Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, April 3, 2013

Việt Nam và chuyện 'Người chăn kiến'


 

Việt Nam và chuyện 'Người chăn kiến'

Nguyễn Hùng
Nguyễn Hùng
bbcvietnamese.com
Cập nhật: 15:39 GMT - chủ nhật, 31 tháng 3, 2013
Kiến
Chuyện Người chăn kiến vẽ lên nhiều góc cạnh của xã hội VN
Nếu phải chọn một truyện thật ngắn mà lại khái quát thật sinh động một số góc của Việt Nam ngày nay, Người chăn kiến của nhà văn đoạt giải quốc tế Bùi Ngọc Tấn là ứng viên sáng giá.
Bản thân nhà văn nói ông viết chuyện siêu ngắn này chỉ trong có một ngày để gửi đi dự thi Bấm hồi năm 1993 với hy vọng sẽ đoạt giải.

Các bài liên quan

Chủ đề liên quan

Nhưng rồi chuyện không những không được giải mà còn không xuất hiện trong mục đăng những tác phẩm dự thi.
Có thể câu chuyện gói gọn trong chưa đầy 1000 chữ đã vẽ lên bức tranh quá giống với nhiều nơi trong xã hội Việt Nam hiện đại.

'Người chăn kiến'

Bấm Người chăn kiến kể câu chuyện một giám đốc đã có tuổi bị tù oan và ở cùng phòng với một buồng trưởng khét tiếng.
Ngay khi mới nhập trại, ông được vị 'đại ca' giao nhiệm vụ làm nữ thần Tự do, tức phải khỏa thân đứng trên bậc thang giáp với sân thượng của phòng giam, tay cầm một trong các món đồ tiếp tế của phạm nhân.
Ít lâu sau ông được giao nhiệm vụ chăn kiến mà mục đích cuối cùng là giữ kiến không ra khỏi các vòng tròn mà buồng trưởng đã vẽ.
"Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Ðứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như kiểu thần Tự Do."
Trích chuyện ngắn Người chăn kiến
Có hôm ông bắt được một con kiến không phải nhóm của buồng trưởng giao và xin được chăn liền bị phạt bằng cách 'làm chim':
"Ông phải rơi từ sát mái nhà xuống. B trưởng không bằng lòng với cách rơi giả vờ, rơi có chuẩn bị, rơi chân xuống trước ấy.
"Phải rơi như thật. Như bị bắn rụng thật."
Thật may mắn, vị giám đốc vẫn lành lặn và được ra tù sau bốn tháng vì người ta phát hiện ra ông bị oan.
Ông lại được giao làm giám đốc của một xí nghiệp nhưng vẫn không thể quên được thói quen chăn kiến và "thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Ðứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như kiểu thần Tự Do."

Luật rừng

Chuyện chỉ có vậy nhưng người ta có thể dùng nó như tấm gương để xã hội hiện tại soi vào.
Trước tiên là một xã hội có rất nhiều luật nhưng tại nhiều nơi luật rừng lại lên ngôi.
Cảnh cưỡng chế khu đầm nhà ông Đoàn Văn Vương hồi đầu năm 2012
Người đứng đầu công an Hải Phòng coi vụ trấn áp gia đình ông Vươn là 'trận đánh đẹp'
Trong vụ anh em nhà ông Đoàn Văn Vươn, vốn chuẩn bị được đưa ra xét xử trong tuần tới, các quan chức của cả một thành phố đã dùng luật tự chế để quản lý xã hội.
Đại tá đứng đầu ngành công an Hải Phòng công khai nói rằng người dân đã phá cái mà ông nhất quyết không gọi là nhà mà chỉ gọi là "chòi" của gia đình ông Vươn trong sự cố mà ông gọi là "một trận đánh đẹp" hồi đầu năm 2012.
Thay vì bị xử lý vì những phát ngôn và cách sử dụng lực lượng công an một cách bừa bãi, Đại tá Đỗ Hữu Ca tiếp tục tại vị để chỉ huy việc điều tra và khởi tố vụ án anh em ông Vươn "giết người".
Tới năm 2013, chỉ riêng trong tháng Ba đã có tới Bấm sáu vụ công an bị tố hành hung người dân trong đó có một vụ dẫn tới trọng thương và một vụ chết người.
Trong những vụ này, mọi điều luật của xã hội văn minh đã nhường chỗ cho luật của kẻ mạnh từ thời Trung Cổ cộng thêm vỏ bọc "thi hành công vụ" của thời hiện đại.
Những người dám đứng lên thách thức luật rừng chỉ là thiểu số.

Oan sai

Nét thứ hai của câu chuyện là những oan khiên trong xã hội giống như của vị giám đốc nọ.
"Nhiều luật sư thừa nhận rằng những tranh luận tại tòa nếu có xảy ra cũng không ảnh hưởng nhiều tới kết luận của các vị thẩm phán."
Số người phải đi chặng đường hàng chục hay hàng trăm cây số ra Hà Nội để đòi công lý ngày một nhiều và rất nhiều trong số họ lại trở về với chính những đòi hỏi mà họ mang theo.
Ở một số nước, báo chí và người dân bị cấm có những bàn thảo vốn có thể khiến các vị trong bồi thẩm đoàn có phán quyết thiên lệch.
Trong khi đó người dân Việt Nam và báo chí gần như có thể thả cửa bàn về mọi khía cạnh của bất kỳ vụ án nào.
Thứ nhất, chuyện bị kết án oan hoặc không công bằng không phải là điều lạ lẫm trong xã hội.
Thứ hai, tòa án cũng chỉ là cánh tay nối dài của nền chính trị và những phán quyết có lợi cho những người cầm quyền hoặc những người thân cận với họ không phải là điều hãn hữu.
Nhiều luật sư thừa nhận rằng những tranh luận tại tòa nếu có xảy ra cũng không ảnh hưởng nhiều tới kết luận của các vị thẩm phán.

Thói quen

Nét thứ ba, mà có lẽ là nét quan trọng nhất, người ta có thể liên hệ từ Người chăn kiến tới xã hội ngày nay là những cách làm việc độc đoán theo thói quen.
Những người Cộng sản đã quen với việc hành động theo một chủ thuyết ngoại nhập, vốn chỉ có tuổi đời ngắn ngủi so với lịch sử hàng ngàn năm của Việt Nam và cũng đã thay đổi nhiều ở chính cái nôi nó sinh ra.
Gia đình nhà ông Đoàn Văn Vươn
Quyền lợi của người nông dân, vốn chiếm đa số trong xã hội, không được đại diện đúng mức
Họ quen với việc cầm quyền không bị thách thức, phát ngôn không bị kiểm chứng và trong nhiều trường hợp "chăn" dân như "chăn kiến".
Đảng Cộng sản đã khiến người dân "mộng du" vào một xã hội mà quyền lợi của đại đa số không có người đại diện.
Đó chính là những người nông dân như anh em nhà Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng hay trong các vụ việc sau đó ở Dương Nội, Văn Giang và Vụ Bản.
Các hội đoàn như Mặt trận Tổ quốc, Quốc hội, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đều vắng bóng khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm.
Đảng Cộng sản đáng ra là đảng của giai cấp công nông, nhưng thực tế con cưng của đảng trong nhiều năm qua là các đại gia của các đại công ty và quyền lực của Đảng cũng lại chỉ thuộc một nhóm nhỏ mà đối với không ít người trong số họ quyền lợi của giai cấp công nông chỉ có ý nghĩa tượng trưng.
Người chăn kiến còn làm người ta suy nghĩ về những gì mà các chính trị gia nói và những việc họ làm sau những cánh cửa đóng kín.
Bùi Ngọc Tấn cũng khiến độc giả liên tưởng tới điều có thể được coi là sự tự cầm tù về hành vi và tư tưởng của những người mà trên thực tế hoàn toàn không bị giam cầm sau bốn bức tường.

__._,_.___

Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng


 

 

 

Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

 

POSTED BY CHUYENHOAVIETNAM   THÁNG HAI 25, 2013  2 PHẢN HỒI

Nguyễn Đắc Kiên – Nhà báo, báo Gia Đình & Xã Hội

26-02-2013

 

Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2 đưa phát biểu tại Vĩnh Phúc của TBT ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như sau: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức … Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không?
Có tam quyền phân lập không?
Có phi chính trị hóa quân đội không?
Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy.
 Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!”(*)

Bằng tất cả sự tôn trọng với người đang đứng đầu một đảng chính trị của VN, tôi xin nói với ông Nguyễn Phú Trọng vài lời như sau:

Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách.Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước.
 
Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập, thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những ý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay.

Tiếp theo, xin đi vào nội dung, ông nói suy thoái về đạo đức.
Tôi muốn hỏi ông, đạo đức của ông đang muốn nói là đạo đức nào?
Đạo đức làm người?
Đạo đức công dân? Đạo đức dân tộc VN? …
 
Tôi tạm đoán là ông đang muốn nói đến đạo đức người cộng sản của các ông.
 
Vậy, các ông cho rằng chỉ có đạo đức cộng sản của các ông là đạo đức đích thực?
 
Thế ra, cha ông tổ tiên chúng ta, khi chưa có chủ nghĩa cộng sản vô đạo đức hết à?
 
Thế ra, những người không theo đảng cộng sản trên thế giới là vô đạo đức hết à?

Tiếp theo, xin đi vào nội dung suy thoái chính trị, tư tưởng. 
 
Tôi muốn hỏi ông, chính trị, tư tưởng ông đang muốn nói là chính trị, tư tưởng nào? Có phải chính trị, tư tưởng của đảng cộng sản? 
 
Vậy ra chỉ có đảng cộng sản của các ông là duy nhất đúng à? 
 
Cá nhân tôi cho rằng, không một người có lương tri bình thường nào thừa nhận như thế. Cùng lắm ông chỉ có thể nói với các đảng viên cộng sản như vậy, nhưng ngay cả với các đảng viên cộng sản, ông cũng không thể quy kết tội suy thoái cho họ.
 
 Nếu không tin, ông thử đọc lại Cương lĩnh chính trị và Điều lệ đảng các ông ban hành xem. Không có điều nào nói xóa bỏ Điều 4 là suy thoái, muốn đa nguyên về chính trị là suy thoái, muốn phi chính trị hóa quân đội là suy thoái, chỉ có tham ô, tham nhũng…  đi ngược lại lợi ích của nhân dân là suy thoái. Ông đương kim tổng bí thư ĐCS VN thử đọc lại và nghĩ lại chỗ này xem.

Bây giờ, tôi trân trọng tuyên bố những điều tôi muốn:

1- Tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới để Hiến pháp đó thực sự thể hiện ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành.

2- Tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước.

3- Tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc.

4- Tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào.

5- Tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản của các ông ban cho, nên các ông cũng không có quyền tức đoạt hay phán xét nó.
 
Vì thế, tôi có thể xem những lời phán xét trên của ông, nếu có hướng đến tôi là một sự phỉ báng cá nhân. Và tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

—–

(*) Nguồn: Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2; phần âm thanh và gỡ băng của Anhbasam.

Nguồn:


 

Những vấn đề thời sự Việt Nam


__._,_.___

Fw: Hậu quả của Khủng bố...


From: My Lan Quan <
To: ngonngu_Viet <
Sent: Monday, April 1, 2013 12:05 PM
Subject: [ngonngu_Viet] Fw: Hậu quả của Khủng bố...

 

 

Thưa các thành viên của diễn đàn Ngôn Ngữ Việt.

 

Xin gửi đến quý vị đọc để ngậm ngùi.

 

Ngôn ngữ nào để nói cho hết những đau thương cùng cực của người Việt Nam?

Quý vị là những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ... quý vị hãy viết lên, hãy nói lên, hãy 

hát lên những lời bi ai để khóc cho những người đã nằm xuống, những người

đang sống trong cái nhà tù giam hãm linh hồn hay cả thể xác và linh hồn những

con người Việt Nam nhỏ bé trước cái ác, cái dã man của những người cùng mang

dòng máu Việt Nam.

Sau gần 40 năm tại Miền Nam hay hơn 60 năm tại Miền Bắc người trí thức VN đã

làm gì trước những thống khổ chồng chất của dân mình? 

 

Quản Mỹ Lan

 

_______________________________ 

 

 

 

 

 

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng


 

Cuốn sách “A reporter's love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.  Bản dịch cũng đã xong.  Ðược phép của tác giả, chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động. Ðoạn kết:  “Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng”.

Tác giả là người Ðức, hiện cư ngụ tại USA. Là phóng viên, ông có mặt tại VN khoảng 5 năm, và là chứng nhân việc thảm sát Mậu Thân, và việc tìm tử thi  4 vị giáo sư Ðức của Ðại học Y Khoa Huế bị thảm sát.  

 

 

 

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam (VN). Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng Sản VN và nhiều nguời sẽ gọi đó là ngày “giải phóng”.

 

1972, ga xe lửa Huế  – nơi khởi hành chuyến tầu tượng trưng mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ  –  đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng.  Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại, chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui?  

 

Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng Sản bên Đông và Dân Chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?


Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển; những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ.

 

Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.

 

Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như  các vị Tổng Thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ Tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Xô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Xô Viết.

 

Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù, và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.


Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng Sản chiếm miền Nam VN như  là một cuộc “giải phóng”.   Điều này đặt ra một câu hỏi: Giải phóng cái gì, và cho ai?

 

Có phải miền Nam VN đã được giải phóng khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?

 

Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3-4 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975; và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc; và làm từ 200,000 đến 400,000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?


Có phải là hành động giải phóng không; khi xử tử 100,000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ?

 

Đây đã là một màn trình diễn nhân đạo sao (?) khi bên thắng cuộc lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165,000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn?  (theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế, do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu).


Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân”.  Cũng đúng thôi, nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ  Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là “cuộc chiến tranh của nhân dân”.

 

Thực tế không phải như  vậy. Đã có khoảng 3.8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164,000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng Sản VN trong cùng thời kỳ (theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của Đại học Hawaii). Ngũ Giác Đài ước tính khoảng 950,000 lính Bắc Việt và hơn 200,000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58,000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.


Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, một câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu.  Câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng Sản hay không?

 

-        Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư  vào Nam năm 1954, trong khi chỉ có khoảng130,000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

-        Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không?Không.

-        Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những ngư ời trưởng làng thân Cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không.

-        Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không.

-        Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

 

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này. Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng – và vẫn còn – đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương.

 

Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó (chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng Sản); hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như  ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng.

 

Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng Sản nữa để mà trốn.

 

Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.


Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).


Khi tôi viết đoạn kết này, một ký  giả đồng nghiệp và một loại học giả (sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ) đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết.

Tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như  dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.


Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam, nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

 

Với tư  cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: Tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?

 

Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư  trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?


Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây ĐứcMonika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như  là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó, và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.

 

Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất.

 

Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich: Heinrich Himmler. Oxford: 2012).

 

Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ra  ý  kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.


Trong một cuốn sách gây chú ý  về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại Tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère: Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng Sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như  sau:

 

Giáp:                     Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại Tá!

Charton:              Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại Tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.


Võ  Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật.

 

Cái nửa kia là các nền dân chủ như  Hoa Kỳ, đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ  Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.


Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:

 

Khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ.

Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.

Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam.

Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ, vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.


Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu, tôi biết ai là Chúa của lịch sử.

 

Chiến thắng của Cộng Sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội.

 

Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa.

 

Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.


Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link