Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, March 6, 2013

Nợ xấu Trung Quốc lại gia tăng tới mức báo động


 

Nợ xấu Trung Quốc lại gia tăng tới mức báo động





 

Trụ sở của Ngân hàng trung ương Trung Quốc, Bắc Kinh (REUTERS)

Trụ sở của Ngân hàng trung ương Trung Quốc, Bắc Kinh (REUTERS)


Tổng kết hai nhiệm kỳ thủ tướng, ông Ôn Gia Bảo chủ yếu đề cập đến những thành quả kinh tế sáng chói. Trong khi đó, trị giá chứng khoán bốn ngân hàng Nhà nước Trung Quốc trên sàn chứng khoán Hồng Kông giảm 20 % trong hai tuần lễ. Nợ khó đòi của ngành ngân hàng liên tục tăng lên trong 5 quý liên tiếp, đạt mức cao nhất kể từ năm 2004. 

Trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nêu lên rất nhiều những điểm son trong nhiệm kỳ thứ nhì trải dài từ 2008 đến 2012 : tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 9,3 % ; tổng sản phẩm nội địa đã được nhân lên gấp đôi trong vỏn vẹn 5 năm. Đang từ 26 600 tỷ nhân dân tệ nhảy vọt lên thành 51 900 tỷ (tương đương với 8 300 tỷ đô la Mỹ). Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong cùng thời kỳ tăng đều đặn ở nhịp độ hơn 12 %/năm. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ra nước ngoài tăng 25,5 % hàng năm.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo không khỏi tự hào là bất chấp tác động khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu, Trung Quốc từ năm 2008 đến 2012 vẫn tạo được công việc làm cho 59 triệu dân cư ở thành phố; thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng gần 10 % một năm.

Chuẩn bị chuyển giao quyền lực cho người thừa kế Lý Khắc Cường, ông Ôn Gia Bảo khẳng định là trong hai nhiệm kỳ thủ tướng vừa qua, chính quyền của ông đã « đặt nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội với một tầng lớp khá giả ngày càng đông ».

Lãnh đạo Trung Quốc thận trọng dự báo là tăng trưởng kinh tế của nước này trong năm nay sẽ ở vào khoảng 7,5 %. Lạm phát là 3,5 % và tỷ lệ thất nghiệp là 4,6 %. Tuyệt nhiên không thấy thủ tướng sắp mãn nhiệm Trung Quốc đề cập đến rủi ro tài chính đang đe dọa hệ thống ngân hàng của nền kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới.

Núi nợ khó đòi

Vào lúc tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc rơi xuống mức thấp nhất kể từ 13 năm nay, báo cáo được công bố ngày 01/03/2013 Cơ quan điều tiết các hoạt động ngân hàng Trung Quốc cho biết, nợ khó đòi trong quý 4/2012 tăng thêm hơn 14 tỷ nhân dân tệ (2,3 tỷ đô la) đạt mức kỷ lục gần 493 tỷ.

Đành rằng, theo thống kê chính thức của Bắc Kinh, tỷ lệ nợ khó đòi trung bình của các ngân hàng Trung Quốc hãy còn ở mức rất an toàn, chưa đầy 1 %. Chính xác hơn, tỷ lệ đó là 0,95 % vào tháng 12/2012. Thêm vào đó các ngân hàng của Trung Quốc vẫn làm ăn có lời.

Hiềm nỗi theo như nhận xét của nhiều chuyên gia, những báo cáo về các hoạt động của ngân hàng Trung Quốc dù được coi là « tươi sáng » vẫn không đủ để trấn an các nhà đầu tư. Bởi không ai biết rõ núi nợ của Trung Quốc là bao nhiêu. Mà chỉ biết rằng các ngân hàng xứ này đang phải trực diện với hai mối rủi ro.

Một là những khoản tín dụng đã cấp do « chỉ thị » từ chính quyền trung ương hoặc địa phương để tài trợ những dự án đầu tư khổng lồ mà không ai biết gì hơn về hiệu quả kinh tế hoặc khả năng thanh toán của người đi vay.

Rủi ro thứ hai là nợ của khu vực tư nhân : để mở rộng hoạt động khu vực này đã đi vay tín dụng của các ngân hàng « không chính thức » với lãi suất rất cao. Khi tăng trưởng chựng lại hàng loạt các doanh nghiệp đã bị khánh tận. Đứng trước những núi nợ không tài nào trả nổi, một số chủ nhân đã tự sát, một số khác đã bỏ lại tất cả sau lưng chạy trốn ra nước ngoài.

Theo thẩm định của báo tài chính Mỹ, Financial Times hệ thống ngân hàng « không chính thức » của Trung Quốc hiện tại đã cấp tới 3,2 tỷ đô la tín dụng cho tư nhân – tương đương với 40 % GDP của cả nước.

Đâu là những nguyên nhân dẫn đến « núi nợ » của Trung Quốc hiện nay ? Đâu là tác động khi nợ xấu đánh sập hệ thống ngân hàng Trung Quốc ? Từ trường hợp của nền kinh tế thứ nhì thế giới ta có thể rút ra được những bài học nào về chính sách quản lý các khoản nợ mà tới nay không ai biết chính xác là bao nhiêu ? Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lần lượt trả lời các câu hỏi trên.

Dùng sâm, nhung để kích thích kinh tế

Nguyễn Xuân Nghĩa : Về bối cảnh và để nói cho ngắn gọn thì mô hình tăng trưởng của Trung Quốc là uống sâm để đạp xe cho mạnh vì nếu xe chạy chậm thì sẽ đổ. Nhưng, vấn đề xã hội là các đảng viên cán bộ thì uống sâm, còn công nhân viên và dân nghèo mới là người đạp xe.

Sự thật kinh tế của Trung Quốc là lãnh đạo tại trung ương và nhất là các tỉnh đều ra sức tăng trưởng sản xuất bằng cách bơm tiền ngân sách và tín dụng ngân hàng vào các dự án đầu tư, chủ yếu là đầu tư cố định. Ngân khoản bơm thêm vào kinh tế như vậy được coi là nâng đà tăng trưởng và quả là có tạo ra công ăn việc làm cho một dân số quá đông.

Nhưng đấy là liều thuốc bổ như sâm nhung mà thật ra bất công vì các dự án này đều khai thác một tài nguyên do nhà nước quản lý là đất đai. Đó là sâm nhung cho đảng viên cán bộ ở mọi cấp khi họ lấy đất đai và tiền bạc của nhà nước phát triển khu vực bất động sản để rồi người nào cũng thành chủ nhà, chủ đất. Tình trạng tham ô và bất công ấy không thể kéo dài và được thế hệ lãnh đạo thứ tư thấy ra, như thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói tới và muốn cải sửa từ năm 2007.

Nhưng có hai động lực cản trở việc cải sửa này. Thứ nhất là sự cưỡng chống của các đảng bộ địa phương vì họ trục lợi nhờ lề lối làm ăn như vậy. Thứ hai là nạn tổng suy trầm toàn cầu từ các năm 2008-2009 và sau đó khiến xuất khẩu của Trung Quốc bị thu hẹp. Kinh tế mà sa sút thì thất nghiệp sẽ tăng cùng nguy cơ động loạn xã hội. Mà lợi tức quá thấp của người dân, là những kẻ đạp xe, không thể kích thích được sức tiêu thụ nội địa để bù vào sự thất thâu của xuất khẩu.

Vì vậy, từ cuối năm 2008, lãnh đạo Trung Quốc đã trở lại nếp cũ là bơm thêm gần 500 tỷ đô la từ ngân sách và mấy ngàn tỷ khác từ tín dụng ngân hàng để nâng mức đầu tư. Hậu quả là họ thổi lên bong bóng địa ốc và chất lên một núi nợ mà thế hệ lãnh đạo đang lên thay sẽ phải giải quyết.

Bong bóng địa ốc

Nguyễn Xuân Nghĩa : Quốc vụ viện của ông Ôn Gia Bảo mất ba năm xoay trở với nạn bong bóng mà không xong cũng vì biện pháp kích thích tăng trưởng như ta vừa nói ở trên. Trong khi các đại gia kiếm lời nhờ lấy đất với giá rẻ và thu về với giá cao từ các dự án này thì dân chúng vẫn thiếu nhà loại bình dân và rẻ tiền để che thân. Đấy là một vấn đề không nhỏ.

Từ năm 2008 đến nay, người ta ước lượng rằng tổng số nợ công và tư của Trung Quốc đã lên tới 200% của tổng sản lượng. Mà đây chỉ là số ước tính thôi chứ thật ra là bao nhiêu thì không ai biết, kể cả các cơ quan chức năng của Trung Quốc. Và cái gọi là nợ của tư nhân thật ra gồm cả các khoản nợ của công ty đầu tư do chính quyền địa phương lập ra để vay các ngân hàng của nhà nước ở địa phương.

Nói về lượng thì, theo lời cảnh báo của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế và Quỹ Tiền tệ, khi tín dụng tăng quá mạnh và trong nhiều năm liên tục thì kinh tế có thể bị khủng hoảng tài chính. Sở dĩ có sự cảnh báo vì tình trạng tín dụng gia tăng tại Trung Quốc đã vượt mức độ nguy ngập của Hoa Kỳ hay Nhật Bản, Nam Hàn và Tây Ban Nha trước khi mấy xứ này bị khủng hoảng.

Chúng ta gặp khuôn khổ quản lý quái đản và mờ ảo của Trung Quốc từ năm 1994 lồng trong yêu cầu kích thích kinh tế của năm 2008.

Từ việc cải cách ngân sách năm 1994, 31 tỉnh không được quyền gây bội chi để tài trợ dự án địa phương mà phải chuyển số thu về trung ương và được trung ương phân bố lại theo yêu cầu. Từ đấy, các đảng bộ địa phương giải quyết lấy nhu cầu tạo ra công ăn việc làm cho cư dân thuộc quản hạt và một trong nhiều giải pháp chính là lấy đất của địa phương để phát triển dự án và báo cáo lên trên thành tích tăng trưởng rất cao mà nhiều khi cũng rất ảo. Nhân tiện, đảng viên cán bộ cũng kiếm lời rất nhiều nhờ giá đất nên càng gây bất mãn cho dân chúng. Cuối năm 2008, nhu cầu kích thích kinh tế càng thúc đẩy các tỉnh theo chiều hướng này.

Thế rồi vì không được gây bội chi mà cũng chẳng có quyền phát hành trái phiếu để có tiền phát triển dự án, các địa phương lập ra công ty đầu tư manh danh nghĩa là tư nhân ở địa phương để vay tiền các ngân hàng cũng của nhà nước ở địa phương. Cái khuôn khổ quản lý mờ ảo ở đây là chi nhánh của ngân hàng thương mại nhà nước và của cả ngân hàng trung ương tại địa phương đều nằm dưới sự điều động của đảng bộ địa phương và địa phương nào cũng thi đua phát triển dự án đầu tư để tạo ra công việc làm và báo cáo thành tích lên trên trong khi vẫn trục lợi ở dưới.

Hậu quả là các địa phương mắc nợ các ngân hàng của nhà nước ở địa phương, mà nợ đến mức nào và xấu tốt ra sao thì không ai rõ. Một con số được cơ quan Roubini Global Economics tại Mỹ đưa ra tuần qua là các tính đến năm ngoái, các địa phương có thể mắc nợ cỡ 2.800 tỷ đô la.

Song song, còn phải nói đến một ngân hàng đang nổi tiếng thế giới là Ngân hàng Phát triển Trung Quốc với số tín dụng cấp phát tại các nước đang phát triển đã vượt Ngân hàng Thế giới. Đấy là định chế thi hành chính sách bành trướng của nhà nước mà riêng tại Trung Quốc thì đã bơm ra số tiền tương đương với hơn hai ngàn tỷ đô la cho các dự án đầu tư loại cố định như xây dựng hạ tầng. Các ngân hàng thương mại bèn nương theo ngân hàng thuộc diện chính sách này mà phát hành trái phiếu để lấy tiền hùn hạp và tạo ra phép lạ rất ảo của Trung Quốc.

Nợ ảo và mối hiểm nguy

Nguyễn Xuân Nghĩa : Các ngân hàng đều huy động vốn từ ký thác của người dân. Vì hoàn cảnh bất trắc và mạng lưới an sinh rất mỏng về y tế và hưu bổng, người dân xứ này có sức tiết kiệm rất cao, bằng 40% lợi tức của họ. Rồi vì chẳng có ngả đầu tư nào khác để gìn giữ nguồn tài sản ấy, họ ký thác vào ngân hàng dù lãi suất chẳng là bao nhiêu và thực tế là mấp mé số không nếu giảm trừ ảnh hưởng của lạm phát.

Tính nhẩm cho dễ nhớ thì trong những năm 2007 trở về trước, kinh tế Trung Quốc có tăng trưởng được một đồng thì do đi vay một đồng tín dụng. Từ năm 2008 trở về sau thì phải đi vay ba đồng mới làm kinh tế tăng trưởng được một đồng. Đấy là yếu tố gọi là không bền vững mà lãnh đạo xứ này nói tới. Nhưng, vì chế độ quản lý và thực tế là trưng thu đất đai, một phần ba các khoản nợ này lại trút vào các dự án bất động sản và thổi lên bong bóng địa ốc. Khi bóng bể thì khối nợ xấu sẽ tiêu tan và ngân hàng cùng các công ty đầu tư của địa phương sẽ theo nhau vỡ nợ.

Khi kinh tế và xã hội dư dôi phương tiện sản xuất, như còn lực lương lao động hay công xuất chưa khai thác hết, thì nếu có bơm tiền từ ngân sách hay ngân hàng để kích thích sản xuất, dù rằng vào loại dự án không sinh lời hoặc có giá trị kinh tế thấp, người ta vẫn còn tạo ra của cải và cả tiền thuế để gây ra ảo tưởng sinh động và tăng trưởng. Nhưng nếu lực lượng lao động đã cạn hoặc nhà máy đã chạy hết công xuất mà vẫn cứ bơm tiền vào thì người ta gây ra lạm phát, là sắc thuế nặng nhất đánh trên dân nghèo.

Trung Quốc có dân số rất cao và cứ sợ thất nghiệp nên đã nhắm mắt đầu tư bất kể phẩm chất và doanh lợi để có cái tiếng là công xưởng của thế giới. Nhưng vì chính sách mỗi hộ một con từ năm 1978, dân số của xứ này bắt đầu chậm đà gia tăng và sẽ giảm dần. Ngay trước mắt thì đã thấy nạn khan hiếm lao động và công nhân đòi lương bổng cao hơn. Vì vậy, càng bơm tiền thì sẽ càng gây thêm lạm phát – là chuyện sẽ xảy ra. Và vì xuất cảng khó tăng mà tiêu thụ nội địa của thành phần trung lưu chưa kịp thay thế, tình trạng tăng trưởng ngoạn mục trong quá khứ sẽ hết.

Đấy là lúc núi nợ sẽ sụp đổ và có thể sụp rất nhanh. Cả thế giới cứ nói đến tình trạng kinh tế u ám của các nước Tây phương, nhưng tình hình của Trung Quốc còn đáng ngại hơn nhiều, và khối dự trữ ngoại tệ trị giá hơn ba ngàn tỷ đô la sẽ không chống đỡ nổi. Sau cùng, phản ứng của người dân khi đã bị cướp đất rồi mất việc và tiền tiết kiệm gửi vào ngân hàng lại tan ra mây khói, phản ứng đó là một ẩn số đang ám ảnh những người lãnh đạo thuộc thế hệ thứ năm.

Sao cổng trường cắm cờ Trung Quốc?


 

Một quyển sách soạn cho trẻ em lớp một mà cũng phải mua bản quyền của "nước lạ," thì đỉnh cao trí tuệ của "xhcn" đúng là xì hơi cả nước!

 

 



From: Quang Nguyen
Sent: Tuesday, March 5, 2013 4:59 AM
Subject: [Re: [PhungSuXaHoi] Cổng trường cắm cờ Tàu cộng

 

 

*:( sad*:(( crying

 

From: Hien Dovanhien Subject: [PhungSuXaHoi] Cổng trường cắm cờ Tàu cộng

 

 

 

 

 

 


Thấy cháu bé hỏi mà đau lòng

 

ĐỗVHiền NKT

_______

Sao cổng trường cắm cờ Trung Quốc?ra


TT - Một hôm cháu thắc mắc với tôi: “Dì ơi, sao lá cờ trong sách này không giống cờ nước mình?”. Tôi mở ra xem và rất bất ngờ: đó là cờ Trung Quốc”.

 


Trang 16 cuốn sách Phát triển toàn diện trí thông minh cho trẻ dành cho các em nhỏ chuẩn bị vào lớp 1 của Nhà xuất bản Dân Trí đăng cờ của Trung Quốc - Ảnh: THUẬN THẮNG


Cổng trường có cắm cờ đỏ nhưng không phải cờ Việt Nam trong trang 16 của cuốn sách Phát triển toàn diện trí thông minh cho trẻ - Ảnh: CHÂU ANH


Bìa cuốn sách của NXB Dân Trí

“Trước đó, chị gái tôi mua cho cháu tôi bộ sách dành cho học sinh vào lớp 1 có nhan đề Phát triển toàn diện trí thông minh cho trẻ của Nhà xuất bản Dân Trí.

Ðó là phản ảnh của một bạn đọc là học sinh lớp 10 Trường Trung học thực hành, ÐH Sư phạm TP.HCM với Tuổi Trẻ. "Thật không thể hiểu nổi một cuốn sách được quảng cáo ngay từ trang bìa là: "Giáo sư ở các trường danh tiếng giới thiệu bộ sách dành tặng các em nhỏ chuẩn bị bước vào lớp 1" mà lại có sự nhầm lẫn tệ hại như thế", bạn đọc viết.
 
Xem kỹ, chúng tôi thấy cuốn sách được trình bày khá bắt mắt, trang 4 có ghi "Nhiều tác giả" chứ không công bố cụ thể tác giả nào, và "Chịu trách nhiệm xuất bản: Bùi Thị Hương. Liên kết xuất bản và phát hành tại: Công ty văn hóa Hương Thủy".
 
Ở trang 5 có phần "Lời giới thiệu": "Nối tiếp giai đoạn mầm non là vấn đề khó khăn đối với cả cha mẹ và con trẻ. Bộ sách Chuẩn bị toàn diện cho trẻ bước vào lớp 1 là bộ sách giới thiệu các kiến thức trên nhiều phương diện cần thiết cho trẻ bước vào giai đoạn tiểu học [...].
 
Cuốn sách được biên tập dựa trên chương trình giáo dục mầm non của Bộ GD-ÐT cùng với những vấn đề trẻ gặp phải trong cuộc sống hằng ngày [...]". Trang 16 của cuốn a là trang dành cho bé tập kể chuyện với câu hỏi: "Trong tranh đã xảy ra chuyện gì nhỉ?
 
 Bé quan sát kỹ tranh, sau đó căn cứ vào nội dung trong tranh kể cho mọi người nghe một câu chuyện nhé". Phía dưới là bức tranh vẽ một em bé và một người phụ nữ đang đứng trước ngôi trường học. Ðiều đáng nói là trên cổng trường có cắm cờ đỏ nhưng không phải cờ Việt Nam mà lại là cờ Trung Quốc (tranh vẽ rất rõ nét, có lẽ vì vậy nên em bé 5 tuổi cũng phát hiện "không phải cờ nước mình").
 
Khi chúng tôi đưa bức tranh trong sách cho một em học sinh tiểu học xem, kèm câu hỏi "đã xảy ra chuyện gì nhỉ", em cũng thốt lên: "Sao cổng trường cắm cờ Trung Quốc?". Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Bùi Thị Hương - giám đốc NXB Dân Trí - khẳng định ngay: "Ðây là sách dịch, mua bản quyền của đối tác nước ngoài".
 
 Sau khi làm việc với Công ty văn hóa Hương Thủy chiều 4-3, bà Hương trao đổi lại: "Chúng tôi đã kiểm tra hợp đồng bản quyền thì thấy các điều khoản trong đó rất chặt chẽ, đơn vị phát hành sách phải giữ nguyên xi nội dung gồm phần chữ và hình ảnh như bản gốc, không được phép thay đổi". Bà Hương cũng cho biết bộ sách trên được biên soạn theo chương trình giáo dục của Trung Quốc. "Hình ảnh trong sách là hình ảnh trường của Trung Quốc thì phải treo cờ Trung Quốc chứ không thể treo cờ Việt Nam được.
 
Tôi thấy nội dung và hình ảnh rất bình thường, không có gì nặng nề" - bà Hương nói. Về lời giới thiệu "Biên soạn dựa trên chương trình giáo dục mầm non của Bộ GD-ÐT", bà Hương phân trần: "Khi đối tác gửi file mềm nội dung bộ sách cho chúng tôi thì không có lời giới thiệu như thế.
 
Có lẽ công ty phát hành đã đưa thêm lời giới thiệu này để dễ bán sách". Bà Hương cũng thừa nhận cách giới thiệu cùng với việc không chú giải rõ ràng việc mua bản quyền của Trung Quốc trên bìa sách khiến người mua nhầm tưởng là sách Việt Nam. Nhưng khi trả lời về việc phải giải quyết thế nào với sự lập lờ gây hiểu nhầm này, bà Hương vẫn khẳng định "đó là bộ sách có nội dung tốt, nó chỉ "lằng nhằng" ở lời giới thiệu.
 
Nên nếu có ý kiến yêu cầu sửa thì chúng tôi sẽ đề nghị đối tác sửa. Nhưng chắc sẽ không thể sửa nội dung sách, không thể thay cờ Trung Quốc thành cờ Việt Nam bởi như thế là vi phạm hợp đồng".
 
 Bày tỏ quan điểm về vấn đề này, ông Phạm Tất Dong - phó chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, cơ quan chủ quản của NXB Dân Trí - cho biết: "Tuy tôi chưa xem cuốn sách đó, nhưng tôi thấy một cuốn sách được ghi rõ là biên soạn cho trẻ em Việt Nam, theo chương trình giáo dục Việt Nam thì nội dung, hình ảnh phải phù hợp với trẻ em Việt Nam, và trong hình ảnh ngôi trường không thể vẽ cờ Trung Quốc".
 
Sau khi nhận được thông tin và tiếp cận với nội dung cuốn sách trên, bà Ngô Thị Hợp - phụ trách Vụ GD mầm non Bộ GD-ÐT - nói: "Chúng tôi không biết về cuốn sách này vì NXB Dân Trí không trao đổi hay hỏi ý kiến chúng tôi. Vì vậy, NXB Dân Trí phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung, hình thức của cuốn sách".

* Ông Nguyễn Minh Khang (phó giám đốc NXB Giáo Dục):Sách dịch phải chọn lựa rất kỹ NXB Giáo dục hằng năm cũng có nhiều đầu sách dịch phải mua bản quyền của nước ngoài. Nhưng chúng tôi phải chọn lựa rất kỹ, sách dịch cung cấp cho bạn đọc Việt Nam nói chung và học sinh Việt Nam nói riêng phải có nội dung, hình ảnh không trái với quy định pháp luật và thuần phong mỹ tục Việt Nam, không nói sai về lịch sử, địa lý Việt Nam...
 
Trong hợp đồng mua bản quyền với nước ngoài, nếu thấy cần thiết chúng tôi cũng có thể trao đổi thỏa thuận với đối tác để điều chỉnh nội dung, hình ảnh phù hợp với đối tượng bạn đọc Việt Nam. Cụ thể, chúng tôi từng hợp tác với một số đối tác nước ngoài để phát hành sách tiếng Anh cho trẻ em Việt Nam, những hình ảnh phong cảnh, con người, trường học trong sách cũng được điều chỉnh phù hợp với học sinh Việt Nam.
 
Nếu chúng ta trao đổi kỹ thì đối tác cũng không cứng nhắc trong việc bắt ta phải in nguyên xi như bản gốc. Hơn nữa, nếu là sách dịch nguyên gốc thì bìa sách phải nói rõ nguồn gốc. Còn nếu là sách biên soạn dựa theo chương trình giáo dục Việt Nam thì không thể vẽ trường học treo cờ nước khác.

ThS Nguyễn Thị Kim Thanh (nguyên trưởng phòng giáo dục mầm non Sở GD-ÐT TP.HCM):

Không thể chấp nhận

Việc này xảy ra có lẽ do khâu kiểm duyệt chưa cẩn thận và chặt chẽ. Nhưng dù vì lý do nào thì cũng không thể chấp nhận được. Trong chương trình giáo dục mầm non 5 tuổi, học sinh đã được học về đất nước, về lá cờ Việt Nam, rằng ngôi trường của em thì cắm cờ Tổ quốc Việt Nam. Lứa tuổi này rất nhạy cảm. Về mặt tâm lý, khi đứa trẻ được ăn một món ngon nào đó hồi nhỏ thì bé sẽ nhớ mãi đến khi lớn. Tương tự, những hình ảnh quen thuộc từ thời thơ ấu cũng sẽ in sâu trong trí nhớ.

Cuốn sách trên phải được chỉnh sửa cho đúng, cho trẻ em Việt Nam hiểu rằng: cờ Tổ quốc chỉ có một mà thôi. Những nội dung gì thuộc về đất nước, về Tổ quốc bắt buộc phải chính xác chứ không phải là chuyện cổ tích mà tưởng tượng, hư cấu.

"Vì người ta cần ánh mặt trời"


Gesendet: Dienstag, 5. März 2013 09:03
An: Tạp Chí Dân Văn.
Betreff:  BÀI THƠ NẪY LỬA CỦA NGUYỄN-ĐẮC-KIÊN

 

 

               "Vì người ta cần ánh mặt trời"


              

                       Thơ NGUYỄN ĐẮC KIÊN

     ( trích từ Đài Á Châu Tự Do  RFA )  

                           

Vì khó khăn và bị bao vây như vậy nên bài viết của Nguyễn Đắc Kiên trở thành một trận sóng thần thông tin khi một nhà báo trẻ, đã vượt lên sợ hãi công khai viết một bài viết phản bác lại tuyên bố của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông này đi ngược lại mọi quy chuẩn chính trị cáo buộc nhóm kiến nghị 72 là suy thoái đạo đức, khi họ đòi hỏi phải bỏ Điều 4 Hiến pháp, phải tam quyền phân lập và phi chính trị hóa quân đội.
 

Bài viết của Nguyễn Đắc Kiên đã phá sản tận cốt lõi lập luận và thói quen áp đặt dư luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là những lãnh đạo chóp bu. Sau bài viết nảy lửa này anh trở lại đời sống âm thầm của một người cầm viết tự do vì đã chính thức bị cho thôi việc tại tờ báo mà anh cộng tác.
 

Nguyễn Đắc Kiên không những là một nhà báo giỏi, can trường mà anh còn là một nhà thơ tài năng. Góc nhìn của Nguyễn Đắc Kiên trong tập thơ mang tên “Những số không vòng trắng” khiến chúng ta có dịp hiểu thêm về thái độ của anh trước thời cuộc hiện nay.
 
Anh làm thơ không để thưởng thức một cách bình thản, với trà ngon với hương đồng gió nội hay bên khói hương trầm đọc thơ như thói quen của những người muôn năm cũ.
 
Thơ của Kiên xoắn sâu vào lòng người, bẻ gãy sự vô cảm đang ăn mòn từng tế bào xã hội, bắt người đọc phải chọn thái độ mặc dù chỉ là một suy tư, và hơn hết chúng mang đến cho người đọc những thông tin đến trái tim chứ không phải khối óc.

Tập thơ mỏng chưa tới trăm trang với 13 bài thơ được tác giả cho là thơ lẻ và một bài kịch thơ 4 hồi. Những bài thơ được gọi là lẻ ấy có bài như một phán xét nghiêm khắc, có bài như nỗi đắng cay tràn qua mi mắt. Lại có bài vừa đọc lên thấy lâng lâng hạnh phúc nhưng tới cuối bài thì trở thành hụt hẫng, xót xa.

Thơ Nguyễn Đắc Kiên không có chỗ trống cho người đọc trú chân, anh buộc khách đọc thơ anh phải đồng hành, bỏ dép lê chân trên con đường đầy sạn sỏi. Những viên sỏi ấy làm khách khập khiễng đã đành, chúng còn bắt người dẫm lên chúng phải cúi xuống nhìn cái tác nhân gây ra đau đớn ấy.

Bài thơ “Vì người ta cần ánh mặt trời” của anh khiến không ít người giật mình. Con đường mà nhà thơ dẫn chúng ta đi sao quen thuộc quá. Chúng ta đã gặp nó từ khi ngồi trên ghế tiểu học với những bài học lịch sử dài đằng đẵng.
 
Bao nhiêu xương máu đã đổ xuống mảnh đất này nhưng đến bây giờ vẫn chưa ngừng đổ.
 
Tuy có ít hơn, có âm thầm hơn nhưng vẫn là máu. Máu của người mất đất, của những tiếng nói đòi được nói. Máu rơi từ những lên tiếng kêu gào đòi tự do, điều mà hàng trăm năm cả dân tộc bị vùi dập vì thiếu thốn.
 
Máu rơi nhưng quá ít người để ý, quá ít người quan tâm. Cuộc sống vẫn trôi như không có gì xảy ra. Cả cuộc sống đang ngủ vùi như chưa bao giờ được ngủ. Bài thơ lay lắt gọi, thảng thốt đánh thức những trái tim gần như lạnh giá.

Vì người ta cần ánh mặt trời


tôi chưa thấy một đêm nào dài thế,
bốn ngàn năm, giờ lại ngót trăm năm.
hết phong kiến độc tài, đến lũ bạch tuộc thực dân,
hết quân, hết vương, đến lũ tượng thần chủ nghĩa.
bao thế hệ siết rên trong gọng kềm nô lệ.
chuyên chế dã man đục rỗng chí con người.
cha tôi, ông tôi, bao thế hệ ngủ vùi.
tôi chưa thấy một đêm nào dài thế.
không ánh mặt trời, bóng tối chí tôn,
lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị,
khủng bố dã man, reo rắc những kinh hoàng,
biến lẽ sống thành châm ngôn “mày phải sợ”.
mày phải sợ mày ơi mày phải sợ,
sợ nữa đi có sợ mãi được không,
cốt tủy mục rỗng rồi trí óc cũng tối đen,
mày lại đẻ ra lũ cháu con “biết sợ”.

bao thế hệ đã ngậm ngùi mắc nợ,
lũ chúng ta lẽ nào lại mắc nợ mai sau,
còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau,
sống cho xứng danh xứng con người trên mặt đất.
tôi chưa thấy một đêm nào dài thế,
cũng chưa thấy có ngày mai nào không thể.
vì người ta cần ánh mặt trời,
tỉnh dậy đi lũ chúng ta ơi!

 

 

 

Dùng “kiều hối“ giải thể chế độ cộng sản?


Dùng “kiều hối“ giải thể chế độ cộng sản?

Trần Văn Tích

 

Bà Nguyễn Thu Trâm, Khối 8046, chủ trương đồng bào hải ngoại chỉ cần tự giác ngưng gửi tiền về Việt Nam trong một năm là cộng sản chết tức khắc. Giáo sư Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Phúc Liên cũng có kế hoạch xem như tương tự, cứ việc đánh vào tử huyệt kinh tế là giặc chết tươi.

Cá nhân tôi nhận định hoàn toàn khác. Rất nhiều người – chứ chẳng riêng tôi – quan niệm rằng đã đến lúc đồng bào quốc nội phải dám chấp nhận tử vong, thương tích thì mới diệt được cộng. Không dám chết như người Tuynidi, người Aicập, người Xyri thì đừng hòng thoát ách cộng sản. Hải ngoại không thể nào giữ vai trò chủ động, càng không thể nào đóng vai trò xiết hầu bao để cho cộng sản ngộp thở về kinh tế tài chánh. Chủ trương như vậy vừa xa rời thực tế vừa tỏ ra hèn nhát. Huống chi ngay từ tiền đề lập luận, đã có sự sai trái.

Con số một chục tỷ Mỹ kim “kiều hối“ do đồng bào quốc ngoại gửi về quốc nội năm 2012 là do thống kê của chính ngân hàng nhà nước cộng sản đưa ra, và điều này thì chính Bà Nguyễn Thu Trâm cho biết như thế.

Xin Bà Nguyễn Thu Trâm tiếp tục thung dung tự tại tin tưởng vào báo cáo, thống kê của cộng sản. Phần những người chưa rơi vào mê lộ của xuyên tạc thì không : đã có người thử ngồi tính để thấy rằng con số đó chẳng thể nào là sự thực được. Tuy nhiên, cá nhân tôi sẵn sàng hẵng tạm dễ dãi tin lời Bà Nguyễn Thu Trâm để tiếp tục lý luận.

Các chế độ Ba Lan, Đông Đức, Hunggari, Bungari, Rumani đã bị chính người Ba Lan, Đông Đức, Hunggari, Bungari, Rumani lật nhào. Chúng tan rã không phải do tập thể lưu vong thuộc các dân tộc vừa kể hô hào nhau đừng gửi ngoại tệ về nước. Chế độ Nga Xô viết cũng thế.

Quá sợ chết, quá sợ đau thì thôi, cứ cúi đầu mà sống như thực vật. Đừng kêu gọi suông.

Tôi biết chắc chắn Bà Nguyễn Thu Trâm sẽ hỏi tôi : ông đang ở nước ngoài, an toàn bản thân và gia đình được bảo đảm, ông lấy tư cách gì hô hào dân trong nước chết cho tự do? Xin được trả lời : tôi lấy tư cách của một người đã từng sẵn sàng chết cho tự do.

 Là sĩ quan cấp tá chế độ Việt Nam Cộng Hoà, tôi ở tù khổ sai như bao nhiêu người khác và ra tù ngày 14.02.1978, quản chế sáu tháng. Còn đang sống ngoài vòng pháp luật, chưa có quyền công dân, tôi vẫn tìm mọi cách gửi đơn cầu cứu chính quyền Tây Đức. Bức thư đầu tiên gửi đi từ Sàigòn ngày 12.02.1979. Ngày 13.11.1979 tôi được chính quyền Tây Đức chính thức cấp giấy hứa cho nhập cảnh Tây Đức.

 

Tôi không rõ Bà Nguyễn Thu Trâm năm nay niên kỷ bao nhiêu, nhưng nếu bà còn quá trẻ thì Bà vẫn có thể hỏi tứ thân phụ mẫu hoặc thầy giáo cô giáo của Bà về bầu không khí khủng bố đỏ những năm 1978-1979 tại khắp Miền Nam. Một tên sĩ quan ngụy, mới được nhân dân tha cho tội chết, lại liên lạc với một chính quyền tư bản phản động, để yêu cầu bọn người chuyên đàn áp bóc lột, kẻ thù của nhân dân ta và nhân thế giới, cưu mang cứu vớt anh ta và gia đình!

 

Bà Nguyễn Thu Trâm có thể tưởng tượng hình phạt gì đang chờ đợi tên ngụy này – cùng với gia đình y tất cả năm người – hay không, vào thời điểm đó? Xin nhấn mạnh : vào thời điểm đó. Nhưng trấn áp được sự sợ hãi, trong hoàn cảnh cá nhân và gia đình tôi, vào năm 1978-1979 đó, chỉ là con số không; nếu so sánh với cả trăm ngàn đồng bào đã bỏ mình ngoài biển đông, trên đất Miên v.v.. để mưu cầu tự do. Như vậy, chúng tôi đã liều mình, đã liều chết cho tự do.


Giờ đây, đến lượt chúng tôi, chúng tôi đòi đồng bào quốc nội và Bà Nguyễn Thu Trâm trả lại món nợ đó cho chúng tôi qua hành động của chính quí vị đứng lên xả thân trực diện chống cộng, chứ chẳng phải qua kêu gọi chúng tôi ngưng gửi tiền về. Chúng tôi nghĩ chúng tôi có quyền chủ nợ. Quyền chủ nợ này chính đáng, hợp với lương tri nhân loại, nó cũng thích đáng, hợp với đại nghĩa dân tộc.

Ngày nào có đổ máu hàng loạt ở Việt Nam, ngày đó sẽ không có tiền gửi về Việt Nam nữa.

Kính xin Bà Nguyễn Thu Trâm yên trí cho như thế.


Trần Văn Tích



To:
From:

Date: Mon, 4 Mar 2013 22:18:26 +0700
Subject:  LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỚM GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM?..

 

 

 



 

 


LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỚM GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM?



Nguyễn Thu Trâm, 8406  - Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, trong số 100 triệu nạn nhân trực tiếp của chế độ cộng sản thì số nạn nhân người Việt Nam là 3.000.000 điều này không có nghĩa là ở Việt Nam chỉ có 3 triệu người là nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam mà thực tế phải có hơn 10.000.000 người Việt Nam của cả hai miền Nam-Bắc đã vong mạng vì tham vọng quyền lực của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản, ấy là con số chỉ tính riêng trong thời gian xãy ra cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Miền Nam Cộng Hòa và Miền Bắc Cộng Sản từ 1954 cho đến 1975 mà thôi.

 

Ngay cả sau ngày từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tức là sau thời điểm mà cuộc chiến ý thức hệ đó đã kết thúc khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm hoàn toàn miền Nam Việt Nam thì số lượng những nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam cũng không vì thế mà dừng lại. Trong số 1.150.000 sỹ quan, hạ sỹ quan và các viên chức hành chánh, lãnh đạo các đảng phái chánh trị, các chức sắc tôn giáo bị tập trung cải tạo trong 80 trại cải tạo được phân bổ trên khắp các vùng miền của cả nước, thì đã có đến 165.000 người đã chết vì bị tra tấn nhục hình, bị hãm đói trong các xà lim biệt giam, hoặc bị bệnh tật mà không được điều trị.
 Ngoài ra với hàng trăm ngàn người đã vong mạng ở những vùng kinh tế mới phần do bom mìn còn sót lại, phần phì đói khát hoặc ốm đau do sơnlam chướng khí và hơn 1.000.000 người đã chết mất xác trên đường đi tìm tự do từ sau năm 1975… há họ không phải là nạn nhân của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản chăng?

Ngay cả hiện nay, ngoại trừ Bộ Chính Trị và khoảng 4.500.000 đảng viên cộng sản là những kẻ có những đặc quyền đặc lợi từ chế độ cộng sản, còn lại ngót 90 triệu đồng bào Việt Nam kể cả nhân sỹ trí thức đều bị chế độ cộng sản bưng tai, bịt mắt kìm hãm mọi suy nghĩ và hành động không chỉ bằng chính sách ngu dân để biến cả dân tộc Việt Nam thành thiểu năng trí tuệ như toàn thể dân chúng Bắc kỳ trong giai đoạn 1954-1975 vậy, mà đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam còn dùng cả chuyên chính vô sản, cả bạo lực cách mạng hòng biến cả dân tộc Việt Nam thành những con người chỉ biết cúi đầu cam chịu thân phận nô lệ, nhược hèn và ngu tối.
 
Chính vì vậy mà không lâu sau khi cộng sản Bắc Việt áp đặt nền thống trị sắt máu lên miền Nam, vốn là một xứ sở tự do và nhân bản, thì đã không ít những thân hào, nhân sỹ, những chức sắc tôn giáo của đã đứng lên, thành lập các tổ chức kháng cộng, phục quốc, với mong ước giải phóng đất nước khỏi ách cai trị của cộng sản, phục hồi nền tự do, dân chủ và quyền sống, quyền làm người cho toàn dân. Tiếc thay, các phong trào phục quốc chỉ như những ánh đuốc mới vừa được nhen nhóm lên chưa đủ lớn mạnh, chưa được đều khắp thì đã bị “bạo lực cách mạng” và chuyên chính vô sản dập tắt.
 
Hàng ngàn sỹ phu đã phải ra pháp trường để đền nợ nước, hàng chục ngàn nghĩa sỹ đã phải lụy vào chốn lao tù và chế độ cộng sản càng ngày càng củng cố quyền lực bằng những phiên toà của những kẻ bán nước xét xử người yêu nước và bằng những bản án phi nhân nhằm để khủng bố tinh thần của bất cứ ai nặng lòng với non sông mà toan dấn thân vào con đường phục quốc…


Thế mà đã 38 năm rồi, dẫu cái gọi là "Hệ Thống Xã Hội Chủ Nghĩa" đã hoàn toàn tan rã, Liên Bang Xô Viết, cái tiền đồn của Xã Hội Chủ Nghĩa, nơi khai sáng ra cái chủ thuyết cộng sản cũng đã phá sản hoàn toàn và những con người một thời lầm lạc để gieo đau thương, tang tóc và đói nghèo, lạc hậu cho dân tộc của họ đã biết sám hối, ăn năn và quay về với thế giới tự do, trong khi đó, các lãnh đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định con đường mà Hồ Chí Minh đã chọn, đó là tiến lên XHCN, nhằm tiếp tục biến dân tộc Việt Nam thành một sắc tộc di rợ, như Choang, Tạng, Mãn, Hồi... của Trung cộng và từng bước biến Việt Nam thành một tỉnh trực thuộc chính quyền Trung Ương của Trung Cộng ở Bắc Kinh… Để thực hiện việc đó, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng cho đến Nguyễn Mạnh Cầm, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Tấn Dũng… đã lần lượt ký các công hàm, các hiệp ước về biên giới và từng bước chuyển giao chủ quyền biển đảo, đất rừng đầu nguồn, đất đai vùng biên giới phía bắc và cả đất Tây Nguyên cho Trung cộng, để đến nỗi ngay cả những ngư dân, những nông dân quanh năm chân lấm tay bùn cũng dễ dàng nhận thấy một đại họa mất nước đang đến thật gần, một nguy cơ cả dân tộc Việt Nam sẽ bị Hán hóa là chuyện không còn xa nữa.

Hàng triệu người dân Việt ở quốc nội cùng thừa hiểu rằng chỉ có giải thể hoàn toàn chế độ cộng sản và thành lập một chính phủ dân chủ pháp trị, đa nguyên, đa đảng cùng cạnh tranh lành mạnh trong công việc lãnh đạo và điều hành đất nước mới có thể là giải pháp duy nhất để ngăn chặn một đại họa mất nước và một nguy cơ cả dân tộc bị Hán hóa. Nhưng làm sao để giải thể chế độ cộng sản là vấn đề cần được bàn thảo và kỷ để có cùng một quyết tâm cao, muôn người như một, đồng sức đồng lòng thì mới mong chúng ta có thể đánh sụp được chế độ cộng sản Việt Nam như các nước Cộng Sản Đông Âu đã làm được từ ngót một phần tư thế kỷ qua, vào cuối thập niên 80s của thế kỷ trước. Dù vậy, nhiều người Việt Nam vẫn tỏ ra bi quan về hiện tình của đất nước Việt Nam cũng như khả năng sụp đổ của chế độ cộng sản Việt Nam.

Hẳn nhiều người vẫn còn nhớ, ngoài Liên Bang Xô Viết từng có tiếng súng, kể cả các cuộc cường kích bằng trọng pháo và thậm chí có đổ cả máu xương nữa khi nhân dân Nga tiến hành cuộc cách mạng giải thể chế độ cộng sản Liên Xô vào “Mùa Thu Cộng Sản” 1991, còn lại các nước Ba Lan, Đông Đức, Hungary, Bungary, Romania… đều âm thầm đào huyệt chôn vùi chế độ cộng sản mà không cần phải có tiếng kèn, tiếng trống chứ đừng nói chi đến tiếng súng. Bởi chính chế độ trung ương tập quyền và nền kinh tế kế hoạch là nguyên nhân đưa đến khủng hoảng kinh tế và là lý do chính yếu dẫn đến sự sụp đổ của các nước cộng sản đó, vì nếu không tự giải thể chế độ cộng sản và quay lại với thế giới tự do với thể chế chính trị dân chủ, đa nguyên, với nền kinh tế thị trường, mà cộng sản gọi là chế độ Tư Bản Chủ Nghĩa, thì chắc chắn là không thể tránh khỏi một thảm kịch nhân đạo là cả dân tộc phải chết đói. Tuy nhiên, đối với Việt Nam có một số người dự đoán rằng cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ vào năm 2014 hoặc 2015 thực ra là một lạc quan tếu, vì hoàn toàn không có cơ sở khoa học nào cả.
 
 Những dự đoán mang tính lạc quan tếu đó có thể làm thỏa mãn tâm lý của phần đa các cá nhân và tổ chức chống cộng, cho nên người ta không cần suy lý, mà cứ tin như thế để tự “sướng”. Cũng bởi lý do đó mà hễ người nào đưa ra nhận định rằng chế độ cộng sản Việt Nam khó mà sụp đổ trong vài ba năm tới, thì rất dễ bị chụp cho cái nón cối trên đầu và đôi dép râu dưới chân, bởi những thứ đó vốn free, nên muốn chụp cho ai thì cứ chụp, chẳng tốn kém gì. Tuy nhiên “Thuốc đắng đả tật, lời thật mếch lòng”: lời nói thật bao giờ cũng khó nghe hơn những lời ton hót, nịnh nọt và giả dối, “Trung ngôn nghịch nhĩ” mà!
Dẫu vậy, nếu chúng ta không dám sống thật, không dám đối diện với sự thật mà chỉ quen lừa dối với chính mình bằng những ảo tưởng, hoang tưởng để tiếp tục đi đến tương lai bằng những mơ mộng hão huyền thì thật khó, vô cùng khó để chúng ta đạt được thành công như mong muốn trong công cuộc đấu tranh giải thể chế độ cộng sản, giành lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân.

Trong tinh thần dám đối diện với sự thật, chúng ta hãy nhìn về quá khứ, trước khi định hướng cho những công việc cần thực hiện trong tương lai, để chúng ta dễ dàng nhìn thấy những thực trạng khó khăn trong cuộc đấu tranh hiện nay với chế độ cộng sản khi chúng ta thấy ra rằng trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1954 cho đến 1975, chính phủ Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa có 26 tỷ Mỹ Kim, tức là xuyên suốt cuộc chiến tranh ý thức hệ tại Việt Nam kéo dài 21 năm đó, bình quân mỗi năm chính phủ Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 1,3 tỷ Mỹ Kim mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đánh cho Hồ Chí Minh và cộng sản Bắc Việt phải hồn xiêu phách lạc. Chỉ đến khi Mỹ rút hết quân đội về nước, mức việc trợ bị cắt giảm xuống còn 701 triệu Mỹ Kim vào năm tài khóa 1974-1975 thì Việt Nam Cộng Hòa mới thiếu khí tài, đạn dược, mới thất thủ trước cộng quân Bắc Việt.
 
Trong khi đó, trong những năm gần đây, mức Kiều hối do Kiều Bào Việt Nam ở nước ngoài gởi về nước cứ tăng dần hàng năm theo cấp số nhân mà theo thống kê của ngân hàng nhà nước cộng sản Việt Nam thì tổng mức Kiều hối năm 2012 là 10 tỷ Mỹ Kim, quả là một con số khổng lồ khó tưởng tượng được! Nếu chúng ta thử làm một phép so sánh đơn giản 1,3 tỷ Mỹ Kim/năm và 10 tỷ Mỹ Kim/năm thì chúng ta sẽ hiểu được tiềm năng kinh tế của cộng sản Việt Nam hiện nay để tin rằng dù tham nhũng đến phá sản hàng loạt các công ty để tăng số nợ công lên hàng trăm ngàn tỷ đồng, nhưng Việt Nam vẫn khó bị khủng hoảng kinh tế. Đó là chưa kể đến những nguồn lợi khác do bán biển đảo, bán đất rừng đầu nguồn, bán đất Tây Nguyên, bán các loại tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi từ xuất cảng lúa gạo và các loại nông sản, hải sản thu mua từ nông dân, ngư dân với giá rẽ mạt và cả nguồn lợi khổng lồ từ việc xuất khẩu lao nô hay xuất khẩu cô dâu Việt.

Nói tóm lại, việc Kiều bào từ nước ngoài gửi tiền về để giúp đỡ thân nhân bà con ở quê nhà là một việc làm rất hợp với đạo lý “lá lành đùm lá rách” của người Việt. Tuy nhiên việc mang tiền về nước đầu tư kinh doanh với cộng sản, hay gởi tiền về quá nhiều để thân nhân ở Việt Nam đầu tư kinh doanh và làm giàu cho đất nước, hay thậm chí về Viêt Nam du lịch, hưởng thụ để mang nguồn lợi kinh tế đến cho Việt Nam, thực ra là một hình thức "viện trợ nhân đạo" cho cộng sản Việt Nam, giúp Việt Nam thoát khỏi nạn khủng hoảng kinh tế, để chế độ cộng sản Việt Nam tiếp tục tồn tại, tiếp tục buôn dân bán nước, tiếp tục biến đất nước Việt Nam thành một lãnh thổ của Trung cộng và biến Người Việt Nam thành một sắc tộc Thiểu Số bên cạnh các sắc tộc Choang, Hồi, Tạng, Hán, Mông… của Trung cộng.

Bởi những lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng bao giờ chế độ cộng sản Việt Nam sẽ bị diệt vong, bao giờ đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị giải thể là do chính các cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại quyết định, là do Kiều bào Việt Nam đang định cư trên toàn thế giới toàn quyền quyết định.
 
Theo đó, với những luận cứ khoa học về thực trạng kinh tế của cộng sản Việt Nam, chúng tôi tin rằng, nếu Kiều Bào Việt Nam cấm vận Kiều hối đối với cộng sản Việt Nam trong vòng một năm, tức là ngưng hoàn toàn việc chuyển tiền về cho thân nhân ở quê nhà, ngưng du lịch về Việt Nam, ngưng về Việt Nam đầu tư… chỉ trong vòng một năm thôi thì chúng ta chúng ta đã kết liễu được chế độ cộng sản Việt Nam mà không cần một tiếng súng: Những tên cộng sản sẽ tự đào mồ chôn chế độ cộng sản khi không còn bất cứ sự “viện trợ nhân đạo” nào đến từ các cộng đồng người Việt Quốc Gia.

 

 

Mong lắm thay!

 

Đầu Năm Quý Tỵ 2013

Nguyễn Thu Trâm, 8406

 

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link