Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, February 19, 2013

Tài liệu mật CIA về cuộc chiến Việt – Trung


 


THỨ HAI, NGÀY 18 THÁNG HAI NĂM 2013

Tài liệu mật CIA về cuộc chiến Việt – Trung


Bích chương lồng hình ảnh

Bích chương lồng hình ảnh “chiến thắng chống Trung Quốc xâm lược” với “thằng Mỹ cao cao bước cúi đầu.” Ảnh Bill Herod.

Vũ Quí Hạo Nhiên

Bài này đăng lần đầu trên tuần báo Viet Tide, xuất bản tại Houston và Little Saigon, năm 2009, trong loạt bài dịch các hồ sơ mật CIA đã được công khai hóa.

Tài liệu dưới đây là một bài nghiên cứu (“Research Paper”) mang tựa đề “Tranh chấp biên giới Trung-Việt.” (“The Sino-Vietnamese Border Dispute”).

Tài liệu dài 20 trang này tiết lộ và phân tích nhiều xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1978 – những xung đột mà ngày nay chính quyền cộng sản tại Hà Nội đang tảng lờ như không có.

Cơ quan tác giả hồ sơ này là National Foreign Assessment Center (tạm dịch Trung tâm Quốc gia Đánh giá Ngoại bang). NFAC là tên gọi mới của Cục Tình báo (Directorate of Intelligence) sau 1977, là bộ phận trong CIA chuyên phân tích và tổng hợp thông tin lấy được từ các nguồn tình báo. Đến năm 1981, NFAC lại được đổi lên trở về với tên gọi lúc trước, là Directorate of Intelligence.

Hồ sơ được đóng dấu Tối Mật (“Top Secret”), đề ngày 5 tháng 3, 1979 – tức vài tuần sau khi Trung Quốc xua quân vượt biên giới Việt Nam trong ý định “dạy cho Việt Nam một bài học.” Hồ sơ này được bạch hóa vào tháng 6, 2002.

Hồ sơ này tuy đã được bạch hóa, nhưng vẫn còn nhiều phần bị xóa trắng chưa được công bố hoàn toàn. Trong bản dịch này, những phần còn bị xóa được ghi bằng dấu “#####”. Những lời trong dấu ngoặc vuông [ ... ] là chú thích thêm của dịch giả.

(Bản dịch hồ sơ CIA)

Tranh chấp biên giới Trung-Việt

Thông tin dùng trong báo cáo này được cập nhật đến ngày 5 tháng 3, 1979

.

Các đánh giá chính

Cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào phía bắc Việt Nam có khuynh hướng che lấp sự thật là tranh chấp biên giới Trung-Việt có động lực của riêng nó và đã là vấn đề quan trọng giữa hai nước này từ lâu nay, trước khi mâu thuẫn Việt Nam – Campuchea nổ tung thành chiến tranh công khai. Sự bất đồng ý kiến về một vài đoạn biên giới ngắn (cũng như về chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) được giữ trong những đường dây trao đổi kín sau khi chiến tranh chấm dứt tại Đông Dương. Nhưng rồi những cuộc thảo luận kín bị thất bại vào cuối năm 1977 và vấn đề này trở thành một phần trong một cuộc tranh chấp chính trị rộng lớn hơn. (#####)

Ở cả hai bên, những phản ứng theo cảm tính đối với những biến cố mới đã thay thế cho sự tính toán tỉnh táo về thiệt hại cho lợi ích quốc gia trong trường hợp mất bình tĩnh. Đụng độ tại biên giới trở thành yếu tố quyết định khiến những phản ứng thiếu thận trọng này càng leo thang hơn.###

Một vài xung đột nhỏ, không vũ trang (hầu hết là ẩu đả) dọc đường biên giới Trung-Việt trở thành đụng độ quân sự cấp bách sau hai biến cố quan trọng trong năm 1978:

* Những lời cáo buộc về người gốc Hoa bị ngược đãi và muốn từ Việt Nam thoát thân vào Trung Quốc. Vì vậy cuộc giao tranh vũ trang đầu tiên năm 1978 tại vùng biên giới đã diễn ra vì vụ người tỵ nạn muốn vượt biên vào Trung Quốc.

* Những lời cáo buộc về việc Việt Nam xây dựng tuyến phòng thủ biên giới. Cuộc giao tranh vũ trang lần thứ nhì và thứ ba năm 1978 diễn ra khi phía Trung Quốc phá hủy hàng rào, cọc đánh dấu, và bãi mình trên tuyến [phòng thủ] này.

Phía Trung Quốc giận dữ vì Hà Nội đã cả gan thay đổi status quo tại biên giới, và cho rằng nếu im lặng chấp nhận những thay đổi này thì sẽ trở thành tưởng thưởng cho Hà Nội và sẽ dẫn đến nhiều vi phạm khác tại biên giới.###

Cụ thể, hành động của Hà Nội xây dựng tuyến phòng thủ (phía Hà Nội tuyên bố là để bảo vệ chống sự xâm nhập của biên phòng và gián điệp Trung Quốc) làm thay đổi luật chơi của cuộc tranh chấp chính trị. Bằng hành động này, Hà Nội đã đi thêm một bước từ đấu khẩu bằng miệng đến đơn phương đánh mốc gần như tất cả mọi đoạn trên một biên giới mà trước đây tương đối mở và chỉ được đánh mốc sơ sài.
 
Trung Quốc cho rằng việc cấm mốc khiến Việt Nam được lợi thế về đất đai và đằng nào thì cũng không có sự đồng thuận của Trung Quốc. Về phía mình, Việt Nam tức giận khi Trung Quốc phá hủy những hàng rào do họ dựng nên mà, theo họ, nằm “trong lãnh thổ Việt Nam.” Cứ như vậy mà tình trạng đã sẵn sàng để một Trung Quốc vũ trang đối đầu với một Việt Nam vũ trang.###


Hồ sơ “Tranh chấp biên giới Trung Việt” dài 20 trang

Bắc Kinh, là phía lớn hơn và mạnh hơn, leo thang cuộc tranh chấp bằng cách chỉ thị cho biên phòng, vào tháng 12, bắt đầu tuần hành lên phía trước và “nổ súng” vào chốt và nhân sự biên phòng của Việt Nam.
 
Một cuộc leo thang thứ nhì sau đó đã tiếp theo vào giữa tháng 1 khi Bắc Kinh bắt đầu đưa bộ đội chủ lực Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) thay vì lính biên phòng để thăm dò và trinh sát; số người và mức độ thâm nhập vào vùng đất Việt Nam cho là của họ cũng tăng lên.
 
 Cùng lúc đó, phía Trung Quốc báo cho Việt Nam biết về bản chất và mức độ của sự gia tăng [quân sự] phía bắc biên giới.###

Mặc dù đối đầu với những cuộc tấn cộng của quân chủ lực PLA ở biên giới và biết về sự tập trung quân đội Trung Quốc gần đó, phía Việt Nam từ chối không chùn bước. Họ giữ vững vị trí của mình và còn đánh trả. Tới giữa tháng 1, phía Trung Quốc dường như đã cho rằng chính sách cảnh cáo và hăm dọa đã không có hiệu lực.###

Tổng cộng vùng đất Việt Nam “chiếm đóng” không phải là lớn – khoảng 60 km vuông. Nhưng việc Việt Nam tự cho là có thể tùy tiện tự nhận bất kỳ một chút đất nào của Trung Quốc là điều phía Trung Quốc không chấp nhận được. Và, mặc dù chỉ có khoảng 300 người Trung Quốc bị chết và bị thương, chính sự thách thức công khai của phía Việt Nam đã khiến bất kỳ một chút tổn thất nào cũng không chấp nhận được [đối với Trung Quốc].###

Bắc Kinh kết luận rằng sự ngạo mạn quân sự của các lãnh tụ Việt Nam nếu để yên sẽ tiếp tục trở thành một sự “kiêu căng” nguy hiểm. Ở một khía cạnh căn bản nào đó, cuộc xâm lăng của Trung Quốc là một cố gắng phá vỡ hình ảnh Hà Nội tự vẽ cho mình là vô địch bất bại.###

Campuchea là yếu tố xúc tác chính trong suy nghĩ của Trung Quốc. Tranh chấp biên giới Hoa-Việt leo thang trong bối cảnh Việt Nam chiếm đóng Campuchia và Trung Quốc đã không có khả năng bảo vệ chư hầu của họ tại đó. Nói tóm lại, hai yếu tố – hành động của Việt Nam chống Campuchia và việc Hà Nội không chịu có thái độ ít thách thức hơn ở biên giới Hoa-Việt – trở thành đưa đẩy hỗ trợ cho nhau, thúc đẩy Bắc Kinh phải cố gắng “trừng phạt” Việt Nam bằng quân sự qua việc tràn vào phía bắc.###

Bắc Kinh đã ra ý rằng quân lực Trung Quốc rồi ra sẽ rút về đường biên giới mà Trung Quốc (chứ không phải Việt Nam) công nhận. Nếu điều này là quyết định tối hậu của Trung Quốc, và nếu Hà Nội từ chối không đàm phán cho một hiệp ước biên giới, tương lai sẽ thấy một thời gian dài có căng thẳng và mâu thuẫn biên giới.###

[Trong tài liệu này, sau phần “Các đánh giá chính” thì đến trang Mục lục như sau]

Mục lục

Các đánh giá chính

Lời mở đầu

I. Những nỗ lực chính trị để tránh gia tăng bất đồng

II. Bất đồng về nạn kiều gia tăng thành bất đồng về lãnh thổ

III. Trung Quốc dọa dẫm Hà Nội: Máy bay do thám

IV. Hà Nội chuẩn bị “chiến tranh”

V. Tuyến phòng thủ biên giới của Việt Nam khiến căng thẳng leo thang

VI. Tiếp tục leo thang: Trung Quốc bắt đầu tháo gỡ hàng rào

VII. Bắc Kinh gia tăng cảnh cáo đối với nạn nhân bị bắn chết

VIII. Trung Quốc bắt đầu “trừng phạt”

IX. Trung Quốc thất bại trong chính sách uy hiếp

######
######

[Sau trang mục lục là nguyên một trang vẫn còn trong vòng bảo mật và bị xóa trắng.]

Lời mở đầu

Hành động quân sự của Trung Quốc chống Việt Nam có khuynh hướng che lấp sự thật là tranh chấp biên giới Trung-Việt có động lực của riêng nó và đã là vấn đề song phương quan trọng giữa hai nước này từ lâu nay, trước khi mâu thuẫn Việt Nam – Campuchea nổ tung thành chiến tranh công khai. Sự tranh giành chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài khơi là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, nhất là từ khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ trong nay miền Nam Việt Nam năm 1974. Biên giới trên đất liền có vẻ ít nhạy cảm chính trị hơn, nhưng vẫn là nơi xảy ra nhiều đụng độ nhỏ trong hơn 20 năm, ngay cả vào thời gian hai bên là đồng minh trong chiến tranh. Tự nó, cuộc tranh cãi về lãnh thổ rõ ràng đã khiến mối quan hệ hai nước bị lạnh nhạt, và với mối quan hệ ngày càng xấu đi trong các lãnh vực khác, nó [tranh chấp lãnh thổ] trở thành chủ đề chính trong cuộc đụng độ lớn đã xảy ra.###

Sự gia tăng mức độ tranh chấp tại biên giới phải được nhìn qua lăng kính của mối quan hệ ngày càng xuống dốc giữa Trung Quốc và Việt Nam từ sau khi chiến tranh tại Đông Dương kết thúc năm 1975. Một cuộc tranh giành ảnh hưởng ngầm tại Đông Nam Á gần như bảo đảm rằng những vấn đề được dìm đi trong chiến tranh sẽ nổi bật lên và gây căng thẳng trong giai đoạn hậu chiến.###

Đã có giai đoạn [hai bên] hành động bình tĩnh và theo lý trí, mặc dù phía Trung Quốc ngày càng khó chịu với việc Việt Nam thiên về Liên Xô, và phía Việt Nam bất bình với việc Trung Quốc rõ ràng muốn đè bẹp tầm ảnh hưởng của Việt Nam trong khu vực – một mục tiêu thấy rõ trong việc Trung Quốc đỡ đầu cho Campuchia, nước láng giềng độc lập và khó chịu của Việt Nam.
 
 Tuy nhiên, mọi sự kiềm chế đã chấm dứt qua cuộc chiến Campuchia, đã khiến cho Việt Nam ngày càng tức giận với việc Trung Quốc ủng hộ cho nhà cầm quyền Phnom Penh. Và Trung Quốc đã rất giận dữ với kiểu đối xử của Việt Nam với cư dân gốc Hoa – những nạn nhân kép, vừa bị kỳ thị lại vừa bị đánh tư sản – và quan trọng hơn nữa là trong cái họ thấy là sự ràng buộc thân thiết giữa Hà Nội với Moscow.###

Có một điều có thể chứng minh được, là cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội đều không muốn cucộ tranh chấp biên giới vượt quá tình trạng hiện tại. Phía Trung Quốc phải lo tới Liên Xô trong lúc đánh với Việt Nam; phía Việt Nam vừa đánh Trung Quốc vừa phải đánh Campuchia.
 
Trung Quốc đang lo ngại có thể sẽ phải chiến tranh hai mặt; Việt Nam đã phải chiến tranh hai mặt rồi. Nhưng tình cảm quốc gia chủ nghĩa của cả hai bên dâng lên quá cao đế có thể ngăn được một trận chiến biên giới dù không bên nào muốn.###

[Còn tiếp: Trung Quốc Việt Nam có cố ý chủ động leo thang chiến tranh?]










Nhiều nhà quan mất trộm tiền tỷ . Đầy tớ nhân dân giàu thế!

Nhiều nhà quan mất trộm tiền tỷ . Đầy tớ nhân dân giàu thế!
 

Nhiều nhà quan mất trộm tiền tỷ


(ĐVO) - Ông Trưởng ban quản lý dự án khai báo bị trộm mất gần 2 tỉ đồng; ông ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng tỉnh Đồng Nai bị mất ô tô; còn ông tướng công an lại bị trộm đột nhập biệt thự ‘cuỗm’ mất hơn một tỷ đồng.


Ngày 15/2, Cơ quan CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, Công an tỉnh Bạc Liêu đang khẩn trương phối hợp với Công an H.Giá Rai điều tra làm rõ một vụ khai báo mất trộm với số tiền lớn.

Theo trình báo của ông Phạm Minh Tú (37 tuổi, ngụ ấp 2, thị trấn Giá Rai, H.Giá Rai, hiện là Trưởng Ban quản lý dự án H.Đông Hải) với công an, vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 10.2 (mùng 1 Tết) gia đình ông đi chúc tết bà con trong xóm nên nhà được khóa cửa cẩn thận.

Lợi dụng lúc gia đình ông Tú đi vắng, kẻ gian đã phá cửa đột nhập vào lấy trộm tiền, vàng, USD, tổng trị giá gần 2 tỉ đồng.

Theo ông Tú khai báo, trong số tiền bị mất có 1 tỉ đồng mà nhiều doanh nghiệp gửi để qua tết nộp ngân sách, 4.000 USD cha mẹ vợ ông Tú gửi, số tiền và vàng bị mất trộm còn lại là của gia đình.

Theo cơ quan công an, nhà ông Tú có lắp đặt camera chống trộm. Qua kiểm tra ban đầu phát hiện một thanh niên có đeo khẩu trang đột nhập vào nhà ông Tú, lục tung đồ đạc để lấy trộm tiền, vàng.


Dù cánh cổng biệt thự khá chắc chắn nhưng vẫn bị trộm cắt khóa

Trước đó, ngày 18/10/2012, ông ngôi biệt thự của ông Đồng Xuân Thọ (Phó Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng tỉnh Đồng Nai) tại phường Bửu Hòa, TP Biên Hòa cũng bị trộm ‘thăm’ và khiến chiếc ô tô Toyota Altis trị giá hơn 800 triệu đồng không cánh mà bay.

Theo khai báo của gia chủ, tên trộm đã cắt khóa cổng căn biệt thự, vào khu vực nhà để xe ở sảnh trước ngôi biệt thự, lấy mất ôtô.

Một vụ việc tương tự tại căn biệt thự bị của thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát, Bộ Công an cũng không được trộm kiêng dè.

Vào ngày 24/12/2011, lợi dụng lúc gia đình ông đi vắng, 2 tên trộm đã trèo cổng vào nhà để trộm tiền.

Vụ trộm đêm đó, chúng lấy được tổng cộng hơn một tỷ đồng gồm: đôla Mỹ, vàng, đồ trang sức...

Bích (Tổng hợp)

Ngày này năm xưa và một cuộc chiến bị lãng quên bằng sự phản bội của đảng cộng sản


 


CHỦ NHẬT, NGÀY 17 THÁNG HAI NĂM 2013


Ngày này năm xưa và một cuộc chiến bị lãng quên bằng sự phản bội của đảng cộng sản



Thủy Giang (Danlambao) - 34 năm trước, vào sáng sớm ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc bất ngờ mở cuộc tấn công xâm lược trên toàn tuyến biên giới đất liền với Việt Nam thuộc địa phận 6 tỉnh từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu). Sau một tháng, quân xâm lược rút lui khi cả hai bên đều thiệt hại nặng nề về người, phía Việt Nam còn bị tổn thất nặng về tài sản do bị phá hoại tại những tỉnh, làng mạc, khu vực mà lính Trung Quốc đã chiếm đóng hoặc trên đường lui quân. Một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đầy thảm khốc.

Hơn 1/3 thế kỷ trôi qua, nhà nước CSVN cố tình làm phai mờ cuộc chiến biên giới Việt-Trung, một vết nhơ trong quan hệ một thời "vừa là đồng chí, vừa là anh em".


CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG 2/1979 ĐÔI ĐIỀU NHỚ LẠI



Bản đồ chi tiết về trục tiến quân của địch quân Trung Cộng xuống đánh nước ta vào tháng 2/1979

 

Về phía Trung Cộng lực lượng được huy động cho chiến dịch là 28 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn và 39 trung đoàn pháo binh, 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 sư đoàn phòng không, ngoài ra còn có nhiều trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh địa phương, biên phòng, các đơn vị binh chủng (công binh, thông tin, vận tải...), lực lượng dân binh tham gia trực tiếp chiến đấu và hỗ trợ chiến đấu. Một số sư đoàn không quân và hải quân của hạm đội Nam Hải cũng được lệnh sẵn sàng phía sau.

 

Các lực lượng trên chủ yếu được lấy từ 2 quân khu Quảng Châu và Côn Minh, nhưng cũng có các đơn vị của các quân khu khác như Thành Đô, Thẩm Dương... tham gia tăng cường.

 

Lực lượng tham chiến của Việt Nam là các đơn vị thuộc Quân khu 1 và Quân khu 2 gồm các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an vũ trang (bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ và nhân dân 6 tỉnh biên giới Lai Châu, Hoàng Liên Sơn (Lào Cai Yên Bái), Hà Tuyên (Hà Giang – Tuyên Quang), Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

 

Cuộc chiến kéo dài 16 ngày, chia thành 2 giai đoạn:


Giai đoạn 1:

 

5 giờ sáng ngày 17 tháng năm 1979 lực lượng Trung Cộng khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Tổng cộng quân Trung Cộng xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, Các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.

 


Mặt trận Lào Cai (2/1979)979)

 

Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa cài cắm từ lâu trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.

 

Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Cộng nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Cộng phải chịu thương vong lớn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương, Đồng Đăng, Ở Đông Bắc. quân Trung Cộng cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai.

 

Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Quân Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Cộng hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Cộng chết trong hai ngày đầu này.

 


Mặt trận Cao Bằng (2/1979)

 

Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 tiểu đoàn 4, 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Cộng chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.

 

Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và Trung Quốc sẽ rút quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn,

 

Trong giai đoạn đầu đến ngày 28/2/1979 quân Trung Cộng chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Vicệt Nam nên quân Trung Cộng tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới của Trung Quốc.


Giai đoạn 2:


Mặt trận Lạng Sơn (2/1/1979)979)

 

Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27/2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía Bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng Tây Bắc thọc sang. Trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Cộng vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng.

 

Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.

RÚT QUÂN:


Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh và bắt đầu rút quân.

 


Tù binh Tàu Cộng

 

Mặc dù Trung Cộng tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 8/3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng khi quân Trung Cộng đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Cộng còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn,...

 

Ngày 18 tháng 3 năm 1979, Trung Cộng hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam.

 

Trở lại câu hỏi - đây là: Một cuộc chiến cố tình bị lãng quên hay là sự phản bội của đảng Cộng sản Việt Nam?

 

Ba mươi tư năm về trước, lúc 5g25’ sáng ngày 17/2/1979, tiếng đại pháo của quân Trung cộng đồng loạt khai hỏa trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, từ Phong Thổ, Lai Châu đến địa đầu Móng Cái, mở đầu một cuộc chiến, mà đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh là “dạy cho quân côn đồ Việt Nam một bài học” (Đặng Tiểu Bình); đối với giới lãnh đạo Việt Nam là “trận đánh xâm lược của bọn bá quyền Trung Quốc” (Lê Duẩn). Còn đối với quốc tế thì đó là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba.

 


Các mũi tiến quân chính của Trung Cộng vào Việt nam 

 

Trận địa gồm các tỉnh: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái

 

Dù gọi dưới danh xưng gì đi nữa thì cuộc chiến này vẫn là một trong những trận chiến thảm khốc nhất Việt Nam dưới gốc độ hủy diệt và dã man trong một khoảng thời gian rất ngắn.

 

Không có bất cứ số liệu nào chính thức và đáng tín cậy về con số thương vong của quân dân hai bên tham chiến, tuy nhiên con số mà người ta ước lượng là trên 100 ngàn người cho cả hai phía sau gần 30 ngày giao tranh đẫm máu sau khi Trung Quốc chính thức rút quân vào ngày 16/3/1979.

 

Trên đường tấn công, quân Trung Cộng nã súng không thương tiếc đối với bất kỳ ai, bất kỳ vật gì mà họ gặp ctrên đường tiến quân. Sư đoàn 163 (Trung Quốc) nhận được lệnh từ cấp trên là “sát cách vô luận” (giết người không bi buộc tội) do vậy lính Trung Cộng vô tư, “rộng rãi” sử dụng đại bác, hỏa tiển, súng phun lửa, mìn và kể cả xăng để tiêu diệt từ làng này sang làng khác, hết chục người này đến trăm, ngàn người khác.


Nếu như, ở Bát Xát (Lào Cai), hàng trăm phụ nữ bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang, thì tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9/3/1979, trước khi rút lui, quân Trung Quốcc đã giết 43 người gồm 23 phụ nữ, 20 trẻ em, troncg đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. 10 ngưcời bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”

 

Kết quả đó đã được Đặng Tiểu Bình hả hê xác nhận chủ tâm dã man này trong một bài nói chuyện đúng vào ngày rút quân của Trung Quốc: “Mười một ngày này trên đường trở về đã quét dọn một số hang, có một số vật tư giấu ở hang này hang nọ, một số thôn trang, cũng quét dọn mấy ngàn người, trên vạn người.”

17/2/1979 


Ngày này, ba mươi ba năm sau, dường như không còn chút vết tích gì về cuộc chiến đó trên quê hương Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam yêu nước câu hỏi lớn và đau đớn nhất trong ngày này - đây là một sự lãng quên vô tình hay phản bội? Bởi toàn bộ hệ thống truyền thông, báo chí chính thống của nhà nước không hề nêu lên một chữ dù chỉ để nhắc nhớ như đã từng nhắc nhớ về những cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ?

 

Trong hàng loạt những hoạt động tưởng nhớ, đền ơn những người có công với đất nước người ta không hề nghe đến những người đã hy sinh cho Tổ quốc trong trận chiến với “quân Trung Quốc xâm lược”. vào tháng 2 năm 1979. Trên các tỉnh phía Bắc, nơi xảy ra cuộc chiến, những tấm bia nào có ghi dòng chữ “quân Trung Quốc xâm lược” đều bị xóa sạch.

 


4 chữ "TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC" đã bị dục bỏ đục 

 

Cũng có những nghĩa trang chôn cất những người đã hy sinh trong trận chiến nhưng lại đìu hiu đến ngậm ngùi. Nghĩa trang Duyên Hải, Lào Cai là một điển hình chua xót. Cũng từ chủ nghĩa ấy các anh đã cầm súng và hy sinh, và sự hy sinh của các anh ngày hôm nay đã biến vào hư không, âm thầm như nhũng cái chết vô danh. Những nấm mộ này vẫn đang nằm trong lãng quên của nhiều người, ngoại trừ nỗi buồn đau của người thân các anh.

 

Đáng lẽ ngày này phải có lễ kỷ niệm, bởi vì đó là ngày Trung Quốc xâm lược Việt Nam tàn phá biên giới giết hại nhân dân Việt Nam. Đó là một dấu mốc mà nhân dân Việt Nam đời đời khắc cốt, ghi xương. Đáng ra phải có lễ kỷ niệm, nhưng vì sao vậy? Đó là do sức ép của nhà cầm quyền Trung Cộng đối với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, Trung Quốc vừa ăn cướp vừa bịt miệng nạn nhân với những mỹ từ nào là “16 chữ vàng” nào là “4 tốt”

 

Liệu pháp “16 chữ vàng” nào là “4 tốt” xuất hiện trong bối cảnh nào mà đã xóa sạch mọi vết tích của trận chiến ngày 17/2/1979. Thậm chí nó còn muốn hủy diệt sức đề kháng trước ngoại xâm của dân tộc Việt Nam?

 


Những con buôn chính trị, Đặng Tiểu Bình (Tàu Cộng - bên trái trái), 
TT Jimmy Carter (Hoa Kỳ - bên phải)

 

Vì sao hình ảnh “16 chữ vàng” nào là “4 tốt” đã thay chỗ cho những khuôn mặt đau thương, những thân hình tàn phế cùng những hy sinh không đếm được của hàng chục vạn chiến sĩ, đồng bào trong cuộc chiến 17 tháng 2 năm 1979 – Nguyên do là vì nhóm cầm đầu đảng Cộng sản Việt Nam đã cam tâm cúi đầu làm tay sai tập đoàn bành trướng, bá quyền Đại Hán.

 

Hàng ngàn năm sống bên cạnh Trung Quốc đã cho người Việt Nam quá nhiều kinh nghiệm và bài học. Chỉ có đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay vì luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của dân tộc nên mới nhận kẻ thù truyền kiếp của dân tộc làm bạn, rồi bây giờ cũng vì quyền lợi riêng, nên cúi đầu cam tâm thần phục Bắc Kinh. Và ép buộc nhân dân phải đớn hèn theo họ!

 


Cuộc chiến biên giới tháng 2/1979 chống quân Trung Quốc xâm lược là 
một cuộc chiến cố tình bị lãng quên hay là sự phản bội của đảng Cộng sản Việt Nam! 



danlambaovn.blogspot.com

* Bài viết được tác giả chỉnh sửa lần cuối vào chiều ngày 16/2/2013. Trong bài có trích dẫn  tư liệu  đăng trên báo chi Việt Nam thời gian xảy ra cuộc chiến và bản đồ theo Lịch sử quân sự Việt Nam.

 

 

 


__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link