Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, February 21, 2013

Bài Học Lịch Sử Về Việc Đi Giây Của VC Với Nga-Tàu Qua Cuộc Chiến Biên Giới 1979-1989


 

Bài Học Lịch Sử Về Việc Đi Giây Của VC Với Nga-Tàu Qua Cuộc Chiến Biên Giới 1979-1989

(02/20/2013) (Xem: 866)

Tác giả : Mường Giang

Vài giờ, sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean, rời nóc bằng của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN, để bay ra biển Đông, lên hạm về nước trong danh dự. Cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Cái bi hài của vở kịch “ nước mắt trước cơn mưa “ là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi hòa hợp hòa giải, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của Hà Nội đã điểm.

Đây cũng là thời khắc mà tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Q.Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh TT Minh, ra lệnh cho các Đơn Vị Miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975. Đây là giờ qui định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp đồng, với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Đó cũng là thời gian lộ mặt của các đội Biệt Động, Đặc công.. từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Đó là giờ qui định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..

Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến dơ bẩn nhất tại VN, do cọng sản dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo cảnh chiến tranh, để đổi đời, nắm quyền, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất. Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Đại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh (đại phản tặc của dân tộc, mà đời đời kiếp kiếp, miên viễn bị bia miệng nguyễn rũa.), như những thành phố tại Nga Sô Viết, trong thời kỳ cách mạng tháng mười năm 1917. Cũng nhờ cách mạng, giải phóng nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước, trước sau rủ nhau xuống hố xã hội chủ nghĩa, để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ, trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi, từ những năm đầu thập niên, cuối thế kỷ XX khi Liên Xô, Đông Đức, Đông Âu tan hàng, trước chủ nghĩa tự do, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.

Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng tuyệt đối đều sùng bái VC như thần thánh trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), sau ngày bị chính quyền mới trục xuất , đều viết : Quang cảnh Sài Gòn ngày hôm đó cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là dân nguỵ bị Mỹ-Thiệu kềm kệp, nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi, ngay cả trí thức nhà báo khao bảng, cũng phải đi ăn mày...”

Tóm lại Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.

Củng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào Trung tâm quyền lực nhất của Nam VN. Đó là Dinh Độc Lập, mà mới vài giờ trước đây, chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức. Nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt, tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ, tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.

Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, lá cờ mà mấy chục năm nay cứ khoe là của nước Việt, mặt thật là sao chép y chang cờ máu của đảng Tàu Cộng, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu tạo dựng bằng núi xuơng sông máu đồng bào, bán nước bán đất, tiêu diệt tín ngưỡng cùng văn hiến dân tộc, đang do một đám sâu bọ đội lớp người trí thức dân chủ, cổ võ bung xung, thì làm sao dựng nổi một mùa xuạn ? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày  Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt , qua các tác phẩm mang tên  Mùa Xuân Đại Thắng, Ánh Sáng của lịch sử ...”

Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian Miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương tây thân cộng lúc đó, quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là cách mạng giải phóng đã thành công.. Chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường, để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn, nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Tho, chị Bình, chị Định.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do..

Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung, di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán, cảnh Miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cưc, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại, nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy, để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ, đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?

Người dân Sài Gòn cố gắng mở to đôi mắt hôm đó, để tìm trong hàng ngũ bộ đội tân lập 304 băng đỏ, cũng dép râu, nón tai bèo và khăn rằn xanh quàng cổ, hình dáng thân thương của các thầy, quý cha, anh chị em văn nghệ sỹ.. từng hò hét khản cổ, kêu gọi phản chiến, hòa hợp hòa giải năm xưa. Nhưng hỡi ơi, trong đó tìm hoài đâu thấy một ai. Các vị chỉ muốn đấu võ mồm, đâm sau lưng người lính, phá thối chính quyền đương thời. Đến lúc nhà tan nước mất, giặc Bắc không hòa hợp mà chỉ xâm lăng, cướp của giết đồng bào.. thì các vị cũng đã nhanh chân ôm Mỹ, để kịp chạy ra hải ngoại, tiếp tục đối lập trọn đời, để lần nữa phá thối cuộc sống tạm dung chốn quê người, của những thân phận VN, cũng vì họ mà ngày nay phải sống đầu đường xó chợ, khác nào những tên nô lệ Pháp, Mỹ, trên vãn nẻo đường lưu vong, lấy nước mắt làm canh, đêm ngày hoài mơ viễn xứ, thương khóc tưởng nhớ quê mình.

Hơn tám mươi năm trôi qua (1930-2013), dù bây giờ chuyện gì người dân cũng đã biết đủ. Thế nhưng cọng sản và Việt gian, thì chứng nào tật đó, vẫn tỉnh bơ hãnh diện, tiếp tục gian dối bịp lừa đồng bào. Tóm lại, đối với cọng sản, tất cả chỉ là giai đoạn, nên không bao giờ có chuyện tình nghĩa đồng chí, đồng đảng, đồng đội.. thì nói làm chi tới tình đồng bào, đồng nước. Cũng nhờ gần hết bí mật lịch sử cân đại, được khai quật phổ biến, nên ngày nay chúng ta mới nhận diện được bộ mặt thật của những người, từng ôm nhau hôn hít, từng nhận là anh em môi hở răng lạnh hay sông liền sông, núi kế núi.. thế nhưng cũng chẳng có gì, ngoài nhu cầu hợp tác và giai đoạn.

Sau năm 1990, Liên Bang Sô Viết và Nam Tư tan rã thành từng mảnh vụn. Những người mới đó cùng đứng chung dưới một màu cờ, một đảng bộ.. đã vội bôi mặt chém giết nhau một cách tận tuyệt. Tuy nhiên bi thảm hơn hết, vẫn là sự tương tàn đẫm máu, giữa ba đảng Tàu, Việt và Miên Cộng.. xảy ra từ các năm cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, sau khi đệ tam quốc tế đã tạm hợp tác, thỏa hiệp chống Mỹ thành công. Từ kinh nghiệm năm đó, giờ nhìn lại thái độ lưng chừng của Việt Cộng, trong vai trò chọn lựa để được làm đầy tớ Hoa Kỳ hay Trung Cộng, khiến cho đồng bào trong và ngoài nước phải ngao ngán, vì biết chắc dù VC có theo ai chăng nữa, thì đất nước lần nửa, rồi sẽ tan nát nếu có chiến tranh xảy ra.

Lần trước Polpot và Đặng Tiểu Bình mới chỉ có tàn sát đồng bào vô tội cũng như tàn phá tận tuyệt các tỉnh biên giới của VN. Lần này Trung Cộng binh hùng vũ khí tối tân, lại có nhiều bom nguyên tử, chắn chắn là Tàu sẽ thẳng tay tiêu diệt con Hồng cháu Lạc cả nước. Biến cố ngư dân Thanh Hoá bị Trung Cộng thảm sát trong vịnh Bắc Việt vào ngày 8-1-2005, như một khúc dạo đầu của điệu ru nước mắt, mà VN đang dần bước vào nẻo tuyệt lộ vì giặc Tàu, qua đồng thuận của Việt Cộng, từng bước xâu xé gấm vóc giang sơn của dân tộc Đại Việt, một cách công khai và man rợ, như chúng từng làm trong quá khứ

“... ôi trọn kiếp, lòng ta hoài mơ ước
cảnh thanh bình trên vạn nẻo quê hương
nên thường hay chợt khóc giữa đêm trường
khi tưởng tới ngày mai về cố quốc...”
1-Khmer đỏ tấn công tàu buôn Hoa Kỳ :.

Nam Vang thất thủ trước Sài Gòn mười ba ngày (17-4-1975). Để chiếm thủ đô, Polpot đã ra lệnh cho Khmer đỏ, pháo kích bừa bãi dã man vào thành phố, gây thương vong nhiều người vô tội, tại các khu vực đông dân cư, làm tê liệt phi trường Pochentung. Vì vậy Đại sứ Mỹ là John Gunther và tổng thống Lonnol (kẻ đã ra lệnh cáp duồng hằng vạn Việt Kiều tại Kampuchia năm 1970), nếu không nhanh chân bò lên trực thăng vù ra biển, chắc cũng đã bị Polpot phanh thây như triêu người dân Miên khác bị kẹt lại.

Ngay khi chiếm được nước, các lãnh tụ Miên đỏ đã bất chấp luân thường đạo lý , ra lệnh tàn sát gần hết đồng bào mình, một cách rùng rợn. Hành động trên đã làm cho thế giới văn minh của nhân loại, dù ở tận phương trời góc biển, đã phải xanh mặt, tím ruột, khi được đối diện với mặt thật của những hung thần cọng sản quốc tế, qua hình ảnh của thảm kịch  The Killing Fields (Những cảnh đồng xác người ). Ngoài ra theo lệnh chủ mới là Tàu Cộng, Polpot trả ơn Việt Cộng, chủ củ cũng là kẻ đã cưu mang chúng từ khi còn trong trứng nước, tới hồi lớn mạnh, bằng cách tấn công biên giới, biển đảo, để mong chiếm lại miền Thủy Chân Lạp của 300 về trước, đã bị VN tới khai thác khi bị bỏ hoang.

Polpot cũng đã mở màn cho cuộc chiến Đông Dương lần thứ III (1975-1990), bằng lệnh khai hỏa vào chiếc tàu buôn của Mỹ tên Mayaguez, trong lúc đang bỏ neo ngoài khơi hai đảo Kohtang và Poulo Wai (Đảo Trọc), nguyên là lãnh thổ của VN, nằm trong vịnh Phú Quốc, bị Khmer đó chiếm sau tháng 4-1975.

Ngay khi bị lực lượng người Nhái của Polpot tấn công, thuyền trưởng chiếc tàu buôn trên, đã đánh khẩn điện về nước để cầu cứu và đã được chính Tổng Thống Mỹ lúc đó là Ford, ra lệnh cho TQLC cùng Không quân, đang ở căn cứ Utapao (Thái Lan), đến giải thoát họ. Nhưng Polpot khôn ranh, đã ra lệnh cho kéo chiếc tàu trên cùng thủy thủ đoàn 37 người, về giam tại hải cảng Kompong Som, trước khi TQLC Mỹ dùng trực thăng, đổ bộ lên đảo Poulo Wai, sáng ngày 15-5-1975.

Một trận ác chiến sau đó, đã xảy ra trên đảo Kohtang, giữa TQLC và quân Khmer đỏ. Kết quả có hai trực thăng Mỹ chở quân bi bắn hạ và ngay cả TQLC cũng bị vây khổn trong trận địa. Để giải vây quân tiếp viện cũng như chiếc tàu buôn đang bị bắt, lần nữa TT Ford ra lệnh cho KQ tại Thái Lan, oanh tạc Nam Vang và hải cảng Kompong Som, phá hủy nhiều máy bay Mig của Trung Cộng vừa viện trợ, đồng thời đốt rụi nhà máy lọc dầu duy nhất của Kampuchia tại hải cảng Sihanouk. Thấy Hoa Kỳ làm dữ quá, Polpot giả vờ đổ thừa cho địa phương vì phương tiện truyền tin eo hẹp, nên không nhận được lệnh Trung Ương, rồi ra lệnh thả chiếc tàu buôn cùng thủy thủ. Ngoài ra TQLC cũng được lệnh rút khỏi đảo Kohtang, bỏ lại xác hai chiếc trực thăng. Trong trận chiến này, có 15 binh sĩ Mỹ tử thương trong khi đụng độ.

Vụ tàu buôn Mỹ Mayaguez bị tấn công và 15 TQLC bỏ mạng, trên đường hồi hương, được Ford cùng báo chí giữ kín. Người Mỹ muốn gì khi im lặng hay thật sự đã nhìn thấy trước, cảnh huynh đệ tương tàn trong các đảng cọng sản đệ tam quốc tế. Sau này qua các tài liệu đã giải mật, được Ford giải thích :  Đó là sự châm ngòi cho ý nghĩa mới. Một cơ hội để cho các đảng cộng sản anh em tự thanh toán lẫn nhau, dọn đường cho tư bản trở lại Đông Dương và Đông Nam Á .Cuối cùng Hoa Kỳ đã tiên đoán đúng. Từ thập niên 90 về sau, chẳng những các nước Đông Dương, mà ngay cả Trung Cộng, Liên Bang Nga lẫn Bắc Hàn, đều trải thảm đỏ, mở cửa rộng, để quỳ đón Âu Mỹ, Nhật, Triều Tiên.. đem đô la vào cứu đảng.

2- Cuộc chiến đẫm máu giữa Miên và Việt Cộng :

+ POLPOT THEO TRUNG CỘNG, PHẢN VIỆT CỘNG:

Theo các tài liệu hiện hành, ta biết đảng cọng sản Cam Bốt được thành lập vào tháng 9-1951, qua danh xưng  Đảng Nhân Dân Cách mạng Khmer ố Khmer People s Revolutionary Party  thường viết tắt là KPRP. Polpot tên thật là Saloth Sar, người Việt gốc Miên. Trong thời gian du học tại Pháp, qua sự móc nối của một đảng viên VC tên Phạm văn Bá, từng hoạt đông tại Nam Vang, nên Polpot gia nhập đảng KPRP năm 1953. Hiệp định về Đông Dương, ký tại Geneve 1954, ra lệnh cho đảng này giải tán. Do đó hơn 2000 đảng viên KPRP phải tập kết tới Hà Nội. Chính sự tan rã của đảng cọng sản Miên, là nguyên cớ sau này để Polpot vin vào lên án VC đã bán đứng đồng chí, khi cuôc chống Pháp của hai đảng đã đạt được thành công.

Tuy nhiên dù bị cấm đoán, cọng sản Miên vẫn âm thầm hoạt động lén lút, dưới sự lãnh đạo của Shieu Hang và Ton Samouth. Từ tháng 7-1962, Polpot mới được cử làm Bí thư đảng, hoạt động chung với Ieng Sary và Son Sen. Bắt đầu từ năm 1965 trở về sau, Mỹ ào ạt đổ quân vào Nam VN, làm cường độ chiến tranh càng lúc càng gia tăng. Tai Miên, ngoài mặt Sihanouk mang chiêu bài trung lập, nhưng đã gần như công khai để cọng sản Bắc Việt sử dụng lãnh thổ xứ chùa Tháp, làm căn cứ điạ dưỡng quân, đồn trú, lánh nạn và trực tiếp nhận viện trợ của khối cọng sản, tại hải cảng Sihanoukville. Mục đích cũng chỉ để trục lợi mà thôi. Trong giai đoạn này, Bắc Việt đã lập một đơn vị đặc nhiệm, gọi là P36 chuyên huấn luyện bộ đội Khmer đó của Polpot, cũng như ngăn cản không cho đụng chạm tới quân đội Hoàng gia Cam Bốt của ông Hoàng Sihanouk.

Năm 1970, lợi dụng Sihanouk xuất ngọai, tướng Lonnol và Hoàng thân Sirik Matak làm cuộc đảo chánh và đón quân Mỹ vào. Nhờ vậy gần như tất cả các căn cứ địa của bộ đội Bắc Việt và Khmer đỏ, trú đóng trên đất Miên bị tiêu diệt bởi Mỹ giội bom và các cuộc hành quân Toàn Thắng, của liên quân Hoa Kỳ-VNCH.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt, lần nữa hai đảng cọng sản anh em lại hợp tác để sống còn. Rồi lợi dụng tiếng tăm của Sihanouk, Bắc Việt dụ dỗ tuyên truyền dân chúng Miên gia nhập bộ đội, giúp cho lực lượng Khmer đỏ lên tới 30.000 quân. Tất cả đều do Hà Nội cưu mang, từ huấn luyện cho tới trang bị và tiếp tế. Trong những lần đụng độ với quân của Lonnol, bộ đội Bắc Việt luôn đi đầu hứng đạn, còn lính của Polpot thi đi sau, nếu thắng thì đòi chia chiến lợi phẩm. Ngược lại khi bộ đội Bắc Việt thua trận, quân Polpot lập tức bỏ chạy hay ác hơn là bắn lén sau lưng. Tình đồng chí của cọng sản là vậy đó.

Năm 1972, Polpot nghe lời dụ của cáo già Kissinger hợp mật. Nhưng đây chỉ là kế ly gian của Mỹ, nhằm gây rạn nứt giữa hai đảng cọng sản. Vì sau đó Mỹ đã oanh tạc từ 257-465 tấn bom xuống tàn phá gần hết các căn cứ của quân Khmer đỏ, rồi phao tin là Hà Nội đã chỉ điểm. Đòn chí tử này đã khiến Polpot trở mặt chống Bắc Việt từ đó nhưng ngoài mặt thì giả vờ liên minh hợp tác.

Tháng 8-1974 Polpot hạ sát 71 đảng viên cong sản Miên thân Hà Nội. Tiếp theo vào tháng 9 cùng năm có 100 người khác cùng chung số phận. Nhưng trong số này có 2 người còn sống sót tên Hemsamin và Yospor trốn thoát tới Bắc Việt. Chưa hết, có 2 phóng viên Bắc Việt bị giết tại Kampong Chàm và trọn một phái đoàn của MTGPMN, từ Mỹ Tho vào tham quan vùng xôi đậu trong Đồng Tháp Mười nhưng lại lạc qua Miên, bị Khmer đỏ phục kích hạ sát. Thêm vào đó, đã có hàng vạn Việt kiều bị Khmer đỏ cáp Duồng. Tất cả Hà Nội đều biết, nhưng vẫn im lặng, đã vậy Bắc Bộ Phủ còn nỗ lực giúp cho Polpot chiếm được Kampuchia và Nam Vang vào ngày 17-4-1975. Ngoài ra để che dấu sự thật, mục đích phỉnh gạt đồng bào, lừa bịp dư luận thế giới, hằng ngày hai đảng vẫn ra rả lập đi lập lại những từ ngữ hào nhoáng tuyên truyền như  Đoàn kết vĩ đại, tình hữu nghi anh em cách mạng Cam Bốt-Việt Nam bất diệt..    Cuối cùng ngày 12-4-1975, Ieng Sary chính thức yêu cầu Trung Cộng, trực tiếp viện trợ cho Kampuchia mà không cần VN trung gian như từ trước.

Để mở màn cho bi kịch máu đã tới lúc chín mùi, ngày 4-5-1975, Polpot ra lệnh tấn công hai đảo Thổ Châu và Phú Quốc. Quân Khmer đỏ chém giết dã man hằng ngàn đồng bào vô tội, cướp của đốt nhà và trước khi rút, đã bắt 500 người VN, đa số là đàn bà con gái. Để trả đủa, ngày 18-5-1975, VC huy động hải lục không quân, tái chiếm hai đảo trên và đảo Pulau Wai mà Miên đã chiếm từ trước, bắt giữ 300 tù binh. Thấy VN làm dữ, Polpot lại xuống giọng. Rồi thì màn kịch đồng chí đồng đảng, được hai nước tô son trét phấn trở lại hằng ngày trên đài, trên báo, khi Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh dẫn phái đoàn sang Cam Bốt thăm viếng xã giao ngày 2-6-1975. Ngược lại, Polpot cùng Ieng Sary và Noun Chen, trên đường sang chầu Trung Cộng, đã ghé Hà Nội để đáp lễ vào ngày 12-6-1975.

Tại Trung Cộng, tình hình nội bộ đảng cọng sản biến chuyển mạnh, sau khi Mao Trạch Đông chết. Đêm 6-10-1976, Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh và Uông Đông Hưng.. ra lệnh cho đơn vị đặc nhiệm tại Bắc Kinh 2341, bất thần tấn công, bắt trọn ổ Tứ Nhân Bang gồm Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diệu Văn Nguyên.. rồi tôn Đặng Tiểu Bình lên ngôi hoàng đế đỏ, dù Hoa Quốc Phong vẫn là Tổng Bí Thư đảng bù nhìn. Đặng công khai ủng hộ Polpot, bất chấp dư luận thế giới đang nguyền rủa tên sát nhân và khmer đỏ. Từ đó qua chỗ dựa chắc chắn, Polpot theo hẳn Trung Cộng, cắt đứt liên hệ với VC. Về nước, Polpot ra lệnh hạ sát hơn 10.000 đảng viên, tại Trung tâm thẩm vấn Tuol Sleng ở Nam Vang, vì họ bị nghi là thân với Hà Nội. Máu của đồng bào hai nước tiếp tục chảy hằng ngày, trong lúc hai cái loa của hai đảng, vẫn không ngớt ca tụng, tuyên truyền tình hữu nghi thắm thiết, một cách trơ trẽn và lố bịch, khiến cho ai nghe cũng muốn lợm giọng.

Cuối tháng 3-1977, sau khi đã thanh trừng hết tay chân của Hà Nội, Polpot ban hành nghị quyết 870, công khai chống VN, ra lệnh tàn sát Việt kiều tại đất Miên, đồng thời tấn công các tỉnh biên giới.

Ngày 30-4-1977, trong lúc Bắc Bộ Phủ từ trên xuống dưới, đang mở đại tiệc ăn mừng chiến thắng cướp được VNCH, thì từ Hà Tiên, Châu Đốc, An Giang, Đồng Tháp lên tới Tây Ninh.. hằng chục sư đoàn Khmer đỏ, vượt biên giới tấn công vào các làng xã của VN. Giống như quan thầy Trung Cộng, lính Miên đỏ hung dữ dã man chưa từng thấy, qua hành động giết người rồi chặt đầu, mổ bụng, phanh thây và cắt bỏ các cơ quan sinh dục của nận nhân. Sau đó đốt sạch nhà cửa và bắt hết trâu bò, heo ngựa của người Việt đem về Căm Bốt. Do sợ Trung Cộng, nên Hà Nội vẫn im lặng nhưng khắp nước đồng bào đều lên tiếng phản đối, cả tờ báo Quân Đội Nhân Dân cũng lên tiếng đòi chính phủ trả đũa. Do trên, Bắc Bộ Phủ đã ra lệnh cho A37 oanh tạc, rượt đuổi quân Miên chạy về bên kia biên giới.

Tháng 8-1977, tờ Cờ Đỏ của Polpot (Democratic Kampuchia Advance), cho phát hành một bản đồ nước Căm Bốt mới, không theo đường ranh Bravie củ. Bản đồ này, ngoài lãnh thổ nước Kampuchia hiện hữu, còn bao gồm tất cả các hải đảo của VN và Nam Phần, mà Polpot gọi là Thuỷ Chân Lạp. Việc này vào tháng 2-1992, quốc hội Trung Cộng cũng đã ban hành phổ biến một bản đồ của nước Tàu mới, trong đó hải phận Trung Hoa chạy dọc suốt bờ biển VN, Thái Lan, Mã Lai Á, Nam Dương, Brunei và Philippine. Như muốn đổ dầu vào lò lửa đang ngùn ngụt cháy, Đặng Tiểu Bình, Hoa Quốc Phòng.. và đảng cọng sản Tàu, công khai cổ võ hành động Polpot chống lại VN.

Trước nổi cô đơn thê thiết vì bị Mỹ ngoảnh mặt, Tàu bỏ rơi, thế giới lợm giọng, đàn em Polpot phản bội và dân chúng miền Nam ù lì thụ động bất hợp tác. Vì vậy với bản chất lật lọng, quen chịu làm đầy tớ bất cứ ai nếu có lợi cho đảng và cá nhân. Nên VC lại chạy sang quì lạy Liên Xô, chịu gia nhập khối kinh tế Comecon và trên hết cho hải quân Nga vào các hải cảng Đà Nẳng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu. Ngày 6-6-1977, một phái đoàn quân sự Nga tới thăm Hà Nội. Tháng 10-1977, VC cho chở một số lớn chiến lợi phẩm tịch thu của VNCH từ tháng 4-1975 gồm phi cơ, chiến xa, đại pháo.. sang bán cho Ethiopie, một quốc gia Bắc Phi, nói là để lấy tiền trả nợ cho Trung Cộng . Cũng từ đó, VC công khai làm chư hầu Liên Xô, nên được đàn anh viện trợ cho một số quân dụng cũ, gồm 2 tàu ngầm, một khu trục hạm, 4 phi đội MIG 21 cùng với đoàn cố vấn Nga đông đảo. Như vậy thế chân vạc của cọng đảng trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ III đã thành hình. Một bên gồm Liên Xô-VC-Lào cộng. Phe kia có Trung cộng và Khmer đó. Người Mỹ đứng giữa đâm thọc cả hai phía, để giật dây cũng như đổ thêm dầu vào đám cháy đang rực lửa. Đó cũng là lối trả thù quý phái của bọn tư bản nhà giàu, trong canh bạc bịp, được coi như lớn nhất thế kỷ XX.

Ngày 24-9-1977, Khmer đỏ lại vượt biên tấn công Tây Ninh, phanh thây xé xác hằng trăm đồng bào vô tội. Lần này Bắc Bộ Phủ lột chức Trần Văn Trà, cho Lê Đức Anh thay thế. Một ký giả Hung Gia Lợi tên Sandor Giory đã tới tận hiện trường quay phim, chụp hình nhưng bị công an tịch thu phim máy. Đã vậy, 4 ngày sau cuộc tấn công đẫm máu tại Tây Ninh, Hà Nội vẫn gủi điện văn tới chúc mừng Polpot, trong dịp lễ ăn mừng 20 năm thành lập đảng Miên Cộng.

Rồi thời cơ chín mùi qua sự hứa hẹn của LX sẽ ra mặt can thiệp nếu Trung Cộng tấn công VN. Để lấy lòng tin thằng đầy tớ mới, LX cho hằng chục sư đoàn trải dài khắp biên giới Nga-Hoa và phái một mẫu hạm thường trực tuần thám trong hải phận vịnh Bắc Việt. Cũng từ đó, Hà Nội mới bắt đầu trả đũa, tung quân chiếm lại các làng mạc bị Khmer đỏ cưởng chiếm. Quân VN còn thọc sâu vào lãnh thổ tỉnh Svay Riêng, để giải thoát cho các tướng lãnh Miên đang bị Polpot thanh trừng đuổi giết, như Hunsen, Heng Samrin, Bonthang.. đem về VN. Sau đó VC cho diễn lại vở tuồng củ năm 1960 ở miền Nam VN, dùng các quân bài trên, để thành lập cái gọi là  Mặt Trận Giải Phóng Căm Bốt .

Ngày 5-10-1977, Trung Cộng và Polpot chính thức ký một Nghị định thư (Protocol), để bổ túc cho Hiệp định quân sự, mà hai bên đã ký ngày 1-2-1976. Theo đó, Trung Cộng sẽ viện trợ quân sự cho Khmer đỏ vô điều kiện không hoàn trả. Ngày 1-11-1977, Trung Cộng cắt đứt đường bay Bắc Kinh-Hà Nội. Ngày 21-11-1977, Tổng bí thư Lê Duân sang chầu thiên triều xin tạ tội nhưng bị Đặng Tiểu Bình xua đuổi. Thế là đảng VC quyết định theo hẳn Nga Sô chống Tàu Cộng từ đó, tuy nhiên trước khi sang Mạc Tư Khoa ký kết, Võ Nguyên Giáp được lệnh bí mật bay tới Tân Đề Ly nhờ giúp đỡ. Nhưng thời thế đã đổi thay, vì lúc đó Ấn Độ theo Tây Phương, không trung lập thân cộng, nên đã từ chối lập tức. Thế là lò lửa chiến tranh giữa ba đảng anh em Tàu-Việt-Miên, đã chính thức bùng cháy, không ai có thể dập tắt được.

+ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ GIỮA KHMER VÀ VIỆT NAM CS

Trên bán đảo Đông Dương, đối với Lào, CamBốt kể cả Thái Lan, thời nào VN cũng đều đạt ưu thế quân sự. VN có dân số đông nhất trong vùng, hơn nửa lúc nào cũng luôn sẵn sàng chống trả sự xâm lăng của Tàu, nên quân số đông đảo, thường trực. Đối với Khmer đỏ lúc đó, quân VN nhiều gấp mấy lần, lại thiện chiến, có vũ khí quân dụng dồi dào, tối tân. Bởi vậy cả Trung Cộng còn phải nể nang, thì làm sao Kampuchia dám gây chiến, trừ phi VC vì lý do chính trị đã nhượng bộ.

Thật vậy, sau tháng 5-1975, VN là nước có dân số đông thứ 13 trên thế giới. Về quân sự, quân đội VN xếp hàng thứ bốn, sau Trung Cộng, Hoa Kỳ và Liên Sô, đông hơn nhiều lần, quân số của sáu nước ASEAN (Thái, Nam Dương, Phi, Mã, Tân Gia Ba và Bruein) cộng lại. Do sự đối nghịch của Kampuchia và Trung Cộng, nên dù mang tiếng có hòa bình sau ngày 30-4-1975, Bắc Bộ Phủ vẫn duy trì và tăng cường quân số nhiều hơn trước, nên chỉ riêng chính qui, đã có từ 700000-1.000.000 người. Về chiến lược, cả nước chia thành 7 quân khu : I,II,III,IV,V, VII và IX. Ngoài ra còn có quân khu Thủ Đô Hà Nội), Đặc khu Quảng-Ninh và HCM (Sài-Gòn). Quân Đội vẫn gồm ba binh chủng Hải, Lục và Không quân. Từ sau tháng 4-1975, Lục quân được tổ chức thành bốn quân đoàn lưu động, như các bỉnh chủng Dù, TQLC và BDQ tổng trừ bị của QLVNCH. Các quân đoàn mang số 1 (Quyết thắng), II (Hương Giang), III (Tây Nguyên) và IV (Cửu Long). Từ năm 1979 về sau, do tình hình chiến sự, quân số đã tăng lên tới tám quân đoàn. Mỗi quân đoàn có quân số chính qui gần 50.000 người, cộng thêm các đơn vị yểm trợ như thiết giáp, công binh, pháo binh, truyền tin, quân y.. Không kể chiến lợi phẩm thu được của miền Nam (phần lớn đã bán cho Châu Phi), lúc đó bộ đội CS có trên 1000 thiết giáp T34,54,55,59,62 cộng với 500 xe PT76, nhiều súng đại bác đủ loại, mấy ngàn súng phòng không, sử dụng hỏa tiễn Sam. Ngoài lực lượng chính qui Miền tức là quân khu, còn có chủ lực tỉnh như trung đoàn Bắc Thái, Gia Định, Sông Bé, Vàm Cỏ.. Về lực lượng Dân quân, có tỉnh đội, huyện đội, xã đội.. Lục quân còn có các đơn vị đặc biệt như Đặc Công, Lữ Đoàn 305 Dù, quân đoàn 559 công binh, sư đoàn 673 cao xạ..

Sau 1975, Hải quân CS.VN có hơn 1000 tàu chiến đủ loại, lớn nhỏ, trong số này có nhiều tàu của VNCH để lại. Hải phận chia thành năm vùng trách nhiệm và các Bộ tư lệnh vùng đóng tại Hải Phòng, Vinh, Đà Nẳng, Vũng Tàu và Rạch Giá. HQ gồm hai Hạm đội : Hàm Tử phụ trách biển bắc (Vịnh Bắc Việt) và Bạch Đằng có trách nhiệm ở phía nam, tới vịnh Phú Quốc.

Riêng Không quân có quân số chừng 20.000 người. Ngoài số phi cơ A37,F5, vân tải, trực thăng.. của VNCH bỏ lại, còn có các máy bay chiến đấu MIG 21, 23 - trực thăng võ trang do Liên Xô viện trợ. Tất cả chừng 1000 chiếc, lập thành các không đoàn oanh tạc, chiến đấu, vận tải, huấn luyện. BTL/Không quân đóng tại phi trường Bạch Mai ( Hà Nộ).Năm 1980, quân đội VN có quân số hơn 2 triệu người, đứng hàng thứ 3 thế giới (Tàu, Nga, VN, Mỹ).

Trái lại quân đội Kampuchia lúc đó chỉ có 68.000 quân, rồi tăng lên 150.000 khi đánh nhau với VN và chia thành 23 sư đoàn. Riêng hải và không quân thì không đáng kể, với một số lượng tàu chiến nhỏ, cũng như một số máy bay cũ kỹ lỗi thời và vài máy bay Mig 15, 17 chưa xử dụng. Binh sĩ thì đa số là du kích không quen lối đánh vận động chiến, có thiết giáp pháo binh phối hợp. Tuy nhiên vì cùng xuất thân một lò cọng sản, được nhồi sọ, nên rất cuồng tín đa sát, dù đã bại trận nhưng cũng đã gây cho VN nhiều tổn thất nặng nề, trong thời gian Kampuchia bị VC chiếm đóng (1979-1990).

+ ĐẴM MÁU GIỮA VIỆT CỘNG VÀ KHMER ĐỎ :

Sau khi đi Tàu cầu hòa lần chót bị thất bại nên phải chạy theo Nga, vì vậy Lê Duẩn quyết định tấn công trả đũa Polpot. Ngày 2-12-1977, quân đoàn 4 hay Binh đoàn Cửu Long, gồm các SD chính quy 7,9,341 có không quân, thiết giáp, pháo binh yểm trợ, do Hoàng Cầm chỉ huy, với quân số trên 60.000 người, cộng thêm nhiêu Thanh Niên Xung Phong lo phần tiếp vận, công binh.. đồng loạt tấn công tai chiếm phần đất Tây Ninh bị chiếm, rồi tràn vào đất Miên tiêu diệt Quân Khu Đông của Khmer đỏ. Vì lúc đó Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, đang thăm khối ASEAN, nên quân VN được lệnh rút về nước ngày 6-1-1978. Lập tức Đại sứ Kiều Minh và toàn bộ ngoại giao đoàn bị trục xuất khỏi Nam Vang. Ngoài ra Polpot cho triệu hồi đại sứ Sokheng từ Hà Nội về rồi giết chết. Cũng từ đó, đã có sự rạn nứt trong nội bộ, đưa tới sự thanh trừng, làm suy yếu quân đội.

Trong trận tấn công vừa qua, VN đã giải thoát và đem về nước hơn 60.000 nạn nhân bị Polpot cáp duồng gồm Việt-Hoa kiều và một số dân Miên. Tất cả được tạm trú tại các Trại Tị Nan mới lập ở Bến Sành (Tây Ninh) và Bến Tranh (Định Tường), do Liên Hiệp Quốc bảo trợ. VC nhân cơ hội vào trại tuyên truyền và tuyển mộ lính. Ngày 15-2-1978, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, từ Hà Nội vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia của VNCH ở Sài Gòn, để chủ tọa buổi ra mắt cái gọi là Mặt Trận Kháng Chiến Khmer .Những cán bộ Miên Cộng thân Hà Nội như Pensovan, Chensi, Heng Sarin, Tang Soroun và Chesoth đều được chỉ định làm cấp lãnh đạo. Tân binh Miên được VN huấn luyện cấp tốc tại các quân trường cũ của miền Nam như Chí Lăng, Vị Thanh và Long Giao.Ngày 22-4-1978, thành lập Lữ Đoàn 1 Kháng Chiến Miên, rồi đưa về nước đánh Polpot. Trong lúc đó, quân Khmer đỏ lại tự tàn sát lẫn nhau tại các tỉnh miền đông như Kampong Chàm,Svayr Rieng và Prey Veng. Lợi dụng sự chia rẽ trên, VC kêu gọi dân Miên nổi lên lật đổ Polpot.

Tháng 6-1978, Hà Nội lại oanh tạc Kampuchia. Tháng 9-1978, Phạm Văn Đồng sang du thuyết giải độc tại 6 nước ASEAN nhưng bị thất bại. Ngày 1-11-1978, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cơ Thạch .. lại sang Liên Xô, để ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trong vòng 25 năm. Theo đó Nga đã viện trợ quân sự, cũng như nhân đạo 1,5 triệu tấn mễ cốc cứu đói. Ngoài ra Nga còn cam kết sẽ can thiệp, nếu Trung Cộng xâm lăng VN. Cũng vì quá tin tưởng vào lời hứa cuối này, mà VC đã sử dụng gần 3/4 quân số khi tấn công Khmer đỏ, nên không đủ lực lượng phòng thủ biên giới phía bắc, khi Trung Cộng xâm lăng VN.

Ngày 2-12-1978, Lê Đức Thọ, Đồng văn Cống .. đã đến chủ tọa ngày thành lập  Mặt Trận Cứu Nguy Cam Bốt , gọi tắt là KNUFNS, tại một khu rừng già trong tỉnh Kratie vừa chiếm được. Tại đây đã tập họp được một lực lượng đông đảo chống Polpot gồm tân binh, lính khmer đào ngũ và Ham Samsin được phong chức chủ tịch mặt trận. Rồi hằng ngày tiếng nói của những người Miên chống đối được phát thanh, đồng thời VC dùng máy bay rải truyền đơn chống Polpot, được rải khắp lãnh thổ Cambốt. Song song, lá cờ củ của Khmer Issarak năm 1950, với hình năm ngôi tháp vàng trên nền đỏ, được xài lại. Bộ chỉ huy tiền phương của VN đóng bên cạnh quân Miên, chuẩn bị tấn công quân Khmer đỏ của Polpot.

Để tiêu diệt Khmer đỏ qua thời gian kỷ lục, đặt dư luận thế giới trước sự đã rồi. Do trên Hà Nội đã mở cuộc hành quân thần tốc, sử dụng trên 200.000 quân sĩ của ba trong bốn quân đoàn chính quy và một lực lượng yểm trợ hải-không quân, hỏa tiễn và thiết giáp. Lê Dức Thọ vào thay Lê Trọng Tấn, giám sát chiến dịch, còn Lê Đức Anh làm tổng tư lệnh chiến trường. Sư đoàn 2 và Trung đoàn chủ lực Tây Ninh khai pháo trước một ngày, khi Chu Huy Mậu tổng cục trưởng TCCT bắn phát súng lệnh mở màn chính thức cuộc tấn công Cam Bốt vào lúc 12 giờ khuya đêm giáng sinh 1978 tại Ban Mê Thuộc.

Theo kế hoạch, quân VN vượt biên giới tấn công Kampuchia bằng nhiều hướng, Ở phía bắc, quân khu V + quân đoàn 3 Tây Nguyên (gồm SD10,320,31), do Kim Tuấn chỉ huy, đánh chiếm tỉnh Stung Treng và toàn vùng đông bắc giáp với Lào. Cánh quân thứ hai của quân khu VII (gồm SD 303,302,5) +quân đoàn 3 với Lữ đoàn 12 thiết giáp, các trung đoàn tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Long An.. từ hướng bắc Tây Ninh, Ql 7 và 13 tấn công chiếm Kompong Chàm và Kratié. Hướng tấn công chính cũng phát xuất tại Tây Ninh, do quân đoàn 4 phu trách (SD 2,7,9,341) + lữ đoàn 22 thiết giáp, lữ đoàn 24 pháo binh và lữ đoàn 25 công binh. Quân khu IX có quân đoàn 2 hay Binh đoàn Hương Giang tăng cường, tấn công từ An Giang, Hà Tiên. Tóm lại, ngoại trừ SD 306 được giữ lại để phòng thủ Lào, các SD 304, 325 cũng được điều động về nước tăng cường.

Cuộc chiến xảy ra thật đẫm máu và ác liệt, cộng thêm không quân và pháo binh ào ạt giội bom nã đạn, đánh bật 30.000 quân Khmer đỏ và nhiều cố vấn Trung Cộng, phải bỏ các tỉnh dọc biên giới Miên-Việt, tháo chạy về Nam Vang. Tại đây, bộ đội VC chiếm được nhiều quân dụng mới chưa sử dụng do Tàu viện trợ cho Cam Bốt như phi cơ, trong pháo.. Tuy nhiên VN cũng bị thiệt hại nặng, trên đường tiến quân về thủ dô, vì phục kích, mìn bay tại Fishhock, Kompong Cham và bến phà NeakLuong. Đặc công VC cũng lén đột nhập vào Hoàng cung để giải thoát cho cựu hoàng Sihanouk nhưng Polpot đã cho di chuyển đượng sự tới Sisophon, nằm sát biên giới Miên-Thái.

Tính đến ngày 4-1-1979, VN làm chủ hoàn toàn các tỉnh miền đông của Cam Bốt. Ngày 6-1-1979, 7 SD của VN + 3 lữ đoàn Miên của Heng Samrin, qua phà trên sông Cửu Long, đồng loạt tấn công Phnom Penh. Thủ đô thất thủ sau một ngày kích chiến. Polpot cùng toàn bộ Khmer đỏ bỏ chạy tới tận TaSanh, sát biên giới Miên-Thái, để tiếp tục chống VC.

Tóm lại ngày 8-1-1979, đồng bào Cam Bốt coi như được giải thoát khỏi bàn tay sát nhân của Polpot và Khmer đỏ. Một Hội đồng cách mạng Kampuchia gồm 8 ủy viên được thành lập, do Heng Samrin làm chủ tịch. Ngày 14-1-1979, Đặng Tiểu Bình, Hàn Niệm Long và nhiều uỷ viên cao cấp, trong Bộ Chính trị Trung Cộng, tới Thái Lan, tiếp xúc mật với thủ tướng Kriang Sok tại căn cứ Utapao. Sau đó, Thái cho Polpot và Khmer đỏ dung thân trên biên giới của hai nước. Qua sự yểm trợ và cưu mang hết mình của Tàu Cộng, Polpot lại tiếp tục đánh du kích với VC khắp nước Miên, cho tới đầu thập niên 90, qua áp lực của thế giới, cũng như sự sụp đổ của Liên Xô-Đông Âu, VC mới chịu rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh nhưng thù hận giữa hai đảng cọng sản anh em tới nay, vẫn ầm ỹ, dù ngoài mặt Hun Sen luôn bợ Hà Nội.

3- Trung Cộng xâm lăng Việt-Nam lần thứ nhất (1979) :

Ngày 1-5-1975, VC ban hành một bản đồ mới của nước VN thống nhất, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hiện do hải quân Bắc Việt chiếm giữ 6 đảo, khi VNCH bỏ ), mà chính Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã giấy trắng mực đen, xác nhận thuộc chủ quyền của Trung Cộng vào năm 1958. Đây cũng là một nguyên cớ, để Tàu xâm lăng VN vào mùa xuân năm 1979. Thật ra tình hữu nghi giữa hai nước, đã lung lay từ năm 1967, khi Trung Cộng xuí giục Nam Lào tấn công Pathet Lào, vốn là chư hàu của Bắc Việt. Rồi từ khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, quyền hành lọt vào tay Lê Duẩn, Lê Đức Thọ vốn thân Nga, lúc đó là kẻ thù không đội trời chung của Trung Cộng, nên sự rạn nứt của tình đồng chí lại càng thêm nứt rạn. Nhưng vì kẻ thù trước mặt là Nga-Mỹ vẫn còn, vì vậy hai đảng cố quên bất đồng để hợp tác giai đoạn.

Nhưng tới khi Mao Trạch Đông thăng hà vào năm 1976, Đặng Tiểu Bình lên nối ngôi, đã chấm dứt sự leo dây của VC từ lâu, vì Đặng đã biết rõ VC lúc ấy đang ngả hẳn theo Nga. Nhiều cuộc đụng độ đã xảy ra tại biên giới Hoa-Việt, mà chủ động luôn luôn do Hồng quân gây hấn, theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Đây là một đòn hù dọa cũng như áp lực VC lúc đó đang tiến hành chính sách cải tạo công thương nghiệp, cướp của và đánh đuổi Hoa Kiều Miền Nam, nhất là tại Sài Gòn-Chợ Lớn, ra biển, về Tàu.

Giữa lúc tình hữu nghi của hai nước căng thẳng tột độ, thì Trung Cộng ngang nhiên xua 30.000 hồng quân vào các tỉnh Luang Namtha, Udom Say, Phong Salay, Luang Prabang và Sầm Nứa, nói là để bảo vệ công nhân Trung Hoa, đang làm thiết lộ Bắc Lào-Vân Nam. Nhưng thực chất Trung Cộng muốn uy hiếp Pathet Lào và bao vây biên giới phía tây bắc của VN. Đây cũng là ý đồ của Tàu, muốn mở một con đường thông thương từ Vân Nam xuống đất Miên, để tiện tiếp tế cho quân Khmer đỏ của Polpot lúc đó, đang du kích chiến với bộ đội VN.

Nhưng Hà Nội đã biết rõ ý đồ của Bắc Kinh, nên đã ra tay trước. Đầu tiên là cùng Pathet Lào ký một hiệp ước quân sự và biên giới ngày 18-7-1977. Sau đó đem 50.000 quân trấn đóng tại Trung và Nam Lào, vừa bảo vệ Pathet Lào, cũng như ngăn cản không cho Trung Cộng vào đất Miên. Sự gây hấn đã trở thành công khai vào năm 1978, khi Bắc Kinh gọi Hà Nội là  tiểu bá quyền khu vực , còn VC thì bảo Trung Cộng là  chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán .

Ai cũng biết quan hệ giữa hai đảng cong sản Việt-Trung, vô cùng gắn bó từ sau năm 1949 khi Mao Trạch Đông chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Từ đó, Trung Cộng hết lòng giúp đỡ VC mọi mặt, từ quân sự cho tới kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhờ vậy Hồ Chí Minh và đảng cọng sản mới chiếm được miền bắc vào năm 1954.

Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975), hầu như nguồn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt xâm lăng VNCH, đều của Trung Cộng. Trên đất Bắc, Tàu giúp Hà Nội xây dựng nhiều công trình nhà máy, đường xá.. Theo tài liệu công bố, tính tới năm 1978, Tàu đã viện trợ cho VC hơn 20 tỷ mỷ kim. Từ năm 1965-1970, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, đã có hơn 100.000 quân Trung Cộng sang giúp Bắc Việt, để xây dựng và phòng thủ. Đã có cả ngàn lính Tàu chết ở VN trong cuộc chiến

Sau 1970, nhiều biến chuyển lịch sử đã xảy ra, nhất là khi HCM chết, làm cho Hà Nội càng ngày càng ngả theo LX. Do nhu cầu cuộc chiến, VC cần có nhiều quân dụng tối tân như Mig21, tăng 54,55, hoả tiễn Sam.. để đối đầu với vũ khí Mỹ. Nhưng những thứ này chỉ có Nga mới có. Trung Cộng biết hết, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ VC cho tới khi Hà Nội chiếm được miền Nam.

Rồi vì đầu óc thiển cận, các chóp bu trong Bắc Bộ Phủ tự coi như các đỉnh cao của loài người, coi thường mạng sống đồng bào cả nước, lại mù quáng chạy theo chủ thuyết cọng sản đã lỗi thời và nhất là tôn sùng Liên Xô hơn thần thánh. Từ đó, không cần cảnh giác về những kẻ thù xung quanh, lại mù quáng trở mặt và thách đó Trung Cộng. Đó là nguyên nhân chính khiến kẻ thù có cớ xâm lăng VN vào năm 1979.

Hồng quân Trung Hoa hay quân đội Trung Cộng tuy được thành lập vào năm 1927 nhưng thật sự chỉ thống nhất sau năm 1949 khi chiếm được Hoa Lục. Nói chung VC đã theo đúng khuôn mẫu của Mao, để tổ chức binh đội. Còn chủ thuyết Mao, được coi như nền tảng tư tưởng, dùng làm chiến thuật và chiến lược, gọi là chiến tranh nhân dân, lấy nông thôn bao vây thành thị.

 Thời nào, quân đội Tàu cũng đông nhất thế giới. Năm đó, Hồng quân có hơn 4 triệu người, bao gôm hai binh chủng Hải và Không Quân trên nửa triệu. Cả nước được chia thành bảy quân khu : Lan Châu (Tân Cương và Thanh Hải), Bắc Kinh (Nội Mông, Bắc Kinh, Hà Bắc, Sơn Tây), Trấn Giang (Hắc Long Giang, Liêu Ninh), Kiến An (Hà Nam, Sơn Đông), Nam kinh (Phúc Kiên, Giang Tây, Thượng Hải, An Huy), Thành Đô (Vân nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, Tây Tạng) và Quảng Châu (Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam). Mỗi quân khu có nhiều quân đoàn. Ngoài chính quy và chủ lực, Trung Cộng còn có hơn bảy triệu dân quân. Tất cả do Chủ tịch quân ủy trung ương , tức là chủ tịch đảng lãnh đạo, khi Đặng nắm quyền kiêm nhiệm luôn chức này.

Năm 1979, Hà Nội sau khi bị Trung Cộng tố cáo là vong ơn bạc nghĩa, kể cả sự phanh phui Võ Nguyên Giáp không phải là người chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Để trà đũa, VC cho phổ biến bạch thư, nói về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua, đồng thời tố cáo Hoa Kiều trong nước là gián điệp, tay sai của Trung Cộng chống lại VN. Tiếp theo VC xua quân tấn công tiêu diệt Polpot và Khmer đỏ , vốn là đàn em chư hầu của Tàu, khiên cho dầu được đổ thêm vào lửa chiến tranh giữa hai nước, chỉ chờ bùng nổ.

Tại miền Nam, ngày 24-3-1978 bắt đầu đánh tư bản. Hằng ngàn công an, bộ đội và nam nữ thanh niên xung phong đeo băng đỏ trên tay, rải khắp các đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn, Gia Đình, xông vào các hãng xường, nhà buôn, tư gia.. những người có máu mặt Hoa lẫn Việt, để lục lọi, vơ vết, xoi khám tịch thu tiền bạc, đô la, vàng ngọc, hàng hóa và tất cả tài sản riêng tư của dân chúng, những ai bị đảng kết tội là mại sản. Theo tài liệu được bật mí, chỉ riêng mẻ lưới trên, Hà Nội đã vơ vét của người giàu Sài Gòn, hơ

Ngày 3-5-1978, cả nước lại được đổi tiền lần thứ ba, khiến đồng bào trước sau trở thành vô sản chuyên chính. Ở miền bắc, hằng ngàn Hoa Kiều bị trục xuất về nước. Trong nam, hằng vạn người Hoa trắng tay, tiêu tan sản nghiệp, bì đầy ải lên vùng kinh tế mới tận Bình-Phước Long, Bình Tuy, Long Khánh, Bà Rịa.

Để trả đũa, Trung Cộng ngưng hẳn 72 công trình xây dựng viện trợ cho VN. Đã có 70.000 người Hoa tại VN hồi hương về Hoa Lục. Ngày 16-5-1978, Trung Cộng tuyên bố gửi hai chiến hạm tới Hải Phòng và Sài Gòn, để đón hết Hoa kiều. Nhưng đây chỉ là đòn tuyên truyền chính trị, vì tàu chiến chỉ đậu ngoài khơi một ngày, rồi kéo neo về nước. Nắm được yếu điểm của đàn anh, VC lần chót hốt hết những gì còn sót lại của Hoa Kiều, qua chiến dịch  xuất cảng người .Sau đó tống khứ họ ra khơi, khiến cho hơn triệu người bị chết vì sóng gió và hải tặc Thái Lan trên biển Đông, mà những trang Việt sử cận đại, gọi là cơn hồng thủy của thế kỷ.

Sau khi VN bỏ lỡ cơ hội nối lại bang gioa với Hoa Kỳ. Ngày 24-5-1978, phụ tá an ninh của tổng thống Mỹ Carter là Brezinski, tới Bắc Kinh ký một hiệp ước liên minh quân sự với Tàu. Từ đó Đặng Tiểu Bình đã có chỗ dựa chống Nga, nên mới ra mặt quyết tâm xâm lăng VN để rửa thù phục hận.

Từ 28 tới 30-1-1979, Carter và Đặng Tiểu Bình đã họp mật tại Tòa Bạch Ốc. Sau đó tổng thống Mỹ đồng ý để Trung Cộng trừng phạt VN và còn giúp cầm chân Nga, bằng cách chịu ký với LX hiệp ứơc SALT II. Để thêm kế nghi binh, Hoa Kỳ cử bộ trưởng tài chánh là Blumenthal tới công tác tại Bắc Kinh. Ngoài ra còn cho Hàng không mẫu hạm Constellation lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Tất cả mơ mơ màng màng, khiến cho LX cũng không biết đâu mà mò.

Ngày thứ bảy 17-2-1979, lúc 3 giờ 30 sáng, khi vạn vật, chim chóc và con người đang chuẩn bị cho một ngày sống mới, thì 600.000 quân Tàu, tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Đồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu, của VN chống xâm lăng Tàu.

Để tấn công VN, Trung Cộng đã huy động nhiều quân đoàn từ nhiều quân khu khác nhau, gồm QD 13,14 tấn công Lai Châu-Lào Kay. Hai QĐ 41,42 tân công Cao Bằng. Riêng mạn Lạng Sơn, Quảng Yên, Hải Ninh thi giao cho quân đoàn 43,54,55. Tất cả do Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí chỉ huy trong mấy ngày đầu.

Về phía VN, một phần vì sự tự cao bách thắng của các đỉnh cao tại bắc bộ phủ. Phần khác do quá tin tưởng sự liên minh quân sự với LX. Nên gần như sử dụng gần hết các đơn vị chính quy tại mặt trận Kampuchia. Bởi vậy ngay khi cuộc chiến bắt đầu, trong lúc quân Trung Cộng đông đảo lên tới 150.000 chính quy, thì việc phòng thủ miền bắc, nhất là thủ đô Hà Nội, được giao cho các Sư Đoàn 308,312,390 của quân khu I. Nói chung, trong cuộc chiến đấu với Trung Cộng tại biến giới, chỉ có các sư đoàn chủ lực của quân khu tham dự như Sư đoàn 3,327, 337, Tây Sơn ( mặt trận Lạng Sơn). SD 567, B46, SD.Pháo binh 66 (mặt trận Cao Bằng). Các tuyến từ Hà Giang tới Lai Châu, do các SD316,345, Đoàn B68, M63, các trung đoàn chủ lực tỉnh, huyện đội, công an biên phòng. Sau đó khi thấy tình hình quá nguy ngập, Hà Nội mới gấp rút điều động các trung đoàn từ các tỉnh trung châu, cùng với các sư đoàn chủ lực của quân khu II và IV từ Kampuchia về tiếp viện.

Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.

Sự thất bại trong những ngày đầu, khiến Đặng giao chỉ huy mặt trận cho Dương Đắc Chí, đồng thời cũng thay đổi chiến thuật, dùng tăng pháo mở đường và bộ binh tùng thiết. Do quân Tàu quá đông, nên sau 10 ngày cầm cự, bốn thị xã Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng lần lượt bị thất thủ. Riêng tại thị xã Lạng Sơn, Trung Cộng tung vào chiến trường tới sáu sư đoàn chính quy 127,129, 160,161, 163,164 cùng hằng trăm thiết giáp và đại pháo từ khắp nới bắn vào yểm trợ. Phía VN có quân đoàn 14 gồm các SD 3,327,338,347,337 và 308. Trong lúc đó hai SD chính quy 304 và 325 từ Kampuchia, cũng đựợc không vận và di chuyển bằng xe lửa, tới Lạng Sơn tiếp viện. Nhưng cuối cùng Lạng Sơn cũng bị thất thủ đêm 4-3-1979. Sau đó giặc Tàu dùng mìn, bom phá nát hết các thành phố, thị xã tạm chiếm, kể cả hang Pắc Pó, suối Lê Nin và núi Các-Mác mà Hồ Chí Minh từng tạm trú, trước khi về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 9-1945. Ngày 16-3-1979, Đặng Tiểu Bình ra lệnh rút quân về nước.

Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chến Đông Dương lần II (1960-1975), gọi là vùng an toàn. Đã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong. Tại miền bắc, hằng triệu dân chúng phải phân ly. Nhà cửa, vườn ruộng, của cải vật chất, đền đài, miếu võ, nhà thờ, di tích tổ tiên bao đời để lại.. đều vì VC gây chiến tranh, mà tan tành theo cát bụi.

4- Trung Cộng Xâm Lăng VN lần thứ hai (1984-1989) :

Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức, từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China.com) và tác phẩm Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (SEcret Records of Sino-Vietnamese War) của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được  Bí Mật Lịch Sử về việc Tàu chiếm Núi Đất của VN, trong cuộc chiến biên giới lần hai (1984-1989) .Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Đất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?)lãnh thổ cho giặc Tàu.

Núi Đất (VN) hay Lão Sơn (Tàu), dù có gọi bằng cái tên gì chăng nữa, cũng vẫn là một ngọn núi của VN, tại xã Thanh Thủy , huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trong trận chiến đẳm máu này, hai bên đã dành giựt quyền kiểm soát cứ điểm 1509m, được coi như là một vị trí chiến lược rất quan trọng về phía VN, được cũng cố xây dựng từ sau cuộc chiến biên gới 1979.

Thế là ngày 28-4-1984, vào lúc 5 giờ 50 sáng, Trung đoàn 118, Sư đoàn 40 BB, thuộc Quân đoàn 14, Quân khu Côn Minh, tiền pháo hậu xung, đồng loạt tấn công đỉnh 1509 và các cứ điểm quan trọng khác của VN. Cuộc chiến thật gay go vì gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân phòng ngự VN, cấp đại đội. Tất cả đã tử chiến trước quân thù, đặc biệt trong số này có 4 nữ cán binh CSVN, thà chịu chết trước súng phun lửa của giặc Tàu, chứ không đầu hàng. Vì vậy nên trận chién kéo dài tới 15 giờ 30 chiều mới kết thúc, giặc bỏ xác tại chỗ 198 tên, cùng một số khác bị thương nặng..

Này 11-6-1984 , một Tiểu đoàn CSVN tấn công tái chiếm núi nhưng bị đẩy lui. Ngày 12-7-1984, hai bên đụng độ lớn cấp Sừ đoàn. Phía CSVN đã huy động tới 6 Trung đoàn Bộ binh của các SĐ312,313, 316 và 356 để tái chiếm đỉnh núi. Cuối cùng Trung đoàn 982 thuộc Sư đoàn 313 CSVN, đã tái chiếm được cứ điểm 1509, sau khi đã chịu tổn thất hơn 3700 người. Nhưng sau đó không biết vì lý do gì, chóp bu Hà Nội đã ra lệnh bỏ ngõ cứ điểm trên cho quân Trung Cộng tới tái chiếm.Rồi lại giành giật từ 1984-1987 ở cấp Đại đội, cho tới ngày 13-2-1991 thì châm dứt với kết quả : Trung Cộng hoàn toàn chiếm lĩnh Núi Đất nằm trong lãnh thổ VN tại Tỉnh Hà Giang, và đổi lại tên Tàu là Lão Sơn.

Tính ra, từ ngày Hồ Chí Minh và Đảng CSQT chiếm được nữa nước VN, qua Hội Nghị Genève 1954, sau đó cưởng chiếm Miền Nam ngày 30-4-1975 và cai trị cả nước tới 2013, chỉ hơn nữa thế kỷ (1955-2007), đã bán cho nhượng Tàu hai quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa, nhiều đất đai tai biên giới Hoa Việt, trong đó có Ải Nam Quan, Thac Bản Giốc, Hang Pắc Pó, Núi Đất và nhiều vùng đánh cá thuộc lãnh hải của VN. Tất cả hành động bán nước trên đều mờ ám, bịp lừa, mục đích cũng chỉ để che dấu mọi tội lỗi, hầu tiếp tục kéo dài sự thống trị của tập đoàn thực dân đỏ tham nhũng, bất tài nhưng trong tay nắm đủ quyền lực, tiền bạc và trên hết đã sai khiến được một thiểu số trí thức khoa bảng mù quáng hám danh, đang cố sức quậy bùn công cuộc chiến đấu quang phục đất nước của Người Việt Tị Nạn Hải Ngoại và Đồng bào quốc nội.

au khi cưởng chiếm đuợc cả nước VN, CSQT bỏ Tàu theo Nga, gây nên một cuộc chiến long trời lở đất với Miên và Trung Cộng, cuối cùng cắt đất dâng biển đảo của VN cho Tàu để xin được làm tôi tớ của thiên triều như cũ. Bài học của lịch sử chưa khô máu trên thân thể mẹ VN nhược tiểu , thì một cuộc chiến đẳm máu khác đã thấy ló dạng, qua cuộc cờ  tranh giành biển Đông “ trong đó VN vẫn là nạn nhân chính của giặc Tàu xâm lược.

Lần trước Trung Cộng chỉ mới tàn phá được miền thượng du Bắc Việt bằng súng đạn cổ điển. Lần này nếu lại có chiến tranh, Trung Cộng với bản chất dã man và khát máu, chắc chắn giặc sẽ tận dụng hết khả năng quân sự trong đó có bom nguyên tử để xoa sổ VN trên bản đồ Châu Á. Sự tổn thất về nhân mạng và tồn vong của dân tộc chỉ có người dân cùng đất nước hứng chịu, còn đảng với gia đình chắc chắn đã cao bay xa chạy tới những khung trời hạnh phúc ở hải ngoại mà thiên đướng đâu có nơi nào sánh bằng Hoa Kỳ với tiền núi vàng tấn đã được chuyển tới đây từ khuya.-/-

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

- Brother Ennemy của Nayan Chanda do Phạm Quốc Bảo dịch.
- Giọt nươc trong biển cả Hoàng Văn Hoan
- Mặt thật của Thành Tín
- Chinese aggression against VietNam
- Death in The Rice Field của Peter Scholl Latour
- Sau bức màn đỏ của Hoàng Dung.
- Tài liệu  Trận Biên giới Hoa Việt lần 2 trên Diễn Đàn Việt Nam Exodus..

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 2-2013
MƯỜNG GIANG

BIẾN PHÁP “MÈO MỸ VỜN CHUỘT TẦU”


 

LÝ ĐẠI NGUYÊN

 

BIẾN PHÁP “MÈO MỸ VỜN CHUỘT TẦU”

NƠI NƠI TĂNG CƯỜNG TRANG BỊ VŨ KHÍ

 

Nước Mỹ hiện nay là một siêu cường cả về kinh tế, quân sự, chính trị trong tiến trình “Toàn Cầu Hóa thị trường” và “Dân Chủ Hóa toàn cầu”. Nên việc chính quyền Obama quyết định chuyển trục chiến lược toàn cầu của Hoakỳ sang Châu Á “sẽ làm tăng cơ hội đối với ngành công nghiệp quốc phòng của Mỹ, để trang bị cho các nước Đồng Minh”. Đó là nhận định của ông Fred Dowey phó chủ tịch phụ trách an ninh thuộc Hiệp Hội Ngành Công Nghiệp Hàng Không Không Gian Mỹ. Một tổ chức thương mại, tập hợp các nhà sản xuất vũ khí Hoakỳ như: Lockheed Martin Corp, Boeing Co, Northrop Grumman Corp…Theo dự báo của tổ chức này, được công bố vào cuối tháng 12/2012 thì nhu cầu mua các loại vũ khí đắt tiền của Mỹ sẽ tăng trong vài năm tới. Đối với Washington, việc tăng cường mua vũ khí giúp củng cố quan hệ ngoại giao và thúc đẩy hợp tác lâu dài với các Đồng Minh. Ông Rupert Hammond-Chambers thuộc tập đoàn BowerGroupAsia, tư vấn cho các nhà sản xuất vũ khí Mỹ, dự báo: “Ngân sách quốc phòng của các nước Đông Nam Á sẽ tiếp tục tăng trước thái độ hung hăng quyết đoán của Trungquốc trong các cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và Hoa Đông”. Còn phải kể cả Ấn Độ lẫn các nước Trung Cận Đông nữa cũng đều phải tăng cường mua khí giới để đề phòng tham vọng bành trướng của Trungcộng, bởi chiến lược những “viên ngọc trai” ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương của Tầu nữa.

 

Sở dĩ Trungcộng dám hung hăng qua mặt Mỹ, dùng sức mạnh quân sự bành trướng, cuỡng nhận chủ quyền khắp vùng Biển Đông, bất chấp dư luận quốc tế, luật lệ ngoại giao, sự chống đối của các nước láng giềng và Công Ước Liên Hiệp Quốc 1982 về luật biển. Vì năm 2008 là năm tổng tuyển cử tại Hoakỳ, cũng là lúc Hoakỳ và thế giới, gặp vận suy thoái kinh tế trầm trọng kéo dài. Chính phủ Mỹ phải vay thêm nợ để “kích cầu kinh tế”. Nước Mỹ trở thành con nợ lớn nhất của Trungcộng. Nước Tầu được giới tài chánh đẩy lên địa vị “nền kinh tế  đứng thứ nhì sau Hoakỳ” Đó chỉ về mặt sản xuất, chứ không phải là nền kinh tế quốc dân toàn diện. Nhân cơ hội ngàn năm một thuở này, Trungcộng tận dụng tinh thần Dân Tộc Cực Đoan nơi Người Tầu, thổi bùng phong trao “Đế Quốc Đại Hán Bành Trướng”, nhằm dẹp tan phong trào đòi Dân Chủ Công Bằng của toàn dân, Và dùng sức mạnh quân sự để khống chế khối Asean, tiến hành kế hoạch “Tàm Thực Việtnam” qua công cụ đắc lực là Đảng Việtcộng tay sai.

 

Thực ra nước Mỹ đã nhận ra âm mưu bành trướng của Trungcộng về Phương Nam qua ngả Việtnam. Nên năm 1995, Chính Phủ của tổng thống Hoakỳ, Clinton đã tái lập bang giao với nhà cầm quyền Việtcộng để “Nhập Nội” Việtnam, nhằm ngăn bước bành trướng trên bộ của Trungcộng. Năm 1995, tổng thống Clinton bỏ cấm vận, cho Việtnam hưởng quy chế Thương Mại Bình Thường Vĩnh Viễn – PNTR. Tổng thống Bush đã tạo cơ hội cho Việtnam vào WTO, tăng cường đầu tư kinh tế. Các chính phủ Mỹ kế tiếp đều đặt ưu tiên cho vấn đề Quốc Phòng. Nhưng bọn Việtcộng lệ thuộc Trungcộng quá sâu, nên không dám nắm lấy cơ hội, chỉ có thể núp dưới chủ trương mở rộng quan hệ “Quốc Phòng Toàn Cầu” để có dịp hợp tác quốc phòng với cả Tầu lẫn Mỹ. Đến thời tổng thống Obama thì Mỹ chỉ đặt ra điều kiện tối thiểu là“Việtcộng phải tôn trọng nhân quyền” thì Mỹ sẽ nâng cấp quan hệ quốc phòng Mỹ Việt lên tầm cao chiến lược, và Quốc Hội Mỹ sẽ bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việtnam. Nhưng Việtcộng chẳng những không đáp ứng, mà còn gia tăng đàn áp nhân quyền, tỏ dấu hiệu đi hẳn với Tầu. Khiến cho tổng thống Mỹ, Obama trong chuyến công du đầu tiên sau khi đắc cử nhiệm kỳ 2 đã không ghé thăm Việtnam.

 

Nhưng như vậy không có nghiã là chính quyền Obama đã buông bỏ Việtnam. Vì Việtnam vẫn nằm trong chiều hướng “chuyễn trục chiến lược của Mỹ sang Á châu”. Mà quân sự chỉ là một mặt trong chiến lược toàn diện về Á châu và quốc tế của chính quyền Obama đó là: Đối Trọng Quân Sự. Đối Tác Kinh Tế. Đối Thoại Chính Trị. Nghĩa là về mặt quân sự phải cực gọn, cực mạnh, cực nhanh, cực bén, bao trùm khắp địa cầu và chính xác từng điểm nhắm, dựa vào nền kỹ nghệ quốc phòng cực cao siêu hiện có của Mỹ, để tiếp tục vững vàng đối tác kinh tế với tất cả các nước không phân biệt chế độ. Và chủ động đối thoại chính trị ở thế mạnh đối với các nước không thuận thảo, hay các chế độ bất hảo. Chính vì vậy, mà tổng thống Obama khi nhận chức nhiệm kỳ đầu đã lưu nhiệm vị bộ trưởng quốc phòng của chính phủ Cộng Hoà Bush, là ông Robert Gates, nguyên Giám Đốc CIA. Chính bộ trưởng quốc phòng Robert Gates đã đặt cơ sở quân sự cho việc chuyển trục chiến lược của Mỹ sang Á châu.

 

Tại Hội Nghị Đối Thoại Shangri-La 2010 ngày 03 tháng 06 ở Singapore, ông Gates đã khẳng định: “Nước Mỹ đang và sẽ là một cường quốc Thái Bình Dương”. Ông không quên cảnh cáo Trungcộng rằng: “Chúng tôi chống lại mọi hành động hù dọa các công ty Mỹ, hay của bất cứ quốc gia nào đang có hoạt động kinh tế chính đáng tại khu vực này”. Vị bộ trưởng quốc phòng tiếp theo của chính quyền Obama, ông Leon Panetta cũng là Giám  Đốc CIA. Ngày 29/05/2012 trong chuyến công du Á châu, đã tuyên bố: “Tương lai của Mỹ tùy thuộc vào việc bảo đảm an ninh từ Thái  Bình Dương và Ấn Độ Dương”. Hoakỳ sẽ tái phát triển sức mạnh hải quân của mình ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và sẽ cảnh giác trước sức mạnh quân sự ngày càng tăng ở Trungquốc”. Cả 2 vị bộ trưởng quốc phòng của ông Obama đều có gốc từ CIA, đương nhiên việc phối hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng quốc phòng và tình báo siêu cấp này phải hoàn tất việc đặt nền móng vững chắc, sâu kín cho công cuộc chuyển trục chiến lược sang Á châu.

 

Điều khác lạ, trong nhiệm kỳ nhì của tổng tống Obama, ông đã chọn thượng nghị sĩ John Kerry cựu chiến bình phản chiến ở Việtnam làm Ngoại Trưởng. Đồng thời cũng chọn cựu thượng nghị sĩ Chuck Hagel, cựu chiến binh ở Việtnam và từng dè dặt đối với sự can thiệp quân sự của Mỹ tại nước ngoài là bộ trưởng Quốc Phòng. Vậy, liệu 2 ông bộ trưởng này có làm hỏng chiến lược chuyển trục về Châu Á của tổng thống Obama đã dầy công kiến tạo từ trước tới nay không? Thực ra thì Mỹ đã an bài xong Đại Cuộc Liên Minh Quân Sự giữa Mỹ-Nhật-Ấn-Úc. Nhậtbản đang sắm vai trò dẫn đầu khu vực Đông Nam Á để đối phó với Trungcộng, bằng chiến lược “An Ninh Dân Chủ Kim Cương”. Ấnđộ  cũng tăng cường  phòng vệ khu vực Nam Á. Nhưng Mỹ vẫn là sức mạnh quân sự “bảo vệ hoà bình” trong kế sách chiến lược toàn diện của mình, như một “Thế Lực Hóa Giải” chiến tranh. Chính vì vậy, mới có sự xuất hiện của 2 ông John Kerry và Chuck Hagel làm bộ trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng để cho Tổng Thống Obama vận dụng biến pháp “Mèo Mỹ vờn Chuột Tầu” một cách ngoạn mục, sau khi ông giải quyết những khó khăn nội bộ của nước Mỹ. Mong lắm thay! LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigon 19/02/2013.

--

-------------------------------------------------------------
Kính thông báo đến quý vị h
iện tại trang nhà của
TNCV đã được chuyển đến  
www.TNCVOnline.com or www.thanhniencovangonline.com
Trân trọng,
NPN (TNCV)

__._,_.___

: chửi là phải


 

Đồng bào yêu nước BIỂU TÌNH tại Hà Nội.
Xin mời bấm vào youtupe.com/wach phía dưới để xem biểu tình tại Hà Nội.

Đồng bào phẩn nộ chửi thẳng vào đầu bọn CSHN tay sai bán nước, một lũ ác với dân, hèn với giặc phản bội Tổ Quốc và Dân Tộc. Chúng Khiếp nhược trước kẻ thù xâm lăng, lũ bành trướng Bắc Kinh kẻ thù truyền kiếp, sợ mích lòng quan thầy quở trách không dám để cho nhân dân tổ chức lễ tưởng niệm  cho hàng vạn chiến sĩ trận vong và đồng bào ruột thịt bỏ mình trong trận  giặc Tàu xâm lăng mười tỉnh dọc biên giới Việt - Hoa ngày 27.2.1978.

Xem một đoạn video từ cuộc biểu tình gửi ra qua cell phone & video. Sự kiện nầy đã minh chứng cho thế giới và cộng đồng Việt QG yêu nước; sự căm hờn phẫn nộ của đồng bào trong nước đến tột độ, không còn biết sợ sệt bọn bạo quyền như những năm về trước.
 
Đây là hiện tượng ngày CÁO CHUNG của tập đoàn tay sai bán nước và lũ cướp nước gần kề và ứng nghiệm với 4 câu Sấm ký của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà Dịch Lý Học thiên tài
của dân tộc và nhân loại như sau:

        "Long vỉ, Xà đầu khởi chiến chinh
         Can qua xứ xứ dẹp tà minh(dậy đao binh)
         Mã đề, Dương cước gian hùng tận
         Thân, Dậu niên lai kiến thái bình".

Chú giải: cuối năm Nhâm Thìn 2912, đầu năm Quý Tỵ 2013 biến cố dân tộc và   lịch sử thế giới sẽ xảy ra những tranh chấp căng thẳng.
              Diễn ra toàn diện tiêu diệt tà đạo như tại Bắc Phi & Trung Đông.
             Năm Giáp Ngọ 2014 và năm Ất Mùi 2015 mới dẹp xong bọn bá đạo gian hùng bị toàn dân quét sạch như Nga và Đông Âu thập niên trước.
              Năm Bính Thân 2016 và Đinh Dậu 2017 thì Tổ Quốc & Dân Tộc Việt Nam thái bình, kiến tạo một nền dân chủ, công lý và đa nguyên sánh vai với năm châu, bốn bể thăng hoa xứ sở.

"Ý DÂN LÀ Ý TRỜI" &  "THUẬN THIÊN DÃ TỒN, NGHỊCH THIÊN DÃ VONG"

    

THÂN CHUYỂN ĐẾN QUÝ VỊ MÔT KỊCH BẢN MỚI . XEM NGAY KHÔNG THÌ SẼ BỊ GỞ XUỐNG

 


 

 

Envoyé le : Mercredi 20 février 2013 9h34
Objet : Tr : chửi là phải!

 

 

Kính chuyển tiếp đến qúy vị để biết Việt Cộng chỉ là những tên thái thú của Tầu Cộng tại Việt Nam

ĐVLợi

-----
À :
Envoyé le : Mercredi 20 février 2013 2h42
Objet : chửi là phải!

 

1. Đồng bào chửi Việt cộng không cho tưởng niệm tử sĩ chống Trung cộng:



hoặc:  http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=emVNHFg3ceA


 


2. So sánh: Nghĩa trang liệt sỹ Trung Quốc
và liệt sỹ Việt Nam trên đất Việt




Nhật Ký Yêu Nước
 - Mặc dù đâu đây trên đất nước Việt Nam vẫn còn sót lại những chứng tích tội ác của quân Trung Quốc xâm lược, như tấm bảng cũ kỹ này:

Vụ thảm sát tại Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi, đập chết 43 phụ nữ và trẻ em, quăng xuống giếng nước.


VỤ THẢM SÁT TẠI TỔNG CHÚP, XÃ HƯNG ĐẠO, HUYỆN HÒA AN,

QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC DÙNG CỌC TRE, BÚA BỔ CỦI,

ĐẬP CHẾT 43 PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM, QUĂNG XUỐNG GIẾNG NƯỚC.

Nhưng có lẽ Đảng và Nhà nước đã có đủ mọi lý do “chính đáng” để thành lập những nghĩa trang cho các “Liệt Sỹ Người Trung Quốc” ở Việt Nam, như cái “NGHĨA TRANG LIỆT SỸ NGƯỜI TRUNG QUỐC” ở huyện Khấu Đốn, tỉnh Cao Bằng:


Trong nghĩa trang đó, Đảng và Nhà nước còn có đủ mọi lý do “chính đáng” để dựng đài tưởng niệm Liệt Sỹ Trung Quốc với hàng chữ “Việt Nam Nhân Dân Ký Công”, tức là “Nhân Dân Việt Nam Ghi Công”:


Và mỗi năm, Đảng và Nhà nước lại còn có đủ mọi lý do “chính đáng” để dâng những vòng hoa tưởng niệm “Đời đời nhớ ơn các Liệt Sỹ Trung Quốc”:


Nhưng chắc chắn Đảng và Nhà nước sẽ không bao giờ có đủ lý do chính đáng để xây Đài tưởng niệm 58 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống để bảo vệ đảo Trường Sa trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lăng Trung Quốc, bảo vệ biển đảo Trường sa, Hoàng Sa những năm trước 1975.

Tại sao họ không bao giờ có đủ lý do chính đáng để thực hiện điều này thì chắc mọi người chúng ta đều đã biết.

================================


Một nơi xứng đáng cho Tử Sĩ VNCH

Họ chết trận nên sẽ còn trẻ mãi

Còn chúng ta sống sót tuổi già thêm

Lúc trời chiều hay buổi sáng nắng lên

Họ chẳng sợ thời gian làm mệt mỏi.

(Ý từ các câu
“They shall grow not old, as we that are left grow old.

Age shall not weary them, nor the years condemn.

At the going down of the sun and in the morning”

trong bài thơ For the Fallen (Cho Người Nằm Xuống) của thi sĩ người Anh Laurence Binyon, 1869-1943).

Hy sinh vì tổ quốc được xem là cái chết vinh dự cao cả nhất trong mọi thời đại. Hình ảnh người chiến binh chết trận trong tuổi thanh xuân sẽ giữ nguyên như vậy trong tâm trí người sống, nhất là đối với các bạn đồng ngũ. Tập thể người Việt hải ngoại, dù từng cầm súng dự phần trong cuộc chiến tự vệ chống cộng sản hay không, vẫn không quên tử sĩ VNCH mà thân xác còn nằm lại quê hương. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cũ mãi mãi là hình ảnh thiêng liêng trong tâm khảm người dân miền Nam tự do ngày trước và được xem như một thánh địa hành hương. Nhưng theo tin tức mới nhất, các chuyến thăm viếng tập thể ở nghĩa trang này vẫn còn bị nhân viên công an địa phương gây khó dễ. Điều đó cho thấy nhà cầm quyền CSVN vẫn còn dị ứng với tử sĩ VNCH.

Tử sĩ VNCH bị phân biệt đối xử tại quê nhà

Theo thống kê, Việt Nam hiện nay có 342 nghĩa trang và đài tưởng niệm dành cho chiến binh cộng sản tử trận – mà họ gọi là liệt sỹ – để phân biệt với tử sĩ của phe VNCH. Chưa hết, CSVN đang có kế hoạch tạo lập một nghĩa trang tầm cỡ quốc gia rộng 100 mẫu dành riêng cho cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước. Ngoài ra, đâu đó trên đất nước Việt Nam cũng có những nghĩa trang và đài tưởng niệm tử sĩ ngoại nhân. Hài cốt tử sĩ thuộc quân đội Pháp chôn cất tại nghĩa trang cạnh Ngã Tư Bảy Hiền, gần phi trường Tân Sơn Nhứt, mãi đến năm 1986 mới được chính phủ Pháp bốc mộ mang về nước. Còn lại là ba nghĩa trang liệt sỹ Trung Cộng do chính quyền Hà Nội tạo dựng để “đời đời nhớ ơn” các đồng chí lớn phương Bắc đã giúp CSBV xâm lăng thôn tính miền Nam.


Một trong 3 nghĩa trang liệt sỹ người Trung quốc đã chết khi giúp CSVN xây dựng các tuyến đường chiến lược trong chiến tranh VN. Các nghĩa trang này do CSVN quản trị và bảo trì, hàng năm đều được đặt vòng hoa tưởng niệm ghi hàng chữ “Đời đời nhớ ơn”.

Tuy cùng là dân Việt con Hồng cháu Lạc như liệt sỹ CSVN, tử sĩ VNCH không được cái may mắn đó. Tất cả nghĩa trang quân đội của VNCH bị xóa vết tích, ngoại trừ Nghĩa Trang Biên Hòa tuy vẫn còn đó nhưng hoang phế, đài tưởng niệm bị phá bỏ. Nếu bảo tử sĩ VNCH là kẻ thù từng gây tổn thất nặng nề cho quân CSBV nơi chiến trận, nên vẫn còn bị căm thù và không đáng được tưởng niệm, thế còn 74 chiến sĩ VNCH bỏ mình trong trận hải chiến bảo vệ biển đảo của tổ quốc chống quân Trung Cộng xâm lược đảo Hoàng Sa năm 1974 thì sao? Họ cũng là những anh hùng xả thân cho quê hương giống như 64 thủy binh CSVN đã thiệt mạng năm 1988 ở Trường Sa. Nhà nước CSVN chỉ lập đài tưởng niệm cho 64 chiến sĩ của họ. Vong hồn của 74 chiến sĩ VNCH vùi thây trong lòng biển sâu phải chăng còn tức tưởi? Khi hận thù chưa xóa bỏ thì những kêu gọi hòa hợp hòa giải của CSVN vẫn còn là những lời chót lưỡi đầu môi.

Sau khi chiếm được miền Nam, CSVN lập ra Nhà Trưng Bày Tội Ác Mỹ-Ngụy, và theo thời thế đổi tên nó thành Nhà Trưng Bày Tội Ác Chiến Tranh Xâm Lược, rồi sau cùng là Bảo Tàng Chứng Tích Chiến Tranh trên đường Võ Văn Tần, Quận 3 Sài Gòn. Đó là nơi thuần túy dùng cho mục đích tuyên truyền một chiều như tên gọi của nó. Nơi đây, nhà nước CSVN cho trưng bày triển lãm toàn những di vật chiến tranh cùng những hình ảnh bất lợi và bêu xấu Hoa Kỳ và VNCH. Nơi đây, khách thăm viếng sẽ không tìm thấy bất cứ chứng tích tội ác nào của CSBV và Việt Cộng, ví dụ như vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế, cuộc thảm sát Đắk Sơn và vụ thảm sát Châu Đốc, mẫu trưng bày các loại vũ khí phe cộng sản như mìn bẫy, hầm chông, súng AK47, B. 40, hỏa tiễn SAM-3, súng phòng không 37mm, tăng T54, các buồng giam cộng sản trước và sau 1975, v.v…. Hận thù đã xóa bỏ chưa?

Chiến cuộc đã tàn gần 40 năm qua, nhưng vết sẹo chưa lành trong lòng người và trên bia mộ nghĩa trang. Người cùng chủng tộc miệng nói Nam Bắc một nhà nhưng sao còn phân biệt đối xử. Dù đứng ở bên nào chiến tuyến ngoài mặt trận, khi người chiến binh nằm xuống rồi, theo lẽ công bằng, đáng lý phải được đối xử như nhau vì thật ra bên nào cũng đều là hy sinh cho đất nước.

Ngày nay, khi một nguyên thủ quốc gia công du nước cựu thù lần đầu, sự thăm viếng đài tưởng niệm tử sĩ quốc gia hầu như đã trở thành một nghi thức ngoại giao. Việc làm đó thể hiện không những sự xóa bỏ hận thù, lòng kính trọng không phân biệt đối với chiến binh, mà còn chứng tỏ thái độ của người quân tử có tinh thần hào hiệp mã thượng. CSVN không có được tinh thần đó, nên các nghĩa trang tử sĩ VNCH bị cố tình xóa tan dấu vết, hài cốt tử sĩ mất tích không được tìm kiếm, và thương phế binh bị phân biệt đối xử thiếu tình người. Vì thế, việc thực hiện đài tưởng niệm tử sĩ VNCH trên đất nước tạm dung càng trở nên cần thiết để làm nơi an vị anh linh.

Nghĩa Trang và Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH ở hải ngoại

Dự án thực hiện Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên tại Hoa Kỳ và thế giới được điêu khắc gia Phạm Thế Trung thai nghén từ nhiều năm qua. Sau khi đồ án và mô hình tượng năm vị tướng VNCH tuẫn tiết đã hoàn tất, ĐKG Phạm Thế Trung đã liên lạc và trình bày toàn bộ dự án với nhiều tổ chức hội đoàn trong cộng đồng người Việt để tìm sự chuẩn nhận đứng ra khởi công thực hiện.

Đồng thời gian đó, bác sĩ Huỳnh văn Chỉnh, tức ca sĩ Trung Chỉnh, cựu Y Sĩ Thủy Quân Lục Chiến QLVNCH, cũng mang hoài bão thực hiện một nghĩa trang dành cho tập thể quân cán chính VNCH tại hải ngoại, nên ra sức vận động và đã nhận được sự hưởng ứng thuận lợi của cộng đồng người Việt lẫn các vị đại diện dân cử chính quyền địa phương. Dự án qui mô trù liệu cần một món tiền nhiều trăm ngàn Mỹ kim. Qua các buổi trình diễn văn nghệ và tiệc gây quỹ, Ủy Ban Vận Động của bác sĩ Chỉnh cũng đã quyên đủ một số tiền đặt cọc và đã hoàn tất việc tậu mua mảnh đất rộng 55 mẫu, gần bằng phân nửa diện tích của Nghĩa Trang Quân Đội VNCH ở Biên Hòa ngày trước rộng 125 mẫu.

Do duyên may, đến cuối năm 2012, dự án Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH đã được chấp thuận để trở thành một bộ phận của Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại. Đây là một kết hợp thuận lý hoàn hảo, vì nghĩa trang là nơi người chết an giấc ngàn thu, cũng là nơi người sống viếng thăm và tưởng niệm giống như nhiều nghĩa trang quốc gia trên thế giới.


Tượng đài Seabees trong nghĩa trang Arlington

Nghĩa trang Quốc Gia Arlington của Hoa kỳ không chỉ có một mà nhiều tượng đài của nhiều đơn vị quân binh chủng. Bức ảnh trên là đài tưởng niệm tử sĩ thuộc đơn vị Tiểu Đoàn Công Binh Kiến Tạo Hải Quân Hoa Kỳ đã hy sinh vì công vụ qua nhiều cuộc chiến, từ Đệ Nhị Thế Chiến đến Chiến Tranh Triều Tiên và Chiến Tranh Việt Nam. (Seabees là cách phát âm từ C.B., viết tắt của Construction Battalion).

Hoa Kỳ có 131 nghĩa trang quân đội nằm rải rác trong 39 tiểu bang và Puerto Rico, một lãnh địa thuộc chủ quyền của Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có 24 nghĩa trang chôn cất 125,000 tử sĩ Mỹ tử trận trong hai cuộc thế chiến tại các nước khác, phần lớn là ở Âu châu.

Với sự lớn mạnh của cộng đồng bốn triệu cư dân gốc Việt hải ngoại hiện nay, chúng ta có quyền kỳ vọng Nghĩa Trang Biên Hoà Hải Ngoại và Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH ở Cali sẽ trở thành một địa điểm hành hương của người Việt tự do.


Đồ họa tạm thời Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại của kiến trúc sư Võ Trung


Đồ họa Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH của điêu khắc gia Phạm Thế Trung với 5 vị tướng tuẫn tiết theo thứ tự từ trái qua phải như sau

 

Chuẩn tướng Trần Văn Hai

 

Thiếu tướng Phạm Văn Phú


Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam


Chuẩn tướng Lê Văn Hưng


Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ

Khi viếng thăm một Viện Bảo Tàng Chiến Tranh của một nước, du khách có thể đánh giá trình độ văn hóa của họ như thế nào. Du khách sẽ không thấy một lời tuyên truyền nào hạ nhục hay chê bai đối phương tại các viện bảo tàng chiến tranh của các quốc gia tự do dân chủ và tiến bộ. Vị lãnh tụ hay quân đội của phe đối nghịch không bị rủa xả hạ cấp. Sự kiện lịch sử xảy ra dù tốt hay xấu vẫn được ghi lại một cách rõ ràng trung thực, để tùy người đi xem tự phán đoán. Nước chủ nhà không che giấu sự thật để lường gạt người đi xem hay tuyên truyền một chiều.

Tưởng niệm tử sĩ thuở xưa

Từ khi có loài người, chiến tranh hầu như luôn xảy ra không nơi này thì nơi khác trên quả địa cầu. Dân tộc theo văn hóa phương Tây thường chỉ quen dựng đài tưởng niệm để đánh dấu chiến thắng vinh quang, trong khi dân tộc theo văn hóa Đông phương quan niệm ghi nhớ công ơn người chết đã có từ xa xưa lắm. Các nước phương Tây dựng đài tưởng niệm để ghi nhớ công ơn tử sĩ thật ra chỉ bắt đầu trong ba thế kỷ trở lại đây mà thôi.

Đài tưởng niệm chiến tranh có thể là một tòa nhà, một tượng đài, hay chỉ là một bức tượng, một kiến trúc để vinh danh một cuộc chiến tranh hoặc chiến thắng, hoặc, theo như quan niệm chiếm ưu thế trong thời hiện đại, để tưởng nhớ những người đã chết hoặc bị thương trong chiến tranh.

Đối với hầu hết những thời kỳ trong lịch sử nhân loại, đài tưởng niệm chiến tranh được dựng lên để kỷ niệm những chiến thắng tuyệt vời. Ghi nhớ những người chết chỉ là mối quan tâm thứ yếu. Thật vậy, trong thời đại của Napoleon, thi hài của chiến binh tử trận thường được chôn vùi chung trong những ngôi mộ tập thể không mộ bia đánh dấu. Khải hoàn môn (L’ Arc de Triomphe) ở Paris hoặc Cột Tháp Nelson nơi công viên Trafalgar ở London đều không có ghi khắc tên của tử sĩ.


Hình: Đài tưởng niệm Cuộc Nổi Dậy của nhân dân Ba Lan ở thủ đô Warsaw

Đến cuối thế kỷ 19, ý niệm này mới trở nên phổ biến tại các đơn vị trung đoàn bộ binh của quân đội Anh. Những người chiến binh sống sót nghĩ đến việc xây dựng tượng đài để tưởng nhớ những đồng đội của họ đã chết trong các cuộc chiến tranh lấn chiếm thuộc địa nho nhỏ. Và tên tuổi của tử sĩ đã được liệt kê nơi các đài tưởng niệm này.

 Đến đầu thế kỷ hai mươi, một số thị trấn và thành phố ở Vương quốc Anh đã gây quỹ để làm lễ tưởng nhớ những người đồng hương đã chiến đấu và chết trong cuộc chiến tranh lần thứ hai (Second Anglo-Boer War, 1899-1902) giữa Đế quốc Anh và cư dân Hòa Lan ở Nam Phi. Tuy nhiên, chỉ sau khi sự thiệt hại về nhân mạng to lớn từ Đệ Nhất Thế Chiến gây ra, việc tưởng niệm tử sĩ mới được đặc biệt chú trọng. Hầu hết các nơi đều xây dựng một đài tưởng niệm chiến tranh có ghi khắc đầy đủ tên tuổi của những đứa con của địa phương đã đi vào cuộc chiến và không bao giờ trả lại.

Theo quan niệm của cả thế giới ngày nay, mục đích chính của việc dựng lên đài tưởng niệm chiến tranh (war memorials) không phải là để tôn vinh chiến tranh, nhưng là để tôn vinh những người đã chết. Đôi khi, như trong trường hợp thủ tướng Tây Đức Willy Brandt quì gối trước Đài tưởng niệm Warsaw ngày 07 tháng 12 năm 1970 để bày tỏ một cử chỉ khiêm tốn và sám hối đối với các nạn nhân của cuộc nổi dậy Warsaw Ghetto, đài tưởng niệm cũng có thể được dùng như là biểu tượng của sự cảm thông ngày càng tăng giữa hai kẻ cựu thù.

Với sự trợ giúp của kỹ thuật hiện đại, một dự án có tầm vóc quốc tế hiện đang  tìm kiếm, kiểm định để lập thành hồ sơ lưu trữ tất cả mộ phần tử sĩ của các cuộc chiến có sự tham dự của khối Thịnh Vượng Chung kể từ năm 1914 trở về sau.

 Những đài tưởng niệm tử sĩ Thế Chiến Thứ Nhất


Đền Tử Sĩ Vô Danh Menin Gate ở Ypres Bỉ quốc

Sau Đệ Nhất Thế Chiến, nhiều quốc gia đã nhìn thấy sự tàn phá khủng khiếp khắp mọi nơi về vật chất và sự tổn thất sinh mạng đến mức độ kinh hoàng với tổng số 15 triệu người chết và 20 triệu người bị thương cho cả hai bên. Tuy các quốc gia phương Tây gánh chịu thiệt hại nhân mạng thấp hơn nhưng hậu quả lại khác hẳn: đó là số lượng đài tưởng niệm được xây dựng nhiều hơn. Tại các quốc gia phương Tây, đi đôi với những ghi nhận thành quả chiến thắng về quyền lợi vật chất thu tóm được, hầu hết các thành phố ở các quốc gia này đều xây dựng đài tưởng niệm. Các đài tưởng niệm tại các thị trấn và những ngôi làng nhỏ hơn thường ghi tên của từng tử sĩ nguyên là cư dân của địa phương mình.

 

 Nghĩa trang tử sĩ của cả hai bên Pháp và Đức chết trong trận đánh ở Verdun năm 1916

Các đài tử sĩ qui mô to lớn hơn của vương quốc Anh tưởng niệm hàng ngàn người chết thì lại không có tên vì bia mộ không được xác định, chẳng hạn như hai đài tưởng niệm tử sĩ vô danh Menin tại Ypres, Bỉ quốc và Thiepval ở Picardie, Pháp quốc, cũng đã được xây dựng. Đài tưởng niệm Memorial Liberty, nằm ở thành phố Kansas, Missouri, là một đài tưởng niệm chung cho tất cả 116,516 tử sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong Đệ Nhất Thế Chiến, còn được gọi là Cuộc Chiến Tranh Vĩ Đại.

 Ngoài các đài tưởng niệm tử sĩ bỏ mình nơi chiến trận mà chúng ta thường biết đến còn có những đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân của chiến tranh vốn là những thường dân vô tội mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Sau khi cuộc đại chiến chấm dứt năm 1918, những người yêu chuộng hòa bình tại Pháp đã lập một số đài tưởng niệm cho nạn nhân của chiến tranh vói các hình tượng đàn bà và trẻ con với nét mặt đau buồn khốn khổ. Các đài tưởng niệm loại này đã gây ra sự giận dữ trong số các cựu chiến binh và quân đội nói chung.


 Liberty Memorial, Kansas City, Missouri

Đài tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh nổi tiếng nhất được dựng lên ở Gentioux-Pigerolles vùng Creuse. Dưới cột liệt kê tên của những người chết là tượng đồng của một đứa trẻ mồ côi đang chỉ tay vào hàng chữ “Maudite soit la guerre” (Nguyền rủa chiến tranh). Làn sóng chống đối dâng quá cao đến nỗi ngày khánh thành chính thức của tượng đài đã phải đình hoãn cho đến năm 1990 và quân nhân đồn trú tại một căn cứ quân sự gần đó được lệnh khi đi ngang qua đó phải quay đầu đi chỗ khác.

Một đài tưởng niệm khác tương tự như vậy nằm tại thị trấn nhỏ là Équeurdreville-Hainneville trong vùng Manche với bức tượng của một góa phụ đau buồn với hai con nhỏ. Hai đài tưởng niệm hòa bình này có vẻ như là không thích hợp với hình thức tưởng niệm trong phạm vi Vương quốc Anh.

Vì vậy, mặc dù điều này có vẻ không bao giờ được công nhận một cách tổng quát, trên khắp Vương quốc Anh đã xây dựng nhiều đài tưởng niệm chiến tranh nhưng đề cập khái niệm về hòa bình. Ví dụ như  đài tưởng niệm chiến tranh ở Hartlepool ( trước đây là West Hartlepool) với dòng chữ khắc ‘Thine O Lord is the Victory’ (Ôi! Chúa tôi là chiến thắng).

Những đài tưởng niệm tử sĩ Thế Chiến Thứ Hai trở về sau

Có một số đài tưởng niệm Thế Chiến Thứ Nhất sau đó đã được mở rộng thêm để cho đủ chỗ ghi tên của những con dân địa phương đã hy sinh trong Thế Chiến Thứ II.

Kể từ đó trở đi, nhiều đài tưởng niệm đều khắc ghi tên tử sĩ trong các cuộc xung đột khác như chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam, nhất là tại các quốc gia phương Tây, chẳng hạn như Bức Tường Đen (Black Wall) tại thủ đô Washington D.C., tên gọi thân mật của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, trên đó có chạm khắc tên của hơn 58.000 chiến binh Hoa Kỳ đã thiệt mạng hoặc mất tích khi tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Bức Tường Đen nằm trong Khu Tưởng niệm các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam và được khánh thành ngày 13 tháng 9 năm 1982 với diện tích 8.100 m². Đây là nơi đón tiếp hơn 3 triệu người tới thăm viếng mỗi năm. Bức tường có hình chữ V được làm từ hai tấm đá hoa cương đen mang về từ thành phố Bangalore ở Ấn Độ. Trên thế giới chỉ có ba nơi có nhiều loại đá hoa cương đen và lớn như vậy là Ấn Độ, Thụy Điển và Nam Phi. Chiều dài bức tường là 75 m, cao 3 m. Với sự thêm tên mới đây nhất của 10 người nữa trong năm 2004, bức tường này có tất cả 58.245 tên của các quân nhân nam nữ, trong số đó có khoảng 1.200 người nằm trong danh sách quân nhân Mỹ mất tích trong Chiến tranh Việt Nam.


Đài tưởng niệm tử sĩ Hoa Kỳ bỏ mình trong Chiến Tranh Việt Nam, quen được gọi là Bức Tường Đen

Một đài tưởng niệm chiến tranh cũng có thể là toàn bộ một tòa nhà, thường bao gồm một viện bảo tàng, hoặc chỉ đơn thuần một tấm bảng phẳng. Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh mang hình thức của một tượng đài hoặc bức tượng, và phục vụ như là một nơi gặp gỡ cho các nghi thức hành lễ trong Ngày Chiến Sĩ Trận Vong hay Ngày Cựu Chiến Binh (Memorial Day). Vì lẽ đó, những đài này thường được tìm thấy gần trung tâm thành phố, hoặc được đặt trong một công viên hay quảng trường để tạo sự tham dự dễ dàng cho công chúng.

Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh liệt kê tên của những người chết trong trận chiến. Đôi khi các danh sách này có thể rất dài đến cả hàng trăm ngàn như trường hợp Đài Tưởng Niệm Okinawa có khắc ghi hơn 240,000 tên dân quân tử sĩ của cả hai bên tham chiến và gồm nhiều quốc tịch khác nhau: Nhật, Triều Tiên, Đài Loan, Hoa Kỳ, Anh quốc. Một số đài tưởng niệm chiến tranh được dành riêng cho một trận chiến cụ thể, trong khi những đài khác tổng quát hơn chỉ ghi khắc những giai đoạn khác nhau của cuộc chiến tranh.

 

 Cornerstone of Peace – Nền tảng Hòa Bình ở Okinawa.

Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh có văn bia nêu tên các đơn vị chiến đấu, tên chiến dịch hay cuộc hành quân tham dự.


Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Úc Đại Lợi tại thủ đô Canberra


Đài tưởng niệm Biệt động quân ở Tô Cách Lan

Văn bia Kohima trên Đài tưởng niệm dành cho các chiến sĩ phe Đồng Minh bỏ mình trong trận Kohima trong Thế Chiến Thứ II ghi: “When You Go Home, Tell Them Of Us And Say, For Their Tomorrow, We Gave Our Today” với ý đại khái rằng nếu bạn sống sót trở về, bạn hãy kể cho họ biết về chúng tôi. Và bạn hãy nói với họ rằng vì tương lai của họ, chúng tôi đã hy sinh những tháng ngày hiện tại của đời mình.

Nhiều nghĩa trang chiến tranh do Ủy Ban Phần Mộ Khối Thịnh Vượng Chung quản trị đều có một mẫu chung đài tưởng niệm chiến tranh giống hệt nhau được gọi là Thánh Giá của Hy Sinh do Sir Reginald Blomfield thiết kế có chiều cao thay đổi từ 18 ft đến 32 ft, tùy thuộc vào kích thước của nghĩa trang. Nếu số lượng mộ phần từ 1000 trở lên, nghĩa trang Commonwealth đó sẽ chứa một Tảng đá Tưởng niệm do Sir Edwin Lutyens thiết kế có khắc hàng chữ “Their name liveth for evermore”, tương tự như câu “Tổ quốc ghi ơn” của Việt Nam ta. Tất cả các tảng đá tưởng niệm đều có kích thước dài 11ft6 in và cao 5ft với ba bậc buớc lên.

Đài Tưởng Niệm và quan điểm đối nghịch

Chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi đài tưởng niệm chiến tranh gây tranh cãi về mặt chính trị vì quan điểm khác biệt giữa các nước cựu thù.

Một ví dụ đáng chú ý là những tranh cãi xung quanh Đền Yasukuni Shrine ở Nhật Bản, nơi có thờ tro cốt của một số quân nhân Nhật đã bị kết án gây tội ác trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đại diện người Trung Hoa và Đại Hàn thường biểu tình phản đối các chính trị gia Nhật Bản đến lễ bái ở đền thờ này. Những lần viếng Đền trong quá khứ đã dẫn đến cuộc xung đột ngoại giao nghiêm trọng giữa các quốc gia liên hệ, và các doanh nghiệp Nhật Bản bị tấn công ở Trung Hoa sau khi cựu Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi tới viếng đền thờ. Sự kiện này đã được loan truyền rộng rãi và nhận được những công luận chỉ trích trên các phương tiện truyền thông Trung và Hàn Quốc.

Trong một trường hợp tương tự, cựu Thủ tướng Đức Helmut Kohl đã bị hai nhà văn Günter Grass và Elie Wiesel chỉ trích vì ông đã đi cùng với tổng thống Mỹ Ronald Reagan đến thăm nghĩa trang chiến tranh ở Bitburg, nơi có cả những ngôi mộ của tử sĩ Đức Quốc Xã. Điều này không giống như trường hợp ngôi đền tử sĩ Yasukuni của Nhật vốn thường dính líu đến yếu tố cố ý bất chấp dư luận quốc tế.

 

 Cổng đài tưởng niệm Trung Đoàn Khinh Binh Hoàng gia Dublin

Do chính quyền thay đổi, các câu trích dẫn của Joseph Stalin trên Đài Tưởng niệm Chiến tranh Thế giới Thứ II của Liên Xô thường xuyên bị thay thế sau khi ông chết. Các đài tưởng niệm đó thường được xây dựng trong trung tâm thành phố và bây giờ đôi khi bị coi là biểu tượng cho thời kỳ chiếm đóng của Liên Xô và bị loại bỏ, chính vì vậy lại có thể châm ngòi cho các cuộc phản đối.

Một trường hợp đối nghịch khác nữa là Kiến ​​trúc vòng cung tưởng nim Trung Đoàn Khinh Binh Hoàng gia Dublin gm toàn lính Ái Nhĩ Lan tham dự cuộc Chiến Tranh Boer ở Nam Phi được xây dựng vào năm 1907 nơi công viên St. Stephen’s Green tại trung tâm thủ đô Dublin. Cổng đài này thường bị người Ái Nhĩ Lan quá khích chống Đế quốc Anh gọi là “Cổng của Những Kẻ Phản Bội Tổ Quốc”. Độ sắc nét của tranh cãi đã bị mờ dần, và trong khi thuật ngữ “Cổng của Những Kẻ Phản Bội Tổ Quốc” vẫn còn được dùng thường xuyên trong câu chuyện mạn đàm của cuộc sống hàng ngày ở Dublin, nó gần như là mất đi ý nghĩa xấu xa ban đầu.

Ở Úc Đại Lợi, vào năm 1981, nhà sử học Henry Reynolds nêu lên vấn đề liệu có nên xây đài tưởng niệm chiến tranh để vinh danh thổ dân bản địa Úc đã bỏ mình vì chiến đấu chống lại quân xâm lược đế quốc Anh trên quê hương của họ hay không. Ông Henry Reynolds nói: “Thế thì chúng ta phải giải quyết bằng cách nào đây về sự hy sinh của thổ dân Úc? Người Úc da trắng thường xuyên nói rằng hãy cho chuyện đó đi luôn vào quên lãng. Nhưng nó sẽ không bị quên không thể quên. Những kỷ niệm đen tối đó quá đậm sâu và vết sẹo còn ràng ràng vì nó xảy ra cách đây chưa lâu. Và từ ngữ quên lãng quả là một mô tả lạ lùng khó hiểu đối với một cộng đồng quốc gia luôn tôn thờ tử sĩ và luôn ghi khắc câu “Chúng Tôi Không Bao Giờ Quên” trên mọi đài tưởng niệm khắp nước.”

Năm 1988, để  đánh dấu kỷ niệm 200 năm lập quốc, chính phủ Úc chính thức cho trưng bày trước công chúng tại Nhà Triển Lãm Quốc Gia ở thủ đô Canberra một tác phẩm điêu khắc gồm 200 thân gỗ rỗng ruột tượng trưng cho 200 cổ quan tài tử sĩ thổ dân bỏ mình trong công cuộc chiến đấu chống lại sự xâm nhập của người da trắng. Xem ra người Úc da trắng còn có lương tri đã trả lại công bằng cho lịch sử. Còn nhà nước CSVN thì biết đến bao giờ.

Kết luận

316.000 tử sĩ VNCH chưa có một đài tưởng niệm tầm cỡ quốc gia nào dành riêng cho họ. Bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” được nhắc nhở trong sách vở và trong tâm trí của tập thể cựu chiến sĩ VNCH và cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại nhưng chưa được khắc ghi trên một đài tưởng niệm tử sĩ quốc gia.

Hy vọng một ngày các sự kiện của lịch sử giữ nước sẽ được tái thẩm định để trả lại sự công bằng và sự thật trên quê hương.

Hy vọng một ngày không xa, dự án Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại với Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH sớm hoàn thành. Chừng đó, chúng ta có được một địa điểm thường trực cố định trang nghiêm xứng đáng để cử hành các buổi lễ quan trọng. Chừng đó, du khách người Việt mỗi khi đến Cali sẽ có dịp hành hương thăm viếng nghĩa trang đầu tiên ở hải ngoại dành cho tập thể quân cán chính VNCH. Đến để dâng một bó hoa hay thắp một nén nhang, để nghe trong lòng dâng tràn một niềm cảm xúc hãnh diện. Đến để cảm thấy ấm lòng như đang đứng giữa một phần đất thân quen của quê hương.

Ta không thể sống ở quê hương, nhưng quê hương luôn sống mãi trong ta.

Phan Hạnh

 

 

 


 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link