Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, February 18, 2013

LHQ tố cáo quân đội Miến Điện tra tấn tù nhân phiến quân Kachin


 

 Chủ nhật 17 Tháng Hai 2013

LHQ tố cáo quân đội Miến Điện tra tấn tù nhân phiến quân Kachin


Đặc phái viên LHQ Tomas Ojea Quintana trong cuộc họp báo tại Rangun ngày 16/02/2013.

Đặc phái viên LHQ Tomas Ojea Quintana trong cuộc họp báo tại Rangun ngày 16/02/2013.

Reuters

Đức Tâm


Hôm qua, 16/02/2013, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc phụ trách hồ sơ Miến Điện, ông Tomas Ojea Quintana, đã bày tỏ lo ngại về việc quân đội Miến Điện bắt bớ tùy tiện và tra tấn tù nhân, những người bị cáo buộc là thành phần nổi dậy thuộc sắc tộc Kachin.

Trong chuyến công du Miến Điện ngày hôm qua, đặc phái viên Liên Hiệp Quốc Quintana, đã tới tham quan nhà tù Myikyina, thủ phủ bang Kachin.

Sau khi hoan nghênh các cuộc đàm phán vừa được tổ chức tại Trung Quốc giữa chính phủ Miến Điện và các đại diện Tổ chức vì độc lập Kachin – KIO, nhằm chấm dứt xung đột vũ trang, đại diện Liên Hiệp Quốc nhắc lại rằng các chiến sự tái diễn kể từ tháng 6/2011, sau 17 năm hưu chiến, đã gây ra những hậu quả nặng nề đối với người dân, hàng chục ngàn người phải di tản lánh nạn.

Theo đánh giá của ông Quintana, quân đội Miến Điện vẫn hiện diện đông đảo tại Kachin, điều này có nghĩa là các vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng vẫn có thể tiếp tục xẩy ra. Đại diện của Liên Hiệp Quốc cũng bày tỏ lo ngại trước «các vụ quân đội (Miến Điện) bắt bớ tùy tiện và tra tấn trong quá trình hỏi cung những người thuộc sắc tộc Kachin bị cáo buộc thuộc Tổ chức vì độc lập của Kachin - KIO ».

Tháng Giêng vừa qua, chính phủ Miến Điện thông báo đơn phương ngừng bắn, thế nhưng, chiến sự tiếp tục xẩy ra, thậm chí ngay sát tổng hành dinh lực lượng vũ trang Kachin, trong khu vực biên giới chung với Trung Quốc.
Trong những ngày tới, tại phía bắc Thái Lan, chính phủ Miến Điện sẽ có nhiều cuộc đàm phán với các sắc tộc thiểu số.


Từ tháng Ba năm 2011, chính phủ của tổng thống Thein Sein đã đạt được các thỏa thuận ngừng bắn với lực lượng nổi dậy thuộc nhiều sắc tộc thiểu số. Thế nhưng, các cuộc thương lượng với phiến quân Kachin lại thất bại.

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Đoàn Văn Toại sáng mắt "Một đời lầm lỡ đi theo Việt Cộng"


Sent: Saturday, 16 February 2013 2:40 PM
Subject:  Đoàn Văn Toại sáng mắt "Một đời lầm lỡ đi theo Việt Cộng"

 

 

Thổn thức cho Việt Nam

Thursday, March 19, 2009 9:04:42 AM

Đoàn Văn Toại - Felix lược dịch

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Lời tác giả:
Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.

Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó.
 
Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp.
 
 
 Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.


chien_tranh
Vietnam, A portrait of its people at war
Nguồn: media.us.macmillan.com



Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam.
 
 
Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết.
 
Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó.
 
Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình.
 
 Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam.
 
 Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”.  
 
Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang.
 
Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì.
 
Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”.
 
Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm.
 
Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.  
 
Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới.
 
Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo.
 
Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản.
 
Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”.  
 
Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô.
 
Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu.
 
Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:


‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười’.

(Đời đời nhớ ông - Tố Hữu).


Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie.
 
Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng.
 
Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles.
 
Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.


truong_nhu_tang
Trương Như Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir




Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông.
 
Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
 
Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị,“Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân.
 
Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”.
 
Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”.
 
Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, 'Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha.
 
Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay.
 
Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”.
 
Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay.
 
Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

© DCVOnline 

Sang Bỏ Đảng?


Nhân dân đã quá chán chường và biết rõ bộ mặt gian xảo của các lãnh đạo đảng cộng sản.

Nhân dân chờ xem họ có những hành động gì cụ thể như thẳng tay bài trừ tham nhũng,trả tự do ngay cho các đồng bào yêu nước và dân chủ, dẹp bỏ hai điều 79 và 88 củá luật hình sự trấn áp nhân dân,có thái độ mạnh dạn (nhưng khôn khéo) đối với Bắc kinh về Biển đông;Hoàng sa và Trướng sa,dẹp bỏ điều 4 của hiến pháp 1992 cho đảng cộng sản được quyền  làm vua chuyên chế trên đầu cổ nhân dân...

 

Hãy chờ xem,bộ ba Dũng,Sang và Trọng làm được gì ?

GS TS  

 

 

 " Đã không biết bao nhiêu lần, Đảng Nhà Nước CSVN, Chủ Tịch Nước CSVN Trương tấn Sang miệng thì ơi ới kêu gọi dân bảo vệ đất nước, biển đảo. Nhưng trong bụng CSVN đầy gươm đao của TC. Người dân Việt bình dân hay trí thức, già trẻ bé lớn nào yêu nước, đi biểu tình chống TC xâm lăng, ngược lại lịnh “định hướng dư luận” của Thiên Triều CS Bắc Kinh của TC, là CS Hà nội trấn áp, chửi bới, đánh đập, bắt bớ, giam cầm chẳng nương tay.

Đảng Nhà Nước CSVN, Chủ Tịch Nước CSVN Trương tấn Sang hô hào ngư dân “bám” biển. Nhưng khi tàu TC rượt bắn, bắt, cướp tàu, đòi tiển chuộc, thì chưa ngư dân nào thấy bóng dáng của cảnh sát biển hay hải quân của VNCS.

 

 

  Cả ba lá bài do bộ ba tam đầu chế làm cái, bô ba đều nắm hết trong tay. Ai lơ mơ đặt tiền vào tụ nào, tụ chống thất bại kinh tế, tụ chống tham nhũng, tụ chống xâm lăng, tụ nào người dân cũng thua, người dân cũng bị bộ ba tam đầu chế của CSVN làm cái hốt hết cả.

Hai đạo luật hình của CSVN, điều 88 và 79, là hai cây còng đôi. Những ai người dân Việt muốn chống độc tài, tham nhũng, xâm lăng đều bị công an CS, toà án CS, Đảng CSVN hình sự hoá thành tội danh ”tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa” và “âm mưu lật đổ chánh quyền”.
 ( 'tác giả Vi Anh)




 Sang Bỏ Đảng?

(02/16/2013)

Tác giả : Vi Anh
Tựa bài “Sang Bỏ Đảng” không phải là kiểu chơi chữ dựa theo từ ngữ Việt Nam chê người “Giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ” đâu. Mà ở một mức độ nào đó dựa vào sự kiện mà BBC online ngày mùng ba Tết nhằm ngày thứ ba, 12 tháng 2, 2013, đã đi tin “Chủ tịch chúc Tết không nhắc tới Đảng.” Chủ Tịch nói trỗng ở đây là Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang của CSVN, chớ không ai vào đó cả. Đảng nói tắt ở đây là Đảng CSVN đảng cầm quyền, đảng trị, toàn diện ở VN ở ngoài Bắc gần ba phần tư thế kỷ và ở miền Nam hơn một phần ba thế kỷ rồi. Trong thời gian dài đăng đẳng đó, Tổng Bí Thư Đảng hay Chủ Tịch Nước của VNCS trong chiến tranh cũng như hoà bình, khi còn ở Bắc hay lúc vào được Nam, lúc nào chúc Tết, Đảng CSVN cũng là cây đinh nổi bật của thơ chúc Tết. Nhưng trong cái Tết Quí Tỵ Âm lịch, năm 2013 Dương lịch này, có một chuyện kỳ quặc, lạ lùng. Đó là Chủ Tịch Nước VNCS Trương tấn Sang trong thơ chúc Tết năm nay, Ông không theo thông lệ lâu đời của CSVN, Ông đã “ bỏ” Đảng. Chủ Tịch VNCS không nói đến tên Đảng, không nhắc tới Đảng CSVN một chữ nào, trong một thơ chúc Tết dài cả 400 chữ chớ không phải ít.

Người từng biết Ông Trương tấn Sang ở xã Lương Hoà, nơi xuất phát ra “thơm Bến Lức” nổi danh của xứ Tân An, biết Ông thời “sinh viên biểu tình chống Mỹ cứu nước” cũng như thời bị “bể” Ông chém vè vô “bưng biền” rồi “ra thành” sau 30-4-75, nói Ông Sang là một người rất tin bói toán, tử vi, nên rất hay kiêng cử. Từ đó không lấy gì làm lạ khi thấy Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang đầu năm kiêng cử cho Đảng CSVN. Ông lo sợ Đảng CSVN của Ông lọt vào thời mạc vận mà Sấm Trạng Trình, Cụ Nguyễn bĩnh Khiêm đã tiên tri về số mạng của CSVN: “Long vĩ, xà đầu khởi chiến tranh. Can qua xứ xứ khổ đao binh. Mã đề dương cước anh hùng tận. Thân Dậu niên lai kiến thái bình.”

Thế cho nên Ông Sang cúc cung kiêng cử, không dám nhắc đến chữ Đảng, chữ CS trong thơ chúc Tết dù thơ chúc Tết theo truyền thống CS là một văn kiện long trọng. CS cân từng chữ, từng lời bằng cân tiểu ly chánh trị, chớ không phải bốc đồng, đụng đâu nói đó, “nổ” bậy bạ đâu. “Báo đài” của Đảng Nhà Nước phải mở hết công suất phổ biến tổng quát mà CS gọi là “đại trà”, và trực tiếp (live) mà CS gọi “trực tuyến” ngay vào thời điểm quan trọng nhứt của ngày, là giao thừa, lúc nhà nhà, người người VN “tống cựu nghinh tân”, tức tiễn năm cũ, đón năm mới.

Nên trái với truyền thống CSVN, thư chúc Tết năm nay của Chủ Tịch Sang dài bốn trăm chữ chẳng những kiêng cử, không nói tới Đảng CSVN một chữ nào cả mà Ông Sang còn bỏ mất luôn những sáo ngữ "toàn Đảng, toàn quân, toàn dân” mà thói quen đã biến thành bản chất thứ hai của con người CS. Người CS đụng một chút là nói "toàn Đảng, toàn quân, toàn dân” như thầy bùa, thầy pháp đọc thần chú, vô bùa buộc ai cũng phải theo đảng, ai không theo đảng là kẻ thù của đảng vậy.

Thơ chúc Tết năm nay của Ông Sang cũng hoàn toàn không nhắc tới sự ”lãnh đạo” của Đảng CSVN. Ông Sang cũng bỏ luôn đừơng lối của Đảng CS trong "sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" như trong thư chúc Tết hồi năm rồi.

Trái lại, Chủ Tịch Nước VNCS Sang muốn gấp cái số xui mạc vận của Đảng CSVN, bỏ vào tay người dân Việt trong thư chúc Tết năm nay. Nên năm nay trong thư chúc Tết, Ông Sang nhấn mạnh đến bổn phận, kêu gọi người dân VN nhớ “công ơn dựng nước và giữ nước của các bậc tiền nhân”. Ông khai thác tối đa, “cổ võ” hết lời tinh thần dân tộc, nói "chúng ta phải biết hổ thẹn với tiền nhân', phải "kế thừa xứng đáng sự nghiệp rạng rỡ của cha ông", xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Nhưng nếu sử dụng một chút kinh nghiệm sống trong chế độ CS thôi, người ta thấy Ông Sang không bỏ Đảng đâu, theo nghĩa không theo CS nữa. Trái lại Ông Sang đang “bảo vệ” Đảng theo đầu óc dị đoan riêng của mình. Ông kiêng cử cho Đảng, một tổ chức đã đưa Ông lên thành một người trong bộ ba, tam đầu chế CS độc tài đảng trị toàn diện ở VN.

Bộ ba Trọng, Sang, Dũng, chỉ “làm mủ làm nhọt” để gạt dân. Tam đầu chế này đang chơi trò tráo bài ba lá. Sang, Trọng dùng đại hội trung ương Đảng để cho dân tưởng Đảng muốn trừng trị Thủ Tướng Dũng thất bại kinh tế, bè phái, tham ô. Nhưng Sang, Dũng và cả đại hội trung ương Đảng, không có người nào đương trường đứng lên đụng sợi lông chưn của Dũng. Trọng, Sang không dám nói tới tên Ba Dũng. Đến nỗi khi Sang về Saigon nơi từ đó Sang vươn lên, bắc tiến ra Hà nội, Sang cũng chỉ ám chỉ Dũng, gọi là “đồng chí X” mà thôi.

Còn Trọng chơi lá bài chống tham nhũng, kéo ủy ban bài trừ tham nhũng từ tay Dũng về cho mình. Và Sang chơi lá bài dân tộc chủ nghĩa, kêu gọi, khích động, “cổ võ” dân chúng bảo vệ giang sơn gấm vóc của VN.

Cả ba lá bài do bộ ba tam đầu chế làm cái, bô ba đều nắm hết trong tay. Ai lơ mơ đặt tiền vào tụ nào, tụ chống thất bại kinh tế, tụ chống tham nhũng, tụ chống xâm lăng, tụ nào người dân cũng thua, người dân cũng bị bộ ba tam đầu chế của CSVN làm cái hốt hết cả.

Hai đạo luật hình của CSVN, điều 88 và 79, là hai cây còng đôi. Những ai người dân Việt muốn chống độc tài, tham nhũng, xâm lăng đều bị công an CS, toà án CS, Đảng CSVN hình sự hoá thành tội danh ”tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa” và “âm mưu lật đổ chánh quyền”.

Nhưng hồn thiêng sông núi, đất nước ông bà VN còn phù hộ người dân Việt. Ngươi dân Việt không tin CS nữa. CSVN bây giờ không còn gạt được ai nữa. Người dân VN quá quen cái trò lường gạt CS Hà nội học của Mao Trạch Đông “cổ võ” “trăm hoa đua nở, trăm nhà mở cửa” để biết ý người dân nào không theo đảng, là kẻ thù của Đảng, Đảng sẽ giải quyết theo tinh thần ta và địch một mất một còn.

Câu nói của TT Nguyễn văn Thiệu, “Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm” do một nhà lãnh đạo quốc gia ở Miền Nam chống CS nói, đã trở thành câu nói để đời có giá trị kinh nghiệm về CS khắp trong ngoài nước VN.

Đã không biết bao nhiêu lần, Đảng Nhà Nước CSVN, Chủ Tịch Nước CSVN Trương tấn Sang miệng thì ơi ới kêu gọi dân bảo vệ đất nước, biển đảo. Nhưng trong bụng CSVN đầy gươm đao của TC. Người dân Việt bình dân hay trí thức, già trẻ bé lớn nào yêu nước, đi biểu tình chống TC xâm lăng, ngược lại lịnh “định hướng dư luận” của Thiên Triều CS Bắc Kinh của TC, là CS Hà nội trấn áp, chửi bới, đánh đập, bắt bớ, giam cầm chẳng nương tay.

Đảng Nhà Nước CSVN, Chủ Tịch Nước CSVN Trương tấn Sang hô hào ngư dân “bám” biển. Nhưng khi tàu TC rượt bắn, bắt, cướp tàu, đòi tiển chuộc, thì chưa ngư dân nào thấy bóng dáng của cảnh sát biển hay hải quân của VNCS.

BA THẾ HỆ MỘT OAN TÌNH


 

Truyện thật đời người.

 

         Là truyện có thật được viết lại theo lời kể của người khác hay do chính tác giả chứng kiến. Nghĩa là các sự kiện và mọi tình tiết của câu truyện đều là sự thật. Tuy nhiên, vì sự tế nhị và tránh xúc phạm đến đời tư cá nhân, tên các nhân vật được tác giả viết tắt hoặc dùng một tên khác với tên thật của nhân vật trong câu truyện. Nếu có sự trùng hợp tên là hoàn toàn ngoài ý muốn. Rất mong quý độc giả thông cảm và chấp nhận cho.

 

Huy Anh

Houston, ngày 18 tháng 9 năm 2003.

 

BA THẾ HỆ MỘT OAN TÌNH

          Là một truyện đã xẩy ra tại Việt Nam vào thời gian trước và sau 30 tháng tư năm 1975. Ðó là câu truyện thương tâm xẩy ra cho ba thế hệ của một gia đình: Cha mẹ, con và cháu , với cùng một nỗi oan tình. Oan tình gì?

        Xin mời quý độc giả lần lượt đọc qua bốn tiêu đề  của một câu truyện có thật, do chúng tôi tự đặt như sau, để có câu trả lời cho câu hỏi “Oan tình gì”?

-         Người Mẹ bị chôn sống.

-         Người  ChaTự sát.

-         Người vợ phản bội.

-        Người chồng bao dung.

 

 

Người mẹ bị chôn sống.

********************

          Những ai sinh quán, rồi lớn lên hay từng sống nhiều năm ở Huế  có thể biết danh tiếng một nhà buôn trầm hương nổi tiếng ở khu chợ Ðông Ba. Vợ chồng nhà buôn là người gốc Huế . Nghe nói nghề buôn bán trầm hương đối với họ là nghề gia truyền từ bao đời trước. Tổ tiên họ đã lập nghiệp và họ được trở nên giầu có cũng là nhờ tổ nghiệp buôn bán trầm hương.

         Mặc dầu sống và làm giầu trong chế độ tự do ở Miền Nam, nhưng có cái lạ là người vợ, bà Ba Trầm Hương như người ta quen gọi, lại luôn có thái độ và lời nói bênh vực Việt Cộng trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng vừa qua. Thái độ và lời nói nghịch lý ấy thường bộc lộ, mỗi khi trong gia đình nói đến truyện chính trị. Cứ mỗi khi có truyện như thế, chỉ có bà Ba Trầm Hương và một đồng minh duy nhất là con Sen giúp việc nhà, đứng chung một lập trường ủng hộ Việt Cộng. Trong khi đó chồng Bà, Ông Ba Trầm Hương và một cô con gái lớn xinh đẹp dễ thương là cô Hương Giang  thì lập trường đối nghịch, chống cộng kịch liệt. Ông bà Ba Trầm Hương còn mấy cậu con trai nữa, một cậu thì được gửi đi du học ngoại quốc tự túc, còn hai cậu kế đang học trung học, ít quan tâm đến chính trị. Mấy con bà vợ hai của Ông Bà Trầm Hương thì còn quá nhỏ nên không kể đến.

   Cô Hương Giáng là con gái đầu lòng của ông bà Ba, đã có chung lập trường chống cộng với Cha cũng phải. Là vì Cô có học thức, ít ra cũng giúp cô thấy được đúng sai, phải trái giữa một bên là chính quyền Cộng Sản Bắc Việt phát động một cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, để bành trướng chủ nghĩa cộng sản quốc tế, với một bên là chính quyền Việt Nam Cộng Hoà phải bất đắc dĩ tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ để bảo tồn chế độ tự do dân chủ trên nửa nước ở Miền Nam và chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Vả lại, lúc ấy Hương Giang đang có người yêu là một sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt sắp ra trường. Người yêu của cô chính là “Anh Thầy” từng dạy kèm cô nhiều năm ở bậc Trung Học. Tình yêu đã triển nở trong những năm tháng cũ, khi nàng còn là học sinh của trường nữ Trung Học Ðồng Khánh, chàng là học sinh trường Quốc Học Huế. Chàng học hơn nàng bốn lớp, mồ côi cha mẹ, con nhà nghèo, học giỏi, đã được một người bạn của cha Nàng giới thiệu đến dạy kèm cho Nàng từ năm lớp Ðệ Ngũ.

   Ðến khi tốt nghiệp Tú Tài Hai, chàng đã xếp bút nghiên theo nghiệp kiếm cung, làm nhiệm vụ trai thời loạn. Ðối với Hương Giang, nàng rất tự hào và hãnh diện về sự lựa chọn đời binh nghiệp của người yêu. Tự hào và hãnh diện nhất là đối với bạn bè cùng trang lứa vào những dịp Lễ Tết được cùng chàng đi dạo phố Mùa Xuân, hay trong những ngày phép ngắn ngủi, hiếm hoi.

   Ðúng là một cặp trai tài gái sắc coi thật xứng đôi vừa lứa như nhiều người quen biết từng trầm trồ khen ngợi.Vào những dịp sánh đôi tuyệt vời ấy, Nàng thướt tha trong chiếc áo dài trắng đẹp của tuổi học trò, e ấp đi bên cạnh người yêu hào hùng trong bộ lễ phục sinh viên sĩ quan của một trường võ bị nổi tiếng và duy nhất tại miền Nam: Trường Vỏ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ðó là hình ảnh từng là ước mơ thầm kín của biết bao cố gái xinh đẹp như Nàng muốn có người yêu là lính trong thời chiến lúc bấy giờ. dù biết rằng tương lai rất dễ mang “Khăn tang cô phụ, còn lóng lánh dấu ái ân” như lời ca của một nhạc phẩm thời chiến nào đấy.

   Thế rồi Mùa Xuân năm 1968, Việt Cộng lợi dụng thời gian hưu chiến Tết đã bất ngờ mở cuộc tổng tấn công vào các thành thị Miền Nam Việt Nam. Thành phố Huế cũng bị Việt Cộng tấn công và chiếm đóng cả tháng trời. Lúc đó người yêu của Hương Giang được nghỉ phép về ăn tết với gia đình nàng.  Khi biết Việt Cộng tấn công vào thành phố Huế,  Trường An, tên người yêu của Nàng, đã lập tức chia tay và tìm cách gia nhập cùng chiến đấu với các đơn vị quân đội, cảnh sát trong thành phố Huế.

    Cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt trong những ngày đầu  giữa lực lượng quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà ở Huế với địch quân. Nhưng sau đó, Việt Cộng đã làm chủ tình hình và chiếm đóng thành phố Huế cả tháng trời như mọi người đã biết. Các đơn vị tinh nhuệ tổng trừ bị của quân lực Việt Nam Cộng Hoa như nhẩy dù, biệt kích, thủy quân lục chiến được gửi tới, kết hợp với các đơn vị hải, lục, không quân bao vây tấn công tiêu diệt địch. Sở dĩ cộng quân chiếm giữ được Thừa Thiên Huế lâu như thế, là vì có lệnh trên phải bảo vệ tối đa các di tích lịch sử của cố đô Huế, sinh mạng và tài sản của người dân Huế đang bị Việt Cộng xử dụng làm con tin để ngăn chặn bước tiến quân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Và do đó, các mũi tiến công của các đơn vị tham chiến đã tỏ ra hết sức thận trọng. Trong khi cộng quân thì cố bám vào các di tích lịch sử và tập trung dân làm bia đỡ đạn để cố thủ, làm chậm bước tiến lực lượng liên quân Việt Nam Cộng Hoà.........

   Ðiều bất ngờ cho cả gia đình ông bà Ba Trầm Hương là vào một buổi chiều một ngày trong tuần lễ thứ hai Việt Cộng chiếm đóng thành phố Huế, con Sen giúp việc đã xuất hiện trong bộ bà ba đen với chiếc nón tai bèo và khoác trên vai một khẩu súng AK. Con Sen đã dẫn theo hai nam cán binh Việt Cộng khác trang bị vũ khí đầy người, mở cổng, xồng xộc bước qua sân tiến vào nhà.

   Mọi người còn đang lo lắng không biết chuyện lành dữ gì đây sẽ xẩy ra,thì chợt nhận ra con Sen giúp việc nhà mình. Bà Ba Trầm Hương là người đầu tiên đon đả chậy tới đón con Sen và đồng bọn. Có lẽ lúc ấy Bà Ba Trầm Hương nghĩ rằng ít ra sự có mặt của con Sen lúc này hẳn là điều lành hơn là điều dữ cho gia đình mình. Vì con Sen lúc này rõ ràng là kẻ  nằm vùng của Việt Cộng đóng vai con ở nhà bà, ắt đã biết lập trường của bà đối với Việt Cộng thế nào rồi.

   Nhưng bà Ba Trầm Hương đã khựng lại khi thấy nét mặt lạnh lùng và dọng nói khác thường của con Sen:

-    Trường An hỉ, Hắn mô rồi, hãy mau ra trình diện với cách mạng?

-   Hắn chi mô có ở đây nà con...

        Bà Ba lên tiếng trả lời, với  dọng thân thương như từng đối xử với con Sen trước đó. Trong khi sắc mặt mọi người trong gia dình hiện diện lúc đó biến sắc rất nhanh, sau một nụ cười hy vọng nơi một kẻ tưởng là cứu tinh đến đã vụt tắt. Hiện diện lúc đó ngoài bà Ba, ông Ba và bà vợ nhỏ của ông Ba, là mấy đứa nhỏ con bà nhỏ. Còn cô gái lớn Hương Giang và hai cậu con trai con bà cả đã ẩn trốn ở một nơi an toàn trong nhà. Không hiểu sao con Sen cùng đồng bọn không vào lục soát, chỉ đứng trước thềm căn nhà cổ kính tra hỏi.

-        Mợ không được bao che hỉ. Bao che là có tội với cách mạng hỉ. Hãy khuyên và động viên Trường An ra trình diện với cách mạng để được khoan hồng hỉ.

-        Mợ nói thiệt mà Quờn (Tên con Sen), Hắn có về đây mấy ngày trước Tết thăm Hương Giang, rồi trở về Sài Gòn ăn tế với ông chú ruột ở ngã tư Bẩy Hiền rồi nà, Mợ nói dối con mần chi nà...( Trường An. không còn cha mẹ, lúc đi học ở với một người cô ruột ở Huế, có một người Chú là sĩ quan nhẩy dù ở Sài Gòn và một chú ruột khác theo Việt Cộng ra Bắc tập kết năm 1954, sau hiệp định Genève chia đôi đất nước)

     Con Quờn sau khi trao đổi gì đó rất nhanh với hai tên Việt Cộng đi cùng, đã lạnh lùng ra lệnh:

-        Vậy mợ  phải đi theo chúng tôi hỉ, còn cậu Ba và  mợ Hai ở nhà ráng tìm và động viên Trường An. ra trình diện cách mạngỉ. Khi nào hắn trình diện thì Mợ Ba mới được về nhà hỉ.

         Bà Ba Trầm Hương có vẻ tự tin, quay vào nhà định lấy cái gì đem theo, nhưng con Sen, nay là cán binh Quờn đã giơ tay tỏ ý ngăn lại và nói:

-        Mợ khỏi cần mang theo chi cả, Mợ sẽ trở về nhà sớm nà, ngay khi Trường An. tự giác đến trình diện cách mạng.

        Ba Ba Trầm Hương vốn tính cương trực, không nói gì, cũng không thèm năn nỉ, chỉ lẳng lặng theo sau con Quờn và hai tên đồng bọn, có lẽ là hợp thành một “Tổ Tam Tam chế” theo cách tổ chức của đảng cộng sản.

*********

     Thế rồi Huế được giải toả sau một tháng bị cộng quân chiếm giữ. Mặc dầu liên quân Việt Nam Cộng Hoà làm nhiệm vụ giải toả đã có những bước tiến quân thận trọng, song sự cố thủ của cộng quân đã đưa đến sự tàn phá nặng nề một số di tích lịch sử trong thành nội Huế, và nhiều dãy phố nhà cửa bị đổ nát vì bom đạn. Gia đình ông Ba Trầm Hương đã từ các nơi ẩn trốn an toàn trở về ngôi nhà chỉ bị thiệt hại nhẹ. Duy chỉ có Bà Ba Trầm Hương vẫn không thấy trở về, vì Trường An. đưa con rể tương lai của bà đã không ra trình diện như đòi hỏi của con Sen Việt Cộng nằm vùng trong nhà Bà. Mọi người trong gia đình, từ ông Ba Trầm Hương đến bà vợ hai, cùng con lớn, con bé và cả Trường An nữa không khỏi bồn chốn lo lắng cho số phận không biết ra sao của bà Ba Trầm Hương.

   Lúc đầu, dù có nhiều tin đồn nói về việc Việt Cộng trước khi “Chém vè”, (tức rút lui) hay bị tiêu diệt tại chỗ, đã giết nhiều người chôn sống tập thể, nhưng không ai trong gia đình ông Ba Trầm Hương lại nghĩ rằng bà Ba Trầm Hương có chung số phận bi thảm như họ. Vì nghĩ rằng, con Sen dầu gì cũng đã biết rõ lập trường ủng hộ hay ít ra là có cảm tình với Việt Cộng của Bà Ba Trầm Hương, thì lý nào lại xử tàn tệ với bà được. Ngay cả nhiều ngày sau đó, khi các tin đồn đã trở thành sự thật. Nghĩa là nhiều người trong gia đình ông Ba Trầm Hương khi đi tìm và dọ hỏi tin tức của bà Ba, đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng đau lòng của nhiều gia đình đi đào bới những mồ chôn tập thể để tìm kiếm thân nhân mất tích, song mọi người trong gia đình ông Ba Trầm Hương vẩn không tin người thân của mình có số phận không may như các nạn nhân xấu số ấy.

   Nhưng rồi sự thật phải đến đã đến vói gia đình ông Ba Trầm Hương. Hôm ấy, khoảng một tuần sau ngày Huế được giải toả, một chàng thanh niên khoảng hai mươi bốn tuổi tìm đến nhà ông Ba Trầm Hương cho tin tức về số  phận bà Ba Trầm Hương. Anh thanh niên này là một sinh viên trường Ðại Học Huế, phân khoa Luật, cũng là chỗ quen biết trước nên đến cho gia đình ông Ba Trầm Hương hay rằng bà Ba đã bị nhốt chung với anh ta tại trường tiểu học G.H và đã bị Việt Cộng giết cùng nhiều người khác chôn chung trong một hố chôn tập thể ở góc sân trường, nơi có trồng nhiều bụi chuối. Sở dĩ anh sống sót trở về được là vì một may mắn hay một phép lạ mà anh gọi là được thần chết bỏ quên.

   Người thanh niên được thần chết bỏ quên ấy đã kể lại rằng: Anh và hàng trăm người khác, thuộc đủ mọi thành phần xã hội, đa số là thường dân vô tội bị nghi ngờ, đã bị Việt Cộng lùa về giam giữ tập trung trong các phòng học của trường tiểu học G.H. Anh và bà Ba Trầm Hương đã bị nhốt chung một phòng trong nhiều ngày, cho đến khi Việt Cộng chống cự không nổi các cuộc tấn công như vủ bão của liên quân Việt Nam Cộng Hoà, buộc phải rút lui. Nhưng trước khi rút lui, vào một đêm kia, chúng đã dùng giây trói từng chuỗi mười người, lần lượn dẫn ra đứng thành hàng ngang trên miệng những hố lớn đào sẵn từ bao giờ ở góc sân trường, nơi trồng những bụi chuối xanh tươi. Hai tên Việt Cộng áp tải từng sâu người như thế đã dùng súng AK ria một loạt đạn làm sâu người ngã đổ xuống hố. Hết đợt này đến đợt khác cho đến khi đầy hố lấp đi, chúng di chuyển đến hố khác.

-        Vậy tại sao anh sống được hỉ? Cô Hương Giang nóng lòng vội hỏi, lòng bồn chốn lo lắng, nước mắt rưng rưng như muốn khóc.

-       Thì đã bảo là thần chết bỏ quên tôi nờ.

        Anh thanh niên uống cạn ly trà như để tự  trấn an trước khi phải kể lại giây phút hãi hùng nhất xẩy ra với anh.Theo lời kể, thì anh cũng bị Việt Cộng trói sâu chuỗi như mọi người và bị dẫn ra đứng thành hàng ngang trên miệng hố. Một loạt AK nổ vang và anh cũng ngã đổ xuống hố như mọi nạn nhân. Không biết anh đã chết ngất trong bao lâu, chỉ biết khi tỉnh lại anh cảm giác được mùi tanh nồng của máu và toàn thân anh đẫm máu. Anh chưa hoàn hồn thì kìa một đợt chuỗi dây người khác đang được bọn hành hình Việt Cộng dẫn tới miệng hố của anh. Một loạt AK nổ vang, những thân người ngã đổ còn nóng hổi đè trên người anh. Máu phun có vòi tắm ướt người anh. Sau một lúc định thần, chàng thanh niên biết rằng mình chưa chết, chân tay còn cử động được, với một tính toán rất nhanh thời gian đi vào và ra một đợt giết người của toán Việt Cộng hành hình, bản năng sinh tồn đã giúp anh vùng dậy, gỡ giấy trói lỏng khỏi hai tay, bò lên miệng hố gần đầy xác người, lần vào bụi chuối, rồi tìm cách thoát thân ra khỏi khuôn viên nhà trường, lợi dụng đêm tối len lỏi vào khu dân cư kế cận để tìm đường trở về nhà.

   Ðến đây, mọi người như nín thở. Ðã có những tiếng khóc nghẹn nghào, nhưng không ai lên tiếng để được nghe người thanh niên bị thần chết bỏ quên kể tiếp. Anh kể tiếp rằng, khi về được đến nhà thì trời còn tờ mờ sáng, Anh gõ nhẹ cửa đôi ba lần mới nghe tiếng chân người rón rén ra mở cửa. Nhưng cánh cửa vừa hé mở đã vội đóng sập lại và nghe tiếng hú lên hãi hùng bị nén lại ngay, rất nhanh của người mở cửa. Mặc dầu vậy anh thanh niên cũng kịp nhận ra người mở cửa là người chị lớn. Có lẽ bà đã quá sợ hãi khi vừa mở cửa đã nhìn thấy anh như một bóng ma, mặt đầy máu và quần áo đẫm máu. Một lúc yên lặng nặng nề trôi qua. Chàng thanh niên vừa gõ cửa vừa khẽ gọi, âm thanh đủ người trong nhà có thể nghe được:

-        Chị, chị Ch. Chị Ch. Em Đại. đây, Đại. đây chị Ch. Mở cừa mau cho em vô hỉ.

-        Mi...Mi..Đại hỉ, răng rứa?

-        Em bị thương máu nhuộm ướt cả, mở cửa mau cho em vô, chị Ch.....

     Cánh cửa phụt mở, và đóng sập lại ngay sau khi  anh thanh niên đổ nhanh vào nhà.

    Chàng thanh niên đã thoát chết  như thế trong một cuộc hành hình tập thề của Việt Cộng vào Tết Mậu Thân nằm 1968 ở Huế. Nhờ đó, theo chỉ dẫn của người thanh niên này,  gia đình ông Ba Trầm Hướng tìm được xác của bà Ba Trầm Hương đã thối rữa ở một hố chôn tập thể trong khuôn viên trường tiểu học G.H. Tất cả gia đình các nạn nhân đã không hẹn mà cùng gặp một ngày, để đào bới tìm xác người thân. Căn cứ vào quần áo, đồ trang sức và dấu vết riêng, bà Ba Trầm Hương đã được chồng con tìm thấy xác đem về mai táng.

  

   Thực ra anh thanh niên cũng không biết chắc nhờ đâu anh sống sót trước hàng loạt đạn AK của những tên Việt Cộng hành hình. Anh và nhiều người nghe anh kể lại chỉ suy đoán rằng, có lẽ đạn đã ghim vào những người khác bên cạnh, rồi kéo anh đổ xuống, hoặc anh đã ngả xuống, chết ngất trước khi loạt đạn AK nổ đến phiên anh.....Nếu không thì đây phải là một phép lạ hay nói theo tướng số, thì chàng thanh niên này có số mạng lớn nên thần chết đã bỏ quên chăng?

   Tôi viết lại câu truyện có thật này theo lời kể của Hoàng một trong những người con trai của ông bà Ba Trầm Hương, khi anh này vào sống chung với người chị cả DHương Giang  sát cạnh nhà tôi ở Sài Gòn. Một câu truyện thật trong hàng ngàn truyện thật liên quan đến hơn năm ngàn nạn nhận bị Việt Cộng sát hại thảm thương, chôn vùi trong những mồ chôn tập thể ở huế trong biến cố Tết Mậu Thân năm nào. Nếu tất cả những câu truyện thật này được phơi bầy, chắc phải in thành hàng ngàn trang sách. Ðó là một tội ác tầy trời mà ngày nay thế giới văn minh gọi là “Tội ác chống nhân loại”, những thủ phạm phải bị xét xử và trừng phạt.

    Ðến đây, nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng vẫn chưa có câu trả lời là, bao giờ thì những kẻ phạm tội ác chống nhân loại này là Việt Cộng bị đem ra xét xử và trừng phạt? Ai sẽ khởi động tố quyền, thủ tục tố tụng và cơ quan tài phán nào có thẩm quyền xét xử  thủ phạm đây?

 *************

Kỳ tới chúng tôisẽ kề tiếp câu truyện “Ba thế hệ một oan tình”  với tiêu đề thứ hai “Người cha tự sát”, tiếp theo tiêu đề kỳ này “ Người Mẹ bị chôn sống”. Xin mời độc giả tiếp tục theo dõi.

 Huy Anh

Houston, ngày 18 tháng 9 nam 2003.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link