Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, March 12, 2013

NGU và DỐT với Trò hề sửa đổi hiến pháp của lũ quỷ Ba Đình

NGU và DỐT với Trò hề sửa đổi hiến pháp của lũ quỷ Ba Đình
 

 

    Một số người nhân việc này bèn khởi xướng cái gọi là “Lời Tuyên Bố Công Dân Tự Do” đòi hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp, đòi đa nguyên, đa đảng…

     ... được 5.800 người trong nước và hải ngoại ký tên hưởng ứng

 

   Có “nhà tranh đấu lừng danh” còn khẳng định như đinh đóng cột: “CSVN sẽ tự sát nếu… không hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp (sic!)”.

 

  Không biết những tên đang gỏ mỏ khua chiên trong trò "góp ý sửa đổi hiến pháp của bọn Việt cộng" này NGU và DỐT đến cở nào !!!!???

 DỐT:

  Không biết lịch sử:

   + Chánh phủ Liên hiệp năm 1945 đã khiến các lảnh tụ các đảng phái quốc gia như NGUYỄN TƯỜNG TAM..... phải "vọt" qua Tàu...

   + Nhiều quốc gia KHÔNG CÓ HIẾN PHÁP như Anh, Hòa Lan....thế mà các nước đó TỰ DO DÂN CHỦ ra sao.

   + Các hiến pháp 1945, 1980 không có điều 4 mà Việt cộng đã hành sữ ra sao....

NGU:

  Không biết suy luận:

  Trong quá khứ, Việt cộng đã có hơn một bản hiến pháp mà chúng có áp dụng đâu. Bản hiến pháp của bất cứ quốc gia nào mà không áp dụng thì chỉ có giá trị như tâ giấy sau khi dùng trong phòng vệ sinh mà thôi.

 

  Điều đặc biệt là khi các người GÓP Ý hay KIẾN NGHỊ hoặc THỈNH NGUYỆN THƯ...đều là cách nhìn nhận bọn Việt cộng cầm quyền là hợp pháp, chính danh....

  HkThành

  SI VIS PACEM, PARA BELLUM

 

 


 

BA CAY TRUC


Bảng quảng cáo

  • Tăng kích thước chữ

 

  • Kích thước chữ mặc định

 

  • Giảm kích thước chữ

tìm kiếm...

Thứ Hai 11/03/2013

Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

CÓ THỂ NÀO CỘNG SẢN VIỆT NAM SẼ HỦY BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP ĐỂ TRỞ THÀNH “MỘT ĐẢNG MAFIA KHÔNG CÓ GIẤY PHÉP!?”


LÃO MÓC

EmailIn

CÓ THỂ NÀO CỘNG SẢN VIỆT NAM SẼ HỦY BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP ĐỂ TRỞ THÀNH “MỘT ĐẢNG MAFIA KHÔNG CÓ GIẤY PHÉP!?”

 

 

Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vừa rùm beng chí chát về chuyện yêu cầu toàn dân góp ý về chuyện sửa đổi Hiến pháp. Nhưng ngay sau khi có chuyện 72 ông bà trí thức trong nước góp ý thì liền bị ngay ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng kết tội… “suy thoái”. Ngay cả ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội CSVN, người cầm chịch trong vụ sửa đổi hiến pháp cũng lên tiếng là những người góp ý đã “Lợi dụng việc lấy ý kiến hiến pháp để tuyên truyền vận động nhân dân chống lại đảng, chống lại chính quyền..,, phải kiên quyết ngăn chặn”.

 

Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên lên tiếng vạch rõ từng cái sai của ông TBT thì bị cho nghỉ việc.

 

Một số người nhân việc này bèn khởi xướng cái gọi là “Lời Tuyên Bố Công Dân Tự Do” đòi hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp, đòi đa nguyên, đa đảng…

 

“Lời Tuyên Bố…” theo một trang báo điện tử đã được 5.800 người trong nước và hải ngoại ký tên hưởng ứng khi chnúg tôi viết bài viết này.

 

Các tổ chức chính trị, tôn giáo cũng đã đua nhau lên tiếng góp ý về chuyện sửa đổi Hiến pháp. Có cả tổ chức lên tiếng kêu gọi “Đấu tranh đòi nhà cầm quyền cộng sản phải tổ chức tại VN một cuộc Trưng Cầu Dân Ý có quốc tế giám sát”.

 

Những “nhà phản kháng có ‘lai-sân’”, những “nhà phản tỉnh có bằng cấp” đã lên giọng kẻ cả “chê“TBT Nguyễn Phú Trọng là hồ đồ”, ca tụng đây là “một cuộc biểu tình rất độc đáo, có hang nghìn người mà không cờ xí, không băn-rôn, không hò hét ầm ỉ. Một cuộc biểu tình của đồng bào trong nước và ngoài nước cùng đứng chung trong một đội ngũ hùng hậu dưới những khẩu hiệu chung, bề ngoài có vẻ bình thường nhưng thục chất có tính cách mạng”…

 

Có “nhà tranh đấu lừng danh” còn khẳng định như đinh đóng cột: “CSVN sẽ tự sát nếu… không hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp (sic!)”.

 

Bài viết sau đây sẽ trình bày chủ trương, đường lối của đảng CSVN về chuyện hủy bỏ điều 4 Hiến pháp, chuyện đa nguyên, đa đảng của đảng CSVN trong quá khứ; để từ đó, chúng ta sẽ suy đoán ra kết cuộc của Phong Trào “Lời Tuyên Bố Công Dân Tự Do” đã và đang được một vài tổ chức, đảng phái khua chiêng, going trống trên các phương tiện truyền thông.

*

“Đảng ta là đảng ‘thần tiên’

‘Đa… lô’ thì được, đa nguyên thì đừng!”

 

Câu thơ theo trường phái Bút Tre diễn tả y chang cái tình cảnh của Đảng CSVN hiện nay trước đòi hỏi tự do, dân chủ, đa nguyên, đa đảng của toàn dân.

 

Câu trả lời dứt khoát của những lãnh đão đảng CSVN là: Không! Không bao giờ có đa nguyên, đa đảng gì sốt cả!

 

Trần Văn Giàu, lý thuyết gia Mác-xít thời Hồ Chí Minh, đã nói lên điều này trong cuộc hội thảo “Về công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em và ở Việt Nam” vào ngày 7 tháng 1 năm 1990, tại nhà văn hóa Lao Động thành Hồ, nhân dịp phong trào đòi Tự Do Dân Chủ ở Ba Lan, Tiệp Khắc bùng nổ; và người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại đòi đa nguyên, đa đảng. Trần Văn Giàu đã nói như sau:

 

“Chúng ta tự giải phóng chúng ta, Đảng ta lãnh đạo không có ai chối cãi, mà cái thời đại đó cũng không ai tranh giành từ 1930 đến 1945, cho đến năm 1975, không ai đứng ra tranh giành, không có ai tuyên truyền cho đa đảng để mà chống Pháp, chống Mỹ cả, bởi vì chống Pháp, chống Mỹ là chết, có gan chịu chết mới tìm ra sự sống, mà trong sự chết đó, chỉ có một mình anh Cộng Sản là có gan, và có tài đứng ra tổ chức cách mạng bằng kháng chiến mà thôi… Bây giờ Âu Châu rục rịch, Pháp Mỹ tuyên truyền to, họ đăt vấn đề đa đảng nghĩa là họ muốn giành cái gì đó, mà giành cái quyền hồi trước 75, trước 45 nghĩa là giành cái quyền chết cho dân tộc! Còn bây giờ là giành cái quyền… hưởng lợi trong hòa bình, trong sự xây dựng, họ không thành công đâu. Tuy vậy, tuy rằng ở Việt Nam sẽ không có cái chuyện như Thiên An Môn đâu, không có đâu, sẽ không có một trăm mấy mươi đảng như Hungary đâu, sẽ chỉ có mình đảng Cộng Sản mà thôi, nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam biết cái tình hình, biết cái khó khăn, sửa đổi, đổi mới, phải đổi mới…”

 

“Đó, mọi sự đã rõ như ban ngày. Đòi đa nguyên, đa đảng là “giành cái quyền hưởng lơi trong hòa bình”. Thì ra sự cai trị độc đảng như hiện nay là vì cái ăn, cái lợi. Những người chủ trương hoà giải, hoà hợp nên đọc kỹ đoạn này. Chính những người Cộng Sản khi chiến tranh còn là đồng chí với nhau, nay hòa bình họ ngồi lại với nhau để hưởng lợi. Khi chia lợi không đồng đều, họ còn chắng tiếc tay hạ sát nhau. Huống chi là quý vị chưa nếm mùi nguy hiểm như họ, nay tiệc dọn ra, muốn đập đuôi nhảy vào… chia bớt phần của họ, nếu quý vị bị họ “thịt” ra để khẩu phần của họ không giảm sút thì việc ấy xét ra cũng chẳng có gì bất công cho lắm đâu. Bởi vì, chẳng những họ phải bảo vệ món ăn của người Cộng Sản không nhỏ bớt, và họ còn dùng “thịt” của quý vị để là khẩu phần họ to lên. Rốt cuộc, “thịt” mà quý vị muốn hiến dâng cho dân tộc, chỉ rơi vào miệng thứ hùm mà quý vị tưởng là đang ngủ, thấy nó đẹp và hiền như loại mèo nhà, nên âu yếm vuốt râu, dẫn chúng cùng đi, mong làm vui mắt thiên hạ; không dè, đó chỉ là con hùm vờ ngủ… có tim!”.

(Trích “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ” tiểu luận của Nguyễn Việt Nữ, trang 266).

*

Thực ra không cần phải nhân dân đòi hỏi phải đa nguyên, đa đảng mà chính là đảng CSVN đã cho “ra đời” và đã “xoá sổ” hai đảng Xã Hội (do Nghiêm Xuân Yêm làm Chủ tịch) và đảng Dân Chủ(do Nguyễn Xiển làm Chủ tịch, Hoàng Minh Chính làm Tổng Thư ký) sau khi xét thấy bất lợi cho đảng!

 

Xin mời độc giả nghe Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường giải thích về chuyện ra đời và dẹp bỏ 2 đảng này như sau:

 

“… Như đồng chí đã biết, Đảng ta đã lập ra đảng Xã Hội và đảng Dân Chủ. Đảng Xã Hội dành cho bọn trí thức và đảng Dân Chủ dành cho bọn tư sản. Đồng chí cũng biết rằng Đảng không làm điều gì mà không cân nhắc kỹ. Những người mác-xít cố chấp có thể trách ta đã xây dựng những đảng phái sai trật hẳn với quan niệm mác-xít của một đảng chính trị.

 

Rằng hai đảng này không đáp ứng đúng đòi hỏi mác-xít, chúng ta xin lỗi, nhưng ta có cái lý của ta. Trước Cách mạng, trường Pháp đào tạo ra nhiều thế hệ trí thức đã theo ta trong kháng chiến. Nhưng trong 10 năm kháng chiến, trường Pháp còn đào tạo thêm những thế hệ trí thức khác. Khi trở về Hà Nội, một số đã bỏ ta, đi làm, đi học ở nước ngoài. Đối với những kẻ ở lại, ta không thể bỏ rơi họ. Trước hết, vì lợi ích của chính họ, giúp họ theo kịp những tiến bộ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của ta. Sau nữa, khi trở về Hà Nội sau mười năm kháng chiến, ta vấp phải một tầng lớp dân chúng quá quen nghe nói đến tự do và nhân quyền; vì không muốn lộ bộ mặt chậm tiến, nên ta phải nói cùng thứ ngôn ngữ với bọn thực dân Pháp cũ. Ta phải giả đò tôn trọng quyền của người dân được xây dựng những đảng phái chính trị để bảo vệ quyền lợi của họ. Sau cùng, về mặt đối ngoại, chúng ta phải bảo đảm với dư luận thế giới, về những tự do chính trị mà chúng ta sẽ cho dân hưởng sau khi người Pháp đi khỏi. Nhưng dĩ nhiên là dưới cái bề mặt phỉnh gạt ấy, chúng ta không thể mất cảnh giác, mà phải tiếp tục điều khiển hai cái đảng mà chúng ta gọi là “anh em” từ lúc chúng ta mới dựng chúng nên và trong suốt thời gian chúng còn hoạt động.”…

 

(Trích “Tiếng vọng trong đêm”, bản dịch của Thụy Khuê).  

 

Và, như đã biết, đảng CSVN đã khai tử hai đảng Dân Chủ và Xã Hội. Xin mời nghe hai nhân vật trong truyện “Tiếng Vọng Trong Đêm” của Tiến sĩ Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nói về chuyện này:

 

“-Anh nghĩ sao về việc kết án tử hình hai đảng anh em mà đảng cộng sản là cha đẻ và cha nuôi?

 

-Thực ra thì tôi thấy không cần phải bóp cổ hai đứa con mà đảng cộng sản đã cho ra đời. Đó là những hài nhi ngoan ngoãn khó bì, giữ trò con rối tuyệt vời.

Những máy người này được vo dầu mỡ tốt đến độ chúng chạy hay như những người máy. Đó là những máy hát thời xưa chỉ biết đọc những đĩa cũ.

 

Mặc dù hai đảng anh em biểu thị rõ đặc điểm câm và ỳ, nhưng chúng vẫn là những đảng chính trị có thể làm lợi cho phong trào đa nguyên đa đảng. Vì vậy đảng Cộng Sản thấy cần phải khẳng định sự độc quyền lãnh đạo.

 

-Đi từ thực tế Việt Nam, chúng ta thử trình bầy sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản:

 

Một cái đảng giữ độc quyền lãnh đạo khai trừ tất cả những đảng khác, là hình ảnh một kỵ sĩ phi ngựa một mình. Quyền lực của nó là tuyệt đối, nó không lệ thuộc vào bất kỳ điều kiện nào. Nó không cần ai làm cố vấn, không cần hỏi ý kiến người khác. Không thể làm gì nếu không có lệnh của nó và tất cả mọi lệnh mà nó ban ra phải đuợc thi hành. Nó không chịu bất cứ sự kiểm soát nào. Nó cho phép, thậm chí khuyến khích tung hô những cái hay mà nó làm, nhưng cấm phán đoán và phê bình những cái dở do nó gây ra. Luật pháp diễn tả ý nguyện của dân, nhưng cái đảng này nó ở trên luật pháp và ở trên dân. Không một thẩm quyền nào có thể xử án cái đảng, bởi vì nó không thể tạo ra một tòa án để xử chính nó. Nó có thể ra lệnh cho thuộc dân của nó phải tự kiểm thảo, nhưng bản thân nó không làm. Không có con đường kháng cáo nào chống lại một trong những quyết định bị dân kêu ca của nó. Chỉ có nước chờ sự phán xét của Thượng Đế! Nhưng cái đảng còn ở trên Thượng Đế!

 

Khuyết tật cơ bản của chế độ này là kẻ cầm quyền, khi cần quyết định, không thể lựa trong một số biện pháp khác nhau đã được tuyển chọn, mà hắn chỉ có một biện pháp duy nhất là của chính hắn, mà chưa chắc đã hay.

 

Người ta có thể phản bác rằng Lãnh Tụ thế nào cũng chả hỏi ý kiến những nhân vật trong Bộ Chính trị, trong Ban Bí Thư, trong Ủy Ban Trung Ương Đảng. Nhưng đừng nên quên rằng, trong Đảng bao trùm một không khí kỷ luật sắt và sự lo sợ bị trừng phạt và tham vọng được thăng quan tiến chức và được hưởng đủ loại ân huệ bổng lộc, từ nhà ở, lương bổng, đến những công vụ béo bở ở nước ngoài, rồi những lợi lộc mà con cái được hưởng, và sự sợ hãi cũng như tham vọng làm tê liệt cái lưỡi của hơn một người cộng sản và giải thích tại sao tất cả các thuộc hạ khi được Lãnh Tụ hỏi ý kiến luôn luôn nghiêng mình với nụ cười và tuyên bố kinh ngạc trước trước thiên tài và sự thông bác của Lãnh Tụ!

 

Người dân cũng vậy, không thể nào khác, một khi có vinh hạnh được Đảng hỏi đến!

 

Lãnh Tụ có thể than thở như Moise: "Tôi đầy quyền lực nhưng cô đơn”, nhưng hắn không thể chờ đợi một sự cứu trợ nào của Thuợng đế bởi vì chính hắn là Thuợng đế trong xứ sở của hắn. Hắn bị cấm cố chung thân trong cô đơn!”

 

Và nhân vật tiểu thuyết “Tiếng vọng trong đêm” của Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường nhận xét như sau:

 

“Hai cuộc Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản dẫn tới sự tịch thu đơn thuần ruộng đất trong tay địa chủ ở thôn quê và nhà cửa trong tay gia chủ ở thị thành. Cuộc cách mạng hoàn tất năm 1945 tự nhận là vô sản. Những người cách mạng vô sản không những thiếu văn hoá trí thức, lại cũng không có động sản và bất động sản nữa, có nghĩa là họ không thể cai trị một xứ sở, điều khiển một dân tộc. Không thể đòi hỏi gì ở những người bụng rỗng, quần áo rách, không có cơm ăn, không có nhà trú qua đêm. Khi người ta thiếu tiền, người ta lấy ở chỗ có. Đó là ăn cắp và trong một xã hội có luật, có cảnh sát, thì sẽ bị bắt, bị tù. Nhưng những người cách mạng vô sản nào có coi luật lệ ra gì: họ chỉ cần tuyên bố trắng rằng sở hữu là ăn cắp! Rằng những người có đất có nhà đồng lõa với phản động, rằng tất cả phải biết câu: lấy của kẻ cắp không phải là ăn cắp! Về phương diện kỹ thuật thì chỉ cần ban sắc lệnh bãi bỏ sở hữu cá nhân. Là xong trò!”

 

(Trích “Tiếng vọng trong đêm, bản dịch của Thụy Khuê, trang 96-97).

*

Súng của nông dân đã nổ và máu của công an và bộ đội đã đổ trong vụ cưỡng chế đầm thủy sản của Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng!

 

Súng của công an đã nổ và máu của nhân dân đã đổ trong vụ cưỡng chế đất ở Văn Giang!

 

Hai phụ nữ miền Nam đã phải khỏa thân để chống lại Đảng và Nhà nước đã cưỡng chế ruộng đất của họ.

 

“Dân oan” Đặng Thị Kim Liêng (mẹ của Blogger Tạ Phong Tần, người phụ nữ vốn là một Sĩ quan Công An của VC đã dũng cảm lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền đã bị CSVN kết án 12 năm tù vừa được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vinh danh là 1 trong 10 phụ nữ dũng cảm nhân Ngày Phụ Nữ Quốc Tế 8-3) đã tự thiêu vì bị cưỡng chế đất đai…

 

Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất thập niên 50 lại tái diễn khốc liệt trong Chiến dịch Cưỡng Chế Ruộng Đất hiện nay!

 

Trong thập niên 50, Đảng lấy ruộng đất từ địa chủ trao cho nông dân;

Những năm đầu thế kỷ 21, Đảng CSVN xoay ngược 180 độ: dùng bạo lực chuyên chính lấy đất ruộng từ nông dân giao cho “những địa chủ đỏ” vốn là “những kẻ tự xưng là những người cách mạng vô sản” dạo nào!

 

Qua những việc làm này, Đảng CSVN đã hiện nguyên hình là “một đảng mafia có giấy phép!  

 

Và, điều 4 Hiến pháp chính là cái giấy phép của đảng Mafia Việt Cộng!

 

Do đó, nếu cần thiết, CSVN sẽ chấp nhận có đa nguyên, đa đảng - như trước đây đảng CSVN đã có đảng Xã Hội và đảng Dân Chủ; nhưng phải chịu sự chỉ đạo của đảng CSVN.

 

Còn chuyện hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp để đảng CSVN trở thành một đảng mafia không có giấy phép thì đừng có hòng!

 

 

LÃO MÓC

Chó Má và Thuế Má


 

 

Chắc chắn, không ở nơi đâu (từ hơn nửa thế kỷ qua) mà người dân bị thôi thúc và ép buộc đóng góp công sức, cũng như xương máu, cho hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác – như ở Việt Nam. Cũng không nơi đâu mà giới cầm quyền hoàn toàn vô trách nhiệm như ở xứ sở này.

 

   

 

 

 

 

 


 

BA CAY TRUC


Bảng quảng cáo

  • Tăng kích thước chữ

 

  • Kích thước chữ mặc định

 

  • Giảm kích thước chữ

tìm kiếm...

Thứ Hai 11/03/2013

Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

Chó Má & Thuế Má


Tưởng Năng Tiến

EmailIn

 

Chó Má và Thuế Má

 

Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già
Tố Hữu

 

Khi đề cập đến cái chết của nhạc sĩ Trúc Phương, có nhà văn đã viết đôi dòng (chắc) bằng nước mắt:

Đã có một thời, sống ở trong nước, người ta sợ cả gặp nhau vì không muốn nhìn thấy nhau trong cảnh quá đỗi tang thương. Đôi khi nghe tin ai đó chết, người ta có thể chảy nước mắt khóc nhưng cũng có phần mừng cho người ấy không phải sống nữa.”  (Nguyễn Đình Toàn.Bông Hồng Tạ Ơn, 2nd ed. Westminster: T &T, 2012. Vol.1).

Trúc Phương trút hơi thở cuối cùng vào năm 1996, ở bến xe xa cảng miền Tây,  trên một manh chiếu rách – theo như tường thuật của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:” Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân.”

Và cái thời “quá đỗi tang thương” mà chúng ta “có phần mừng” khi nghe một người nào đó qua đời (vì họ “không phải sống nữa”) dường như vẫn chưa qua. Hay nói chính xác hơn là nó đang quay trở lại. Điều này có thể cảm nghiệm được sau cái chết của một công dân Việt Nam, tại vườn hoa Lý Tự Trọng (Hà Nội) theo như tin loan của RFA – nghe được vào hôm 17 tháng 11 năm 2012:

“Công An TP. Hà Nội cho báo giới biết nguyên nhân tử vong của cụ bà Hà Thị Nhung hôm tối 12/11 là do tai biến mạch máu não. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hà Nội sẽ không mở rộng điều tra hay khởi tố hình sự vụ án do không có căn cứ và dấu hiệu tội phạm hoặc sai phạm của cá nhân hay tổ chức nào.

 Bà Hà Thị Nhung, 75 tuổi, ở Thanh Hóa ra Hà Nội từ ngày mùng 10/11 để căng biểu ngữ khiếu kiện về chế độ lương hưu của bà. Nhiều người chứng kiến kể lại là sau khi hai dân quân xốc nách và đẩy bà cụ Hà Thị Nhung, bà cụ ngồi xuống và từ từ ngã ra và sau đó tử vong.

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, bản tin của Thông tấn xã Việt Nam bác bỏ tin nói cụ bà Hà Thị Nhung bị tử vong sau khi có xô xát với lực lượng công an bảo vệ. Thông tấn xã Việt Nam trích lời của công an Hà Nội khẳng định cái chết của cụ bà Hà Thị Nhung là vì tuổi cao và bà này bị cảm.”

 

Bà Hà Thị Nhung. Ảnh Facebook

Bà Hà Thị Nhung. Ảnh Facebook

 

Sống (thường) không dễ, dù ở nơi đâu và thời nào cũng thế. Tuy thế, cuộc đời (hình như) luôn luôn chỉ là một cơn mộng dữ đối với rất nhiều người cao tuổi ở Việt Nam – nơi mà Nhà Nước không hề có một chương trình phúc lợi cụ thể nào dành cho những công nhân lão hạng hay phế tật, kể cả giới thương binh/liệt sĩ và thân nhân của họ.

Cho đến nay (có lẽ) chưa hề có một một quan chức, hay giới chức dân cử nào đặt vấn đề xem giới người già ở Việt Nam đang sống ra sao – dù những hình ảnh quá đỗi thương tâm của họ vẫn xuất hiện đều đặn hàng ngày trên những cơ quan truyền thông, từ nhiều năm qua:

Ảnh và bài Hà Long – Nguyễn Sáng: Báo Đất Việt

Ảnh Hà Long – Nguyễn Sáng: Báo Đất Việt

Cụ Đinh Thị Hạnh, 82 tuổi, lưng còng, tóc bạc trắng, đôi mắt sâu hoắm đục mờ, hằng ngày cụ ngồi bên chiếc cân nhỏ trước tiệm bách hóa Thanh Xuân, đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân (Hà Nội), đợi khách. Đêm xuống, vỉa hè, công viên, chân cầu là “nhà”, miếng bạt, tấm giấy là “chiếu”. Cứ thế, 24 năm nay cụ đã sống lay lắt qua ngày…

Hỏi một mai cụ đi về đâu? Ánh mắt của cụ thoáng buồn nhìn xa xăm vô định: “Trời cho sống ngày nào hay ngày đó, trước lúc nhắm mắt tôi muốn hiến xác cho y học để cứu người”.

Ảnh và bài Kiều Minh: phapluattp.

Ảnh và bài Kiều Minh: phapluattp.

 Cụ Đình 91 tuổi. Bà đi bằng chân đất, trong khi cái rét mùa đông vẫn còn dùng dằng xói vào da thịt dù trời đã sang xuân, hỏi bà sao không đi giày cho ấm chân, bà bảo ”đi chân đất thôi, đi giày chân yếu ngã chúi mũi chết”. “Nhà cháu ngã mấy lần rồi, có hôm đi bán bị ngã đổ hết cả rau, đi chân đất tuy lạnh nhưng chắc chân”, bà kể…

 Hỏi bà “ông nhà đâu?”, bà kể, “ông cháu” (tức chồng của bà – PV) mất lâu rồi, bà ở vậy nuôi con từ năm 26 tuổi, lúc đó, con lớn lên 3, đứa bé nhất mới đẻ. Hỏi bà sao bà không đi bước nữa, bà bảo, khổ lắm, chồng mất bà gồng gánh nuôi “5 cái mồm” (4 mẹ con và bà mẹ chồng – PV) nên phải làm đủ việc, phải đi hót phân trâu, nuôi bò, cấy thuê rất giỏi…

Nowy obraz (5)

Cụ Vũ Văn Chanh 93 tuổi, ở làng Xa Vệ, xã Hoằng Trung (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) mài dao kiếm sống. Ông Đào Minh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Hoằng Trung cho biết, hoàn cảnh cụ Chanh rất thương tâm. Con cháu đều rất khó khăn nên đã gần trăm tuổi, lưng còng sát đất mà cụ vẫn phải đi mài dao mưu sinh. Hiện cụ Chanh được nhà nước hỗ trợ 180.000 đồng một tháng theo chính sách dành cho người cao tuổi.

“Cả đời cụ không biết đến căn nhà cố định. Địa phương đã lập danh sách hỗ trợ cụ làm nhà, nhưng năm 2011 chính sách hỗ trợ hộ nghèo làm nhà lại bị tạm dừng nên chưa giải quyết được. Chúng tôi đang lên kế hoạch, sắp tới sẽ dành một phần ngân sách và kêu gọi nhân dân, các nhà hảo tâm chung tay xây nhà cho cụ”, ông Tuấn nói.

 

Ảnh và bài: Tiến Tâm – Cẩm Lệ: vtc.vn

Ảnh và bài: Tiến Tâm – Cẩm Lệ: vtc.vn

Cụ Nậy 93 tuổi. Đã sống cùng cô đơn, khổ đau và bệnh tật qua hai thế kỷ, từng nếm trải đủ sự khốc liệt của chiến tranh, sự hà khắc của tư tưởng phong kiến, sự đau đớn của một người mẹ mất con, giờ đây khi đã vào cái tuổi 93 tưởng như mệ (bà) Nậy đã bị thời gian làm cho quên lãng bao đau khổ của một kiếp người nhưng giờ mệ vẫn sống, vẫn miệt mài lao động bằng chính sức của mình và vẫn nhớ những chuyện đã qua.

Một ngày từ nhà mệ ra đến chợ người bình thường đi không quá 15 phút nhưng mệ đi có khi hơn 2 tiếng. “Trời nắng cũng như trời mưa chẳng ai dám chở mệ cả, tuổi già sức yếu lỡ may ngã ai chịu”, mệ tỏ ra rất minh mẫn.

Như ngày hôm nay, mệ xin được 14.000 đồng và về nhà dù còn khá sớm. Mệ bảo chỉ xin chừng ấy là đủ rồi, mệ không muốn xin nhiều hơn. Mệ giải thích: “14.000 đồng này, mệ ăn 3.000 đồng, 1.000 đồng để mua nước, còn 10.000 đồng mệ để dành lại… mua hòm (tức quan tài). Mệ đã gửi bên Hội bảo thọ một triệu tiền hòm rồi. Hiện mệ phải để dành thêm 2 triệu nữa là 3 triệu cộng với thuê một chuyến xe 500 nghìn là đủ đưa mệ… đi. Mệ không muốn phiền ai cả”.

(*) Mọi sự giúp đỡ về vật chất cho cụ Nậy xin gửi về:
Trung tâm Truyền thông VTC (VTC Media)
Tài khoản 0651100107008
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, Chi nhánh Hai Bà Trưng, Hà Nội

Ảnh và bài: Dương Lãng Hoàng: vtc.vn.

Ảnh và bài: Dương Lãng Hoàng: vtc.vn.

Cụ Phan Thị Yến 88 tuổi. Gần 30 năm, từ cái thời Hà Nội còn ầm ầm tiếng súng và đinh tai những đợt bom Mĩ rền, trên con phố Bảo Khánh đối diện ngay Hồ Gươm, có một cụ bà chung thủy với quán nước chè, hằng ngày mò mẫm mưu sinh cho mình và cả gia đình.

(*)Mọi sự giúp đỡ về vật chất cho cụ Yến xin gửi về:
Trung tâm Truyền thông VTC (VTC Media)
Tài khoản 0651100107008
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, Chi nhánh Hai Bà Trưng, Hà Nội.

-  Cụ Nguyễn Thị Đắp 94 tuổi, sinh năm 1917 tại Hà Nam, 17 tuổi cụ Đắp theo chồng về làm dâu cùng xã. Rồi lần lượt sinh hạ được 3 người con. “Thằng Bản con trai cả năm đó 18 tuổi, cao lớn và khỏe lắm. Nó xin mẹ tòng quân vào chiến trường Quảng Trị đánh giặc, bao giờ chiến thắng nó mới trở về. Những ngày đầu nó còn viết thư kể cho mẹ nghe ở trong này vui lắm. Lập được nhiều chiến công, bắn rơi được nhiều máy bay địch. Nhưng nó đi biệt không về nữa”, cụ Đắp ngậm ngùi nhớ lại…

Năm 1957, người con trai út – anh Nguyễn Văn Hậu – ra đời nhưng không may mắc phải chứng bại não và liệt toàn thân. Rồi người chồng cũng bỏ cụ ra đi sau đó không lâu. Cụ Đắp cố chạy vạy thuốc thang mang Hậu đi chữa trị khắp nơi nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Từ đó đến nay mấy chục năm, một tay cụ chăm sóc, lo toan cho đứa con bất hạnh.

Ngày nắng cũng như mưa, cụ Đắp lặn lội ngược xuôi kiếm bát gạo, đồng tiền lo thuốc thang cho Hậu. Cụ bảo: “Ngày trước ai thuê cái gì thì làm nấy từ phụ hồ, chăn trâu cắt cỏ, đi cày thuê… Nhưng hơn 30 năm nay, kể từ khi đôi mắt bị mù lại thêm căn bệnh phong, bệnh thấp khớp lúc trái gió trở trời hành hạ nên chẳng làm được gì nữa..”

Chỗ ở bây giờ của hai mẹ con cũng là do các tổ chức làng xã quyên góp xây cho.

Bà Hoàng Thị Mây – Chủ tịch UBND xã Liên Sơn cho hay: “Tuổi cao sức yếu, hoàn cảnh gia đình mẹ Đắp rất khó khăn. Hiện tại mẹ bị mù cả hai mắt nhưng vẫn phải nuôi con bại não, nằm liệt giường. Với số tiền trợ cấp hàng tháng cho mẹ liệt sĩ và hỗ trợ cho đứa con tật nguyền không thể đủ trang trải cuộc sống. Chính quyền xã thường xuyên qua lại thăm hỏi gia đình mẹ để động viên, giúp đỡ. Mới đây, xã cũng đã sửa lại cho mẹ căn nhà để mẹ được sống những ngày còn lại”.

(*) Độc giả hảo tâm xin gửi giúp đỡ về Cụ Nguyễn Thị Đắp, thôn Do Lễ, xã Liên Sơn, Kim Bảng, Hà Nam.

Ảnh: Dân Luận

Ảnh: Dân Luận

Chắc chắn, không ở nơi đâu (từ hơn nửa thế kỷ qua) mà người dân bị thôi thúc và ép buộc đóng góp công sức, cũng như xương máu, cho hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác – như ở Việt Nam. Cũng không nơi đâu mà giới cầm quyền hoàn toàn vô trách nhiệm như ở xứ sở này.

Việt Nam, có lẽ, là quốc gia duy nhất mà “lòng hảo tâm” được dùng thay cho một đạo luật về anh sinh xã hội để qui định (hẳn hòi) mọi thứ phúc lợi đối với những công dân lão hạng, những người phế tật, những thương binh/ liệt sĩ và thân nhân của họ.

Đất nước này, xem ra, cũng là nơi duy nhất mà người dân có thể bị cầm tù (thay vì xử phạt) với tội danh trốn thuế – dù có lẽ đến Trời cũng không thể biết  là bọn chó má đã xử dụng thuế má của người dân đóng góp ra sao, từ hơn nửa thế kỷ qua?

Tưởng Năng Tiến

 

Những bài học về cuộc chiến Việt-Trung 1979


 

Những bài học về cuộc chiến Việt-Trung 1979


 

Cảnh sát biên phòng Trung Quốc ngăn các phóng viên chụp hình tại cửa khẩu Thiên Bảo ở tỉnh Vân Nam, đối diện với cửa khẩu Thanh Thủy của Việt Nam.C
 
Cảnh sát biên phòng Trung Quốc ngăn các phóng viên chụp hình tại cửa khẩu Thiên Bảo ở tỉnh Vân Nam, đối diện với cửa khẩu Thanh Thủy của Việt Nam.

 


26.02.2013

Cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1979 là cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai nước trong thời hiện đại; là một trong hai cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa (cuộc chiến kia là giữa Việt Nam và Campuchia năm 1978); là một trong những cuộc chiến tranh ngắn ngủi nhất trên thế giới (tính từ ngày Trung Quốc bắt đầu tấn công Việt Nam 17/2 đến lúc Trung Quốc tuyên bố kết thúc cuộc tấn công 5/3 là 17 ngày; đến ngày Trung Quốc rút hết quân khỏi Việt Nam, 16/3, là 27 ngày), nhưng đồng thời cũng là một trong những cuộc chiến tranh đẫm máu nhất, với trên 20.000 người bị giết chết mỗi bên; (nếu chia đều số người bị chết này cho thời gian thực sự của cuộc chiến, con số tử vong hàng ngày rất cao).
 
Đó là chưa kể các thiệt hại khác về cơ sở vật chất và đời sống của dân chúng.

Tại sao Trung Quốc, nước từng viện trợ cho Việt Nam trên 20 tỉ đô la suốt cả cuộc chiến tranh trước 1975 lại quyết định tấn công Việt Nam? Họ thường nêu lên bốn lý do chính: Một, đập tan giấc mộng bá quyền của Việt Nam ở Đông Nam Á; hai, trừng phạt Việt Nam về tội quấy phá ở vùng biên giới của hai nước; ba, trả thù việc Việt Nam đối xử tàn tệ đối với các Hoa kiều (trấn áp, tịch thu tài sản và xua đuổi họ ra khỏi nước); và bốn, dằn mặt việc Việt Nam ký hiệp ước liên minh với Liên Xô để mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
 
 
Các nhà bình luận chính trị quốc tế nêu lên ba mục tiêu chính của Trung Quốc: Một, tấn công có giới hạn một số vùng đất dọc biên giới để trừng phạt Việt Nam; hai, tạo sức ép để Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia; và ba, để Việt Nam - và từ đó, các nước khác - hiểu là không thể tin cậy vào sự liên minh với Liên Xô, từ đó, có thể cắt đứt mối liên minh ấy để quay về với Trung Quốc.

Trung Quốc thành công hoàn toàn ở mục tiêu đầu, dĩ nhiên với một giá rất đắt về nhân mạng. Nhưng hai mục tiêu sau thì họ lại thất bại: Việt Nam không những không rút quân khỏi Campuchia mà còn đóng chiếm ở đó trên 10 năm; Việt Nam không những không bất mãn Liên Xô mà còn tiếp tục giữ liên minh chặt chẽ với Liên Xô đến tận lúc Liên Xô sụp đổ vào năm 1990.

Đối với cuộc xâm lược của Trung Quốc, bộ máy tuyên truyền của Việt Nam có hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau: Trước, họ lên án Trung Quốc một cách kịch liệt; sau, họ hoàn toàn im lặng và bắt buộc mọi người phải im lặng theo.
 
 
Trước, họ xem Trung Quốc như một tên đế quốc luôn luôn có tham vọng bá quyền và bành trướng; sau, họ lại xem Trung Quốc là một láng giềng tốt và một đồng chí tốt. Ở cả hai giai đoạn và với hai thái độ khác nhau ấy, Việt Nam đi từ cực đoan này sang cực đoan  khác. Và cực đoan nào cũng nguy hiểm như nhau. Cái nguy hiểm nhất là chúng ngăn chận người ta học được những bài học cần thiết.

Trong số những bài học cần thiết ấy, theo tôi, bài học đầu tiên cần được nhấn mạnh là: Đừng ngây thơ.

Quan sát và/hoặc tìm hiểu cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hầu như mọi nhà nghiên cứu đều ghi nhận một điểm giống nhau: Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ trước sự tấn công của Trung Quốc.
 
Lúc lính Trung Quốc tràn qua biên giới Việt Nam, lực lượng phòng thủ của Việt Nam chủ yếu là bộ đội địa phương; còn trong giới lãnh đạo thì cả Phạm Văn Đồng lẫn Văn Tiến Dũng đều đang đi thăm Campuchia. Trong cuốn Bên thắng cuộc, Huy Đức kể, những người được phỏng vấn về cuộc tấn công ấy cũng đều cho là Việt Nam hoàn toàn không chuẩn bị trước.
 
 
Với giới quan sát và nghiên cứu, cảm giác bất ngờ của Việt Nam quả là điều… bất ngờ. Nhiều người kể, ngay trước năm 1975, Lê Duẩn vừa nhận viện trợ của Trung Quốc lại vừa nghi ngại Trung Quốc; sau năm 1975, ông cũng biết rõ là nếu Việt Nam tấn công Campuchia, Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam. Vậy mà, lạ, lúc Trung Quốc tấn công Việt Nam, ông cũng như toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam vẫn thấy bất ngờ. Tại sao? Người ta giải thích: Giới lãnh đạo Việt Nam vẫn tin là Trung Quốc chỉ doạ dẫm chứ sẽ không đánh họ; vẫn tin là tình đồng chí giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, tuy bị thử thách nghiêm trọng, vẫn đủ để ngăn chận một cuộc xâm lược.

Kể ra, sau khi đã từng bị Campuchia, một nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, tấn công và sau khi đã dẫn quân tràn qua biên giới càn quét người anh em xã hội chủ nghĩa ấy, mà vẫn còn tin như thế được quả là một sự ngây thơ đáng kinh ngạc. Ngây thơ đến dại dột.

Nhưng ở đây, có đến hai sự ngây thơ. Ngoài sự ngây thơ đối với tình đồng chí xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, còn có sự ngây thơ đối với tình đồng chí của Liên Xô. Trước đó, Việt Nam đã từng ký kết hiệp ước hữu nghị và hợp tác quốc phòng với Liên Xô, những tưởng Liên Xô sẽ ra tay bảo vệ Việt Nam trước sự xâm lược của Trung Quốc.
 
 
 Chính Trung Quốc cũng tưởng như vậy nên, để hoá giải sự trả đũa của Liên Xô, họ đề ra ba sách lược chính: Một, đi vận động sự ủng hộ của Mỹ, Nhật và các nước Đông Nam Á cho chiến dịch đánh Việt Nam, để các nước này, sau đó, có thể ủng hộ họ trong trận đối đầu với Liên Xô nếu Liên Xô nhảy vào bênh vực Việt Nam; hai, tuyên bố cuộc chiến tranh nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” chỉ là một cuộc chiến tranh giới hạn về cả quy mô (không dùng không quân), mục tiêu (chỉ nhắm tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam khoảng vài chục cây số) và thời gian (trong vòng vài tuần) để Liên Xô không có cớ chính đáng gây chiến với Trung Quốc; và ba, chọn thời điểm mở đầu cuộc tấn công vào giữa tháng Hai để, một mặt, tránh được mùa mưa (thường bắt đầu vào tháng Tư) và, mặt khác, đã qua hết mùa đông - băng trên các dòng sông dọc biên giới Trung Quốc và Liên Xô đã tan chảy hết - , tránh tình trạng Liên Xô có thể dễ dàng xua quân tràn qua mặt sông đóng băng cứng để tấn công Trung Quốc.
 
 
Nhưng cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều đoán sai. Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới đánh chiếm Việt Nam, Liên Xô vẫn án binh bất động.

Bởi vậy, ngay sau khi chiến tranh biên giới bùng nổ, giới bình luận chính trị trên thế giới đều nhận ra một điều: quyền lợi quốc gia quan trọng hơn hơn ý thức hệ nhiều. Không nên tin vào cái gọi là tình đồng chí quốc tế.

Bài học thứ hai là cần tìm hiểu kỹ hơn về Trung Quốc. Hầu như ai cũng biết: mặc dù sống sát cạnh Trung Quốc, chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc và thường xuyên đánh nhau với Trung Quốc, sự hiểu biết của Việt Nam về Trung Quốc, kể cả trong giới học giả, lại rất giới hạn.
 
Cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979 cho thấy một yếu kém nghiêm trọng khác của Việt Nam: tình báo. Lâu nay, giới truyền thông thường làm ồn ào về tài tình báo của Việt Nam ở miền Nam: Họ lọt vào cả những chức vụ quan trọng nhất trong guồng máy chính quyền miền Nam. Tuy nhiên, với Trung Quốc thì họ lại hoàn toàn mù mờ.
 
 
Từ giữa năm 1978, giới lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu bàn luận về kế hoạch tấn công Việt Nam: Họ hoàn toàn không biết. Từ cuối năm 1978, Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch tấn công: Họ cũng không biết.
 
Cũng từ cuối năm 1978 và đầu năm 1979, Trung Quốc liên tục đàm phán với Mỹ, Nhật và một số nước Đông Nam Á, như Thái Lan và Malaysia, về việc tấn công Việt Nam: Họ cũng không biết. Tệ nhất là sự kiện: để điều động trên 300.000 quân với vũ khí và lương thực đến biên giới, Trung Quốc cần ít nhất là ba tháng, với cả hàng trăm ngàn dân công: Họ cũng không biết.

Đến lúc Trung Quốc chính thức nổ súng, họ vẫn không biết gì về kế hoạch đánh mạnh, phá sạch và rút nhanh của Trung Quốc cả. Trong khi Trung Quốc chỉ đặt chỉ chỉ tiêu là tiến sâu vào khoảng 30-40 cây số, chiếm hai tỉnh lỵ Cao Bằng và Lạng Sơn là rút quân về nước ngay, Việt Nam vẫn chuẩn bị cho phòng tuyến hai, nhằm bảo vệ Hà Nội, để mặc cho dân quân và một số ít bộ đội chủ lực chống chọi với Trung Quốc ở biên giới.

Việt Nam bị hớ trong việc phòng thủ biên giới. Họ lại hớ lần nữa trong việc phòng thủ Hà Nội, nơi Trung Quốc không hề có ý định tấn công. Cả hai lần hớ ấy đều xuất phát từ một nguyên nhân: Thiếu tin tức.

Bài học thứ ba: Trong lúc giới lãnh đạo ngây thơ và hớ hênh trong chiến lược phòng thủ như vậy, những kẻ thực sự có công đầu trong việc đánh chận quân xâm lược Trung Quốc chính là các dân quân du kích và bộ đội địa phương ở các tỉnh biên giới. Toàn bộ bộ đội và du kích Việt Nam là khoảng 100.000 người trong khi bộ đội Trung Quốc lên đến khoảng 300.000 người.
 
 
Như vậy, một người lính Việt Nam phải chọi lại ba người lính Trung Quốc. Họ không đủ khả năng ngăn chận được Trung Quốc. Họ chỉ làm được hai điều: Một, làm chậm bước tiến của quân Trung Quốc; và hai, gây thiệt hại nặng nề cho lính Trung Quốc. Trong khi đó, hầu hết quân chủ lực của Việt Nam thì hoặc đang ở Campuchia hoặc đang canh giữ phòng tuyến hai gần Hà Nội.

Theo các nhà phân tích quân sự và chính trị quốc tế, sở dĩ bộ đội và du kích ở các tỉnh biên giới chiến đấu giỏi như vậy là nhờ bốn yếu tố chính: Một, họ quen thuộc với địa hình núi non hiểm trở ở vùng biên giới; hai, họ có thật nhiều kinh nghiệm chiến đấu sau hai cuộc chiến tranh kéo dài cả ba mươi năm; ba, vũ khí của họ tối tân hơn hẳn Trung Quốc (chủ yếu là nhờ nguồn vũ khí tịch thu ở miền Nam năm 1975); và bốn, tinh thần yêu nước và sự dũng cảm của họ rất cao.

Xin lưu ý: trong bốn yếu tố tạo nên ưu thế của quân đội Việt Nam năm 1979, yếu tố thứ hai và thứ ba hoàn toàn trở thành vô hiệu theo thời gian. Năm 1979 bộ đội và cả tướng lĩnh Trung Quốc bị xem là thiếu kinh nghiệm chiến đấu vì cuộc chiến tranh gần nhất mà họ tham gia là ở Triều Tiên, trước đó 26 năm (1953). Đó cũng là trường hợp của bộ đội và tướng lĩnh Việt Nam hiện nay: Cuộc chiến tranh lớn mà họ tham gia, ở Campuchia năm 1978 và ở biên giới Việt-Trung năm 1979, cách đây đã trên 30 năm.
 
 
Còn yếu tố thứ tư thì bị chính chính quyền Việt Nam ra tay đập phá triệt để bằng nhiều biện pháp khác nhau: một, ngăn cấm mọi biểu hiện của tình thần yêu nước, từ việc phát biểu bằng lời đến việc bày tỏ thái độ qua các vụ biểu tình; hai, vu khống và nhục mạ những người bộc lộ lòng yêu nước và lên án các hành động uy hiếp hay sách nhiễu của Trung Quốc; ba, ngăn cấm mọi hình thức kỷ niệm hay tưởng niệm chiến tranh chống Trung Quốc; và bốn, tuyên truyền cho một thứ chủ nghĩa đầu hàng được nguỵ trang dưới chiêu bài láng giềng tốt và đồng chí tốt.

Ở trên, tôi nêu lên ba bài học chính. Bạn thử nghĩ xem: chính quyền Việt Nam học được mấy bài?

***
Chú thích: Các sự kiện và số liệu sử dụng trong bài viết này được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, nhung nhiều nhất là từ bài “China’s 1979 war with Vietnam: A reassessment” của Xiaoming Zhang trên The China Quarterly 2005, tr. 851-874.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link