về hưu để âm thầm cầu nguyện và viết sách
 
Nhà Thần Học Josef RATZINGER được mau chóng
bầu lên Giáo Hoàng thứ 265 năm 2005
 
Tin Vatican (Vis 19/04/2005) - Vào khoàng 6 giờ 15 chiều ngày thứ Ba, ngày 19 tháng 4 năm 2005, giờ Roma, tức 11 giờ 15 tối thứ Ba, ngày 19/04/2005, giờ Việt Nam, chuông Đền Thờ Thánh Phêrô vang dội và một làn khói trắng đã thoát ra từ ống khói của Nhà Nguyện Sistina, dân chúng vui mừng vỗ tay và càng lúc càng đông từ khắp nơi tuôn tới hồi hộp đứng chờ tuyên bố tên của vị tân Giáo Hoàng vừa được 115 vị Hồng Y tuyển chọn.
Vào khoảng 6 giờ 40 chiều thứ Ba, ngày 19/04/2005, mọi người vui mừng lắng nghe báo tin, Đức Hồng Y Josef Ratzinger, người Đức, được bầu làm Giáo Hoàng thứ 265 của Giáo Hội Công Giáo, với tên hiệu là Benedict XVI.
Đức Josef Ratzinger, niên trưởng Hồng Y Đoàn, nguyên tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh về Thánh Kinh, chủ tịch Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, sinh ngày 16/4/1927 tại Marktl am Inn, Đức quốc. Ngài được thụ phong linh mục ngày 29/6/1951.
Thân phụ ngài là một cảnh sát viên xuất thân từ một gia đình nông dân miền Hạ Baviera. Thời thiếu niên, ngài theo học tại Traunstein và bị gọi nhập ngũ phục vụ với tư cách quân nhân dự bị trong lực lượng phòng không Đức quốc xã vào những tháng sau cùng của Thế Chiến Thứ Hai.
Sau chiến tranh, từ 1946 đến 1951 ngài theo học Triết Học và Thần Học tại Đại Học Munich. Sau khi được thụ phong linh mục năm 1951 ngài tiếp tục học Cao Học tại Traunstein. Năm 1953, ngài được cấp bằng Tiến Sĩ Thần Học với đề tài: "Dân Chúa trong học thuyết của Thánh Augustinô về Giáo Hội".
Bốn năm sau đó, ngài trở thành Giáo Sư Đại Học. Ngài dạy Tín Lý và Thần Học Căn Bản tại Viện Cao Học Freising, sau đó tại Bonn từ 1959 đến 1969, Munster từ 1963 đến 1966, Tubinga từ 1966 đến 1969. Từ năm 1969, ngài là Giáo Sư Thần Học Tín Lý và Lịch Sử Tín Lý tại Đại Học Regensburg và là phó Giám Đốc viện Đại Học này.
Năm 1962, lúc 35 tuổi ngài đã rất nổi tiếng trên thế giới và trở thành cố vấn cho Tòa Thánh tại Công Đồng Chung Vatican II, cũng như cố vấn cho Đức Hồng Y Joseph Frings, lúc ấy là Tổng Giám Mục Cologne.
Trong vô số các tác phẩm của ngài, nổi tiếng nhất là cuốn "Nhập Môn Kitô Giáo" xuất bản năm 1968 và cuốn "Tín Lý và Mạc Khải" tổng hợp các suy tư, bài giảng và tiểu luận dành riêng cho việc mục vụ xuất bản năm 1973.
Tháng 3 năm 1977, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm ngài là Tổng Giám Mục Munich và Freising. Ngài được tấn phong ngày 28/5/1977.
Liền đó, ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tấn phong Hồng Y ngày 27/6/1977.
Ngày 25/11/1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cử ngài giữ chức tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh về Thánh Kinh, và chủ tịch Ủy Ban Thần Học Quốc Tế.
Ngài đã từng là phát ngôn viên tại Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ 5 (1980), chủ tịch Đại Biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ 6 (1983).
Ngài được bầu làm phó niên trưởng Hồng Y Đoàn ngày 6/11/1998. Ngày 30/11/2002, Đức Thánh Cha đã phê chuẩn việc các Hồng Y bầu ngài là niên trưởng Hồng Y Đoàn.
Trong 6 năm (1986-1992), ngài đã là chủ tịch Ủy Ban Soạn Thảo Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo.
Tại giáo triều Rôma, ngài là thành viên:
-        Bộ Quan Hệ với Các Dân Nước.
-        Bộ Giáo Hội Đông Phương, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, Bộ Giám Mục, Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, Bộ Giáo Dục Công Giáo.
-        Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất Các Tín Hữu Kitô, Hội Đồng Tòa Thánh đặc trách Văn Hóa.
-        Ủy Ban Châu Mỹ La Tinh và Ủy Ban Giáo Hội Chúa.
Và đã được bầu làm vị Giáo Hoàng thứ 265 của Giáo Hội Công Giáo ngày 19/04/2005.
Chỉ sau 26 tiếng họp và 5 lần bỏ phiếu , Hội Đồng Hồng Y đã nhanh chóng bầu được một Đức Giáo Hoàng mới [ Habamus Papam } . Khói trắng bay lên báo tin mừng vào 17 giờ 50 vào chiều hôm nay . Điều đáng mừng hơn nữa , chính Đức Hồng Y Joseph Ratzinger được chọn lựa vào chức vụ cao quý này . Bởi vì trong quá khứ , Ngài được coi như một cộng sự viên tín cẩn và có ảnh hưởng lớn nhứt đối với Cố Giáo Hoàng GIOAN-PHAOLÔ II và nhờ vậy đường lối Giáo Hội sẻ được tiếp tục không thay đổi .
 
Con người Giáo sư Thần Học RATZINGER
vững chắc bảo vệ Đức Tin
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(VietTUDAN Số/No.vtdi0213/05.05.05)
 
Tân Giáo Hoàng với Tên BENEDICT XVI
 
Trong Lịch sử bầu Giáo Hoàng, chưa lần nào bầu lẹ như lần này. Các nhà bình luận đưa ra 4 lý do chính sau đây:
=>     Hồng Y Joseph RATZINGER, nhà Thần học nổi tiếng, đã được các Hông Y biết tới nhiều.
=>     Ngài là cánh tay phải của Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II. Hồng Y đoàn muốn sự nối tiếp của Cố Giáo Hòang
=>     Trước những trào lưu mới tục hóa Tôn giáo, Lập trường bảo vệ Tín Lý Công giáo của Hồng Y Joseph RATZINGER là vững chãi nhất.
=>     Lớp tuổi trẻ qua sự tạo dựng của Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cần những điểm tựa vững chắc trước những trào lưu có thể làm lung lay Đức Tin.
 
Lập trường của con người Hồng Y Josef RATZINGER
 
         Đức Hồng Y COTTIER, Thụy sĩ, cố vấn thường trực của Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nay đã về hưu, từng biết Hồng Y Joseph RATZINGER, đã tả Hồng Y Josef RATZINGER là một người sống đơn giản, khiêm nhường. Linh mục Paul VALADIER, Giáo sư  Phân Khoa Dòng Tên tại Paris, nói rằng mặc dầu Hồng Y Joseph RATZINGER trước công chúng, tỏ ra lạnh lùng, nhưng trong những thảo luận tư, Ngài là người lưu ý lắng nghe, tươi cười và rất tế nhị.
         Tìm hiểu về con người và Lập trường của Hồng Y Joseph RATZINGER để thấy tầm ảnh hưởng của con người này khi trở thành Lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
         Linh mục Paul VALADIER, trong cuộc Phỏng vấn của báo L’EXPRESS, tuần từ 25.04—01.05.2005, đã trình bầy hai khía cạnh của con người Hồng Y Joseph RATZINGER: đó là con người TRÍ THỨC và con người GIÁO ĐIỀU.
Con người TRÍ THỨC (Intellectuel)
         Hồng Y Josef RATZINGER là Giáo sư Thần học của nhiều Đại Học. Luận án Tiến sĩ của Ngài là về Thánh AUGUSTIN, một Vị Thánh lớn của Giáo Hội. Nhưng Thánh AUGUSTIN đã là người sống cuộc sống trần thế rất sôi nổi. Một số Triết gia Hiện sinh đã nói nhiều về cuộc sống thế tục hiện sinh của Thánh AUGUSTIN. Luận án Tiến sĩ của Hồng Y Josef RATZINGER chắc chắn tìm hiểu những khía cạnh hiện sinh này của Thánh AUGUSTIN.
         Là Giáo sư Thần Học của nhiều Đại Học, và với thái độ của một nhà Trí thức, tinh thần tìm hiểu và đón nhận những khía cạnh khác nhau của đời sống tôn giáo phải có trong con người của Hồng Y Josef RATZINGER. Con người Trí thức ấy phải mang tinh thần cởi mở trước những trào lưu tư tưởng mới.
Con người GIÁO ĐIỀU (Doctrinaire)
         Nhưng đứng về phương diện Tín Lý Công Giáo, thì Hồng Y Josef RATZINGER lại tỏ là con người Giáo điều. Con người Giáo điều là con người khăng giữ những điều mình tin và chấp nhận. Giáo sư Paul VADADIER phân biệt rằng một con người Giáo điều mà không trí thức, rất dễ trở thành độc đoán, độc tài, bắt người khác phải theo mình, trong khi ấy con người Giáo điều mà Trí thức là con người giữ vững lòng tin của mình sau khi đã lắng nghe, tìm hiểu và nhận ra sự thật của lòng tin của mình.
         Chính khía cạnh Trí thức của con người Hồng Y Josef RAZINGER làm cho con người Giáo điều của Ngài có sự lắng nghe những mới mẻ. Nhưng những mới mẻ theo thời gian này rất khó lay chuyển những điều mà Hồng Y đã xác tín.
 
Nhận xét sự biến chuyển của Hồng Y Josef RATZINGER
 
         Người ta đã nhận xét Hồng Y Josef RATZINGER ở ba giai đoạn biến chuyển:
=>     Khi Đức Tổng Giám Mục Cologne, Joseph FRINGS, chọn Giáo sư Thần Học Josef RATZINGER làm chuyên viên cho mình trong Công Đồng Vatican II, thì nhà chuyên viên này được coi là có khuynh hướng cấp tiến (progressiste). Đây là khía cạnh trí thức của con người Josef RATZINGER ở thời điểm có những nhen nhún xáo động, đòi hỏi của tuổi trẻ thời ấy. Hồng Y Josef RATZINGER đã nói nhiều sau này về những năm 1968 của tuổi trẻ. 
=>     Khi Hồng Y Josef RATZINGER làm việc tại Roma, nhất là về việc bảo vệ Đức Tin, thì người ta nhận thấy nơi Ngài hình ảnh của con người Giáo điều, mệnh danh Ngài là con người bào thủ (conservateur).
=>     Trong thời gian là cánh tay phải của Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, với sự cởi mở của Cố Giáo Hoàng, Hồng Y Josef RATZINGER chịu những ảnh hưởng, nghĩa là khía cạnh trí thức nơi Ngài làm việc nhiều hơn. Qua những bài nói mới đây nhất khi Ngài lên làm Giáo Hoàng, người ta bắt đầu nghĩ rằng vị Tân Giáo Hoàng không phải hoàn toàn bị gán cho chữ bào thủ nữa. Con người trí thức sẽ làm việc và có thể có những biến chuyển mở rộng căn bản. 
 
Lập trường về một số vấn đề thời đại
 
         Lập trường của Hồng Y Josef RATZINGER rất rõ rệt về những vấn đề sau đây của thời đại:
=>     Vấn đề ly dị: Ngài không chấp nhận
=>     Vấn đề phá thai: Ngài không chấp nhận
=>     Vấn đề Gia đình: Ngài coi Gia đình là nền tảng của bộ mặt xã hội. Tại gia đình, Đức tin được nuôi dưỡng.
=>     Lập gia đình đồng phái: Ngài không chấp nhận
=>     Nữ giới làm Linh mục: Ngài không chấp nhận
=>     Aâu châu văn hóa: Ngài nói rằng Aâu châu là một châu về Văn hóa, chứ không phải về Địa lý, vì vậy Ngài thấy Thổ Nhĩ Kỳ nhập vào Liên Aâu sẽ có những việc rắc rối.
 
Giáo Hoàng BENEDICT XVI về hưu
để âm thầm cầu nguyện và viết sách
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
(VietTUDAN Số/No.vtd0569/14.02.2013)
 
Khi đài RFI báo tin Đức Giáo Hoàng BENEDICT XVI tuyên bố “Démission“, tôi cũng rất sửng sốt như mọi người lần đầu tiên nghe tin này, từ những người đang thăm viếng Đền Thánh Phêrô đến những nhân vật Tôn giáo, Chính trị. Lần từ chức cuối cùng của một Vị Giáo Hoàng đã cách đây 600 năm. Khoảng thời gian dài 6 Thế kỷ này đã làm người ta không còn tưởng tượng đến một Vị Giáo Hoàng xin từ nhiệm. Đó là lý do khi Đức Gáo Hoàng BENEDICT XVI tự ý tuyên bố TỪ NHIỆM, thì mọi người sửng sốt. Nhưng từ sửng sốt, người ta tìm hiểu thêm, thì theo Báo, Đài, người ta bắt đầu khen quyết định TỪ NHIỆM của Ngài là : (i) Sức khỏe của Ngài không cho phép chứ không phải Ngài sợ sệt trước những vấn đề sôi động thời cuộc;  (ii) Ngài tự mình suy tư và lấy quyết định quan trọng, đó là hành động can đảm của một Trí thức; (iii) Tâm trí Ngài còn rất sáng suốt nghĩ đến tương lai Giáo Hội; (iv) Ngài làm Cách Mạng trong Giáo quyền.
 
Sức khỏe của Ngài không cho phép chứ không phải Ngài sợ sệt
trước những vấn đề sôi động thời cuộc
 
Có một số nhà bình luận cho rằng vào đầu Thế kỷ mới này, Giáo Hội Công giáo gặp nhiều những trào lưu xã hội tấn công, nên Giáo Hoàng BENEDICT XVI trốn chạy. Nhưng một số những nhà bình luận khác lấy ra những tỉ dụ Lịch sử cho thấy rằng con người của Giáo sư Thần Học Josef RATZINGER luôn luôn vững tin ở mình và sẵng sàng tìm hiểu để giải quyết. Thực vậy, vào những năm 60-70, Phong trào Thần Học Giải Phóng nổi lên tại Nam Mỹ do ảnh hưởng quá mạnh của Ý thức hệ Cộng sản thời thịnh hành nhất. Có thể nói đây là Phong trào tấn công vào Vatican còn mạnh hơn những vấn đề thời nay. Nhưng Nhà Thần Học Josef RATZINGER không những không trốn chạy mà còn quyết tâm chống lại Phong trào Thần Học Giải Phóng. Chính bản thân chúng tôi vào năm 1968 đã chứng kiến một Giám Mục từ Nam Mỹ đến AULA MAGNUM của Đại Học Fribourg để thuyết giảng về Thần Học Giải Phóng. Có lẽ Giám Mục NGUYỄN THÁI HỢP, hồi ấy cũng học tại Fribourg, còn nhớ đến buổi Diễn Thuyết này về Thần Học Giải Phóng của Vị Giám Mục đến từ Nam Mỹ. Giáo sư Thần Học Josef RATZINGER, trong môi trường Đại học thời ấy tràn đầy “Gauchistes“, đã là cột trụ chống lại trào lưu Thần Học Giải Phóng này.
Việc Giáo Hoàng BENEDICT XVI từ nhiệm không phải là Ngài ngại sợ những trào lưu tấn công vào Giáo Hội Công Giáo, nhưng chính vì thân xác của Ngài yếu đi về sức khỏe, không giống như thời Ngài còn đầy đủ sức khỏe như những năm 1960-1970 để đối chọi với những trào lưu tấn công.
Chính Đức Giáo Hoàng BENEDICT XVI đã tuyên bố rõ rệt việc từ nhiệm là do sức khỏe:
“Après avoir examiné ma conscience devant Dieu, à diverses reprises, je suis parvenu à la certitude que mes forces , en raison de l’avancement de mon age, ne sont plus aptes à exercer adéquatement le ministère.” (Journal LA LIBERTE, Mardi 12 Février 2013, page 3)
(Sau khi đã đã duyệt xét lương tâm của mình trước Thiên Chúa, với những trường hợp khác nhau, tôi đã đi đến điều chắc chắn rằng sức khỏe của mình, vì tuổi tác  càng lớn, không cho phép tôi thi hành tương xứng nhiệm vụ.”
 
Ngài tự mình suy tư và lấy quyết định quan trọng,
đó là hành động can đảm của một Trí thức
 
Sau 600 năm không còn tiền lệ Giáo Hoàng Từ nhiệm, nhưng Đức BENEDICT XVI đã từ nhiệm không phải là vì tiền lệ, nhưng là từ suy tư tự do với tất cả những đắn đo. Đây là quyết định của một Trí thức can đảm, đã gặt ra ngoài những ảnh hưởng xã hội vây quanh, gạt ra một bên những ràng buộc tập tục, mà chỉ hành động hoàn toàn theo suy tư ĐỘC LẬP của đầu óc mình. Ngài đã lấy Lý trí và Lương tâm mình để thắng ngoại cảnh ràng buộc. Người ta gọi đây là sự CAN ĐẢM của một Trí thức.
Chính Đức Giáo Hoàng GIOAN-PHALÔ II, trong cuốn “Universi dominici gregis “, xuất bản tháng 2 năm 1996, đã viết:
“S’il arrive que le Pontife Romain renonce à sa charge, il est requis pour la validité que la renonciation soit faite librement et qu’elle soit dument manifestée, mais non pas qu’elle soit acceptée par qui que ce soit.”
(Nếu xẩy ra việc một Giáo Hoàng La Mã từ nhiệm, thì việc đó có hiệu lực khi mà việc từ nhiệm phải được làm với TỰ DO và việc từ nhiệm phải công khai tuyên bố, chứ không phải buộc chấp nhận bởi bất cứ ai mặc lòng)
 
Tâm trí Ngài còn rất sáng suốt
nghĩ đến tương lai Giáo Hội
 
         Việc từ nhiệm này không phải là quyết định của một người già đã lú lẫn. Tâm trí Giáo Hoàng còn minh mẫn. Ngài nghi đến tương lai Giáo Hội trước những sôi động mới của xã hội và Ngài chân nhận rằng sức khỏe của Ngài không cho phép đối chọi với toàn thể những sôi động ấy. Ngài không cố chấp khư khư giữ lấy vị trí của mình mà Giáo Hội phải thiệt thòi. Đây là sự sáng suốt của một nhà Trí thức và đồng thời cũng là sự khiêm nhường của một con người biết chân nhận khả năng thân xác của mình.
         Pierre VEYA, nhà Bình Luận của nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày 12.02.2013, viết ở trang nhất:
         “La renonciation de Benoit XVI est la réponse honnete d’un intellectuel dont le corps se dérobe. Il y a dans ce geste une grandeur et une lucidité qui forcent le respect. En cela, Benoit XVI est un homme fidèle à lui-même, modeste et sans grands calculs. (LE TEMPS Mardi 12 Février 2013, page 1)
         (Việc từ nhiệm của Giáo Hoàng BENEDICT XVI là câu trả lời thành tâm của một Trí thức mà thân xác đã mệt lả không vững. Có trong cử chỉ này một sự cao thượng to lớn và một sự sáng suốt để bắt người ta phải kính trọng. Trong việc này, Giáo Hoàng BENEDICT XVI là một người trung thực với chính mình, khiêm nhường và không có những tính toán lớn lao.)
 
Ngài làm Cách Mạng trong Giáo quyền.
 
Điều mà các Báo, Đài nhắc ra nhiều nhất để ca tụng Đức Giáo Hoàng BENEDICT XVI, đó là việc TỪ NHIỆM này là một cuộc Cách Mạng trong truyền thống Giáo quyền của Giáo Hội Công Giáo. Người ta thường nói rằng “những quyết định của Giáo Hội chậm rì vì các Hồng Y già nua phải chống gậy rê từng bước, chứ không đi nhanh được “.
Hành động TỪ NHIỆM khi tuổi tác đã cao, thân thể yếu đi là hành động Cách Mạng trong Giáo quyền Công Giáo. Giáo Hoàng BENEDICT XVI muốn nói rằng trong Giáo quyền, một Tâm trí linh hoạt cần một thân thể khỏe mạnh. Tính cách Cách Mạng của việc TỪ NHIỆM từ nay làm gương để Giáo quyền nghĩ đến những khía cạnh sau đây:
-        Khi Giáo Hoàng già nua có thể TỪ NHIỆM, thì những Hồng Y, những Giám Mục đã quá lớn tuổi cũng phải nghĩ đến việc VỀ HƯU nhường trách nhiệm lại cho những người còn sức khỏe lanh lợi.
-        Sau 600 năm không có Giáo Hoàng nào TỪ NHIỆM vì truyền thống của 600 năm, thì nay chính Giáo Hoàng BENEDICT VI mở ra một tiền lệ mới ở thời đại tân tiến ngày nay. Đó là quyết định Cách Mạng trong Giáo quyền.
-        Người ta phê bình đầu óc của Hồng Y Josef RATZINGER là bảo thủ, nhưng hành động TỪ NHIỆM cho thấy rằng Ngài là “Cấp tiến“, muốn phá đi tryuền thống đã kéo dài trong 600 năm. Cấp tiến không phải là theo những sôi động nhất thời. Bảo thủ không phải là cứ khư khư giữ lấy truyền thống. Nhà Thần Học Josef RATZINGER bảo vệ những giá trị Đức Tin ngàn đời không phải là bảo thủ. Cũng vậy Giáo sư Thần Học Josef RATZINGER sẵn sàng theo những cái mới không phải vì hai chữ Cấp tiến mà chính vì Lý luận Trí thức của Ngài thấy việc làm đó là đúng.
         Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE ngày thứ Ba, 12.02.2013, đã đăng đầu đề lớn ở trang nhất: LE RETRTAIT DU PAPE SONNE COMME UNE REVOLUTION (Việc rút lui của Giáo Hoàng reo lên tiếng chuông của một cuộc Cách Mạng) ! Mở đầu bình luận cho cả trang báo, tác giả viết:
         “La démission de Benoit XVI peut aussi ouvrir la porte à une modernisation de l’Eglise. REVOLUTION: En renoncant à son Pontificat pour des raisons de santé, Josef RATZINGER bouleverse l’Eglise catholique !”
         (Việc từ nhiệm của Giáo Hoàng BENEDICT XVI cũng có thể mở cửa cho việc cải tiến Giáo Hội. CÁCH MẠNG: Khi từ bỏ triều đại Giáo Hoàng của mình vì lý do sức khỏe, Nhà Thần Học Josef RATZINGER khuấy động Giáo Hội Công giáo !)
 
Giaùo sö Tieán só NGUYEÃN PHUÙC LIEÂN, Kinh teá
Geneva, 13.02.2013
 

Trận Tết Mậu Thân Tại Vùng I Năm 1968: Mặt Trận Trong Thành Nội Huế...


Riêng  gửi đến các bạn đã sống trong Thành nội  sẽ hình dung lại suốt trận chiến nầy : Khanh - Thọ - Trí    .....

 

Trận Tết Mậu Thân Tại Vùng I Năm 1968: Mặt Trận Trong Thành Nội Huế...



http://nguyennaman.files.wordpress.com/2009/04/huy-hieu-dai-doi-cua-tieu-doan-9-lu-doan-1-nhay-du.jpg?w=719&h=164

    Sáng hôm sau tiểu đoàn được chở cấp tốc bằng trực thăng Chinook vào giải tỏa thành nội Huế. Để tránh phòng không địch, phi công chỉ bay là đà sát ngọn cây, vậy mà cũng có một số bị thương vì đạn AK từ dưới bắn lên!

    Bãi đổ quân là một sân trống, trước bệnh viện Nguyễn Tri Phương, trong đồn Mang Cá. Lúc nầy tình hình Huế vô cùng bi đát! Địch đã làm chủ hết các cổng thành và bờ cao kiên cố, chỉ còn lại một góc nhỏ là đồn Mang Cá.

    Tại đây, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 1, đang chỉ huy cố thủ bằng những “Lính kiểng” cơ hữu. Mặc dù hằng ngày chịu đựng nhiều loạt pháo, họ vẫn bảo vệ được đồn, trong đó chứa hàng ngàn thương binh.
http://farm8.staticflickr.com/7196/6913283725_82ed4da043_b.jpg

    Trước khi kể đến cuộc quần thảo của Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù với sư đoàn chính qui của Việt Cộng trong Thành Nội, tôi muốn nói qua về Tướng Ngô Quang Trưởng, một vị tướng mà toàn quân hết sức khâm phục. Ngoài đức tính liêm khiết (nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng). Ông còn là người  đầy mưu lược, lễ độ, và vô cùng dũng cảm.

    Trong trận tái chiếm Quảng Trị năm 1972, ông đã dùng kế hoạch “Phong Lôi” rất tài tình. Do biết rõ địch đã gài nhiều nội tuyến trong các đơn vị, nhất là Bộ Binh và Địa Phương Quân. Ông lừa địch bằng cách phổ biến ngày N, sẽ cho quân Dù và Thủy Quân Lục Chiến vượt sông Mỹ Chánh tái chiếm Quảng Trị. Đối phương được tin, vội dàn quân tăng cường dầy đặc, gồm bộ binh chủ lực, hỏa tiễn 122 ly, chiến xa T-54, phòng không 30 ly,...dọc theo bờ Bắc sông Mỹ Chánh, để chuẩn bị nghênh chiến.

    Nhưng vào ngày N, Tướng Trưởng đã cho B-52 rải thảm suốt đêm, dọc theo tuyến án ngữ của địch. Ban ngày thì pháo binh, phản lực, và hải pháo luân phiên nã vào vị trí đối phương, khiến địch không có một phút nào yên ổn, để ngốc đầu trốn chạy. Thật đúng như là bị “Thiên lôi đánh”!

    Chờ vài ngày sau, biết địch không còn dám dàn quân như thế nữa. Họ phòng thủ hời hợt, vì tưởng ta chỉ pháo dọa chứ không dám làm thiệt. Đúng lúc đó, Tướng Trưởng đích thân dùng trực thăng ban khẩu lệnh cho từng đơn vị trưởng. Các Chiến đoàn Dù lập tức vượt sông vào lúc 1 giờ khuya, bên phải Quốc lộ I có Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, tất cả đồng loạt khởi binh!

    Mới 8 giờ sáng đã nghe Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù tịch thâu tới 11 khẩu phòng không 30 ly! Đây là chiến lợi phẩm lớn nhất từ trước tới giờ. Trong vòng một thời gian ngắn, Tiểu đoàn 11 Dù đã bắn cháy hơn mười chiến xa T-54, và Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm được cổ thành Quảng Trị.

    Ngũ Giác Đài và các tướng lãnh Mỹ và Pháp hết sức ngạc nhiên. Trước đây họ chỉ đánh giá cao tướng VC Võ Nguyên Giáp ở trận Điện Biên Phủ, nhưng tướng Giáp đã dùng chiến thuật biển người, phải nướng hơn trăm ngàn bộ đội. Cộng Sản đã bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích theo chủ thuyết Duy Vật: “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

     Tướng Giáp quả đúng là “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tướng Trưởng trái lại, ông quý trọng và giữ gìn sinh mạng của từng người lính. Ông cũng khuyến khích, kiểm soát và chỉ dẫn cho từng sĩ quan, dù là sĩ quan cấp trung đội.

    Tướng Trưởng còn là người biết trọng lễ nghĩa, khi nghe Tướng Đống ra Huế, ông đã đến phi trường sớm, và ra tận cầu thang máy bay tiếp đón người thầy cũ của mình. Mặc dù lúc đó hai người cùng cấp bậc, nhưng SĐND thì trực thuộc quyền chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Tướng Đống cũng rất biết điều, mỗi lần họp hoặc nhận lịnh Quân Đoàn, ông thường cho Tư Lệnh Phó ra mặt. Riêng ông có mặt ở Huế để đốc thúc và trấn an các quân nhân trong SĐND (Vì các đơn vị trưởng rất nể trọng Tướng Tư Lệnh; có mặt ông, họ sẽ làm việc siêng năng hơn). 

    Tướng Trưởng còn là người rất can đảm, mặc dù địch đã làm chủ hầu hết thành nội Huế, Đồn Mang Cá như chỉ mành treo chuông, nhưng ông vẫn cùng các lính kiểng ở lại cố thủ một diện tích nhỏ hẹp, ngày đêm chịu đựng mưa pháo, để bảo vệ an toàn cho hàng ngàn thương binh. Ông còn là người rất năng động nhiệt thành trong mọi công việc. Khi còn là Tiểu đoàn Trưởng TĐ5ND, lúc chạm địch, ông xung phong trước hàng quân. Ông đã chỉ huy linh động tài giỏi giành thế chủ động chiến trường, dù trong những tình thế khó khăn,...Trận Đỗ Xá ở Quảng Ngải năm 1965, trận Liên Kết năm 1966 đã đưa Tiểu đoàn nầy được hơn 6 lần tuyên dương trước quân đội và tiểu đoàn được đeo dây biểu chương màu Đỏ.

    Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, đơn vị xuất sắc đã cung hiến cho QLVNCH tám vị Tướng lãnh tài ba: Nguyễn Chánh Thi, Ngô Quang Trưởng, Trương Quang Ân, Hồ Trung Hậu, Đỗ Kế Giai, Lê Quang Lưỡng, và hai vị tướng đã hiển danh “Vị quốc vong thân”: Tướng Phạm Văn Phú và Nguyễn Khoa Nam. 

    Sư Đoàn 1 rồi Quân Đoàn I, dưới tay ông, đã làm khiếp vía địch quân ở vùng Hỏa Tuyến.
http://farm6.staticflickr.com/5041/5361661323_8e7ede21dd_b.jpg

    Bây giờ xin trở lại trận chiến Tết Mậu Thân tại thành nội Huế. Về tình hình địch, bộ đội Bắc Việt từ hướng Tây Bắc, vùng thung lũng A Shau, A Lưới vừa xâm nhập, phối hợp với du kích địa phương, chĩa nhiều mũi dùi tiến vào cố đô Huế. Hướng Tây từ quận Nam Hòa, Nam Giao băng qua cầu Bạch Hổ chiếm cửa Chánh Tây. Hướng Bắc từ rặng Trường Sơn, qua chùa Thiên Mụ, Kim Long. Hướng Đông từ Đồng Xuyên, Mỹ Xá, dọc theo La Vân Thượng tới An Hoà chiếm cửa Đông Ba. Cánh cuối cùng từ Phú Thứ, Đập Đá, qua cầu Trường Tiền chiếm cửa Thượng Tứ.

    Về tình hình bạn, đại đội Hắc Báo của anh bạn cùng khóa Phan Gia Lâm đang bị bao vây trong Đại Nội. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù sáng Mùng 1 Tết, chạy băng đồng marathon gần 20 cây số từ Sịa, Quảng Điền, và cây số 17, An Lỗ về giải cứu cố đô (Hai tiểu đoàn bị chận lại ở An Hoà mãi tới mùng 3 mới vào được BTL Sư đoàn 1 BB). Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù chúng tôi ở mặt trận Quảng Trị đã hao hơn trăm chiến sĩ, tới Huế vào trưa mùng 4 Tết, tạm bố trí trong đồn Mang Cá.

    Sáng Mùng 5 Tết, chúng tôi xuất phát để tái chiếm phi trường Tây Lộc và Cửa Chánh Tây. Vừa mới ra khỏi đồn được 200 thước, tôi gặp Thiếu tá Lê Minh Ngọc, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù đang dẫn binh đi ngang qua. Hỏi thăm thì biết lúc nầy quân số của Tiểu Đoàn 2 và 7 Nhảy Dù chỉ còn phân nửa! Họ bị thiệt hại nặng từ đêm Giao Thừa khi chiếm đầu cầu An Hòa, và đã giao tranh với địch trong Thành Nội mấy ngày qua. Chỉ 3 ngày mà đơn vị bạn đã hao quá nhiều. Chúng tôi ai nấy mặt mày bí xị, vì mình sắp sửa tiến vào vùng tử địa!  Không biết ai còn, ai mất, đúng là:

                    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

                    Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao

                                        (Chinh Phụ Ngâm)

    Khi vào tới gần tường thành Đại Nội, chúng tôi thấy phía trước có nhiều bóng đen thấp thoáng và nghe vài tiếng súng lẻ tẻ. Cả đại đội dàn quân xung phong, gặp một số người mặc áo đen giơ tay đầu hàng. Hỏi ra mới biết đó là binh sĩ của đại đội Hắc Báo.
http://farm6.staticflickr.com/5210/5362274944_8264652bc2_b.jpg

Gặp lại bạn đồng khoá Phan Gia Lâm, hai đứa bắt tay mừng mừng lo lo. Lâm nói giọng Huế:

    __ Lính mi sao còn nhiều quá vậy? Lính của tao chuồn về nhà ăn Tết gần hết!

    Hỏi thăm Lâm về tình hình phía trước, rồi chúng tôi thận trọng tiến dọc theo bờ kinh, thẳng về hướng phi trường L-19 ở Tây Lộc. Khu nầy nhờ Tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy Dù đã dọn sẵn, nên chỉ chạm địch lẻ tẻ, thỉnh thoảng có vài binh sĩ bị bắn tỉa từ phía bên kia bờ kinh. Sau khi chiếm phi trường, tiểu đoàn tiến về cửa Chánh Tây. Đánh trong thành phố thật không dễ, chúng tôi phải phá tường, leo cửa sổ để di chuyển. Các ngõ hẻm, cao ốc, đường cái, và ngả tư, đều có thượng liên địch chực sẵn.

    Khi đến gần cửa Chánh Tây, tôi thấy có rất nhiều địch đội nón cối, tay đang cầm súng Ak-47, B-40, đi qua lại trên bờ thành. Chúng tôi chờ trời tối cho khinh binh lén leo lên dùng lưỡi lê đánh cận chiến, chiếm được một góc thành làm đầu cầu cho đại đội nhào lên bắn ào ạt khiến địch trở tay không kịp. Dùng cách nầy tuy tổn thất nhiều, nhưng vì địch quân đã có lợi thế bờ thành cao trên 5 thước, nếu không liều mạng vào hang cọp thì làm sao bắt được cọp con. Càng dây dưa trì hoãn thì càng tổn thất tiêu hao dần dần, rốt cuộc không có thành quả gì. Trong hai ngày tiểu đoàn chiếm lại được cửa Chánh Tây và bàn giao lại cho Sư đoàn 1 BB trấn giữ. Chúng tôi bọc ngược trở lại để chiếm cửa Đông Ba .

    Tại đây có cây thượng liên đặt nơi cửa thành cao và rất kiên cố, chúng tôi thử xung phong nhiều lần mà không lên được cửa. Trung đội tôi lúc ấy còn 21 người, nhưng do khí thế chiến thắng từ Quảng Trị và cửa Chánh Tây vừa rồi, nên binh sĩ rất tự tin. Đợi ngay khi điều chỉnh pháo binh dập nát khẩu thượng liên, cả trung đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh lên và chiếm được cửa thành. Thấy tên xạ thủ thượng liên chết nằm trên súng, hai chân bị khoá bằng dây xích.
http://farm8.staticflickr.com/7070/6913283019_22d680dd1e_b.jpg

    Kiểm điểm quân số lại thấy chỉ còn mười người nguyên vẹn. Mười một mạng người chết và bị thương, để đổi lấy cửa thành nầy đây. Lính Nhảy Dù trả nợ máu cho quê hương miền Nam, lấy lại sự thanh bình cho đồng bào xứ Huế. “Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”.  Gần ba mươi năm qua, trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ cảm giác cay cay đau đớn khi đứng trên cổng thành đổ nát của mùa xuân năm xưa! Mùa Xuân rây máu của xứ Huế mù trời sương đục, tang tóc đau thương!

    Mấy ngày sau, tiểu đoàn tiếp tục mở rộng kiểm soát các khu vực bên trong Thành Nội. Sáng Mùng 10, chúng tôi chuẩn bị vượt qua hồ Tỉnh Tâm để tìm cách đánh lấy lại cửa Thượng Tứ, cửa chính Nam, đi thẳng vào Đại Nội. Suốt tuần lễ, người không tắm rửa, chân không rời đôi giày trận, sống giữa màn trời chiếu đất, lót dạ bằng những chén cháo trắng. Tuy lương thực không được tiếp tế, nhưng lúc đó không ai ăn vô nổi, vì hằng ngày nhìn thấy xác chết đầy đường, không có người thu dọn. Chúng tôi sống với và giữa những người chết, họ là những người dân đã sống trong chịu đựng và chết trong oan khiên. Họ đã chết cho ai, vì ai?.. Bao nhiêu năm câu hỏi vẫn còn, không được ai đứng ra lãnh trách nhiệm trả lời.

    Trung đội vượt qua hồ Tỉnh Tâm phía ngoài Cầu Kho, tiến vào lục soát ngôi biệt thự khá sang trọng. Khi vừa rút ra khỏi nhà, thì nghe “Đùng” một tiếng, một quả lựu đạn hay súng cối gì đó rơi đúng vào giữa đội hình trung đội tôi! Mọi người đều ngã lăn vì trúng mảnh đạn. Lưng tôi bị đầy mảnh, máu ướt đẩm cả áo trong lẫn áo ngoài.

    Tôi đang kiệt sức dần, thì bỗng nhiên thấy một tên lính địch chạy qua nhà tôi đang nằm. Trong khi tên bộ đội chưa phát giác, do từ một phép lạ hoặc bản năng sinh tồn, tôi đứng dậy, chạy băng về bộ chỉ huy đại đội, các anh em binh sĩ cũng nhanh chân rút theo. Mắt loáng thoáng nhìn thấy Đại đội trưởng Thành Râu từ xa, tôi kiệt sức ngã lăn nằm bất tỉnh trước sân đất trước nhà.
http://farm8.staticflickr.com/7045/6913278987_449a33b9a6_b.jpg

    Lúc tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên lầu của một biệt thự sang trọng. Anh bạn tốt là bác sĩ Thiện mượn mền để đắp cho tôi nhưng chủ nhà không chịu. Tối đến thấy trên mình có cái mền mới tinh, nhưng nó bị trượt qua một bên, vết thương bắt đầu hành sốt, người run lập cập. Tôi định kéo mền lên đắp, nhưng dở tay không nổi, đành nằm chịu trận! Nhìn xung quanh thấy có vài thương binh bị nặng quá đã hy sinh, còn những người khác thì mê man. Sáng ra mới biết anh Thiện đã lén “Mượn tạm” mền để đắp cho tôi. Sau đó nghe nói chủ nhà nầy là kinh tài (hãng xe bus vàng) của Việt Cộng. Hắn ta cùng bọn nằm vùng đã làm nội tuyến hướng dẫn bộ đội vào thành, quấy nhiễu dân chúng, gây bao nhiêu cảnh chết chóc, lầm than cho những kẻ vô tội trong ba ngày Xuân.

    Hơn một tuần quần thảo trong thành nội, Tiểu đoàn 9 Dù còn thảm hơn hai Tiểu đoàn Dù bạn. Quân số còn lại những người nguyên vẹn không quá một trăm!

    Lúc chuyển quân ra Vùng I Chiến Thuật, Tiểu đoàn cần tới 5 chiếc vận tải cơ C-130, nhưng trở về với một chiếc mà còn thấy rộng. Riêng Trung đội 1 của tôi thì coi như báo cáo tổn thất “ Nằm, ngồi ”(chết, bị thương) là 100%.

    Để diễn tả về trận chiến Tết Mậu Thân tại Vùng Giới Tuyến nầy, tôi xin phỏng theo hai câu thơ bất hủ ở mặt trận An Lộc, Bình Long :

                    Cố đô Huế Mậu Thân chiến tích

                    Chiến sĩ Dù vị quốc vong thân!


Trương Dưỡng

Tân Sơn Hòa chuyển

__._,_.___

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link