Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, April 6, 2013

OHN KERRY IN VIETNAMESE COMMANDOS HEARING


 


 


 


 


 


 


 



 


 

 


 

----- Forwarded Message -----
From: Can Bui <Sent: Friday, April 5, 2013 1:43 PM
Subject: [Thaoluan9] Fwd: (CHÍNH NGHĨA): Lưỡng viện quốc hội Virginia chấp thuận Nghị quyết 455, chọn ngày 30-4 là Ngày Công nhận Nam Việt Nam hay là Ngày Việt Nam Cộng Hòa

 

 

 

---------- Forwarded message ----------
From: Chinh Nghia <Date: 2013/4/5
Subject: (CHÍNH NGHĨA): Lưỡng viện quốc hội Virginia chấp thuận Nghị quyết 455, chọn ngày 30-4 là Ngày Công nhận Nam Việt Nam hay là Ngày Việt Nam Cộng Hòa
To:

 

 

Kính diễn đàn

 

 

Ngày 19 tháng sáu năm 1996.Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện Hoa Kỳ mời nhóm Vietnamese Commandos vào điều trần và sau đó Quốc Hội Hoa Kỳ đã chính thức công nhận sự hy sinh và lòng dũng cảm của các lực lượng quân sự của Nam Việt Nam, Australia, Hàn Quốc, Thái Lan, New Zealand, và Philippines qua SEC 535.

Đặc biệt Vietnamese Commandos được dành riêng một SEC 536. Sau đó lưỡng viện đã thông qua một đạo luật mới vinh danh và bồi hoàn danh dự  cho Vietnamese Commandos. Những sự kiện lịch sử đó cho thấy  South Vietnam hay Việt Nam Cộng Hòa đã được phục hồi và công nhận vị thế và danh dự sau thắng lợi của cuộc đấu tranh và vận động của Vietnamese Commandos với cả ba ngành Tư Pháp, Lập Pháp và Hành Pháp từ 17 năm về trước chứ không phải đợi đến ngày nay. Chính đương kim ngoại trưởng John Kerry là người giới thiệu sự kiện tại cuộc điều trần trước Uỷ Ban Tình Báo Thượng Viện Hoa Kỳ vào ngày June 19/1996. (Vietnamese commandos : hearing before the Select Committee on Intelligence of the United States Senate, One Hundred Fourth Congress, second session ... Wednesday, June 19, 1996 (1997))

 


 

Sự kiện lịch sử thượng dẫn cho thấy đoạn văn của ông Nguyễn Ngọc Bích trích dưới hoàn toàn SAI LẠC mang tính chất bóp méo lịch sử. 

trích:

Như vy, ta có th thy được rng v-thế ca VNCH ngày càng được phc-hi và công-nhn, ăn khp vi nhng sách v (trong c tiếng Anh ln tiếng Vit) cũng như dư-lun ngày càng mun tr li danh-d cho min Nam và Quân-lc VNCH.  

hết trích

 


 

SEC. 535. SENSE OF CONGRESS REGARDING THE HEROISM, SACRIFICE, AND SERVICE OF THE MILITARY FORCES OF SOUTH VIETNAM AND OTHER NATIONS IN CONNECTION WITH THE UNITED STATES ARMED FORCES DURING THE VIETNAM CONFLICT.

(a) FINDINGS- Congress finds the following:

(1) South Vietnam, Australia, South Korea, Thailand, New Zealand, and the Philippines contributed military forces, together with the United States, during military operations conducted in Southeast Asia during the Vietnam conflict.

(2) The contributions of the combat forces from these nations continued through long years of armed conflict.

(3) As a result, in addition to the United States casualties exceeding 210,000, this willingness to participate in the Vietnam conflict resulted in the death, and wounding of more than 1,000,000 military personnel from South Vietnam and 16,000 from other allied nations.

(4) The service of the Vietnamese and other allied nations was repeatedly marked by exceptional heroism and sacrifice, with particularly noteworthy contributions being made by the Vietnamese airborne, commando, infantry and ranger units, the Republic of Korea marines, the Capital and White Horse divisions, the Royal Thai Army Black Panther Division, the Royal Australian Regiment, the New Zealand `V' force, and the 1st Philippine Civic Action Group.

(b) SENSE OF CONGRESS- Congress recognizes and honors the members and former members of the military forces of South Vietnam, the Republic of Korea, Thailand, Australia, New Zealand, and the Philippines for their heroism, sacrifice and service in connection with United States Armed Forces during the Vietnam conflict.

SEC. 536. SENSE OF CONGRESS REGARDING THE HEROISM, SACRIFICE, AND SERVICE OF FORMER SOUTH VIETNAMESE COMMANDOS IN CONNECTION WITH UNITED STATES ARMED FORCES DURING THE VIETNAM CONFLICT.

(a) FINDINGS- Congress finds the following:

(1) South Vietnamese commandos were recruited by the United States as part of OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35 from 1961 to 1970.

(2) The commandos conducted covert operations in North Vietnam during the Vietnam conflict.

(3) Many of the commandos were captured and imprisoned by North Vietnamese forces, some for as long as 20 years.

(4) The commandos served and fought proudly during the Vietnam conflict.

(5) Many of the commandos lost their lives serving in operations conducted by the United States during the Vietnam conflict.

(6) Many of the Vietnamese commandos now reside in the United States.

(b) SENSE OF CONGRESS--Congress recognizes and honors the former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

 


 

 

G. VIETNAMESE COMMANDOS The Committee held a hearing on June 19, 1996, to hear testi-mony regarding a Vietnam-era covert action program. This oper-ation, funded and supported by the United States, sent severalhundred Vietnamese commandos into North Vietnam on espionageand sabotage missions. Nearly all of these commandos were killedor captured by the North Vietnamese. Those who were capturedwere not released in 1973 following the Paris peace agreement andspent as long as twenty years in North Vietnamese jails. Recentlydeclassified documents and statements made by individuals in-volved with this program suggested that in 1964 U.S. officials di-recting the operation began declaring these men as killed-in-actionso that the captured commandos could be dropped from the pro-gram’s payroll. In a case in the U.S. Court of Claims, 281 of thesecommandos sought payment from the U.S. Government for thetime they spend in prison.After the Committee’s hearing, Senators John Kerry and JohnMcCain offered an amendment to the Defense Authorization Bill toprovide these men, or their heirs, with compensation. The Adminis-tration, without reference to any outstanding legal issues, sup-ported the Kerry-McCain amendment. This provision was includedin the National Defense Authorization Act for Fiscal Year 1997signed by President Clinton. The Department of Defense Appro-priations Conference Report contained identical language and pro-vided up to $20 million for payment of the claims.

 

Bill Text

105th Congress (1997-1998)

H.CON.RES.269.IH

 

H.CON.RES.269 -- Expressing the sense of the Congress regarding the heroism, sacrifice, and service of former South Vietnamese commandos in connection with United States armed forces during the Vietnam... (Introduced in House - IH)

 

HCON 269 IH

105th CONGRESS

2d Session

 

H. CON. RES. 269

 

 

Expressing the sense of the Congress regarding the heroism, sacrifice, and service of former South Vietnamese commandos in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

 

IN THE HOUSE OF REPRESENTATIVES

April 30, 1998

 

Ms. SANCHEZ submitted the following concurrent resolution; which was referred to the Committee on National Security

 

 

CONCURRENT RESOLUTION

Expressing the sense of the Congress regarding the heroism, sacrifice, and service of former South Vietnamese commandos in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

Whereas South Vietnamese commandos were recruited by the United States as part of OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35 from 1961 to 1970;

 

Whereas the commandos conducted covert operations in North Vietnam during the Vietnam conflict;

 

Whereas many of the commandos were captured and imprisoned by North Vietnamese forces, some for as long as 20 years;

 

Whereas the commandos served and fought proudly during the Vietnam conflict; and

 

Whereas many of the commandos lost their lives serving in operations conducted by the United States during the Vietnam conflict: Now, therefore, be it

 

Resolved by the House of Representatives (the Senate concurring), That the Congress recognizes and honors the former South Vietnamese commandos for their heroism, sacrifice, and service in connection with United States armed forces during the Vietnam conflict.

 

----- Forwarded Message -----
From: San Le D. <sanduyle@yahoo.com>
To: KVVNNCVC DienDan <KVVNNCVC@yahoogroups.com>
Sent: Friday, April 5, 2013 2:04 AM
Subject: [Thaoluan9] Fw: Lưỡng viện quốc hội Virginia chấp thuận Nghị quyết 455, chọn ngày 30-4 là Ngày Công nhận Nam Việt Nam hay là Ngày Việt Nam Cộng Hòa

 

 



KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TÀU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

--- On Thu, 4/4/13, Trucie D. <aotrangcovang@gmail.com> wrote:

From: Trucie D. <aotrangcovang@gmail.com>
Subject: Lưỡng viện quốc Tiểu bang Virginia chấp thuận Nghị quyết 455, chọn ngày 30-4 là Ngày Nam Việt Nam hay là Ngày Việt Nam Cộng Hòa
To: "HoiLa TraLoi" <aotrangcovang@gmail.com>
Date: Thursday, April 4, 2013, 9:44 PM
HLTL CỘNG ĐỒNG, VNCH 4/04/2013
Xin chuyển đến Quý Vị, Qúy NT và CH...

Bài viết của
GS Nguyễn Ngọc Bích, nhân lưỡng viện quốc hội tiểu bang Virginia, chấp thuận Nghị quyết SJR 455, chọn ngày 30-4 năm nay 2013 và cho những năm sau đó, là Ngày Nam Việt Nam hay là Ngày Việt Nam Cộng Hòa.

Xin mời Qúy Vị xem bài viết và bản dịch Nghị quyết SJR 455 của GS Nguyễn Ngọc Bích...

Để tường..
 
BMH
Washington, D.C

 
TNS Tiểu Bang Virginia Richard H. "Dick" Black
 
            Chúng tôi đang nói đến Thượng-nghị-sĩ Tiểu-bang, ông Dick Black, một trong những người bạn tốt nhất của cộng-đồng chúng ta ở Richmond.  Ông rất quý những huynh đệ chi binh VNCH của ông mà ông không ngớt lời ca tụng vì ông đã từng sát vai chiến-đấu với họ.  Hôm đó, ông được chị Trần Mỹ Lan, một giáo-sư đại-học ở Virginia Commonwealth University, hướng-dẫn để đến với cộng-đồng chúng ta.  Được biết, chị Mỹ Lan cũng còn kiêm thêm chức giám-đốc điều hành của Hiệp-hội Thương mại Á-châu ở Virginia.
            Hôm đó, TNS Dick Black cũng tiết-lộ một tin vui đến cộng-đồng chúng ta.  Đó là sau một thời-gian dài vận-động của cộng-đồng VN ở Richmond do ông Phan Đức Tính đốc thúc và được sự yểm-trợ đắc lực của các thành-viên khác trong Hiệp-hội Thương mại của Chị Mỹ Lan, cuối cùng nghị-quyết công-nhận một Ngày Nam Việt-nam (mà ta cũng có thể nói gọn là Ngày VNCH) trong năm đã được dự-trù đưa ra bàn thảo trong Đại-nghị-viện (General Assembly) của tiểu-bang.  Và đúng như lời thông-báo của ông, ngày 21/2 Nghị-quyết của Lưỡng viện SJR455 đã được Thượng-viện thông qua và đến ngày hôm sau thì Hạ-viện Virginia cũng ủng-hộ luôn.  

Ngày Quân Lực 19/6 - Ngày Chiến Sĩ Tự Do/Freedom Fighters Day  
            Với quyết-định này, một lần nữa Virginia lại tỏ ra dẫn đầu trong các tiểu-bang ở Hoa-kỳ có những hành-động thật ân cần, thân thiện đối với cộng-đồng người Việt tự do.  Tại vì có lẽ ta cũng nên nhớ là chính Đại-nghị-viện Virginia đã công-nhận Ngày Quân Lực VNCH 19/6 làm Freedom Fighters Day (Ngày Chiến-sĩ Tự do) từ năm 2002 với SJR139.  Rồi đến ngày 15/4/2004, lại cũng Đại-nghị-viện Virginia thông qua một tu-chính-án cho Luật Tiểu-bang để công-nhận Cờ vàng ba sọc đỏ làm "Cờ di-sản của Người Mỹ gốc Việt" (tức Chương 970, đoạn 2.2-3310.2).  Một bà Dân-biểu Virginia, bà Leslie Byrne, cũng đã là một trong những người chính đỡ đầu cho Nghị-quyết lấy ngày 11/5 (ngày B.S. Nguyễn Đan Quế đưa ra tuyên-ngôn của Cao Trào Nhân Bản ở VN) làm Ngày Nhân-quyền VN hàng năm trên Quốc-hội Liên-bang.  Và nay, ta lại có Nghị-quyết lấy ngày 30/4 năm nay (2013) và những năm kế-tiếp làm Ngày Nam VN (hay còn gọi là Ngày VNCH).
            Như vậy, ta có thể thấy được rằng vị-thế của VNCH ngày càng được phục-hồi và công-nhận, ăn khớp với những sách vở (trong cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt) cũng như dư-luận ngày càng muốn trả lại danh-dự cho miền Nam và Quân-lực VNCH.  Có thể nói bản văn của Nghị-quyết SJR455 (được dịch toàn vẹn dưới đây) là một bản đúc kết khá gọn và đầy đủ về cuộc tranh đấu kiên cường của chúng ta trước tháng 4/1975 và sự thành công vượt bực của cộng-đồng chúng ta từ khi đặt chân lên nước này.  
            Để đón nhận tin mừng này, các cộng-đồng VN ở Miền Đông đang rủ nhau về Richmond đi diễn hành ngày 27 tháng 4 tới đây--nhằm đánh dấu một mốc mới trong cuộc đấu tranh cho chính-nghĩa VN tự do.
 
 Bản Dịch Nghị Quyết 455
 
NIÊN-KHÓA 2013
NGHỊ-QUYẾT LƯỠNG VIỆN DO THƯỢNG-VIỆN KHỞI XƯỚNG SỐ 455
 
Chỉ-định ngày 30/4 năm 2013 và những năm kế-tiếp, là Ngày Công Nhận
Nam Việt Nam ở Virginia
Được Thượng-viện đồng-thanh chấp thuận ngày 21/2/2013
Được Hạ-viện đồng-thanh chấp thuận ngày 22/2/2013
XÉT VÌ, những người Mỹ gốc Nam Việt Nam, một dân-tộc oai hùng và cần mẫn, hiện là nhóm người Mỹ gốc Á lớn thứ tư trên đất Mỹ; và
XÉT VÌ, một cuộc di-cư vĩ-đại của người Việt miền Nam đã sang Hoa-kỳ khi bạo-quyền cộng-sản chiếm xong Việt-nam Cộng-hòa sau ngày Sài-gòn thất thủ vào năm 1975; và
XÉT VÌ, cho đến phút chót, những binh sĩ trong Quân-lực VNCH đã kiên-cường chiến-đấu để bảo-vệ nền tự do của họ một cách tài-tình, táo-bạo và can-đảm, như trường-hợp Lữ-đoàn III Kỵ-binh QLVNCH đã chứng-minh sự dũng-cảm và tài-nghệ trong chiến-đấu đến độ được lãnh Huy-chương của Tổng-thống Hoa-kỳ dành cho một đơn-vị; và
XÉT VÌ, gần 60 nghìn chiến-sĩ Hoa-kỳ đã hy-sinh trong Chiến-tranh VN và 224 nghìn binh sĩ QLVNCH đã nằm xuống để bảo-vệ quốc gia của họ; và
XÉT VÌ, mặc dầu sự hy-sinh của người Mỹ rất to lớn ở VN, một số trận chiến khắc nghiệt nhất--kể cả cuộc chiến dã-man sau khi Hoa-kỳ đã rút khỏi VN--đã được gánh vác chủ-yếu bởi các đồng-minh Nam Việt Nam của chúng ta; và
XÉT VÌ, cuộc Tổng-công-kích Tết Mậu-thân 1968 của CS là nhằm bẻ gãy ý-chí chống lại CS của quân dân Miền Nam, Quân-lực VNCH đã chống trả quyết-liệt, và không một đơn-vị nào bỏ chạy hay tan hàng; thật vậy, đến ngay cảnh-sát cũng hăng say chiến-đấu, dùng súng lục chống lại quân chính-quy của địch được võ-trang đầy đủ; và
XÉT VÌ, cùng với bộ-binh, thủy-quân, không-quân, và TQLC Hoa-kỳ, Quân-lực VNCH đã tận-diệt bộ-đội du-kích của Việt-Cộng, loại-trừ hẳn thành-phần này ra như một binh-đội còn có khả-năng chiến-đấu trong phần còn lại của cuộc chiến; và
XÉT VÌ, hầu hết các đơn-vị chiến-đấu của Hoa-kỳ đã rời VN vào năm 1972, các đơn-vị QLVNCH đã tiếp-tục chiến-đấu rất hào-hùng chỉ với một sự giúp đỡ tối-thiểu của Mỹ, đánh bại cuộc Tổng-công-kích Mùa Hè Đỏ Lửa năm ấy, một cuộc xâm-lăng quy-mô và quy-ước trên toàn miền, có chiến-xa T-54 của Liên-Xô dẫn đường; và
XÉT VÌ, chính chiến-thắng của QLVNCH vào Mùa Hè Đỏ Lửa đã buộc Bắc-Việt phải chấp nhận kết-thúc chiến-tranh qua thương thảo; và
XÉT VÌ, tiếc thay, vào năm 1974 Hoa-kỳ đã rút cầu bằng cách giảm gần hết yểm-trợ quân-sự, kể cả không-lực, cắt nghiêm-trọng việc cung-cấp dầu xăng và đạn-dược cho Quân-lực VNCH--giờ đây bị bóp nghẹt bởi thiếu hết quân-trang quân-cụ trong khi chiến-xa và pháo-đài chỉ được phát một số-lượng rất nhỏ đầu đạn, có khi xuống đến vài quả trong một ngày, thậm chí đến các bộ truyền tin cũng không cả có pin để xử dụng; và
XÉT VÌ, việc thắt chặt các đường dây tiếp-tế cho Quân-lực VNCH đã làm suy sụp tinh-thần và khả-năng chiến-đấu của họ, làm cho việc chiến-đấu hữu hiệu của ngay những đơn-vị can trường nhất của Miền Nam cũng không thể thực-hiện được trước cuộc xâm-lăng chót của quân Bắc-Việt, vào lúc đó vẫn được cung-cấp đầy đủ bởi đồng-minh Trung-Cộng và Liên-Xô của họ; và
XÉT VÌ, bởi tất cả mọi người có liên-hệ với Mỹ hay chính-quyền VNCH rất lo ngại về viễn-ảnh trả thù tệ-hại của CS nên vào phút chót, trong khi quân-đội CS tràn xuống miền Nam vào mùa Xuân năm 1975, 125 nghìn nhân-viên then chốt của VNCH đã được không-vận từ Miền Nam sang các trại tỵ nạn ở Hoa-kỳ; và
XÉT VÌ, ngay trong lúc binh lính Mỹ và nhân-viên Sứ-quán Hoa-kỳ được trực-thăng đến đón thì có những bà mẹ VN kinh hãi ném ngay con mình vào tay những người hoàn-toàn xa lạ, chỉ để mong làm sao cho con mình thoát được cảnh tắm máu sắp xảy ra; và
XÉT VÌ, chế-độ kinh-hoàng xuất hiện gần như tức-khắc nên người Việt miền Nam đã trong tuyệt-vọng trốn chạy bạo-quyền sát sinh CS, đưa đến khoảng 2 triệu người đã tìm cách trốn khỏi "thiên-đường nhân-dân" do CS Bắc-Việt hứa hẹn; và
XÉT VÌ, đi bằng những con thuyền mỏng manh, chặt nứt, rất nhiều người miền Nam đã liều lĩnh ra khơi, đi vào sóng gió bão táp của Biển Đông, đem lại cái chết của hàng trăm ngàn người bị lật thuyền, chìm xuống đáy đại-dương; mặc dầu vậy, những con số khổng-lồ người Việt miền Nam vẫn tiếp-tục ra đi từ năm 1975 đến giữa thập niên 1980; và
XÉT VÌ, cũng bắt đầu từ 1975 và kéo dài hàng thập niên sau đó, hơn một triệu người miền Nam--đặc-biệt là các cựu-sĩ-quan và công-chức chính-phủ--bị đưa vào các trại tập trung mà được gọi một cách hiền lành là các trại "học tập cải tạo," nơi đó nhiều ngàn người đã bị "cải tạo" đến chết luôn; và
XÉT VÌ, những trại tập trung của CS được nổi tiếng qua các chế-độ khổ-sai tàn-bạo, nhồi sọ về chính-trị, và những nhiệm-vụ chết người như đi chân đất dò mìn, không hề qua những thủ-tục cáo buộc tội-trạng hay xét xử trước tòa án; và
XÉT VÌ, những điều-kiện trong trại tệ hại đến mức nhiều người sống sót cho rằng gần một phần ba các tù-binh đã chết trong thời-gian bị cầm tù; và
XÉT VÌ, con số di-cư của người Việt miền Nam sang Hoa-kỳ lên tới đỉnh-điểm vào năm 1992 khi, sau hàng thập niên bị tra tấn, nhiều người sống sót từ các trại tập trung nói trên cuối cùng mới được thả ra và bảo trợ bởi gia-đình họ sang xứ này; và
XÉT VÌ, sau khi chịu cực-hình qua nhiều năm khổ đau và ngược-đãi không thể tưởng-tượng nổi, những người miền Nam đã trốn được khỏi quê hương đã tỏ ra tài-năng và thông minh vượt bực để trở thành một nhóm người dám vào thương-trường và tìm đường thăng-tiến, giải-quyết chóng vánh những bước đầu nghèo khó sau khi đến Hoa-kỳ; và
XÉT VÌ, ngày nay, 82 phần trăm người Việt miền Nam có mặt ở Hoa-kỳ là những người sinh trưởng ở đây hay là người đã có quốc-tịch Hoa-kỳ, một tỷ-lệ rất cao trong mọi nhóm di-dân có quốc-tịch; và
XÉT VÌ, qua nhiều thập niên, những người Mỹ yêu nước gốc Nam Việt Nam này đã đóng góp đáng kể vào nước Mỹ với trí-tuệ, tài-năng, quyết-tâm và lòng trung-thành của họ, với không ít con em đang phục-vụ một cách hãnh-diện trong Quân-lực Hoa-kỳ; do đó, 
Thượng-viện QUYẾT-NGHỊ, với sự đồng-thuận của Hạ-viện,
Là Đại-nghị-viện Virginia sẽ lấy ngày 30 tháng Tư 2013 và cùng ngày này trong những năm kế-tiếp, làm Ngày Công Nhận Nam Việt Nam ở Virginia; và
QUYẾT-NGHỊ TIẾP,
Là Thư-ký Thượng-viện chuyển một bản của Nghị-quyết này tới Hiệp-hội Thương mại Á-châu ở Virginia và Nghị-hội Toàn-quốc Người Việt tại Hoa-kỳ đặng cho những thành-viên của hai tổ-chức này được biết về quyết-định của Đại-nghị-viện Virginia về vấn-đề này; và
CUỐI CÙNG QUYẾT-NGHỊ,
Là Thư-ký Thượng-viện đưa việc chỉ-định ngày này lên Trang Nhà Điện Tử của Đại-nghị-viện Virginia.
Nguyễn Ngọc Bích dịch
Springfield, VA
 
Đêm 28-29 tháng 3, 2013

http://hoilatraloi.blogspot.com/2013/04/luong-vien-quoc-tieu-bang-virginia-chap.html




1975: Việt Nam có thắng Mỹ?


 

Kính chuyển,

Xin xem thêm phần góp ý của các đọc giả ( 123 y' kien) kha' ly' thu'

Nguon
http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-co-thang-my/1633524.html


1975: Việt Nam có thắng Mỹ?




  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ



CỠ CHỮ


02.04.2013

Trong bài “Thắng và bại”, từ kinh nghiệm chiến tranh ở Iraq, tôi nêu lên nhận định: Thắng và bại là một vấn đề phức tạp, gắn liền với một chu cảnh (context) nhất định. Có khi người ta thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh; có khi thắng một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thua một cuộc chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại. Cũng có khi người ta thua hẳn một cuộc chiến tranh nhưng lại thắng trong hòa bình, sau đó.

Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng Tư, thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75.

Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unfinished war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả.

Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính.

Một, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có 50.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh tivi hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng, trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.

Hai, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và thiết chế: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa!) (tr. 61).

Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định:  “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam bằng cách rút quân ra khỏi nơi đó.”


Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư 1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ở Việt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa Việt Nam và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sự chấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó?

Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.

Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc. Không có gì khác nhau cả.

Nhưng ở đây lại nảy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam là gì?

Có hai mục tiêu chính:

Một, giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc.

Hai, ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.

Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó là điều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ.

Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó ở San Francisco sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến.

Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.

Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.

Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này - mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á - không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: Một, bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; hai, khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và ba, làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt.

Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều: Một, khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước. Hai, khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Và ba, như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.

Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ.

Thắng ở ba điểm:

Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.

Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hình ảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủ nghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.

Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.

Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.

Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh, đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng.

Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thế giới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thư tư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Để tránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.

Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn.

Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:

Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.

Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta.

Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Lại xì-căng-đan sữa bột của Tàu dán “mác Thụy-sĩ”


 

Lại xì-căng-đan sữa bột của Tàu dán “mác Thụy-sĩ”


Bích Vân

 

 

Một nhân viên cao cấp thuộc công ty Xile Lier tại tỉnh Tô Châu, “đối tác” của nhóm thực phẩm Hero (Thụy-sĩ), vừa bị tống giam vì can tội giả mạo sữa bột cho em bé. Theo tường trình của các điều tra viên trên đài truyền hình CCTV (China Central Television) hôm 28/03, công ty Xile Lier đã “giở trò ma mãnh” pha trộn sữa bột nhập cảng với sữa bột đã hết hạn rồi sửa đổi nhãn ghi ngày hết hạn tiêu dùng dán trên hộp để bán ra dưới dạng sữa bột dành cho trẻ sơ sinh (nhiều tiền hơn) thay vì sữa bột dành cho trẻ em đã lớn (thường thì rẻ tiền hơn).
 
Những vụ xì-căng-đan liên quan đến thực phẩm tại Trung quốc vẫn thường xảy ra từ hàng chục năm nay và nhiều như lá mùa Thu, đặc biệt là vụ sữa chứa chất melamin dành cho trẻ em trở nên hết sức “nhạy cảm” và được bàn tán nhiều trên khắp thế giới kể từ năm 2008 khi có ít nhất 6 trẻ em bị thiệt mạng và gây ra bệnh thận mãn tính cho hơn 300 000 trẻ em khác tại Trung quốc (melamin là một chất không mầu, rất độc nếu cho vào thực phẩm nhưng lại có thể cho ảo tưởng tỷ lệ protein hiện diện trong sữa cao).
 
Nhà chức trách tỉnh Tô Châu cho biết đã đình chỉ khâu sản xuất sữa bột của công ty Xile Lier từ tháng 11 năm ngoái, tuy nhiên những sản phẩm của Xile Lier dán nhãn Hero Nutradefence (của Thụy-sĩ) vẫn thấy bầy bán trong các siêu thị tại Trung quốc.

Kể từ vụ bê bối sữa chứa melamin bùng nổ năm 2008, nhu cầu nhập cảng sữa bột cho trẻ em tăng mạnh tại Trung quốc (vì đa số dân chúng tẩy chay hàng nội địa), đến nỗi gây nên sự khan hiếm sữa bột luôn cả tại Hông-Kông khiến nhà chức trách Hông-Kông phải ra lệnh giới hạn số lượng hộp sữa bột mà du khách được phép mang ra khỏi lãnh thổ.

[Liên hiệp công ty thực phẩm Hero có trụ sở tại Lenzburg, Thụy-sĩ, trong năm 2012 vừa qua có số doanh thu lên tới 1,43 tỷ quan tương đương với gần 1,5 tỷ mỹ kim]. (BV)

Uống nhiều vitamin C có thể bị sạn thận

Sinh tố C được xem như thành phần quan trọng không thể thiếu cho một cơ thể khoẻ mạnh. Chúng ta có thể tìm thấy sinh tố C dễ dàng và nhiều trong trái cây, rau quả, các thực phẩm hàng ngày, v.v… Nhưng có nhiều người vì quá lo xa, cho rằng cơ thể vẫn thiếu sinh tố C nên lại uống thêm thuốc bổ sung dinh dưỡng có chứa nhiều sinh tố C, mà không biết rằng nếu trong người có nhiều sinh tố C quá số lượng cần thiết rất dễ đưa tới tình trạng làm hại thận.

 Theo quan điểm của Hiệp-hội-các-bác-sĩ-nội-trú tại Wiesbaden (Đức quốc), quả thật trong một thời gian dài nếu thường xuyên uống các loại thuốc bổ sung có chứa nhiều sinh tố C sẽ nguy hiểm vô cùng vì dễ có nguy cơ mắc bệnh có sỏi trong thận, đặc biệt nguy hiểm cho những người sẵn mắc các bệnh như bị cao huyết áp, bị bệnh tiểu đường hoặc những người ít hoạt động, ít chịu uống nước.

Các bác sĩ người Đức đã dẫn chứng một cuộc khảo cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc bệnh sỏi thận nơi những người đã uống mỗi ngày 1000 mgr sinh tố C trong vòng 10 năm nhiều gấp đôi so với những người không uống. Nguyên nhân là vì một phần của lượng sinh tố C dư thừa không được thải ra theo nước tiểu, mà tích tụ lại trong cơ thể và chuyển hoá thành chất axit oxalic để từ đó dễ sinh ra sỏi trong thận làm nghẽn đường tiết niệu và rồi suy thận.

Thêm một điều đáng nêu về sinh tố C là cho đến nay vẫn chưa kiểm chứng được rõ ràng rằng uống thuốc chứa nhiều sinh tố C có thật sự giúp ngăn ngừa các bệnh cảm cúm, ung thư và các bệnh về tim mạch hay không, như mọi người vẫn tưởng bấy lâu. (BV)

Âu châu cấm ngành mỹ phẩm không được thử nghiệm trên động vật

Liên minh Âu châu vừa ban hành lệnh cấm triệt để ngành mỹ phẩm dùng động vật để thử nghiệm, nghĩa là kể từ nay những sản phẩm nào được thử nghiệm với loài vật đều bị cấm bán. Tonio Borg (phát ngôn viên của Hội Người Tiêu thụ thuộc Uỷ ban Âu châu) cho biết lệnh cấm này có hiệu lực cho tất cả những sản phẩm như dầu gội đầu, son môi hoặc những loại kem xoa trên da, sản phẩm về vệ sinh, v.v… được sản xuất tại Âu châu và luôn cả những loại mỹ phẩm nhập vào Âu châu.

Thật ra lệnh cấm bán các loại mỹ phẩm từng thử nghiệm với động vật đã được ban hành từ gần mười năm nay (từ 2004) nhưng cho đến nay vẫn có những trường hợp ngoại lệ nên còn nhiều loại mỹ phẩm tuy đã được thử nghiệm với động vật cũng vẫn được phép bán, và đa số là những sản phẩm có những tác dụng phụ phức tạp nên cần phải được thử nghiệm tỉ mỉ và kỹ lưỡng (ví dụ như các thử nghiệm để tìm hiểu xem những thành phần trong sản phẩm có thể dẫn đến tình trạng không thể có con nối dõi hay không).

Các hãng sản xuất mỹ phẩm tại Âu châu đang lo ngại lệnh cấm có thể mang tới sự bất lợi cho họ trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường.

Lệnh cấm tuy đã được đưa ra nhưng các nhà bảo vệ thú vật vẫn nghi ngờ rằng ngành sản xuất mỹ phẩm chưa có thể hoàn toàn dứt bỏ được những thử nghiệm trên động vật, lý do là vì các chất được xử dụng trong các mỹ phẩm lại chịu những luật lệ khác nhau, chẳng hạn những hoá chất có trong thành phần cấu tạo của mỹ phẩm vẫn được phép thử nghiệm với động vật. (BV)

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link