Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, March 12, 2013

Những bài học về cuộc chiến Việt-Trung 1979


 

Những bài học về cuộc chiến Việt-Trung 1979


 

Cảnh sát biên phòng Trung Quốc ngăn các phóng viên chụp hình tại cửa khẩu Thiên Bảo ở tỉnh Vân Nam, đối diện với cửa khẩu Thanh Thủy của Việt Nam.C
 
Cảnh sát biên phòng Trung Quốc ngăn các phóng viên chụp hình tại cửa khẩu Thiên Bảo ở tỉnh Vân Nam, đối diện với cửa khẩu Thanh Thủy của Việt Nam.

 


26.02.2013

Cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1979 là cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai nước trong thời hiện đại; là một trong hai cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa (cuộc chiến kia là giữa Việt Nam và Campuchia năm 1978); là một trong những cuộc chiến tranh ngắn ngủi nhất trên thế giới (tính từ ngày Trung Quốc bắt đầu tấn công Việt Nam 17/2 đến lúc Trung Quốc tuyên bố kết thúc cuộc tấn công 5/3 là 17 ngày; đến ngày Trung Quốc rút hết quân khỏi Việt Nam, 16/3, là 27 ngày), nhưng đồng thời cũng là một trong những cuộc chiến tranh đẫm máu nhất, với trên 20.000 người bị giết chết mỗi bên; (nếu chia đều số người bị chết này cho thời gian thực sự của cuộc chiến, con số tử vong hàng ngày rất cao).
 
Đó là chưa kể các thiệt hại khác về cơ sở vật chất và đời sống của dân chúng.

Tại sao Trung Quốc, nước từng viện trợ cho Việt Nam trên 20 tỉ đô la suốt cả cuộc chiến tranh trước 1975 lại quyết định tấn công Việt Nam? Họ thường nêu lên bốn lý do chính: Một, đập tan giấc mộng bá quyền của Việt Nam ở Đông Nam Á; hai, trừng phạt Việt Nam về tội quấy phá ở vùng biên giới của hai nước; ba, trả thù việc Việt Nam đối xử tàn tệ đối với các Hoa kiều (trấn áp, tịch thu tài sản và xua đuổi họ ra khỏi nước); và bốn, dằn mặt việc Việt Nam ký hiệp ước liên minh với Liên Xô để mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
 
 
Các nhà bình luận chính trị quốc tế nêu lên ba mục tiêu chính của Trung Quốc: Một, tấn công có giới hạn một số vùng đất dọc biên giới để trừng phạt Việt Nam; hai, tạo sức ép để Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia; và ba, để Việt Nam - và từ đó, các nước khác - hiểu là không thể tin cậy vào sự liên minh với Liên Xô, từ đó, có thể cắt đứt mối liên minh ấy để quay về với Trung Quốc.

Trung Quốc thành công hoàn toàn ở mục tiêu đầu, dĩ nhiên với một giá rất đắt về nhân mạng. Nhưng hai mục tiêu sau thì họ lại thất bại: Việt Nam không những không rút quân khỏi Campuchia mà còn đóng chiếm ở đó trên 10 năm; Việt Nam không những không bất mãn Liên Xô mà còn tiếp tục giữ liên minh chặt chẽ với Liên Xô đến tận lúc Liên Xô sụp đổ vào năm 1990.

Đối với cuộc xâm lược của Trung Quốc, bộ máy tuyên truyền của Việt Nam có hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau: Trước, họ lên án Trung Quốc một cách kịch liệt; sau, họ hoàn toàn im lặng và bắt buộc mọi người phải im lặng theo.
 
 
Trước, họ xem Trung Quốc như một tên đế quốc luôn luôn có tham vọng bá quyền và bành trướng; sau, họ lại xem Trung Quốc là một láng giềng tốt và một đồng chí tốt. Ở cả hai giai đoạn và với hai thái độ khác nhau ấy, Việt Nam đi từ cực đoan này sang cực đoan  khác. Và cực đoan nào cũng nguy hiểm như nhau. Cái nguy hiểm nhất là chúng ngăn chận người ta học được những bài học cần thiết.

Trong số những bài học cần thiết ấy, theo tôi, bài học đầu tiên cần được nhấn mạnh là: Đừng ngây thơ.

Quan sát và/hoặc tìm hiểu cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hầu như mọi nhà nghiên cứu đều ghi nhận một điểm giống nhau: Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ trước sự tấn công của Trung Quốc.
 
Lúc lính Trung Quốc tràn qua biên giới Việt Nam, lực lượng phòng thủ của Việt Nam chủ yếu là bộ đội địa phương; còn trong giới lãnh đạo thì cả Phạm Văn Đồng lẫn Văn Tiến Dũng đều đang đi thăm Campuchia. Trong cuốn Bên thắng cuộc, Huy Đức kể, những người được phỏng vấn về cuộc tấn công ấy cũng đều cho là Việt Nam hoàn toàn không chuẩn bị trước.
 
 
Với giới quan sát và nghiên cứu, cảm giác bất ngờ của Việt Nam quả là điều… bất ngờ. Nhiều người kể, ngay trước năm 1975, Lê Duẩn vừa nhận viện trợ của Trung Quốc lại vừa nghi ngại Trung Quốc; sau năm 1975, ông cũng biết rõ là nếu Việt Nam tấn công Campuchia, Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam. Vậy mà, lạ, lúc Trung Quốc tấn công Việt Nam, ông cũng như toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam vẫn thấy bất ngờ. Tại sao? Người ta giải thích: Giới lãnh đạo Việt Nam vẫn tin là Trung Quốc chỉ doạ dẫm chứ sẽ không đánh họ; vẫn tin là tình đồng chí giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, tuy bị thử thách nghiêm trọng, vẫn đủ để ngăn chận một cuộc xâm lược.

Kể ra, sau khi đã từng bị Campuchia, một nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, tấn công và sau khi đã dẫn quân tràn qua biên giới càn quét người anh em xã hội chủ nghĩa ấy, mà vẫn còn tin như thế được quả là một sự ngây thơ đáng kinh ngạc. Ngây thơ đến dại dột.

Nhưng ở đây, có đến hai sự ngây thơ. Ngoài sự ngây thơ đối với tình đồng chí xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, còn có sự ngây thơ đối với tình đồng chí của Liên Xô. Trước đó, Việt Nam đã từng ký kết hiệp ước hữu nghị và hợp tác quốc phòng với Liên Xô, những tưởng Liên Xô sẽ ra tay bảo vệ Việt Nam trước sự xâm lược của Trung Quốc.
 
 
 Chính Trung Quốc cũng tưởng như vậy nên, để hoá giải sự trả đũa của Liên Xô, họ đề ra ba sách lược chính: Một, đi vận động sự ủng hộ của Mỹ, Nhật và các nước Đông Nam Á cho chiến dịch đánh Việt Nam, để các nước này, sau đó, có thể ủng hộ họ trong trận đối đầu với Liên Xô nếu Liên Xô nhảy vào bênh vực Việt Nam; hai, tuyên bố cuộc chiến tranh nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” chỉ là một cuộc chiến tranh giới hạn về cả quy mô (không dùng không quân), mục tiêu (chỉ nhắm tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam khoảng vài chục cây số) và thời gian (trong vòng vài tuần) để Liên Xô không có cớ chính đáng gây chiến với Trung Quốc; và ba, chọn thời điểm mở đầu cuộc tấn công vào giữa tháng Hai để, một mặt, tránh được mùa mưa (thường bắt đầu vào tháng Tư) và, mặt khác, đã qua hết mùa đông - băng trên các dòng sông dọc biên giới Trung Quốc và Liên Xô đã tan chảy hết - , tránh tình trạng Liên Xô có thể dễ dàng xua quân tràn qua mặt sông đóng băng cứng để tấn công Trung Quốc.
 
 
Nhưng cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều đoán sai. Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới đánh chiếm Việt Nam, Liên Xô vẫn án binh bất động.

Bởi vậy, ngay sau khi chiến tranh biên giới bùng nổ, giới bình luận chính trị trên thế giới đều nhận ra một điều: quyền lợi quốc gia quan trọng hơn hơn ý thức hệ nhiều. Không nên tin vào cái gọi là tình đồng chí quốc tế.

Bài học thứ hai là cần tìm hiểu kỹ hơn về Trung Quốc. Hầu như ai cũng biết: mặc dù sống sát cạnh Trung Quốc, chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc và thường xuyên đánh nhau với Trung Quốc, sự hiểu biết của Việt Nam về Trung Quốc, kể cả trong giới học giả, lại rất giới hạn.
 
Cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979 cho thấy một yếu kém nghiêm trọng khác của Việt Nam: tình báo. Lâu nay, giới truyền thông thường làm ồn ào về tài tình báo của Việt Nam ở miền Nam: Họ lọt vào cả những chức vụ quan trọng nhất trong guồng máy chính quyền miền Nam. Tuy nhiên, với Trung Quốc thì họ lại hoàn toàn mù mờ.
 
 
Từ giữa năm 1978, giới lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu bàn luận về kế hoạch tấn công Việt Nam: Họ hoàn toàn không biết. Từ cuối năm 1978, Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch tấn công: Họ cũng không biết.
 
Cũng từ cuối năm 1978 và đầu năm 1979, Trung Quốc liên tục đàm phán với Mỹ, Nhật và một số nước Đông Nam Á, như Thái Lan và Malaysia, về việc tấn công Việt Nam: Họ cũng không biết. Tệ nhất là sự kiện: để điều động trên 300.000 quân với vũ khí và lương thực đến biên giới, Trung Quốc cần ít nhất là ba tháng, với cả hàng trăm ngàn dân công: Họ cũng không biết.

Đến lúc Trung Quốc chính thức nổ súng, họ vẫn không biết gì về kế hoạch đánh mạnh, phá sạch và rút nhanh của Trung Quốc cả. Trong khi Trung Quốc chỉ đặt chỉ chỉ tiêu là tiến sâu vào khoảng 30-40 cây số, chiếm hai tỉnh lỵ Cao Bằng và Lạng Sơn là rút quân về nước ngay, Việt Nam vẫn chuẩn bị cho phòng tuyến hai, nhằm bảo vệ Hà Nội, để mặc cho dân quân và một số ít bộ đội chủ lực chống chọi với Trung Quốc ở biên giới.

Việt Nam bị hớ trong việc phòng thủ biên giới. Họ lại hớ lần nữa trong việc phòng thủ Hà Nội, nơi Trung Quốc không hề có ý định tấn công. Cả hai lần hớ ấy đều xuất phát từ một nguyên nhân: Thiếu tin tức.

Bài học thứ ba: Trong lúc giới lãnh đạo ngây thơ và hớ hênh trong chiến lược phòng thủ như vậy, những kẻ thực sự có công đầu trong việc đánh chận quân xâm lược Trung Quốc chính là các dân quân du kích và bộ đội địa phương ở các tỉnh biên giới. Toàn bộ bộ đội và du kích Việt Nam là khoảng 100.000 người trong khi bộ đội Trung Quốc lên đến khoảng 300.000 người.
 
 
Như vậy, một người lính Việt Nam phải chọi lại ba người lính Trung Quốc. Họ không đủ khả năng ngăn chận được Trung Quốc. Họ chỉ làm được hai điều: Một, làm chậm bước tiến của quân Trung Quốc; và hai, gây thiệt hại nặng nề cho lính Trung Quốc. Trong khi đó, hầu hết quân chủ lực của Việt Nam thì hoặc đang ở Campuchia hoặc đang canh giữ phòng tuyến hai gần Hà Nội.

Theo các nhà phân tích quân sự và chính trị quốc tế, sở dĩ bộ đội và du kích ở các tỉnh biên giới chiến đấu giỏi như vậy là nhờ bốn yếu tố chính: Một, họ quen thuộc với địa hình núi non hiểm trở ở vùng biên giới; hai, họ có thật nhiều kinh nghiệm chiến đấu sau hai cuộc chiến tranh kéo dài cả ba mươi năm; ba, vũ khí của họ tối tân hơn hẳn Trung Quốc (chủ yếu là nhờ nguồn vũ khí tịch thu ở miền Nam năm 1975); và bốn, tinh thần yêu nước và sự dũng cảm của họ rất cao.

Xin lưu ý: trong bốn yếu tố tạo nên ưu thế của quân đội Việt Nam năm 1979, yếu tố thứ hai và thứ ba hoàn toàn trở thành vô hiệu theo thời gian. Năm 1979 bộ đội và cả tướng lĩnh Trung Quốc bị xem là thiếu kinh nghiệm chiến đấu vì cuộc chiến tranh gần nhất mà họ tham gia là ở Triều Tiên, trước đó 26 năm (1953). Đó cũng là trường hợp của bộ đội và tướng lĩnh Việt Nam hiện nay: Cuộc chiến tranh lớn mà họ tham gia, ở Campuchia năm 1978 và ở biên giới Việt-Trung năm 1979, cách đây đã trên 30 năm.
 
 
Còn yếu tố thứ tư thì bị chính chính quyền Việt Nam ra tay đập phá triệt để bằng nhiều biện pháp khác nhau: một, ngăn cấm mọi biểu hiện của tình thần yêu nước, từ việc phát biểu bằng lời đến việc bày tỏ thái độ qua các vụ biểu tình; hai, vu khống và nhục mạ những người bộc lộ lòng yêu nước và lên án các hành động uy hiếp hay sách nhiễu của Trung Quốc; ba, ngăn cấm mọi hình thức kỷ niệm hay tưởng niệm chiến tranh chống Trung Quốc; và bốn, tuyên truyền cho một thứ chủ nghĩa đầu hàng được nguỵ trang dưới chiêu bài láng giềng tốt và đồng chí tốt.

Ở trên, tôi nêu lên ba bài học chính. Bạn thử nghĩ xem: chính quyền Việt Nam học được mấy bài?

***
Chú thích: Các sự kiện và số liệu sử dụng trong bài viết này được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, nhung nhiều nhất là từ bài “China’s 1979 war with Vietnam: A reassessment” của Xiaoming Zhang trên The China Quarterly 2005, tr. 851-874.

 

Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn

Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn Tin ảnh
 
 
Làm sao nâng cao dân trí dân mình nhỉ?
Khổ quá, sống với rác rưởi thế này sinh ra đủ thứ bệnh làm sao có tiền chữa?
Nhà nước coi bộ " bótay.com" rồi chăng??
Von: ngoc_hanh nguyen <
Betreff:  Những dòng kênh sắp ‘chết’ ở Sài Gòn...
An:
Datum: Montag, 11. März, 2013 02:29 Uhr

 

 

Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn Tin ảnh

( 10:18 AM | 05/03/2013 )
 
Những dòng kênh tại TP.HCM mỗi ngày “chết” một ít vì phải hứng chịu hàng trăm tấn rác xả ra từ các hộ dân, tàu ghe, các điểm mua bán trái cây và người đi đường.

Nội thành TP.HCM có 5 hệ thống kênh rạch chính, với tổng chiều dài 76km, bao gồm Nhiêu Lộc – Thị Nghè; Tân Hóa – Lò Gốm; Tàu Hũ – Kênh Đôi; Kênh Tẻ – Bến Nghé; Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật. Hệ thống kênh rạch này cùng với sông Sài Gòn (khoảng 38km) có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thoát nước. Trừ hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đang hồi sinh, còn nhiều dòng kênh khác đang "chết" vì rác. Rác nhiều đến nỗi nước không chảy được, kênh biến thành ao tù, bốc mùi hôi thối và là nơi sinh sôi của muỗi, ruồi…


Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 1)
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 2)
Mặc dù chính quyền treo băng rôn cấm đổ rác và làm rào chắn rất cao nhưng đoạn kênh trên đường Phan Văn Hân, Q.Bình Thạnh vẫn bị phủ một "thảm" rác.
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 3)
Một nhánh kênh trên đường Phan Văn Hân, Q.Bình Thạnh bị biến thành ao tù.
Theo bà Nguyễn Thị Thùy Linh, Trung tâm điều hành chương trình chống ngập TP.HCM, hiện TP có 2.000 km kênh thoát nước, hơn 100.000 hố ga và 800 cửa xả thải. Thế nhưng, nạn xả rác bừa bãi của người dân đã vô hiệu hóa gần như toàn bộ hệ thống thoát nước trên.
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 4)
Mặc dù đã được làm rào chắn, rào lưới B40 nhưng người dân vẫn xé rào để đổ rác xuống kênh đoạn qua đường đường Bùi Hữu Nghĩa, Q.Bình Thạnh.
Ô nhiễm kênh rạch còn do nạn lấn chiếm lòng kênh để xây, mở rộng nhà cửa khiến cho dòng kênh vốn nhỏ nay càng hẹp hơn, làm giảm lưu lượng dòng chảy, gây ra hiện tượng ngập úng. Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, tính đến cuối tháng 7/2012, có 41 vị trí kênh bị lấn, thậm chí có những con kênh chính thức bị "chết" vì người dân san lấp để làm nhà ở
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 5)
Dòng kênh "chết’ tại Q.8 vì người dân lấn chiếm làm nhà ở.
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 6)
Nuôi gà trên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Q.Bình Thạnh.
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 7)
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 8)
Các tàu ghe neo đậu, các điểm mua bán dừa trên kênh cũng góp phần làm dòng nước kênh tắc nghẽn (ảnh chụp tại cầu Tân Thuận trên kênh Tẻ, Q.7).
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 9)
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 10)
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 11)
Kênh Nước Đen (Q.Bình Tân) có dòng nước…. đen thui, bốc mùi hôi thối. Người dân sống gần con kênh này đang kêu trời vì muỗi sinh sôi nảy nở tại đây.
Hiện nay, mỗi ngày công ty Môi trường đô thị vớt khoảng 9 – 10 tấn rác trên kênh. Theo ông Bùi Văn Trường, đại diện công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị, hiện có rất nhiều con kênh bị thu hẹp diện tích đến nỗi không thể sử dụng phương tiện máy móc để vớt rác hay nạo vét lòng kênh. Thậm chí có những con kênh bị bao vây trong khu dân cư không thể cải tạo được và trở thành ao tù chứa nhiều chất gây ô nhiễm.
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 12)
Những dòng kênh sắp `chết’ ở Sài Gòn - Tin180.com (Ảnh 13)
Nhiều con kênh bị thu hẹp diện tích đến nỗi không thể sử dụng phương tiện máy móc để vớt rác.
(theo news.zing)

Monday, March 11, 2013

Đảng CSVN:Nhận diện nguy cơ tan vỡ từ bên trong


 


      THỨ NĂM, NGÀY 27 THÁNG MƯỜI HAI NĂM 2012

Đảng CSVN:Nhận diện nguy cơ tan vỡ từ bên trong


Những căn bệnh tự diễn biến, tự chuyển hóa đang tiềm tàng và hiện hình ngay trong không ít cán bộ đảng viên nhưng rất khó định lượng. Đó chính là những nguy cơ tự tan vỡ từ bên trong”, PGS. TS Vũ Huy Phúc nói tại buổi hội thảo sáng nay.
 Ngày 27/12, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Tạp chí Cộng sản và Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương đã tổ chức Hội thảo khoa học phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn phát biểu tại hội thảo. 

Không dám can ngăn lãnh đạo
Tinh thần tự phê bình, kiểm điểm của Nghị quyết Trung ương 4 và những cảnh báo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bản nghị quyết về sự tồn vong của chế độ đã được nhiều đại biểu dẫn lại như lời cảnh tỉnh với đội ngũ đảng viên. Các tham luận cũng tập trung phân tích tình trạng suy thoái trong một bộ phận đảng viên lãnh đạo.

 Nhắc lại bài học của Đảng cộng sản Liên Xô, ông Hữu Thọ (Nguyên Trưởng ban Tư tưởng văn hóa Trung ương) nêu rõ, chỉ có sự suy thoái của lãnh đạo ở cấp cao nhất của Đảng mới có thể đưa đến sự suy sụp của Đảng. Do vậy phải phân tích và đấu tranh với các biểu hiện tự chuyển hóa, tự diễn biến ngay trong đội ngũ lãnh đạo.

Cựu nhà báo lão thành cũng trăn trở: “Tôi nhận thấy mối quan hệ giữa đảng viên và người lãnh đạo có khoảng cách ngày càng xa trong tình đồng chí chung chiến hào”.
Theo ông Hữu Thọ, sự xa rời ấy dẫn đến tình trạng đội ngũ cán bộ tham mưu hiện nay tuy hùng hậu, bằng cấp đầy đủ nhưng không dám can ngăn thậm chí không dám phản ánh sự sai trái của một số chính sách. Đội ngũ tham mưu cũng không phản ánh trung thực những luồng ý kiến dư luận phàn nàn về đạo đức, lối sống của một số vị lãnh đạo. 

“Mà lãnh đạo ngày càng không muốn nghe những lời nói thẳng. Chỉ muốn nghe lời nói khen bùi tai nên đã quy tụ xung quanh những người thiếu trung thực”, ông Hữu Thọ kết luận.
Trung tướng Vũ Hải Triều (Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II)  bổ sung thêm, lòng tin của đảng viên và người dân đang ngày càng giảm sút trước thực trạng một bộ phận lãnh đạo quản lý kinh tế xã hội yếu kém. Rồi những vấn đề khác về đời tư, lối sống, tình trạng thất thoát, tham nhũng... Theo ông Triều, dư luận đặc biệt bức xúc quanh câu chuyện bổ nhiệm và sử dụng những cán bộ không có đức tài.
Hàng loạt yếu kém nói trên đang làm mai một niềm tin của những đảng viên chân chính và của mọi tầng lớp nhân dân. 

“Kẻ thù từ bên trong”

 Cũng tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu quân đội đã chỉ ra, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ xảy ra từ bên trong mỗi con người, mỗi tổ chức.  Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự xa rời mục tiêu lý tưởng của Đảng… Điều quan trọng là giải pháp để đấu tranh với nguy cơ nói trên để củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng.

“Những giặc nội xâm, những căn bệnh tự diễn biến ấy đang tiềm tàng và hiện hình ngay trong không ít cán bộ đảng viên nhưng rất khó định lượng. Đó chính là những nguy cơ tự tan vỡ từ bên trong”,  PGS Vũ Huy Phúc (Tổng biên tập tạp chí cộng sản) phân tích.

Theo ông Phúc, những “kẻ thù từ bên trong” ấy nằm ẩn khuất ngay trong đội ngũ, trong chính mỗi con người, rình chờ ai đó mất cảnh giác hay do dự, ngập ngừng để “tấn công”.
Đấu tranh với các biểu hiện nói trên cần rất nhiều công việc khác nhau. Như kiên quyết khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế xã hội, tạo chuyển biến rõ rệt trong phòng chống tham nhũng. Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Rồi hàng loạt nhiệm vụ khác như cơ chế kiểm tra, giám sát, cơ chế thực thi dân chủ…

 Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Cục trưởng Cục tuyên huấn (Tổng cục chính trị) “hiến kế”, không có cách nào khác là mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức của chính mình. Ngoài ra, cần có cơ chế để đội ngũ đảng viên kiểm tra, giám sát ngay trong chính nội bộ.
 Các giải pháp khác là tuyên truyền giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, học tập theo tấm gương đạo đức Bác Hồ để “mỗi đảng viên trở thành người cộng sản chân chính”.
 Nói như ông Vũ Huy Phúc, điều quan trọng nhất là khả năng và sức tự đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên”.


 

 


 

Ngư dân Trung Quốc ngang nhiên tung hoành trên Biển Đông


 

TRUNG QUỐC - BIỂN ĐÔNG - 

Bài đăng : Chủ nhật 10 Tháng Ba 2013 - Sửa đổi lần cuối Chủ nhật 10 Tháng Ba 2013

Ngư dân Trung Quốc ngang nhiên tung hoành trên Biển Đông


Các tàu đánh cá Trung Quốc.

Các tàu đánh cá Trung Quốc.

REUTERS/Stringer

Thụy My  RFI


Theo nhận xét của AFP trong bản tin hôm nay 10/03/2013 thì tuy Biển Đông nằm trong số vùng biển bị tranh chấp gay gắt nhất trên thế giới, nhưng ngư dân Trung Quốc vẫn ngang nhiên đánh cá ở nơi nào họ muốn, bất chấp sự phản đối của các nước láng giềng đang đòi hỏi chủ quyền.

Hãng tin Pháp trích lời của Liang Min, một ngư dân 29 tuổi nói rằng : « Có hơi nguy hiểm, nhưng đây là vùng biển của Trung Quốc nên chúng tôi chẳng sợ. Biển Đông là của chúng tôi, việc gì mà phải ngưng lại ? ». AFP nhận định, thật ra chủ quyền trên Biển Đông đang bị tranh chấp với nhiều nước châu Á và ngư dân trên có nguy cơ dính líu vào những sự cố mang tính quốc tế, khi thường xuyên ngang dọc trên vùng biển mà căng thẳng đang dâng cao.

Bắc Kinh đòi hỏi vùng lãnh hải « lịch sử » rộng mênh mông tại Biển Đông. « Đường lưỡi bò » 9 điểm do Bắc Kinh tự ý vạch ra trên bản đồ từ năm 1940, chạy dài thậm chí đến đảo Bornéo, cách vùng duyên hải Trung Quốc đến hơn 1.000 cây số. Các nước láng giềng như Việt Nam, Philippines, Indonesia đều phẫn nộ khi phát hiện đường lưỡi bò này được in trên các hộ chiếu mới của Trung Quốc.

Khi phát biểu khai mạc phiên họp Quốc hội ngày 05/03/2013 Thủ tướng mãn nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh rằng rằng Bắc Kinh quyết tâm « phát triển kinh tế biển (…) và bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển ».

Đối với Wang, một chủ tàu cá ở Đàm Môn (Tanmen), thì đơn giản là : « Biển Đông là của chúng tôi, tổ tiên chúng tôi đã từng đánh cá ở đây ». Người chủ tàu sắp về hưu này mỗi ngày đều bủa lưới thu về nào mực, cá kiếm, cá nục…mang về cảng cá cũ kỹ nhưng sinh động của đảo Hải Nam, nơi có cả một đoàn tàu hùng hậu. Ông ta sử dụng lý lẽ của báo chí chính thức, vốn lặp đi lặp lại là ngư dân Trung Quốc đã qua lại trên vùng biển này từ thời Hán, tức 200 năm trước Công nguyên.

Biển Đông là tuyến đường hàng hải quan trọng, vận chuyển một phần ba lượng hàng hóa thương mại trên thế giới, và có tiềm năng dầu khí rất lớn. Nhưng các ngư phủ ở Đàm Môn thì chỉ quan tâm đến nguồn hải sản phong phú tại đây.

Tàu cá Trung Quốc ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đánh chiếm từ Việt Nam Cộng Hòa năm 1974 – đông đảo cho đến nỗi Liang kể rằng ê-kíp của mình phải đánh cá ban đêm để bắt các đàn cá đang say ngủ trong các rạn san hô.

Còn tại quần đảo Trường Sa – đang bị tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Philippines, Malaysai và Brunei – thì « dễ dàng hơn vì còn ít tàu đánh cá », theo như bà Guo, đang hành nghề với chồng trên chiếc tàu dài 18 mét, mua được nhờ chính quyền địa phương cho vay. Bà nói : « Có hơi sợ một chút khi có nhiều tàu Việt Nam, nhưng số lượng tàu của chúng tôi đông đảo hơn và to hơn nên không ngại »

Tuy vậy, theo AFP, nguy cơ đang là hiện thực : Bắc Kinh than phiền rằng từ năm 1989 đến nay đã có trên 11.000 thủy thủ Trung Quốc là nạn nhân của các vụ tấn công, bị cướp hay bị bắt giữ tại các nước khác. Bắc Kinh đã « đáp trả » bằng cách tăng cường lực lượng tuần tra. Trong một vụ xảy ra năm ngoái, Trung Quốc đã bắt giữ 21 ngư dân Việt Nam. 

Mùa hè năm 2012, Bắc Kinh đã điều một tàu tuần tiễu đi hỗ trợ 30 tàu cá Trung Quốc đến tận Trường Sa. Hành động này cho thấy đánh cá chỉ là một cái cớ để Trung Quốc dấn tới trên bàn cờ. 

Bắc Kinh cũng tăng tốc hiện diện quân sự, khi vào năm ngoái đã cho lập một thành phố mới và một đạo quân đồn trú tại Trường Sa. Đó là « thành phố Tam Sa », thành phố nhỏ thứ hai trên thế giới sau Vatican, với 1.000 dân sinh sống, trên vùng biển rộng đến 2 triệu km vuông mà Bắc Kinh tự cho mình là chủ nhân. Những dự án mở rộng du lịch cũng đang được tiến hành. 

Ngày càng lo ngại, các nước láng giềng đã siết chặt thêm quan hệ với Hoa Kỳ và tăng cường lực lượng hải quân, đặc biệt là sau khi Trung Quốc cho trình diện chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên. 

Nhưng theo ông Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), Viện trưởng Viện quốc gia Nghiên cứu Biển Đông (NISCSS) của Hải Nam, thì sự bành trướng trên biển của Trung Quốc hãy còn « quá chậm ». 

Ông ta nói : « Tôi hy vọng rằng chiếc hàng không mẫu hạm của chúng tôi sẽ sớm được gởi đến Nam Sa (từ ngữ mà Bắc Kinh dùng để chỉ Trường Sa). Trung Quốc đang chịu áp lực trên Biển Đông, nhất là với sự xuất hiện của Hoa Kỳ. Chúng tôi phải đóng một vai trò tích cực hơn ». 

Triển vọng này làm cho ngư dân Liang rất phấn khởi : « Nay thì có các lực lượng công an ưu tú ở đây, tôi có thể đi đến bất cứ đâu mà chẳng sợ gì ! »

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link