Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, April 10, 2013

Trúc Hồ, SBTN, Asia "nối giáo" cho giặc


 

 

 LanChi

Sent: Tuesday, April 9, 2013 1:10 AM
Subject: FW: Hoàng Ngọc An -nhận định về bài của Ngô Kỷ ( tố cáo Trúc Hồ -SBTN)

 



Ngô Kỷ tố cáo Trúc Hồ với đầy đủ bằng chứng

 

Hoàng Ngọc An

 

 

Hôm nay tôi mới có thì giờ nghe chương trình phát thanh trên Viet Star Radio với ô Ngô Kỷ.  Nội dung là tố cáo Trúc Hồ.

 

1-Ô Ngô Kỷ có giọng nói mạnh bạo nhưng đã nói về đấu tranh thì cá nhân tôi cho rằng không cần giọng trầm ấm hay nhẹ nhàng.

 

2-Như thường lệ, ô Ngô Kỷ "nói có sách mách có chứng". Những âm thanh có đầy đủ. Thật ra, năm 2012, bắt đầu vụ thỉnh nguyện thư, Trúc Hồ đã lên SBTN nói về "Con đường dân chủ" nhiều lần. Cá nhân chúng tôi đã thu âm lại và cắt những đoạn quan trọng, lưu trữ trong tài liệu về TNT ở blog Chúng Tôi Muốn Tự Do. Nói một cách khác, chúng tôi đã đánh dấu hỏi về Trúc Hồ nói riêng, SBTN nói chung từ năm ngoái.

 

3-Ô Ngô Kỷ đã hỏi: bao nhiêu vị chủ tịch cộng đồng, thân hào, nhân sĩ, văn nghệ sĩ khắp nơi, đã chứng kiến một Trúc Hồ múa may như một con rối rẻ tiền, đã nói năng lảm nhảm với những tuyên bố một số điều bưng bô cho Việt cộng, tuyên truyền có lợi cho cộng sản Việt Nam, đâm sau lưng cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại và phản quốc, mà tại sao không ai dám lên tiếng?

 

Một người bạn hỏi tôi rằng “Phải chăng cộng đồng có “một số người hèn”,  họ không dám phản đối vì lỡ mắc bệnh “mê micro” và mơ tưởng sẽ lên SBTN nói chuyện? Không lẽ chỉ vì cái nhỏ nhoi đó mà để một tên hề ra múa may, mục hạ vô nhân?! Chả lẽ người hải ngoại không còn nhân tài nên cả đám chịu ở dưới tr.. Trúc Hồ?”. Chúng tôi chưa tìm ra câu trả lời nào thỏa đáng cho người bạn.

 

4-Ông Phan, Vietstar Radio  cũng nêu câu hỏi về nhạc sĩ Việt Dzũng cùng một số người khác, có quá khứ tranh đấu mà tại sao chịu ở dưới trướng một người như Trúc Hồ? Cá nhân chúng tôi cũng lấy làm lạ là có vài người mà chúng tôi quen biết, có tri thức, có kiến thức, có trình độ, vậy mà vẫn cộng tác và chịu ở dưới quyền một kẻ "khá thấp" như Trúc Hồ? Cá nhân chúng tôi cho rằng Trúc Hồ là một nhạc sĩ tầm thường, nhưng nhờ Thy Vân (Asia) và sau khi Trầm Tử Thiêng mất, Trúc Hồ mới nắm được Asia. Mọi người thừa biết Asia hốt tiền của khán giả nhờ những chủ đề về người lính VNCH, còn kỹ thuật thua xa PBN. Sân khấu nghèo nàn, sắp xếp ca sĩ như dàn đồng ca thiếu nhi. Một mặt làm nhạc lính, đại hội cám ơn để hốt tiền khán giả, một mặt thì...? Xin quý vị hãy xem lại bài "Chăn gối với kẻ thù" của một tác giả Mỹ.

 

5-Ông Ngô Kỷ mong được nghe lời phản bác của những vị bênh vực Trúc Hồ nhưng đáng tiếc, trước các audio bằng cớ thì thính giả gọi vào, chỉ toàn là người đồng ý với ô Ngô Kỷ, hay “bây giờ mới mở mắt ra với Trúc Hồ”. Cá nhân chúng tôi cũng mong được nghe những lý lẽ “tử tế” từ những vị có tên tuổi tử tế chứ không muốn nghe những kẻ nặc danh (mà chúng tôi thừa biết đó là bút hiệu của những người có tên tuổi trong cộng đồng nhưng vì đang cam tâm làm khuyển mã cho Trúc Hồ nên phải dấu mặt).

 

Chúng tôi xin copy lại những câu nói của Trúc Hồ từ bài của ô Ngô Kỷ và mong quý vị nên cố gắng dành 75 phút để nghe:

 


 

Những câu “láo” của Trúc Hồ trích từ thư của ô Ngô Kỷ:

 

“Đã đến lúc Quốc Hội phải là người Hoa Kỳ thật sự, đã đến lúc Quốc Hội phải giúp đở nước Việt Nam của chúng ta. Chuyện quan trọng đầu tiên Quốc Hội cần phải làm giúp chúng ta là cái gì? Chúng ta không bao giờ kêu gọi lật đổ chế độ (cộng sản) hay là bạo động hay là gì hết, cái đó hoàn toàn sai. Trong thế giới chúng ta đang sống bây giờ, chúng ta tất cả mọi thứ chúng ta đều nên hành động một cách nói chuyện với nhau. Nước Việt Nam chúng ta quá nhiều chiến tranh, chúng ta không nên  kêu gọi chiến tranh, không nên kêu gọi hận thù, mà chúng ta phải nên mang tình yêu xóa tan hận thù. Chúng ta là những người Việt đã từng bị nạn nhân của nhiều chuyện, nhưng mà thôi, chúng ta đã vượt qua tất cả rồi, chúng ta phải hãnh diện chúng ta đã vượt qua cái sự chết, và chúng ta đã sống lại, và chúng ta sống lại để giúp người chứ chúng ta không phải sống để mà moi cái này, móc cái kia, để mà nói người này nói người kia cái nọ.”

 

“Chúng ta không có đòi hỏi nhiều, chúng ta chỉ xin là quyền căn bản làm người thôi, cái quyền đó nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã là thành viên của Liên Hiệp Quốc thì chắc chắn là họ phải chấp nhận theo cái gọi là Bản Tuyên Ngôn, Hiến Chương Về Nhân Quyền mà đã ký năm 1948, chắc chắn họ phải bắt buộc

 

“Trong năm nay chúng ta không kêu gọi gì hết, chúng ta chưa bao giờ kêu gọi bạo động, chúng ta chưa bao giờ kêu gọi lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam .”

 

“Và Quân Đội Nhân Dân, những người lính, những người mà Hồ kính phục, kính nể, phải làm thiên chức của người lính là phải bảo vệ quê hương đất nước của mình

 

“Ba mươi mấy năm qua chúng ta đã thấy gì? Chúng ta không thấy gì hết! Chúng ta chỉ thấy chúng ta biểu tình và chúng ta đi về”…(ngưng trích)

 

 

Nếu quý vị là người quốc gia và đồng ý với nhận định này của chúng tôi thì xin tiếp tay fw và đồng thời cũng mạnh dạn bày tỏ ý kiến mình trước công luận về Trúc Hồ cùng SBTN. Lý do đa số dân chúng xem SBTN, Asia và chúng ta giúp đồng bào nhìn rõ vấn đề.

 

Bài liên quan:

 


 

 

on behalf of; San Le D. <

KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TÀU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

--- On Mon, 4/8/13, Tam Ben <


From: Tam Ben <
Subject: Re: [VN-TD] Trúc Hồ, SBTN, Asia "nối giáo" cho giặc
To: Date: Monday, April 8, 2013, 7:49 AM

 

Nội cái chuyện đài SBTN phái phóng viên Thanh Toàn lái xe Van mang chữ SBTN chạy từ Nam chí Bắc, chụp hình quay phim làm phóng sự đủ kết luận rồi.

Trúc Hồ không thể biện minh được việc nầy.

 

Thanh Toàn đã đốt cháy Trúc Hồ.

 

Tôi ủng hộ lập luận của Ngô Kỷ kết tội Trúc Hồ.

 

Tâm Bền

 





From: NGUYỄN VÂN TÙNG <
To:
Sent: Monday, April 8, 2013 5:12 AM
Subject: [VN-TD] Trúc Hồ, SBTN, Asia "nối giáo" cho giặc

 

 

 

Date: Mon, 8 Apr 2013 01:38:05 -0700
From:
Subject: Trúc Hồ, SBTN, Asia "nối giáo" cho giặc

 

 



        Ngô Kỷ nói chuyện trên đài Việt Star Radio 25-3-13

 

Kính mời Quý Đồng Hương bấm vào Link dưới để nghe Ngô Kỷ nói chuyện trên đài Việt Star Radio vào tối 25 tháng 3 năm 2013, trình bày lý do không ký tên vào các văn kiện đòi thay đổi hiến pháp do đồng bào Quốc Nội chủ trương và thực hiện. Ngô Kỷ cũng "đặt vấn đề" với nhạc sĩ Trúc Hồ, SBTN, Asia Entertainment đã có các hành động thiên cộng, và các lời tuyên bố tuyên truyền có lợi cho cộng sản và làm hại chính nghĩa Quốc Gia.

 

Đặc biệt trong buổi nói chuyện này, rất nhiều thính giả đã trực tiếp gọi vào góp ý, và bày tỏ ý kiến phản đối mạnh mẽ ông Trúc Hồ, SBTN và Asia Entertainment.

 


 

Muốn đọc báo Việt Star và nghe đài Việt Star Online 24/24, xin quý vị vào website:  www.vietstaronline.com 

 







 



 

VS/DIỄN ĐÀN ĐỘC GIẢ...

 

Có Ai Tin Nhạc Sĩ Trúc Hồ, SBTN, ASIA Entertainment Tiếp Tay với Việt Cộng ??

 

                

                   Ngô Kỷ

 

Năm 1937, hai anh em Dick và Mac McDonald mở quán bán bánh mì “hotdog,” và năm 1940 chuyển sang bán “bánh mì kẹp thịt xay nướng” tại San Bernardino, California rất đông khách. Cho đến đầu năm 1950, ông Ray Kroc, một người cung cấp sữa “milkshake” tới thăm cửa hàng phục vụ nhanh “fast food” này, và vô cùng ngạc nhiên trước tốc độ phục vụ món hamburger ở đây: 15 giây cho một chiếc bánh hamburger 15 cent với khoai tây và sữa “milkshake.”  Ông Kroc nhìn thấy tiềm năng phát triển của công việc kinh doanh này và quyết định hợp tác. Ông Kroc đề nghị mua lại bản quyền quán “fast food” này, và anh em nhà McDonald đồng ý. Và ngày 15 tháng 4 năm 1955, ông Kroc khai trương cửa hàng McDonald’s phục vụ “fast food” đầu tiên tại Des Plaines, ngoại ô phía bắc Chicago.

 

Với tốc độ phát triển cực nhanh, hệ thống các cửa hàng McDonald’s bán được hơn 100 triệu chiếc bánh hamburger trong vòng 3 năm đầu tiên và cửa hàng McDonald's thứ 100 được khai trương 4 năm sau đó, năm 1959. Tới năm 1961, ông Kroc trả 2.7 triệu đô la Mỹ mua hết toàn bộ quyền lợi từ anh em nhà McDonald và năm 1963, việc bán chiếc bánh hamburger thứ một tỉ đã được truyền hình trực tiếp trên tivi vào giờ quảng cáo cao điểm.

 

McDonald’s không chỉ phổ biến ở trong nước Mỹ mà còn nhanh chóng có được những thành công trên thị trường quốc tế như Canada, Nhật Bản, Úc và Đức. Ngày nay, có khoảng 1.7 triệu người làm việc cho McDonald’s trên toàn thế giới. Khởi đầu McDonald’s chỉ là một hiện tượng của nước Mỹ nhưng nay nó đã trở thành một thương hiệu quốc tế đích thực.

 

Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2010, hệ thống McDonald’s bán được trên 246 tỉ cái hamburgers, nói chính xác là 246,623,751,852 cái hamburgers.

 

Còn hãng nước ngọt Coca-Cola ra đời vào ngày 27 tháng 3 năm 1944, và theo đà bán vào năm 2010, thì mỗi ngày trên toàn thế giới bán ra là 1 tỉ 7 lon và chai Coca-Cola.

 

Hai thương hiệu McDonald’s và Coca-Cola nổi tiếng và được thực khách chiếu cố “khủng khiếp” đến như vậy, thế mà trên truyền hình, đặc biệt vào các trận Super Bowl, khán thính giả vẫn luôn thấy phần quảng cáo của hai sản phẩm này, thế thì việc tôi nhắc tới nhắc lui về sự kiện nhạc sĩ Trúc Hồ, đài truyền hình SBTN, và trung tâm nhạc Asia đã cộng tác và tuyên truyền có lợi cho Việt cộng, làm hại chính nghĩa Quốc Gia là một điều cần thiết và thích đáng.

 

Dài dòng “phi lộ” trên với hy vọng giảm thiểu những lời trách móc “biết rồi nói mãi,” hay cho rằng tôi “nói dài, nói dở, nói dai.” Tôi cũng xin “báo cáo” đến quý độc giả ái mộ nhạc sĩ Trúc Hồ được “yên tâm” là trước khi tôi viết bài này, tôi đã đọc xong những lời lẽ phản đối từ những người đang thần tượng nhạc sĩ Trúc Hồ, hay từ những khán thính giả của SBTN, hoặc từ những “fans” của các shows, DVD nhạc trung tâm Asia. Họ kết án tôi là Việt cộng, họ cho rằng lý do mà tôi lên tiếng “đặt vấn đề” với nhạc sĩ Trúc Hồ là vì ghen ghét đố kỵ, tư thù cá nhân, tự ti mặc cảm, vì mang một căn bệnh “mãn tính,” bất trị trong khối người Việt Quốc Gia chống cộng ở hải ngoại vân vân và vân vân.., nói chung là bất cứ ngôn từ “xấu” nào có trong tự điển đều đã được tận dụng để trút lên đầu tôi. Thiện tai, thiện tai!

 

Về phần emails của các thân hữu, “chiến hữu” gởi đến thì hầu như có chung chung một nội dung “Ngô Kỷ mó dái ngựa rồi,” đọc thấy mà khiếp! Nói về ngựa thì Việt Nam và thế giới có nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, mà trong đó có mấy câu như “ngựa non háu đá,” còn Nhật Bản thì “Ngựa bất kham cũng cam đóng hàm thiếc,” và Nga Sô thì “Ngựa bốn vó, vẫn cứ bị vấp ngã” v.v…Nói vậy thôi, chứ cọp, beo, sư tử mà tôi chẳng ngán thì sá gì mấy con ngựa non háu đá.

 

Sau bài viết “Đặt vấn đề với nhạc sĩ Trúc Hồ, SBTN và Việt Tân thân cộng” đến nay đã hai tuần rồi, thời gian dài khá đủ để nhạc sĩ Trúc Hồ, SBTN và đảng Việt Tân trả lời các câu hỏi hay làm sáng tỏ vấn đề, thế mà họ vẫn “bặt âm vô tín.” Có thể là do họ khinh thường, bất chấp ý kiến của tôi, hoặc họ chủ trương trò “nín thở qua sông,” hay họ thấy cộng đồng người Việt Quốc Gia chống cộng Little Saigon nói riêng, và Hoa Kỳ, hải ngoại nói chung đang “im re rè rè” nên họ nghĩ rằng “cứt trâu để lâu hóa bùn” và họ sẽ thoát nạn mà “hạ cánh an toàn.” Tôi không phải là thầy bói nên không biết được chính xác lý do tại sao họ “ngậm miệng,” hay là họ đang chờ chỉ thị của “ủy ban tuyên giáo” từ Bắc Bộ Phủ, nếu quý vị nào biết thì xin chia sẻ.

 

Về phần tôi, là một người kiên quyết đấu tranh, tôi không bỏ cuộc dễ dàng, tôi không thuộc loại “đánh trống bỏ dùi,” “đầu voi đuôi chuột,” “treo đầu dê bán thịt chó,” “thùng rổng kêu to,” do đó khi đã “xuất quân” rồi thì chỉ có tiến chứ không có lui, tới bến luôn, còn “tới” như thế nào là “bí mật quân sự,” “thiên cơ bất khả lậu.”

 

Chắc là quý đồng hương đã đọc qua các “tội trạng” của ông Trúc Hồ, SBTN và đảng Việt Tân được tôi nêu ra trong bài viết trước, và kể từ bài viết này tôi sẽ lần lượt chi tiết hóa và phân tích cặn kẻ từng lời nói, mỗi hành động của ông Trúc Hồ, SBTN, Asia Entertainment và của đảng Việt Tân nhằm “lột mặt nạ” của họ ra trước công luận.

 

Trong cuốn phim ông Trúc Hồ, luật sư Đỗ Phủ, ông Võ Thành Nhân nói chuyện trên đài truyền hình SBTN vào ngày 6 tháng 3 năm 2012 để tường trình kết quả ngày trao kiến nghị cho Tòa Bạch Ốc ngày 5 tháng 3 năm 2012, ông Trúc Hồ đã tuyên bố một số điều bưng bô cho Việt cộng, tuyên truyền có lợi cho cộng sản Việt Nam, đâm sau lưng cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại và phản quốc như sau:

 

“…Hồ (Trúc Hồ) nghĩ là sau cái ngày 8 tháng 3 này, như anh Phủ nói Tòa Bạch Ốc formally trả lời chúng ta, tiếng Việt gọi là họ chính thức gởi thơ phúc đáp lại những nguyện vọng của chúng ta, và họ muốn chúng ta giúp cho trong vấn đề làm việc với chính quyền cộng sản Việt Nam. Chúng ta phải nên nhớ Việt Nam chúng ta bây giờ là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, là một nước có thành viên trong Liên Hiệp Quốc, họ là một quốc gia có nhiều hợp tác với nhiều quốc gia khác, chúng ta phải tôn trọng cái sự đó. Người Việt Nam mà muốn cho người Việt Nam chúng ta có quyền căn bản làm người thì chúng ta nên dùng cái số cử tri của chúng ta làm việc với Tổng Thống nước Mỹ và nước Việt Nam của chúng ta gần nhau hơn thay vì là xa nhau. Nếu mà Tổng Thống, cơ quan lập pháp của Mỹ mà làm việc với lại chính phủ ở Việt Nam mà có thể ngồi gần được với nhau, bên Việt Nam chấp nhận sẽ thả những tù nhân gọi là nhân quyền, lương tâm, không còn đàn áp chính trị. Bên Việt Nam những nhà lãnh đạo sáng suốt đi lại với tự do, đừng nên đi với lại chế độ chính nghĩa độc tài cộng sản như Trung quốc. Nếu mà người lãnh đạo Việt Nam của chúng ta mà đi với nhà lãnh đạo độc tài của Trung quốc thì không sớm thì muộn thì đất nước chúng ta sẽ bị mất.”

 

“Cho nên với bổn phận của người dân Hoa Kỳ cũng như là một người Việt Nam, Trúc Hồ nghĩ là chúng ta nên thông minh, sáng suốt và đặt cái quyền lợi của người Việt Nam trong nước trên tất cả mọi quyền lợi khác. Chúng ta tạo dựng sức mạnh để giúp chính quyền Hoa Kỳ mang chính quyền Việt Nam gần lại với tự do, và sự giúp đở đó cần những cái ý kiến của những người dân Hoa Kỳ gốc Việt, cái đó rất cần thiết.”

 

“Chúng ta phải nên giúp những người lãnh đạo Hoa Kỳ, Tổng Thống Obama làm việc với Bộ Ngoại Giao và làm việc với chính quyền cộng sản, làm sao mà họ gần với mình, làm sao họ gần với mình cho người Việt Nam chúng ta bớt khổ.”

 

“Chúng ta không có đòi hỏi nhiều, chúng ta chỉ xin là quyền căn bản làm người thôi, cái quyền đó nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã là thành viên của Liên Hiệp Quốc thì chắc chắn là họ phải chấp nhận theo cái gọi là Bản Tuyên Ngôn, Hiến Chương Về Nhân Quyền mà đã ký năm 1948, chắc chắn họ phải bắt buộc.”

 

“Chúng ta đừng đẩy nhưng người lãnh đạo Việt Nam đi vào, đi về phía Trung quốc, mà chúng ta những người Việt Nam ở trên thế giới này, chúng ta phải tạo sức mạnh ở Hoa Kỳ, ở Úc Châu, ở Canada, ở Liên Hiệp Châu Âu, mình phải làm sao mình vận động những người lãnh đạo của từng nước, quốc gia mình ở, làm sao cho những người lãnh đạo của từng nước quốc gia mình ở, làm sao mình vận động những người lãnh đạo ở Việt Nam họ đi gần với phía của tự do, dân chủ càng sớm thì nước Việt Nam mình, những người dân càng tốt đẹp hơn.”

 

VIDEO: Xin kéo mũi tên tới chỗ 22:57 để nghe Trúc Hồ nói phần trên:


 

“Đã đến lúc Quốc Hội phải là người Hoa Kỳ thật sự, đã đến lúc Quốc Hội phải giúp đở nước Việt Nam của chúng ta. Chuyện quan trọng đầu tiên Quốc Hội cần phải làm giúp chúng ta là cái gì? Chúng ta không bao giờ kêu gọi lật đổ chế độ (cộng sản) hay là bạo động hay là gì hết, cái đó hoàn toàn sai. Trong thế giới chúng ta đang sống bây giờ, chúng ta tất cả mọi thứ chúng ta đều nên hành động một cách nói chuyện với nhau. Nước Việt Nam chúng ta quá nhiều chiến tranh, chúng ta không nên  kêu gọi chiến tranh, không nên kêu gọi hận thù, mà chúng ta phải nên mang tình yêu xóa tan hận thù. Chúng ta là những người Việt đã từng bị nạn nhân của nhiều chuyện, nhưng mà thôi, chúng ta đã vượt qua tất cả rồi, chúng ta phải hãnh diện chúng ta đã vượt qua cái sự chết, và chúng ta đã sống lại, và chúng ta sống lại để giúp người chứ chúng ta không phải sống để mà moi cái này, móc cái kia, để mà nói người này nói người kia cái nọ.”

 

“Rất nhiều nỗi oan ức của 3 miền luôn chứ không phải một miền đâu. Đã đến lúc chúng ta phải mang tình thương, mang tình yêu để xây dựng lại một nước Việt Nam, và chúng ta không nhân danh ai, chúng ta không nhân danh hội đoàn, chúng ta không nhân danh đảng phái mà chúng ta nhân danh Việt Nam, chúng tôi là người Việt Nam và những người ở Hoa Kỳ, nhân danh chúng tôi là những người Hoa Kỳ mà gốc Việt, còn ở bên Châu Âu, những người ở Úc Châu, bên Canada và ngay cả tuổi trẻ Việt Nam” …(ngưng trích)

 

VIDEO: Xin kéo mũi tên tới chỗ 40:50 để nghe Trúc Hồ nói phần trên:


 

Không phải ông Trúc Hồ tuyên bố những câu “chói tai, thân cộng” một các “vô tình” hay “lầm lỡ,” trái lại ông Trúc Hồ lặp đi lặp lại cái thông điệp “bưng bô” Việt cộng và tuyên truyền làm lợi cho cộng sản Việt Nam nhiều lần và tại nhiều địa điểm khác nhau, mà điển hình thêm một lần nữa vào buổi tiệc tại nhà hàng Fortune ở Hoa Thịnh Đốn tối ngày 5 tháng 3 năm 2012 tường trình kết quả trao Thỉnh Nguyện Thư cho Tòa Bạch Ốc vào sáng cùng ngày, thì ông Trúc Hồ cũng đã tuyên bố một cách láu cá và trắng trợn bợ đít Việt cộng như sau:

 

“Trong năm nay chúng ta không kêu gọi gì hết, chúng ta chưa bao giờ kêu gọi bạo động, chúng ta chưa bao giờ kêu gọi lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

 

“Và Quân Đội Nhân Dân, những người lính, những người mà Hồ kính phục, kính nể, phải làm thiên chức của người lính là phải bảo vệ quê hương đất nước của mình”…(ngưng trích)

 

VIDEO: Xin kéo mũi tên tới chỗ 21:49 để nghe Trúc Hồ nói phần trên:


 

Còn đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ và hải ngoại thì ông Trúc Hồ đã tỏ ra ngạo mạn, xấc xược, hổn láo và khinh rẻ cộng đồng một cách trắng trợn khi ông Trúc Hồ trả lời cuộc phỏng vấn của nữ xướng ngôn viên Diễm Thi đài Á Châu Tự Do RFA ngày 8 tháng 3 năm 2012 rằng:

 

“Ba mươi mấy năm qua chúng ta đã thấy gì? Chúng ta không thấy gì hết! Chúng ta chỉ thấy chúng ta biểu tình và chúng ta đi về”…(ngưng trích)

 

VIDEO: Xin kéo mũi tên tới chỗ 04:37 để nghe Trúc Hồ nói phần trên:


 

Như vậy nghĩa là sao? Phải chăng ông Trúc Hồ muốn nhục mạ, khinh thường và vô hiệu hóa sự dấn thân đấu tranh không mệt mỏi của tập thể người Việt tỵ nạn tại hải ngoại trong suốt 37 năm qua, và chỉ có Trúc Hồ, tập đoàn SBTN và Asia Entertainment mới có đủ tư cách, tâm huyết và khả năng giúp dân cứu nước hay sao? Thật là một câu tuyên bố vô lễ và kiêu ngạo lố lăng vô cùng. Một điểm vô cùng oái ăm và khốn nạn là lời tuyên bố ngông cuồng và xuẩn động này đã được đài phát thanh về quốc nội, cũng như đăng tải chính thức trên mạng RFA, khiến cho đồng bào trong nước vô cùng bối rối và sửng sờ, thất vọng khi được nghe chính miệng một nhân vật “Quốc Gia cở bự” Trúc Hồ “phán” một câu “xanh dờn” như vậy. Thử hỏi đồng bào trong nước khi nghe xong thì làm sao họ có thể đặt nhiều hy vọng và niềm tin về sức mạnh của cộng đồng người Việt hải ngoại trong việc hỗ trợ họ đấu tranh trong quốc nội được?

 

Như tôi đã thưa ở trên, bài viết này chỉ là sự mở đầu cho một “vụ án chính trị” về nhạc sĩ Trúc Hồ, tập đoàn SBTN và Asia Entertainment mà trong những bài viết kế tiếp tôi sẽ lần lượt mổ xẻ, cùng phân tích vấn đề một cách chi tiết, rốt ráo, đứng đắn và trung thực. Tôi sẽ nêu ra bằng chứng là nhạc sĩ Trúc Hồ và tập đoàn đã lợi dụng sự tù tội của nhạc sĩ Việt Khang để mưu đồ danh lợi cho cá nhân Trúc Hồ và cho cơ sở thương mại SBTN, Asia Entertainment. Nhạc sĩ Trúc Hồ và tập đoàn đã tắc trách và bê bối trong việc thực hiện Thỉnh Nguyện Thư một cách sai nguyên tắc và lệch lạc ý nghĩa khiến dẫn tới việc làm thiệt hại nặng nề cho nhạc sĩ Việt Khang thay vì cứu giúp nhạc sĩ Việt Khang. Tôi cũng sẽ chứng minh chi tiết về việc Trúc Hồ và tập đoàn tiếp tay Việt cộng như thế nào, sự "liên hệ" giữa Trúc Hồ và "nữ hai mang" Hồng Thuận đã làm lọt danh sách đồng hương ký tên vào các bản Thỉnh Nguyện Thư vào tay Việt cộng sẽ gây ra khó khăn và nguy hiểm an ninh tính mạng cho họ và cộng đồng ra sao, đầu não nào đã chỉ đạo và giật dây Trúc Hồ "nhảy" từ vai trò một nghệ sĩ và truyền thông thành nhà lãnh tụ chính trị, và Trúc Hồ và tập đoàn đã nhũng lạm tiền bạc cộng đồng ra sao v.v...

 

Tôi không ngại tiếng thị phi, bỉ thử vì với vai trò của một công tố viên, của một biện lý đứng ra luận tội, tôi căn cứ theo những chứng cớ rõ ràng và khả tín để đưa nội vụ ra ánh sáng mà không thể bị bưng bít bởi bất cứ thế lực nào. Quyền biện hộ và “thanh minh thanh nga” là từ phía “bị cáo” Trúc Hồ và tập đoàn, và quyền phán xét là của cộng đồng đóng vai trò bồi thẩm đoàn cũng như vai trò quan tòa.

 

Hèn tướng Nguyễn Cao Kỳ từng là Phó tổng thống, Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa thế mà còn phản bội cộng đồng, đất nước, ma đầu Phạm Duy từng hưởng ơn sủng, bổng lộc mập mặt của miền Nam Việt Nam thế mà còn cúi đầu bưng bô cho Việt cộng, thế thì không có gì để có thể bảo đảm 100% một người nào đó trong cộng đồng tỵ nạn không phải là Việt cộng nằm vùng hoặc không phải là Việt gian bưng bô cộng sản được. Quá khứ đã chứng minh những tên gián điệp nhị trùng như Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngoc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, Đinh Văn Đệ, Nguyễn Hữu Hạnh khiến biết bao người ngạc nhiên, sửng sốt, do đó trường hợp ông Trúc Hồ và tập đoàn nếu bị nghi vấn, đặt vấn đề thì cũng là điều bình thường, tự nhiên xuyên qua các lời tuyên bố và hành động của ông, gia đình ông và của tập đoàn SBTN, Asia Entertainment có liên hệ với Việt cộng trong suốt nhiều năm tháng qua.

 

Tôi ủng hộ tư tưởng của Triết gia Pháp Voltaire thế kỷ 18 rằng: "Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói, nhưng tôi có thể chết để bảo vệ anh được quyền nói ra." (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it," và tôi không bao giờ muốn bị nhìn như là một người hồ đồ, quá khích, cực đoan, hẹp hòi, nhỏ mọn, ích kỷ, nên tôi chủ trương tôn trọng nguyên tắc "given the benefit of the doubt," tức tôi sẵn sàng dành cho ông Trúc Hồ và tập đoàn có cơ hội giải thích và bào chữa trước khi kết luận sau cùng về tội nối giáo cho giặc của ông Trúc Hồ và đồng bọn được đưa ra.

 



 

VS/DIỄN ĐÀN ĐỘC GIẢ...

 

Đặt vấn đề Nhạc sĩ Trúc Hồ SBTN tuyên truyền có lợi cho cộng sản

 

Ngô Kỷ

 

Lâu nay, có một số người cứ hễ đọc trên báo, nghe trên đài, xem trên truyền hình mà thấy nhân vật nào, tổ chức nào được ra rả đánh bóng, ca tụng, vinh danh inh ỏi thì họ vui lây và tôn thành thần tượng, minh quân, và trường hợp ông nhạc sĩ Trúc Hồ qua sự “thổi ống đu đủ” của đài truyền hình SBTN một cách lớp lang, bài bản lâu nay đã biến ông Trúc Hồ trở thành một "ông trời con" cũng là điều dễ hiểu mà thôi. Chính vì vậy, hễ ai mà “đụng” tới ông Trúc Hồ là không được, hễ ai mà”đặt vấn đề” với ông Trúc Hồ thì phải “bước qua xác chết” của những “fans” ông này. Gớm thiệt!

 

Người xưa có câu “thương nhau trái ấu cũng tròn,” hay “thương nhau mấy núi cũng trèo,” hay “yêu nhau yêu cả đường đi” v.v.., và những ai đang thương nhau, yêu nhau thì luôn nghĩ tốt, nghĩ đẹp về đối tượng của mình, do đó những người ái mộ ông Trúc Hồ qua các Shows và DVD nhạc  Asia, SBTN thì họ khó có thể tin được rằng "thần tượng" Trúc Hồ của họ dám mở miệng nói ra những lời lẽ “chói tai, phản quốc” được. Ít ai có thể tưởng tưởng nỗi một nhân vật "Quốc Gia cở bự" như Trúc Hồ lại có thể thốt ra những lời lẽ “thân cộng." Pascal từng nói “con tim có những lý lẽ mà lý trí không biết được,” do đó các khán thính giả yêu thích Shows, DVD nhạc Asia, SBTN ra sức binh vực, bảo vệ "thần tượng" Trúc Hồ của họ cũng là điều dễ hiểu. 

 

Sự kiện trên khiến tôi chợt hiểu ra là việc mất miền Nam Việt Nam không có gì là lạ cả, vì bây giờ qua sống nơi một đất nước văn minh như Hoa Kỳ và Tây phương, thế mà dân trí và trình độ nhận thức của một số người còn quá ư là kém cỏi, khiến tôi không còn lấy làm ngạc nhiên về chuyện trước năm 1975, có một số vị lãnh đạo chính phủ, hay một số giám mục, linh mục, hòa thượng, thượng tọa, tướng tá lại ngây thơ, hời hợt đi bao che, bảo kê, tiến cử những thằng “gián điệp” như Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngoc Nhạ, Phạm xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, Đinh Văn Đệ, Nguyễn Hữu Hạnh, Trịnh Công Sơn v .v.., để chúng tác oai tác quái quậy nát cả đất nước. Bây giờ nhìn cảnh tượng “vàng thau lẫn lộn,” “Quốc/Cộng” lộn tùng phèo trong cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại như thế này thì tôi e rằng việc muốn chiến thắng Việt cộng quả là một điều vô vàn nhiêu khê.

 

Trong cái Youtube của chính đài SBTN ngày 6 tháng 3 năm 2012, ông Trúc Hồ tuyên bố những điều tuyên truyền có lợi cho cộng sản và có hại cho người Quốc Gia. Ông Trúc Hồ không dám gọi là cộng sản, mà ông gọi một cách "văn hoa, lịch sự" là nước "Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Những lời tuyên bố của ông Trúc Hồ thật là vô liêm sỉ và phản quốc.

 

Tôi muốn minh xác tôi hoàn tòan không chủ ý nhục mạ, phỉ báng, “chụp mũ’ gì ông Trúc Hồ cả, tôi không có nhu cầu cạnh tranh với ông trong các lãnh vực buôn bán DVD nhạc, diễn show hay làm đài truyền hình, tôi chỉ phản đối quan đểm chính trị "thân cộng" của ông Trúc Hồ mà thôi. Tôi cực lực phản đối và nếu cần phải đương đầu với ông Trúc Hồ nếu ông không làm sáng tỏ sự việc.

 

Lâu nay tôi quá bận bịu nên chưa có thì giờ “đặt vấn đề” Quốc/Cộng với ông Trúc Hồ dù rằng cách đây một năm tôi có lên trình bày tóm lược vấn đề này trên đài truyền hình VNATV 57.3 có tính cách địa phương, hôm nay tôi muốn dành một ít thì giờ để trình bày một số tài liệu liên quan đến ông Trúc Hồ và đài SBTN. Tôi muốn minh xác là tôi hành động hoàn toàn độc lập, không a dua hay theo đuôi một phe phái, cá nhân, tổ chức nào cả, dù rằng cách đây khoảng một năm, trong thời gian phong trào ký thỉnh nguyện thư tranh đấu cho nhạc sĩ Việt Khang, thì cộng đồng quá mõi mệt, nhức óc và “buồn nôn” về trận chiến ỏm tỏi giữa ông nhạc sĩ Trúc Hồ và ông tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng. Cuối cùng để lại một đống rác với cái bản án nặng nề 4 năm tù ở và 2 năm quản chế mà cộng sản tròng lên đầu nhạc sĩ Việt Khang.

 

Tôi không bao giờ muốn đề cập đến chuyện riêng tư vặt vãnh của người khác, mà chủ trương duy nhất của tôi là “lột mặt nạ” những tên ăn cơm Quốc gia thờ ma cộng sản, tố cáo bọn chính trị gia xôi thịt, mị dân, khoác lác đi đâm sau lưng cộng đồng, và bạch hóa bọn truyền thông, ca nhạc sĩ, trí thức “đi đêm” với Việt cộng v.v.., và bài viết hôm nay cũng nằm trong ý nghĩa và mục đích đó.

 

Tôi phản đối ông Trúc Hồ và vắn tắt đưa ra một số nghi vấn về ông Trúc Hồ và hệ thống truyền hình SBTN như sau:

 

1) Tại sao ông Trúc Hồ tuyên bố những điều tuyên truyền có lợi cho cộng sản, và có hại cho người Quốc Gia chống cộng, mà điển hình một số câu như sau:

 

- "Chúng ta nên nhớ Việt Nam chúng ta bây giờ là một nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, là một nước có thành viên trong Liên Hiệp Quốc. Họ là một quốc gia có nhiều hợp tác với nhiều quốc gia khác, chúng ta phải tôn trọng cái sự đó."

 

- "Chúng ta không bao giờ kêu gọi lật đổ chế độ (cộng sản,) cái đó hoàn toàn sai, chúng ta phải mang tình yêu xóa tan hận thù."

 

Quý vị có thể copy cái Link để xem Youtube lời tuyên bố của Trúc Hồ:

 


 



 

2) Tại sao ông Trúc Hồ, giám đốc đài truyền hình SBTN lại thuê mướn hai tên Việt gian Đỗ Dzũng và Vũ Ánh vào giữ vai trò quan trọng show “Phân Tích Thời Sự” cho đài SBTN, trong khi hai tên Việt gian này là tay sai của cộng sản và bị cả cộng đồng phỉ nhổ và tẩy chay.

 



 

 

A) Đỗ Dzũng: 

 

 

 

Lâu nay Đỗ Dzũng là tổng thư ký cho tập đoàn báo Người Việt. Đỗ Dzũng từng là ký giả của các báo cộng sản tại Việt Nam được đưa Mỹ nhằm xâm nhập vào làng báo để thi hành Nghị Quyết 36 của cộng sản. 

 

Năm 2007, Đỗ Dzũng là người ký giả duy nhất tại California lên tận tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn để tham dự buổi dạ tiệc nhậm chức Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ của tân Đại Sứ Lê Công Phụng, và sau đó về viết bài, lên đài ca tụng “công lao và ơn đức” của tân Đại Sứ cộng sản Lê Công Phụng. Điều nói thêm Lê Công Phụng là nhân vật đại diện “nhà nước” ký văn bản “bán đất dâng biển” cho Tàu cộng, mà trong đó có Thác Bản Giốc.

 

Đỗ Dzũng viết bài trên báo Người Việt, và trả lời rất nhiều lần trên đài thân cộng BBC để nhục mạ cộng đồng tỵ nạn, ca ngợi cộng sản, mà đặc biệt trong đó Đỗ Dzũng tuyên bố trên đài BBC nhục mạ và kết tội nặng nề chiến sĩ Lý Tống trong việc xịt hơi cay văn công Đàm Vĩnh Hưng. Đỗ Dzũng đã lập luận cho sự “chính đáng” ca hát tại Mỹ của các ca nghệ sĩ “văn công” Việt cộng, và chỉ trích việc đồng hương biểu tình.

 

Đỗ Dzũng ra tòa làm nhân chứng cho tập đoàn báo Người Việt cáo buộc gian những người biểu tình chống tập đoàn báo Người Việt v.v…

 

B) Vũ Ánh:

 



 

Từ lúc qua Mỹ Vũ Ánh luôn bất mãn và mặc cảm, nên thường xuyên viết bài nhục mạ chính phủ, quân lực VNCH, và luôn mĩa mai, xỉa xói cộng đồng chống cộng. 

 

Với chức vụ phó chủ bút báo Người Việt. Vũ Ánh đã cho đăng bài thơ chúc Tết trên báo Xuân Người Việt 2006 nhằm ca ngợi các chóp bu cộng sản, khiến cộng đồng biểu tình phản đối kịch liệt.

 

 

Đầu năm 2008, với tư cách là chủ bút báo Người Việt, Vũ Ánh  lại lần nữa cho đăng tấm hình nhục mạ lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong chậu rửa chân nail trong Giai Phẩm Xuân Người Việt 2008, khiến cộng đồng phẫn nộ, và biểu tình liên tiếp chống đối tập đoàn báo người Việt cho đến nay là hơn 5 năm kể từ ngày 26 tháng 1 năm 2008. Vì bị biểu tình, tập đoàn báo Người Việt đã sa thải tên Việt gian Vũ Ánh ra khỏi tờ báo, thế mà ông giám đốc SBTN Trúc Hồ lại đi rước tên Việt gian Vũ Ánh này vể ngồi “chễm chệ” và thoải mái chống cộng đồng và ca ngợi Việt cộng trên đài.

 



 

Vũ Ánh trong những tháng gần đây đã viết nhiều bài đăng trên báo Người Việt và báo Sống, cũng như nói trên đài binh vực sách Bên Thắng Cuộc của văn nô Huy Đức tuyên truyền cho Việt cộng. 

 

3) Tại sao tập đoàn báo Người Việt bị hơn 160 tổ chức, cộng đồng, hội đoàn biểu tình tẩy chay, thế mà ông Trúc Hồ giám đốc đài SBTN liên tục đăng quảng cáo trên báo giấy và mạng báo Người Việt suốt cả mấy tháng qua?

 

Dưới đây là bằng chứng điển hình đài SBTN đăng quảng cáo trên mạng báo Người Việt:





 

4) Tại sao cô Hồng Thuận từng về Việt Nam và có liên hệ với cộng sản khi đứng dưới cờ máu cộng sản và tượng Hồ Chí Minh, thế mà ông Trúc Hồ lại có quá nhiều “liên hệ” với cô ta? Đặc biệt các hồ sơ danh tánh những người ký tên ủng hộ Thỉnh Nguyện Thư được giữ kín bí mật mà trong đó có hai người được biết, đó là ông Trúc Hồ và cô Hồng Thuận, nhưng nay theo báo Việt cộng phổ biến là chúng có trong tay toàn bộ mấy trăm ngàn danh tánh người Việt đã ký tên, thế thì giả sử nếu lời của Việt cộng là sự thật, thì ai là người giao danh sách cho Việt cộng ? Hồng Thuận hay Trúc Trúc hồ, hay đảng Việt Tân qua tay Hồng Thuận?

 

Tôi không có lý do nào và cũng không có nhu cầu gì để bận tâm đến đời sống tình cảm riêng tư của ông Trúc Hồ, tuy nhiên vì tôi quan tâm đến sự an ninh tính mạng của những người Việt tỵ nạn cộng sản đã ký tên trong các thỉnh nguyện thư, cũng như sự an toàn chính trị của cộng đồng hải ngoại, do đó tôi thấy cần đặt nghi vấn về sự tiếp cận gần gũi và thân mật giữa cô Hồng Thuận với ông Trúc Hồ, một người nắm trong tay toàn bộ danh sách của mấy trăm ngàn người Việt tỵ nạn. Liệu cô Hồng Thuận có phải là một gián điệp của Việt cộng gài “mỹ nhân kế” vào “đầu nảo tham mưu” của chiến dịch ký thỉnh nguyện thư để có thể ăn cắp danh sách bí mật và thao túng ông Trúc Hồ hay không? 

 







 

Năm 2008, Hồng Thuận biểu tình tại Liên Hiệp Quốc

 



Đảng viên Hồng Thuận đứng dưới khẩu hiệu, cờ búa liềm cộng sản, tượng Hồ Chí Minh tại Việt Nam. Ai ra lệnh và chỉ đạo cho Hồng Thuận làm việc này? 

 

 

 

Nhân dân đang đói nghèo, lầm than, thì đảng viên

Hồng Thuận đàn đúm, ăn chơi đú đởn tại Việt Nam.

Có phải là "kế sách" của đảng Việt Tân hay không?

 

 

 

 

 

 

 

Hồng Thuận đứng dưới cờ máu cộng sản, tượng Hồ Chí Minh và khẩu hiệu "Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh Muôn Đời" tại Việt Nam, và bây giờ Hồng Thuận trở thành cánh tay “mặt” của ông Trúc Hồ, phải chăng đây là trò “mỹ nhân kế” của Việt cộng? Nếu Hồng Thuận là “gián điệp nhị trùng” thì sẽ gây ra nguy hiểm cho cộng đồng ra sao?

 

 

 

Hồng Thuận (tay trái) "thoải mái" đứng với sinh viên tại Hà Nội, Việt Nam

 

Các hình dưới: Ông Trúc Hồ "sát cánh" với cô Hồng Thuận.

 







 

 

5) Nếu ông Trúc Hồ và đài truyền hình SBTN thực sự chống Việt cộng, thì tại sao Việt cộng cho phép đài truyền hình SBTN và phóng viên của đài truyền hình SBTN là ông Thanh Toàn về ăn ở dầm dề tại Việt Nam để thoải mái và tự do đi làm tin tức và thâu hình phóng sự từ Nam chí Bắc để gởi về đài SBTN ở Mỹ phát hình?

 

 

 

VIDEO: Xin bấm hay copy Link dưới để xem phóng viên Thanh Toàn của đài truyền hình SBTN do nhạc sĩ Trúc Hồ làm giám đốc, đang ở thường trực tại Việt Nam để phỏng vấn và làm "Ký Sự Truyền Hình" gởi thường xuyên về đài SBTN ở Mỹ. Tại sao cộng sản đồng ý để đài "chống cộng" được tự do hoạt động tại Việt Nam? Phải chăng giữa giám đốc Trúc Hồ và cộng sản Việt Nam có liên hệ và có trao đổi điều kiện lẫn nhau?

 


 







 

6) Nếu ông Trúc Hồ là người thực sự chống cộng thì tại sao Việt cộng cho thân phụ ông là ông Trúc Giang về “ăn dầm nằm dề” tại Việt Nam để hoạt động xã hội?

 

7) Nếu ông Trúc Hồ là người thực sự chống cộng và nổi tiếng như ông, thế thì khi ông Trúc Hồ điền đơn xin chiếu khán nhập cảnh Việt Nam với đầy đủ chi tiết và tấm hình rõ ràng mặt mũi của ông, tại sao đại sứ quán Việt cộng hay lãnh sự quán Việt cộng lại chấp nhận và đồng ý cho phép ông Trúc Hồ được đi về Việt Nam nhiều lần như lời tự thú của ông?

 

Xin mời quý vị bấm hay copy cái Link Audio dưới đây để nghe ông Trúc Hồ tự thú là ông Trúc Hồ đã từng về Việt Nam nhiều lần:

 

AUDIO: Ông Trúc Hồ xác nhận đã về Việt Nam nhiều lần. (dài 15 giây)



 

8) Ông ông Trúc Hồ quá hổn láo và xấc xược, khinh thường tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, và ngạo mạn cho rằng chỉ có Trúc Hồ mới là người làm được việc, khi ông Trúc Hồ tuyên bố trên đài Á Châu Tự Do rằng: "Ba mươi mấy năm qua, chúng ta đã thấy cái gì? Chúng ta không thấy gì hết, chúng ta chỉ thấy chúng ta biểu tình rồi chúng ta đi về"

 

VIDEO: Xin kéo mũi tên tới chỗ 04:37 để nghe Trúc Hồ nói phần trên:


 

Trên đời này không ai muốn làm “bad cop” cả, mà đều muốn làm “good cop” thôi, nhưng rồi nếu mọi người đều làm “good cop” thì ai sẽ phạt ticket những kẻ say sưa, vi phạm luật lệ lưu thông nhằm chận đứng bớt tình trạng lái xe cẩu thả, gây ra tai nạn chết người? Trong cộng đồng cũng vậy, nếu ai cũng “ngậm miệng ăn tiền” hay “dĩ hòa vi quý” thì ai là người đứng ra lột mặt nạ bọn Việt gian ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản đâm sau lưng cộng đồng? Tôi chấp nhận làm thằng “ngu” để nhận lãnh bao nhiêu tiếng bấc tiếng chì, nhục mạ, bỉ thử, nhưng trời sinh mỗi người đều có cái “nghiệp,” và tôi cũng phải trả cho xong cái “nghiệp” này. Lỡ sinh ra kiếp tằm thì phải nhả tơ, do đó những nhân vật nào, những tổ chức nào, những cơ quan truyền thông nào mà bị tôi “đặt

vấn đề” thì đó là ý trời mà thôi.

 

Tôi chấp nhận làm "người ác" để có cơ hội trừng trị và tiêu diệt bọn Việt cộng nằm vùng và lũ Việt gian ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản là tôi hài lòng rồi. Quan tâm chi đến những tiếng thị phi và lời ong tiếng ve tào lao, rỗng toét của thế gian.

 

Trong đấu tranh, tôi đóng vai công tố viên để bắt tội bọn Việt gian, quý đồng hương là bồi thẩm đoàn, và quý vị trưởng thượng, nhân sĩ, cộng đồng là quan tòa. Tôi luôn dành quyền phán xét cho quý vị, và tôi chỉ cố gắng đóng trọn vai trò của tôi mà thôi. 

 

Tôi chủ trương hoạt động một cách độc lập, không phe phái, bè đảng, do đó tôi không “lạnh cẳng, không luồn cúi hay sợ hãi bất cứ thế lực nào hoặc từ đâu tới. Tiêu chuẩn bài viết của tôi là sự thật, không chủ trương vạch lá tìm sâu hay vạch áo cho người xem lưng, mà cũng không chấp nhận tệ trạng “đẹp khoe xấu che,” “mặc áo thụng vái nhau.” Tôi không để ý đến chuyện bị trách móc, thị phi, tôi không quan tâm đến việc sợ đụng chạm hay ngại bứt dây động rừng, hoặc kẹt dây mơ rễ má, chính vì vậy các đối tượng mà tôi đề cập tới sẽ không ngoại lệ bất cứ một ai hay bất cứ tổ chức nào. Với tất cả sự tôn trọng danh dự của đối tượng, nhưng bên cạnh đó tôi sẽ không ngại ngùng dùng bất cứ ngôn từ nào “thích hợp”, hay xử dụng bất cứ văn phong nào “cần thiết” để diễn đạt trọn vẹn quan điểm của mình, còn sự phán xét và đánh giá xin dành cho độc giả. Dù vậy, các bài viết của tôi luôn được cân đo một cách cẩn trọng và được viết trong tinh thần trách nhiệm cao độ.

 

Dù rằng cổ nhân có dạy rằng: “Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu,” tức ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình, nhưng vì tôi quan tâm đến thành trì chống cộng tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon nói riêng và hải ngoại nói chung, và viết bài với cái tâm thành, nói lên lời công đạo, tôn trọng điều liêm chính nên tôi không cảm thấy lo ngại hay cắn rứt gì cả. 

 

Nhà ái quốc Nguyễn Trường Tộ đề cập đến lời của Hàn Dũ trong Thiên Hạ Đại Thế Luận rằng: “Biết mà không nói là bất nhân. Nói mà không nói hết là bất nghĩa,” và Văn sĩ Georges Duhamel cũng có khuyên: “Không nên nuôi oán hờn trong lòng, vì đó là tình cảm xấu, có hại cho kẻ khác và cho chính mình. Nhưng phải biết công phẫn đối với bất công, bạo lực. Kẻ nào dững dưng trước một sự bất công, oan ức là hèn nhát, ích kỷ, đáng khinh.”

 

Vào năm 1927, trong phần Dẫn Ngôn của sách Cao Đẳng Quốc Dân kê “toa thuốc” trị 10 tệ bệnh của quốc dân, nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu tức cụ Sào Nam đã viết: “…Tôi viết quyển sách này, chẳng qua dâng một phần nghĩa vụ với Quốc dân, hay dở, đúng không, hoặc có công hiệu gì không, thì quyền ở người đọc sách. Khổng Tử nói: “Tri ngã giả, kỳ duy Xuân Thu hồ, tội ngã giả, kỳ duy Xuân Thu hồ”, nghĩa là ai biết lòng ta tất ở sách Xuân Thu, ai bắt tội ta tất cũng ở sách Xuân Thu. Quyển sách tôi viết ra đây cũng nói như vậy.”

 

“Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý,” do đó tôi xin mượn lời vàng ngọc của nhị vị tiền bối nói trên làm kết luận cho bài viết này.

 

 



 

Nguyên văn toàn bộ Video Trúc Hồ tuyên bố trên đài SBTN tuyên truyền cho Việt cộng (dài 1 giờ)

 


 



 

Nguyên văn toàn bộ Video Trúc Hồ tuyên bố "bưng bô" Việt cộng tại nhà hàng Fortune tại Hoa Thịnh Đốn 

vào tối 5 tháng 3 năm 2012 nhằm tường trình kết quả nộp Thỉnh Nguyện Thư cho Tòa Bạch Ốc:  http://www.youtube.com/watch?v=BM_cub5kwkw (dài 36 phút 38 giây)

 

 






 

 




Nhạc sĩ Trúc Hồ tuyên bố đẩy mạnh cuộc vận động cho Nhân quyền VN


Là một trong những người khởi xướng phong trào ký thỉnh nguyện thư vận động cho Nhân Quyền Việt Nam, từ Quận Cam ở Miền Nam California, Nhạc sĩ Trúc Hồ cùng với các đại diện của Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt đã đến thủ đô Washington để có các cuộc gặp với giới chức Nhà Trắng cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ để trình bày về thực trạng nhân quyền Việt Nam.

RFA 08.03.2012

 

 

Sau các cuộc gặp gỡ trao đổi với cả Hành Pháp và Lập Pháp Mỹ, Nhạc sĩ Trúc Hồ đã dành cho Đài Á Châu Tự Do       một cuộc phỏng vấn đặc biệt xung quanh sự kiện này.

Diễm Thi : Xin chào Nhạc sĩ Trúc Hồ.

Nhạc sĩ Trúc Hồ :  Xin chào chị Diễm Thi và xin kính chào khán thính giả của Đài Á Châu Tự Do.

Diễm Thi : Trước tiên Diễm Thi xin cám ơn Nhạc Sĩ đã dành thời gian cho Đài Á Châu Tự Do. Và câu hỏi đầu tiên mà Diễm Thi cũng như mọi người Việt Nam đều muốn biết, đó là kết quả các cuộc gặp giữa giới chức Hoa Kỳ và đại diện của Cộng Đồng Người Việt ra sao ạ?

Nhạc sĩ Trúc Hồ :  À, đây là một sự thành công ngoài sức tưởng tượng! Có thể nói đây là một biến cố lịch sử! Cái  đẹp của từ em bé 3 tháng và cho đến của cụ già 94 tuổi đã đến từ 49 tiểu bang trên toàn Hoa Kỳ, ngoại trừ tiểu bang Alaska, vì có thể Alaska quá lạnh cho nên không có người về.

Nhưng mà cái chính của sức mạnh này thì chúng ta phải nói là nhờ tuổi trẻ trong nước: từ trong nước ra tới hải ngoại cả hai dòng máu mặc dù cách xa nhau bởi một đại dương, mặc dù cách xa nhau trên vấn đề nếp sống, nhưng mà cùng chung một chí hướng là muốn đất nước Việt Nam chúng ta toàn vẹn lãnh thổ, muốn trên đất nước chúng ta người dân Việt Nam có quyền làm người, thì nhờ những người đó mà chúng ta có được một biến cố mà anh có thể nói là có tính cách thiêng liêng của hồn thiêng sông núi đã tập họp được tất cả người Việt Nam hải ngoại chúng ta về một hướng.

Chuyện đó hầu như là một phép lạ. Đây chỉ mới là một bước đầu, nhưng là một bước đầu thật tuyệt với.

Diễm Thi : Dạ. Với thành quả ban đầu như vậy thì Nhạc sĩ Trúc Hồ cũng như những người cùng chí hướng sẽ có kế hoạch vận động tiếp theo như thế nào?

Nhạc sĩ Trúc Hồ : Chắc chắn rồi! Chúng ta đã gặp được đại diện của 49 tiểu bang và cái hay là những vị này đến với tư cách là những người dân bình thường, không thuộc đảng phái gì hết, không thuộc hội đoàn gì hết, bởi vì trong mùa bầu cử này không có gì quan trọng bằng cái phiếu cử tri thì chúng ta phải có kế hoạch là chúng ta tạo hạ tầng cơ sở ở từng địa phương một của 49 tiểu bang đó. 

Trúc Hồ và anh Võ Thành Nhân sẽ đích thân đi tới từng tiểu bang, từng thành phố để thành lập nên hạ tầng cơ sở. Chúng ta sẽ đào tọa những người bình thường đó, những người không có đảng phái gì hết, biết cách vận động dân biểu ở từng địa phương của mình, mình làm một cuộc vận động để tạo một hạ tầng cơ sở vững chắc, và song song đó thì Luật sư Đỗ Phủ và Anh Tuấn hiện giờ cũng đang làm việc thẳng với Tòa Bạch Ốc.








Monday, April 8, 2013

Hiến Pháp 26.10.1956 và Thực Tại Chính Trị Dân Chủ Miền Nam



Hiến Pháp 26.10.1956 và
Thực Tại Chính Trị Dân Chủ Miền Nam


                    Tiến sĩ Phạm Văn Lưu

            Trước đây, hơn 50 năm, vào đầu năm 1954, Việt Nam đã thực sự đứng trên bờ vực thẳm của một sự phá sản toàn diện. Thật vậy, tin Điện Biên Phủ thất thủ không những gây nên một không khí bi quan tột cùng tại Việt Nam, mà còn kéo theo một cơn lốc chính trị khiếp hải tại nghị trường Ba Lê, khiến chính phủ Laniel bị sụp đổ. Mandes France được quốc hội tín nhiệm lên làm thủ tướng với lời hứa hẹn sẽ giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương trong vòng 30 ngày, nghĩa là phải chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. Còn Hoa Kỳ, dù trước đó, được Pháp khẩn khoản yêu cầu can thiệp, Tổng Thống Eisenhower do dự, không dám quyết định, sợ mất uy tín vì viễn tượng vô cùng mờ mịt cả về quân sự lẫn chính trị tại Việt Nam.

            Trước tình thế hầu như tuyệt vọng đó, Ông Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không một quan sát viên quốc tế nào vào thời đó, dù lạc quan nhất đi nữa, dám tin rằng chính phủ Diệm có thể tồn tại hơn 6 tháng. Nhưng như một phép mầu, Ông Diệm đã vượt qua mọi khó khăn nghiệt ngã, cùng những âm mưu thâm độc đang vây hãm, muốn nhận chìm chính phủ của Ông từ trong trứng nước.

            Thật vậy, nhờ một ý chí quật cường, một năng lực vô song, tài lãnh đạo sáng suốt, cùng một cuộc sống đạo đức cá nhân trong sáng, thánh thiện và một thành tích chống Pháp và chống Cộng không tì  vết … đã giúp Ông Diệm thống hợp được ý chí dũng mãnh phi thường của toàn dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước dành độc lập và tự do cho tổ quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện được nhưng thành tưu đáng kể như sau:

            Biến một quân đội lệ thuộc ngoại bang và tình trạng nhiều quận đội trong một quân đội, thành một quân đội quốc gia độc lập và thống nhất, có tổ chức qui củ, có kỷ luật, có tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

            Biến tình trạng nhiều quốc gia trong một quốc gia, do nạn giáo phái hung cứ mỗi nhóm một phương thành một quốc gia thống nhất, với một cơ chế chính quyền trung ương vững mạnh, đủ uy lực để huy động mọi tiềm năng quốc gia vào công cuộc phát triển kinh tế, canh tân xã hội và kiến tạo một đất nước dân chủ tiến bộ trong ổn định và thanh bình.

            Thay đổi một cơ chế chính trị mơ hồ bằng một định chế chính trị dân chủ tiến bộ, với một bản hiến pháp, phù hợp với trào lưu chính trị thế giới, vừa đảm bảo được những quyền tự do cơ bản của mọi công dân, nhưng cũng vừa đủ mạnh để duy trì uy quyền quốc gia, nhằm đối phó với cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo do Cộng sản Bắc Việt chủ xướng. Đồng thời, tạo cơ hội để huy động mọi năng lực để tái thiết đất nước và xây dựng kinh tế thoát khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu của một quốc gia bị đô hộ mới thu hồi độc lập.

            Nhưng trong tất cả thành quả kể trên, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã coi trọng và rất tự hào về việc ban hành Hiến Pháp 26.10.1956, vì theo Tổng Thống, các quốc gia láng giềng Á Châu, đã mất ít nhất một vài ba năm mới có thể kiện toàn cơ chế căn bản của nền dân chủ của họ, còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa chỉ cần một năm đã ban hành được một bản Hiến Pháp dân chủ và tiến bộ, đồng thời đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của đất nước về mọi phương diện.

            Hình Thành Hiến Pháp 26.10.1956.

            Nếu cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 23.10.1955 là hệ quả của cuộc cách mạng tự phát do Ủy Ban Cách Mạng Quốc Gai gồm 18 chính đảng và đoàn thể cùng 29 nhân sĩ có uy tin của miền Nam lúc  đó thực hiện (xem Nhị Lang, trang 287-297)thì việc hình thành Bản Hiến Pháp đầu tiên của thể chế Cộng Hòa Việt Nam lại là thành quả một cuộc tranh đấu lâu dài của chính vị nguyên thủ quốc gia thời đó. Điều nầy được chính Ông Diệm xác nhận:

            “Cách đây 22 năm, khi tôi có trách nhiệm quan trọng trong chính quyền, tôi đã đòi hỏi thành lập một Quốc Gia Dân Cử. Nhưng người và hoàn cảnh hồi đó chống lại ý muốn ấy, nên tôi rời bỏ chính quyền.  Ấy vậy, khai nguyên một chế độ dân chủ, chẳng phải vì tình thế, mà cũng là việc tôi hằng chủ trương tranh đấu”. (Niên Giám Quốc Hội Lập Hiến, Sàigon, 1956, tr17)

            Tiếp đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã quan tâm rất nhiều đến tie^'n trình dự thảo Hiến Pháp 26.10.1956. Trong thực tế, bản văn pha'p lý căn bản nầy không chỉ là sáng quyền duy nhất của Quốc Hội Lập Hiến thời đó, mà còn có sự tham gia chỉ đạo rất tích cực của Tổng Thống Diệm nữa. Điều nầy đã thể hiện trong thông điệp của Tổng Thống gởi quốc Hội Lập Hiến trong ngày khai mạc 17.4.1956:

            Việt Nam là một nước Cộng Hòa độc lập, thống nhất và bất khả phân.

            Mỗi người công dân được sinh ra, đều được tự do và bình đẳng trước pháp luật. quốc gia phải bảo đảm cho họ những điều kiện đồng đều để họ hành xử quyền lợi của mình và hoàn thành các nhiệm vụ đã được giao phó. Chính phủ có bổn phận giúp đở và bảo vệ gia đình họ, để họ có thể phát phát triển một cuộc sống gia đình thuận hòa. Tất cả các công dân đều có quyền được hưởng một cuộc sống an bình, với mục tiêu duy nhứt là được làm việc với đồng lương xứng đáng để có thể tạo nên một sản nghiệp và nhờ đó có thể đảm bảo cho mình một cuộc sống đầy nhân phẩm và tự do, bảo đảm cho mình những quyền tự do dân chủ, và tạo cho mình cơ hội được phát triển đầy đủ bản chất riêng mình. Vì phúc lợi chung và vì ne^`n Cộng Hòa, chống lại những kẻ phá hoại nền tảng của cuộc sống cộng đồng và của Hiến Pháp.

            Chủ quyền quốc gia thuộc vê Quốc Dân.
            Quốc Hội Dân Cử được giao phó nhiệm vụ lập pháp.
            Tổng Thống của nên Cộng Hòa được bầu ra bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín, sẽ được ủy thác trách nhiệm hành pháp.
            Tòa án phải được hoàn toàn ddộc lập để có thể đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ được chế độ cộng hòa, trật tự, tự do và nền dân chủ.
            Một Viện Bảo Hiến cũng phải được thành lập để có thể giải quyết những tranh chấp có lien quan đến các luật lệ hiến định.
            Các lựu lượng kinh tế phải lien kết với nhau để hành xử quyền hành của họ bằng cách thiết lập nên một Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia (Ibid)

            Thực tại chính trị Việt Nam .
            Như mọi người đều biết, Hiến Pháp tự nó chỉ là một văn kiện pháp lý, không thể mang lại tự do dân chủ cho người dân, nếu chính quyền không thực tâm thi hành những điều khoản đã được long trọng công bố trong đó. Điều nầy thể hiện rõ nét trong thực tại chính trị tại các quốc gia cộng sản. Thực vậy, các quốc gia cộng sản cũng có những bản hiến pháp rất tiến bộ, qui định rất rõ rệt những quyền tự do căn bản của mọi công dân. Nhưng trong thực tế, đó là những chế độ độc tài toàn trị, chính quyền đã thâu tóm mọi quyền hành và những điều khoản căn bản mà Hiến Pháp đã dành cho người dân đều bị chính quyền chà đạp một cách thô bạo.

            Từ ý nghĩ đó, người viết muốn tìm hiểu một cách khách quan vô tư về thực tại chính trị Việt Nam trong việc thực thi văn kiện văn kiện pháp lý căn bản của chế độ. Đồng thời, cũng xin minh xác ở đây, trong bài nầy sẽ không đề cập đến nội dung của Hiến Pháp 26.10.1956, vì luật sư Hà Như Chi, dân biểu của Quốc Hội Lập Hiến và cũng là thành viên trong Ủy Ban soạn thảo Hiến Pháp, đã trình bày khá đầy đủ trong quyển Kỷ Yếu Ghi Ơn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xuất bản tại California, 2005, dưới nhan đề Quốc Hội Lập Hiến và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa, tr 31-44.

            Tổng Thống Ngô Đình Diệm độc tài?

            Phần lớn những chính trị gia đối lập với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, mà người viết được tiếp xúc, đều cho là Tổng Thống Ngộ Đình Diệm là một người độc tài, không chấp nhận đối lập, không biết liên kết với đảng phái quốc gia để tạo thành những liên minh chính trị có qui mộ lớn để động viên sự ủng hộ của toàn dân, nhằm chống cộng sản hữu hiệu, như Bs Nguyễn tôn Hoan, một lãnh tụ Đảng Đại Việt,hệ phái Miến nam đã phê bình Ông Diệm:

            Ông Diệm lúc đầu là một nhà cách mạng thật sự và đạo đức, tôi đã cộng tác với Ông trong những thời gian đầu của thập nên 1950. Nhưng đến khi Ông Diệm về nước cầm quyền 1954, Ông càng ngày càng tỏ ra độc tài không còn muốn nghe lời ai nữa, Ông không muốn chia xẽ quyền hành với các đảng phái quốc gia khác. Tôi không đồng ý với quan niệm đó và đã rời Việt Nam để sống lưu vong. (Bs Nguyễn Tôn Hoàn trả lời phỏng vấn của tác giả, tại San Jose, tháng 7,1986)

            Trước đó nhiều năm, khi còn giảng sư Lịch sử Chính Trị Việt Nam Hiện Đại, tại Viện Đại Học Đalat, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với ông Võ Văn Hải, bí thư của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và từ năm 1967-1975, ông cũng là giáo sư thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục nầy. Khi tôi hỏi về thái độ của Tổng Thống Ngộ đình Diệm đối với các chính khách đối lập, ông Hải tiết lộ:

            Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho rằng phần lớn các chính khách Việt Nam không có một kiến thức chính trị thực tiển và không hiểu thực tại chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia chậm tiến mới thu hồi độc lập như Việt Nam,Việt Nam lúc ấy phải đối đầu với hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 9 năm, trong đó mọi hạ tầng cơ sở bị tiêu hủy hoàn toàn, cầu cống, đường sá, hệ thống viễn thông … toàn bộ bị phá sập, cắt đứt. hệ thống ngân hàng sụp đỗ toàn diện vì không ai tin tưởng nữa.Từ đó kinh tế quốc gia đi vào ngỏ cụt đầy tăm tối … Chính trị thì vô cùng hỗn loạn, các giáo phái hùng cứ mỗi người một phương. Ngay tại đô thành Sàigon, lực lượng công an cảnh sát do Bình Xuyên nắm giữ, nhiệm vụ chính của họ không phải bảo vệ an ninh trậ tự cho dân chúng, mà để duy trì và củng cố mức thu nhập tài chánh cho các sòng bạc (Casino), các ổ điếm và các trung tâm hút thuốc phiện của Bảy Viễn. Quân đội do các sĩ quan Pháp nắm giữ, lúc nào cũng sẳn sàng thách thức quyền lực chính phủ, để bảo vệ quyền lợi của thực dân và tài phiệt Pháp. Thêm vào đó, đất nước bị chia đôi, chính quyền phải định cư cho gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào Nam. Mặc dù, theo hiệp định Genève, cuộc chiến đã kết thúc và cộng sản tập kết ra Bắc, nhưng thực tế họ đã gài người ở lại để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo mới. Thực dân Pháp, dù tuyên bố trao trả chủ quyền cho Việt Nam, nhưng trong thực tế vẫn còn có nhiều ý đồ đen tối để duy trì đặc quyền, đặc lợi của giới tài phiệt Pháp tại đây … đất nước vừa mới thu hồi độc lập, dân chúng còn bỡ ngỡ trước quan niệm tự do dân chủ, dân chúng còn ngheo đói, không đủ ăn đủ mặc. Nếu đem áp dụng những quan niệm dân chủ lý tưởng của Tây Phương chắc chắn sẽ đưa đến hỗn loạn.

            Trong hoàn cảnh đó, mà Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Ks Phan Khắc Sữu .. đòi phải áp dụng chế độ Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng Hòa Pháp Quốc,để đem hứng khởi lại cho người dân và cổ vũ cho mọi chính đảng tham gia vào mặt trận chính trị quốc gia nhằm đối đầu với cộng sản và thực dân …

            Theo Ông Diệm, các cụ không theo dõi những biến chuyển chính trị trên thế giới, đặc biệt các quốc gia Á Phi, sau khi thu hồi độc lập, họ cần phải có một chính quyền mạnh để có thể thực hiện các cuộc canh tân khẩn cấp về chính trị và kinh tế, để có thể bắt kịp đà tiến hóa của thế giới sau nhiều năm bị kèm hảm trong sự chậm tiến dưới chế độ thực dân đô hộ.  Và ngay quan niệm Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng hòa Pháp Quốc, đã lỗi thời ngay cả ở nước Pháp, một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời nhất thế giới nầy, vì nó gây nên quá nhiều bất ổn chính trị, có khi  trong một tháng mà phải thay đổi chính phủ đến 2 lần, có khi chính phủ tồn tại có 3 ngày là sụp đỗ … thử hỏi, một người có chút công tâm, một chút nhận thức về thực tế chính trị đất nước và chiều hướng phát triển kinh tế chính trị tại các quốc gia Á Phi, sau thế chiến thứ 2 … có thể chấp nhận quan điểm dân chủ của cụ Hoàn, cụ Sữu… không?

            Ông Diệm khẳng định, vì quyền lợi tối thượng của quốc dân và tổ quốc, Ông không thể chấp nhận quan điểm nầy.
            Nhưng bất hạnh cho cá nhân Tổng Thống Ngô Đình Diệm và có thể cho toàn thể miền Nam không ngừng ở đó. Ngày 27.1.1960, Cộng sản lợi dụng dịp Tết Nguyên Đán, bất ngờ tấn công vào Trãng Sụp, thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt Miên, với quân số cấp trung đoàn. Điều nầy chứng tỏ mức độ xâm nhập, phá hoại và khuynh đảo của cộng sản Bắc Việt đã đến độ nguy hiểm cho sự tồn vong của Việt Nam Cộng Hòa.

            Trong chính tình hình đó,thật là khó hiểu và đầy mĩa mai, tháng 4 năm 1960, 18 chính kách tên tuổi của miền Nam họp tại khách sạn Caravelle, đưa ra một kiến nghị đòi Tổng Thống Diệm mở rộng chính phủ, thực thi những quyền tự do căn bản trong Hiến Pháp như quyền tự do báo chí, tự do hội họp … thật là đầy bí ẩn, khi đát nước đang ở trong tình trạng khẩn trương của chiến tranh, các cụ lại đi đòi hỏi thực thi những điều tự do quá lý tưởng và không thực tế nầy. Đến nỗi, một nhà bình luận người Anh có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam, Ducanson đã nhận xét mà người viết có thể tóm lược như sau:

            "Nếu bản kiến nghị nầy được đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của một miền Nam không bị cộng sản Hà Nội đe dọa tiêu diệt, thì đó là yêu sách đáng được cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất, là khi cộng quân đã tấn công cấp trung đoàn và các vụ sát hại các viên chức chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày, thì đó là những yêu sách nếu không muốn bảo là ngớ ngẫn, thì ít ra cũng bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan." (Ducanson, Denis J. Government and Revolution in Vietnam, 1968)

            Dù vậy, nhưng biến cố nầy sau khi được nhà báo thiên tả như Jean Lacouture viết những bài tường thuật trên báo Le Monde tại Paris đã kết án chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là độc tài, không thực thi nghiêm chỉnh Hiến Pháp và không được sự ủng hộ của đa số chính khách đối lập trong việc theo đuổi chính sách chỉ đạo cuộc chiến tranh chống Cọng tại Việt Nam. Điều nầy đã làm xấu đi hình ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại chính trường Hoa Thịnh Đốn.

            Tiếp đến, một biến cố quân sự khác, đó là cuộc đảo chánh 11-11-1960 do Trung Tá Vương Văn Đông chủ xướng. Ông Đông là một sĩ quan thân Pháp, bất mãn với chính quyền Ông Diệm, kết hợp với một số sĩ quan gốc Bắc cũng bất mãn như ông, vì cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm kỳ thị địa phương, chỉ thích sử dụng người miền Trung (Đại Tá Phạm Văn Liễu đàm luận với tác giả tại California, 7-1986). Do đó, các sĩ quan nầy chủ động một cuộc đảo chánh quân sự một cách vội vã và thiếu tổ chức, chứ không có một hậu thuẩn chính trị nào đáng kể. Về phương diện chính trị, ông Đông có liên lạc với luật sư Hoàng Cơ Thụy, một người có họ hàng với ông, như là người phụ trách bộ phận chính trị của cuộc đảo chánh, nhưng ông Thụy không có liên lạc hay nối kết hoặc được sự ủng hộ của một chính đảng nào. (xem Vương Văn Đông, Binh Biến 11-11-1960, Phụ Nữ Diễn Đàn, Virginia, số 106 tháng 11/1992, tr 41-42). Chỉ khi Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, người tham gia đảo chánh vào giờ chót, cho mời nhà văn Nguyễn Tường Tam, kỷ sư Phan Khắc Sữu, vì không nắm vững tình thế lúc đó, nên các cụ ủng hộ cuộc đảo chánh vào giờ chót, và sau này, các cụ đã gặp khá nhiều hệ lụy phiền phức với chính quyền.  Trong khi luật sư Thụy, vì được CIA móc nối và khuyến khích thực hiện cuộc binh biến nầy từ trước, nên sau khi sự việc bất thành, CIA đã đưa vị luật sư nầy rời khỏi Việt Nam một cách an toàn.

            Rồi ngày 20.12.1960, Cộng sản Bắc Việt chính thức khai sinh Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam để phát động cuộc xâm lăng võ lực thôn tính Miền Nam.

            Ba sự kiện trên đây, đối với người viết, xảy ra hoàn toàn riêng rẽ, không có một liên hệ hỗ tương, nhân quả hay luận lý nào với nhau. Nhưng đối với dư luận, nhất là tại Hoa Kỳ, họ cho rằng ba biến cố nầy đã có một liên hệ nhân quả mật thiết, nghĩa là chính quyền Diệm độc tài, đàn áp đối lập, hạn chế những quyền tự do căn bản …, xa rời quần chúng, khiến đa số chán ghét chế dộ Diệm nên đã có những thành phần trí thức bất mãn như nhóm Caravelleđòi hỏi cải cách chính trị, nhóm sĩ quan nhảy dù thực hiện đảo chánh quân sự và sau khi những nỗ lực nầy thất bại, những thành phần đối lập nầy, không còn phương cách nào khác hơn, đã phải nối kết lại với nhau dựng nên Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, hoàn toàn độc lập với Hà Nội, xử dụng võ lực để chống lại chính phủ Miền Nam.Điều thiếu may mắn nữa cho Ông Diệm và cũng cho Miền Nam, là quan điểm nầy lại được  một chuyên gia rất có uy tín về Việt nam là G. Kahin, giáo sư của Địa Học nổi tiếng Cornell và cũng là cố vấn của Tổng Thống Kennedy về Việt Nam sau nầy nhiệt tình ủng hộ. (xem Kahin George, Intervention, 1986). Từ những nguyên nhân sau xa đó, uy tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chính giới Hoa Kỳ ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đến nổi, cuối năm 1961, những nhà làm chính sách tại tòa Bạch Ốc đã có lúc nghĩ đến việc ám sát Tổng Thống Ngô Đình diệm, nhằm thay đổi cơ chế lãnh đạo của Miền Nam.

            Trong thời gian đó, chỉ có chính quyền Úc có một cái nhìn sâu sắc và thực tiển hơn về vấn đề xây dựng dân chủ và đường lối chính trị cứng rắn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chủ trương theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng, Ngoại Trưởng R. G. Casey của Úc đã nhận xét:

            "Hai sự việc cần được mọi người ghi nhớ khi muốn chỉ trích chính quyền Việt Nam . Thứ nhứt, Việt Nam đang ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh lạnh. Chính phủ quốc gia đó, không thể để một khe hở nào cho đối phương khai thác. Một kẻ hở nào cũng sẽ cựuc kỳ nguy hiểm, không những cho Việt nam mà còn cho cả tự do của Đông Nam A` Châu nữa. Thứ hai, sự thực hiện dân chủ trên bình diện quốc gia là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam và cần phải có thời gian để phát triển các định chế, các truyền thống, các tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ theo đường hướng xây dựng và có trách nhiệm". (Richard Lindhelm, Vietnam, the First five years Ann Arbor, Michigan, 1959, tr 344)

            Quan Niệm Dân Chủ Việt Nam và Hoa Kỳ.

Sai Lầm của Mỹ
           Điều khá khôi hài, khi quan niệm dân chủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và của Tổng Thống Kennedy đều bắt đầu bằng hai chữ T. Đó là Dân Chủ Thành và Tín của Ông Diệm trong khi Dân Chủ của Kennedy là dân chủ thực tiển. Thật vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm luôn luôn chủ trương rằng đời sống dân chủ nói cho cùng … chính là việc đem áp dụng các giá trị thành và tín vào cuộc sống hằng ngày một cách thật hoàn hảo. Trong khi đó, các giới chức của chính quyền Hoa Kỳ chủ trương dân chủ thực tiển, nghĩa là dân chủ phải thực tế, từ ngữ tự do dân chủ, chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, chỉ một ý nghĩa vô cùng tương đối và tùy tiện, nhắm pphuc5 vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ thời đó đã khẳng định rằng, vì quyền lợi của nước Mỹ, không những họ có quyền mà còn có trách nhiệm để thay đổi cơ chế lãnh đạo Miền Nam lúc bấy giờ. Cũng như ngày nay, Hoa Kỳ chỉ đặt nhân quyền, tự do tôn giáo … với chính quyền Hà Nội, khi người Mỹ còn muốn mặc cả về những điều kiện kinh tế và thương mại cho giới tư bản Mỹ, nhưng khi những yêu sách nầy của Mỹ được Hà Nội thỏa mãn, thì những vấn đề nhân quyền … của Việt Nam chắc chắn sẽ không còn được chính quyền Hoa Kỳ đề cập đến nữa. Đó là những thực tại chính trị khá phủ phàng nhưng rất thực tế của nước Mỹ và cũng là nan đề trong việc thực thi dân chủ tại Miền Nam của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà người viết sẽ trình bày một cách chi tiết trong phần dưới đây.

            Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị, ‘Chia để Trị’
            Tổng Thống Ngộ đình Diệm thường tâm sự với các cộng sự viên thân tín:
            Người Mỹ không có khả năng phân biệt được thế nào là uy quyền quốc gia và chủ quyền dân tộc với lối cai trị độc tài … Vì truyền thống xã hội Việt Nam, bối cảnh chính trị và lịch sử của đất nước, đòi buộc các nhà lãnh đạo Việt Namphai3 chú trọng đến việc nâng cao chủ quyền quốc gia (Ngô Đình Luyện đàm luận với tác giả tại Ba Lê, tháng 9,1986).
            Thật vậy, xuyên qua lịch sử Việt Nam, quốc gia nầy đã bị người Trung Hoa cai trị gần một ngàn năm và hơn 80 năm bị người Pháp đô hộ. Những người thống trị ngoại bang nầy đã áp dụng một chính sách chia để trị nhằm chia rẽ Việt Nam và kiềm hảm quần chúng trong cảnh thất học, nghèo đói và chậm tiến. Cũng theo Tổng Thống Ngô đình Diệm, chính sách nầy đã để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt Nam trên nhiều bình diện khác nhau:
            Trước hết là tình trạng phân hóa. Điều nầy thể hiện khá rõ rệt trong lịch sử đất nước chúng ta. Sauk hi Ngô Quyền dành độc lập cho tổ quốc và chấm dứt thời kỳ lệ thuộc vào phương Bắc, đất nước chúng ta đã phải trãi qua thời kỳ Thập Nhị sứ quân. Và đến thế kỷ thứ 15, dân tộc nầy phải sống trong cảnh Nam Bắc Phân Tranh gần 100 năm. Dưới thời Pháp đô hộ, chính quyền thức dân đã chia Việt Nam thành 3 miền khác nhau: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ và được đặt dưới những chế độ chính trị khác nhau:
            Thật vậy, trên nguyên tắc, Bắc Kỳ và Trung Kỳ được đặt dưới chế độ Bảo Hộ (Protectorate), nhưng trong thực tế, cách thức cai trị ở Bắc kỳ và Trung Kỳ cũng khác nhau. Ở Bắc Kỳ, người Pháp đòi buộc Triều Đình Huế ủy quyền cho một viên chức Pháp gọi là Thống Sứ để đại diện Hoàng Đế Việt Nam điều hành công việc hành chánh tại miền đất nầy. Trong khi Trung Kỳ thuộc thẩm quyền của các Vua Triều Nguyễn, cai trị dân chúng dưới sự chỉ đạo của Khâm Sứ Pháp tại Huế. Còn Nam Kỳ được đặt dưới chế độ thuộc đia (colony) hoàn toàn do người Pháp cai trị. Người dân sống từ vùng nầy sang vùng khác; ví dụ như Bắc Kỳ vào Nam Kỳ, phải xin giấy thông hành (passport) giống như người từ quốc gia  sang quốc gia khác vậy. Rồi vào thập niên 1950, người Pháp đặt Cao Nguyên Trung Phần dưới một thể chế cai trị đặc biệt được mênh danh là Hoàng Triều Cương Thổ. Và tiếp theo, người Pháp cũng cắt một số tỉnh miền Dông và miền Tây Nam Kỳ đặt dưới quyền cai trị riêng của hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo.
            Áp dụng biện pháp cai trị đó, người Pháp nhằm mục đích tạo tình trạng phân hóa giữa người Việt và làm ung thối tiềm năng đấu tranh dành độc lập của dân tộc. Theo ông Ngô Đình Luyện, khi về nước cầm quyền, Ông Diệm đã phải đối dầu với tình trang chia rẽ trầm trọng. Do đó, chính phủ không còn cách nào khác hơn là tập trung quyền hành để thống nhất uy quyền quốc gia, nhằm xây dựng độc lập cho dân tộc, phát triển kinh tế, cải tạo xã hội và ngăn cản âm mưu khuynh đảo của cộng sản.
            Ngoài ra, để dễ dàng duy trì chế độ thực dân, người Pháp đã kiềm chế dân tộc Việt Nam trong cảnh thất học. Họ đã hạn chế việc xuất bản sách báo và kiểm soát gắt gao việc mở trường dạy học. Trong thực tế, chính quyền thực dân chỉ mở một số ít các trường học nhằm đào tạo một số công chức cấp thấp để phục vụ cho guống máy cai trị của họ tại Đông dương. Chủ ý của họ là tạo nên một giới thư ali5 thụ động, thiếu trách nhiệm, chỉ biết vâng lệnh và không biết tự tìm cách giải quyết các vấn đề. Do đó, khi thu hồi độc lập, chính quyền trung ương đã phải giải quyết tất cả mọi vấn đề trên toàn quốc. Theo ông Ngộ Đình Luyện, trong nội các của Ông Diệm năm 1955, chỉ có 2 đến 3 tổng trưởng là dám nhận lãnh trách nhiệm để điều hành các công việc thuộc phạm vi quyền hạn của họ. Còn những người còn lại, vì sợ trách nhiệm hoặc không đủ hiểu biết chuyên môn để giải quyết các vấn đề khó khăn; do đó, đã tìm mọi cách để tránh né và chuyển gánh nặng hành chánh của họ lên vai Tổng Thống Diệm. Chính vì tình trạng nầy, vào những năm sau cùng của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Diệm đã phải gởi hang núi hồ sơ cho ông Ngô đình Nhu, người cố vấn thân tín nhất của Tổng Thống để giải quyết. Đó là lý do giải thích tại sao hằng ngày Tổng Thống Diệm đã phải làm việc hết sức cực nhọc từ 5 giờ sáng đến nửa khuya và đôi khi đến 1 hy 2 giờ sáng ngày hôm sau.
            Như điều tai hại cho Tổng Thống Diệm, là những người cộng sự viên thiếu tinh thần trách nhiệm nầy, thường bí mật phàn nàn với cố vấn Mỹ, là Tổng Thống Diệm không biết ủy quyền cho các thuộc cấp, muốn tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, cho nên đã tạo nên nhiều sai lầm nghiêm trọng. (Theo Ngô Đình Luyện, đàm luận với tác giả). Chính vì vậy, mà Hilsman, Thứ Trưởng Ngoại Giao, Đặc Trách Viễn Đông Sự Vụ, khi quan sát tình hình Việt Nam vào đầu năm 1963, đã kết luận:
            Dù có biện hộ hay né` tránh thế nào đi nữa, vấn đề cuối cùng vẫn là nơi Ông Diệm.
(Xem Hilsman, To Move A Nation, tr 460)

            Phương Cách Thực Thi Dân Chủ.

            Đối với Tổng Thống Diệm, dân chủ kiểu Mỹ là một sản phẩm xa xỉ hoàn toàn không thích hợp với một quốc gia chậm tiến như Việt Nam . Cũng theo Ông, xã hội Việt Nam, đa số dân chúng hơn 80% sống ở thôn quê, còn đói nghèo, thất học, không có an ninh, luôn bị du kích Cộng sản đe dọa; thì những tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử chẳng có ý nghĩa gì cả đối với họ. Điều mà dân chúng ở nông thôn mong muốn là một chính quyền mạnh mẽ, đủ để bảo đảm an ninh cho họ chống lại sự khủng bố của Việt Cộng. Hằng đếm, du kích Cộng sản dùng sung hăm dọa để thu thóc gạo, cưởng bách con em họ phải tham gia hang ngũ cán binh Việt Cộng. Ngoài ra, dân quê cần chính quyền tạo cho họ một đời sống đủ ăn, đủ mặc chống lại sự bóc lột của chủ đất, và của một thiểu số có thế lực và giàu có. Rồi từ đó, họ có đủ phương tiện gởi con em họ đến trường học, hấp thụ được một nền giáo dục căn bản, đủ kiến thức chính trị cần thiết. Lúc đó, người dân quê sẽ biết xử dụng quyền tự do căn bản của họ, để thực sự tham gia các cuộc bầu cử và ứng cử nhằm ngăn chận những người địa chủ và một thiểu số giàu có, lợi dụng sự nghèo đói và thất học của họ đã khai thác và bóc lột họ.
            Lý thuyết của Tổng Thống Diệm đã được áp dụng vào thực tế qua những chương trình sau đây:
            Chương trình cải cách ruộng đất, được mệnh danh là chương Trình Người Cày Có Ruộng trong đó chính phủ mua đất của các địa chủ phát cho người nghèo.
            Chương Trình Dinh Điề, chính phủ đã thực hiện một công cuộc di dân từ các làng xã dân cư đông đúc và nghèo khổ; ở đó dân không đủ đất để cày hoặc đất đai quá cằn cổi, đến những vùng đất đai trù phú hơn ở Cao Nguyên để khẩn hoang lập nghiệp. Trong thời gian đầu, chính phủ giúp cho dân chúng đầy đủ các vật dụng để xây cất nhà cửa, các nông cụ canh tác. Đồng thời, chính phủ cũng cung cấp đầy đủ lương thực và quần áo để sống trong vòng 6 tháng đầu tiên để chờ đợi mùa màng sinh hoa lợi.
            Chương trình Khu Trù Mật, chính phủ đã chọn một số địa điểm ở thôn quê, để xây dựng các cơ sở với những tiện nghi của thành phố như lập nhà máy điện, đào gieng61 nước được trang bị máy bom tối tân, xây bệnh viện, trường học .. để dân chúng nông thôn hưởng thụ những tiện ích của đời sống văn minh.
            Chương trình Ấp Chiến Lược. Đây là chương trình rất quan trọng nằm trong sách lược của quốc gia nhằm chống lại cuộc chiến tranh khuynh đảo do chính quyền Hà Nội chủ xướng.
            Qua chương trình nầy, chính quyền địa phương đã thực hiện một cuộc thanh lọc để loại trừ những thành phần cộng sản nằm vùng ra khỏi dân chúng. Sau đó, chính quyen62 đoàn ngũ hóa dân chúng thành những tổ chức chiến đấu để chống lại sự khủng bố của cộng sản. (…)
            Về phương diện kinh tế, mỗi ấp đã trở thành một đơn vị phát triển kinh tế tự túc. Thật vậy, lúc đầu với một máy sản xuất gạch ngói có tính cách tiểu công nghệ do chính phủ giúp đở, với lối làm việc vầnn công và đổi công, chẳng bao lâu trong ấp, tất cả các nhà tranh được thay thế bằng các nhà gạch với mái ngói khang trang với vườn cây ăn trái tốt tươi và xinh đẹp.
            Về phương diện chính trị, mỗi ấp tự bầu lên một ban trị sự để điều hành mọi công việc trong ấp. đây là phương cách hữu hiệu và thực tiễn để người dân quê có thể tiếp tục xử dụng những quyền tự do dân chủ căn bản để bầu người đại diện của mình vào cơ cấu hành chánh xã ấp.
            Theo Tổng Thống Diệm, đây là cách thực hiện dân chủ hiệu quả nhất của một quốc gia chậm tiến đang phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại và khủng bố do Cộng sản điều động từ bên ngoài. Nói một cách khác, đây là cách phát triển dân chủ từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc của quốc Gia. Chỉ trong cơ cấu nầy, người dân quê cô thế và thất học mới thật sự được thụ hưởng những quyên tự do căn bản của con người. Cũng theo Tổng Thống Diệm, phương cách chính trị phù hợp với truyền thống dân chủ ngàn xưa của dân tộc Việt. Đó là người dân được quyến quyết định mọi việc trong làng, phép vua thua lệ làng. Và thượng tầng, vẫn được duy trì được uy quyền tối thượng của quốc Gia.
            Tổng Thống Diệm cũng thường nói với cộng sự viên thân tín như sau:
            Nếu đem áp dụng một cách cứng ngắt kiểu dân chủ Mỹ vào Việt Nam, không những không đem lại lợi ích cho Quốc Gia, mà còn tạo thêm cho một thiểu số giàu có bóc lột những người dân nghèo thất học, giúp phương tiện cho những chính trị gia cơ hội, xu thời và những thành phần thân Cộng ở các thành phố dùng các phương tiện truyền thông để chỉ trích chính phủ, gây thêm rối loạn trong một quốc gia cần sự ổn định, để theo đuổi cuộc chiến tranh sống còn chống lại âm mưu khuynh đảo của Cộng sản. (Võ Văn Hải, đàm luận với tác giả, tại Đalat, 1973)       

            (còn tiếp)
-Sai Lầm của Mỹ
-Dân Chủ Theo Lối Mỹ
-Nhầm Lẫn Chết Người


            Trong khi đó, những nhân vật  trí thức cấp tiến của Bộ Ngoại Giao Mỹ, Harriman, Hilsman, đã không hiểu được bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam nên đã có những nhận định và chính sách sai lầm khi theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng. Sau nầy, Tổng Thống Nixon đã phân tích điều đó trong tác phẩm No More Vietnam của ông. Ông cho rằng các chuyên gia của chính quyền Kennedy thời đó đã lầm lẫn cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh cách mạng. Trong khi đó, thực tế, đó là cuộc chiến tranh du kích, phá hoại, khủng bố, đột nhập từ bên ngoài do Cộng sản Hà Nội điều động.

Chính vì vậy, những chuyên gia nầy luôn luôn đòi hỏi phải mở rộng tự do báo chí, tự do hội họp và lập các đoàn thể, tạo điều kiện cho các chính trị gia đối lập tham gia vào nội các để có thêm hậu thuẩn trong quần chúng. (xem Nixon, op.cit., 1982)

            Đây là những điề kiện mà theo Tướng Taylor của Mỹ nhận xét, ngay chính nước Mỹ cũng không thể áp dụng được trong thời chiến tranh như Thế Chiến Thứ Hai chẳng hạn. Và ngày nay, sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt, thực tế càng cho thấy một cách rõ ràng hơn của các cố vấn chính trị của Tổng Thống Kennedy. Thật vậy, Miền Nam đã mất, không phải vì Cộng sản thành công trong việc kêu gọi dân chúng nổi dậy lật đổ chính quyền như sách lược khuynh đảo trong chiến tranh cách mạng do cộng sản chủ xướng. Nhưng thực tế, Miền Nam đã sụp đổ vì Cộng sản đã xử dụng thiết giáp, chiến xa, đại pháo và quân đội chính quy tiến vào Dinh Độc Lập, nghĩa là những phương tiện của một cuộc chiến tranh qui ước đột nhập từ ngoài vào, phối hợp với những hoạt động du kích phá hoại từ bên trong.

            Chính vì thế, Tổng Thống Diệm đã than thở:

            Chúng ta có một người bạn quí giúp đở tiền bạc nhưng không hiểu chi cả về chuyện Việt nam.
                                                            (Nguyễn Văn Châu, 1989, tr.228)       

            Trong khi đó, ông Nhu cũng thường tâm sự với cộng sự viên thân cận của ông như sau:

            Mỹ có thói quen bắt buộc các đồng minh phải rập khuôn như họ … nhưng ở Mỹ khác, ở Á Châu nầy khác … Trong một quốc gia hòa bình thì lại hoàn toàn khác với một quốc gia đang có chiến tranh. Tổng Thống kennedy khuyến cáo Việt Nam cải tổ cơ chế dân chủ có nghĩa là phỏng theo phong cách sinh hoạt chính trị xã hội Mỹ . .. Ông cha chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm chia rẽ, nạn kỳ thị và phe phái … Nếu ở Việt Nam áp dụng dân chủ như Mỹ thì chỉ đi đến tình trạng hổn loạn. Mà Việt Nam thì không thể chấp nhận được tình trạng hổn loạn giữa lúc đang có chiến tranh.(Bs trần Kim Tuyến, đàm luận với tác giả, Cambridge, tháng 9, 1986)

            Có lẽ một cách tổng quát phải nói rằng, đối với quan niệm Dân Chủ Tây Phương và tinh thần quản trị khoa học của Mỹ, lề lối làm việc của Tổng Thống Diệm không thể chấp nhận được và Tổng Thống Diệm quả là nhà độc tài vì Ông ta không biết cách ủy nhiệm quyền hành và phân quyền trong guồng máy cai trị quốc gia.

            Tuy nhiên, trong thực tại chính trị Việt Nam, có lẽ cũng là một sai lầm nếu nghĩ rằng những phương pháp đem lại kết quả tốt ở Phương Tây, nó cũng sẽ đạt được những thành tích như vậy, khi đem áp dụng ở Phương Đông. Và những nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn càng không thể tránh được những lỗi lầm nghiêm trọng, khi họ quá tự phụ về những hiểu biết của họ, nhưng trong thực tế, họ rất nghèo nàn trong kiến thức về văn minh và lịch sử Việt nam.

            Dân Chủ Theo Lối Mỹ

            Có một sự thật hết sức mĩa mai, các viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Mỹ luôn luôn đòi hỏi Tổng Thống mở rộng tự do, đề cao dân chủ pháp trị cho phép những đảng phái tham gia vào nội các, nhằm lôi cuốn sự ủng hộ của quần chúng về phía chính quyền. Đồng thời, chính họ lại là những người bất chấp cả những nguyên tắc căn bản của công pháp quốc tế, bí mật xử dụng quyền lực của Mỹ để lật đổ chính quyền Ông Diệm.

            Thật vậy, từ năm 1954, những nhà làm chính sách của Mỹ tại Bộ Ngoại Giao nghĩ rằng họ có quyền thay đổi chính phủ Việt nam, nếu quyền lợi của nước Mỹ đòi hỏi như vậy. William C.Gibbons đã phân tích chính sách đó như sau:

           Từ lúc khai sinh ra chính quyền Diệm vào năm 1954, nhiều nhà làm chính sách Mỹ đã cho rằng, trong những trường hợp nhất định nào đó, Mỹ quốc không những có quyền mà còn có trách nhiệm đem đến một sự thay đổi tại Việt nam. Đường lối nầy cũng khá phổ biến trong việc bang giao cũa Mỹ đối với chính quyền của những quốc gia khác trên thế giới, mà ở đó quyền lợi của Hoa Kỳ đòi hỏi những hành động như thế. Và để theo đuổi triết lý nầy, Hoa Kỳđã sắp đặt và hổ trợ những cuộc đảo chánh tại Ba Tư và Guatamala để thay thế những nhà lãnh đạo của những chính phủ của các nước đó, bằng những người lãnh đạo do Hoa Kỳ chọn lựa.
(xem William C.Gibbons, quyển II, 1961-1964, tr 140-141)

            Một sự thật khác cũng khá ngộ nghĩnh, các viên chức dân sự có học thức tại Bộ Ngoại Giao Mỹ thường tỏ ra thái độ bảo thủ, thực dân, khinh thường chủ quyền của các dân tộc khác. Trong khi đó, các tướng lãnh và các nhà quân sự tại Bộ Quốc Phòng lại là những người có đầu óc tiến bộ, ôn hòa, biết kính trọng chủ quyền cùa các quốc gia khác và lại am hiểu tình hình Việt Nam một cách sâu rộng hơn. Thật vậy, khi điều trần trước quốc Hội Mỹ, Thượng Nghị Sị Church đặt câu hỏi, liệu Mỹ có thể xử dụng áp lực buộc Ông Diệm phải thay đổi chính sách không? Tổng Trưởng Quốc Phòng Mỹ MacNamara trả lời:

            Vâng, việc xử dụng áp lực nằm trong khả năng của chúng ta. Nhưng việc bảo đảm để [Diệm] hành động phù hợp với những điều khuyến cáo của chúng ta, nó vượt ra ngoài khả năng của chúng ta.  Đây là một chính quyền độc lập và tôi nghĩ rằng thật không thích hợp để chúng ta cho rằng, đó là một thuộc địa [của chúng ta]. (xem Gibbons, op.ct., tr.192)

            Trong khi đó Tướng Taylor cũng đã xét một cách chính xác về tài lãnh đạo của Tổng Thống Diệm, khi ông phát biểu trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thương Viện Mỹ vào ngày 8.10.1963:

            Chúng ta cần một người cứng rắn để lãnh đạo quốc gia nầy, chúng ta cần một nhà độc tài trong thời gian chiến tranh và chúng ta đang có nhân vật đó. Quốc gia nầy đang trải qua một cuộc nội chiến và tôi nghĩ rằng cố gắng áp đặt những điều mà chúng ta gọi là những tiêu chuẩn dân chủ bình thường đối với chính quyền nầy là một điều không thực tế. (Ibid.)

            Nhầm lẫn chết người

            Nhưng sự khác biệt quan trọng hơn hết là những lý do thầm kín bắt nguồn từ quyền lợi của hai quốc gia. Đối với Tổng Thống Diệm, con người đã hy sinh cả cuộc đời của Ông để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền của Quốc Gia. Đối với Ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác bất cứ điều gì.Đối với Ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam , thì chủ quyền Quốc Gia bị xâm phạm, chính nghĩa của cuộc tranh đấu chống Cộng cũng mất…Do đó, dù có nhận bao nhiêu viện trợ của Mỹ đi nữa Miền Nam sẽ thua Cộng sản. Bài học của thực dân Pháp tại Việt Nam 1946-1954 đã cho thấy điều đó. Ông Diệm đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm đó cho Đại Sứ Nolthing biết:

            Việt Nam không muốn trở thành một xứ bảo hộ [của Mỹ]( Viet Nam does not want to be a protectorate)

            Xa hơn nữa, một nhà nho như Ông Diệm được đào tạo theo một hệ thống giáo dục đặt nặng trên những giá trị đạo đức cá nhân và gia đình theo quan niệm của Khổng Tử và Ông cũng hấp thụ quan niệm dân chủ cổ điển và lý tưởng Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau … từ thế kỷ 19 của Pháp. Do đó, Ông Diệm rất khó hiểu được thực tế chính trị văn minh nước Mỹ, một nên văn minh chú trọng đến những quyền lợi kinh tế vật chất và thực tiễn của đời sống. Tổng Thống Diệm đã lầm lẫn khi nghĩ rằng dù có những bất đồng quan điểm với những nhà làm chính sách Mỹ, nhưng vì sự nghiệp đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ và chống Cộng chung của hai Quốc Gia, Hoa Kỳ là đồng minh mà Ông có thể dựa vào lúc chung cuộc.

            Nhưng đây chính là sự lầm lẫn hết sức nghiêm trọng có lẽ đã dẫn đến cái chết của Tổng Thống Diệm. Vì cho đến lúc chết, Ông Diệm vẫn không tin rằng chính Tổng Thống Kennedy đã chính thức chấp thuận một cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của Ông. Trong thực tế, nếu Ông Diệm biết cuộc đảo chính do người Mỹ sắp đặt, Ông ta nghĩ rằng đó chỉ là một số nhân viên trong chính quyền Mỹ và những nhân viên CIA chống Diệm mà thôi.

            Thật vậy, chính Tổng Thống Diệm cho đến 10 giờ sáng ngày 1.11.1963, vẫn còn tin rằng chỉ có CIA Mỹ nhúng tay vào vụ đảo chánh, cho nên Ông đã phàn nàn với Đại Sứ Lodge về âm mưu đó:
            Tôi biết sẽ có một cuộc đảo chánh xảy ra, nhưng tôi không biết ai sẽ thực hiện.
            I know there is going to be a coup, but I don’t know who is going to do it.
(Điện văn của Tòa Đại Sứ Sài Gòn số 841 ngày 1.10.1963)

            Lodge còn long trọng trả lời Tổng Thống Diệm:
            Ngài có thể an tâm, nếu có bất cứ người Mỹ nào có hành động sai trái nầy, tôi sẽ trục xuất họ ra khỏi nước nầy.
            (You can be sure if any American committed an impropriety, I [would] snd him out of the country. (Ibid.)

            Trong khi đó, Tổng Thống Diệm đã không thể nào hiểu được rằng, chính Tổng Thống Kennedy, nhà lãnh đạo chính quyền nước Mỹ, một quốc gia thượng tôn pháp luật và dân chủ, đã chính thức chấp nhận cuộc đảo chánh để ám hại Ông.

            Tóm lại, sau khi duyệt xét lại những liên hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam , cùng những khác biệt quan điểm dân chủ giữa Tổng Thống Diệm và chính quyền Kennedy ta thấy những đổ vỡ khó có thể tránh được. Vàviên đạn mà các tướng lãnh Việt Nam quyết định bắn vào đầu Tổng Thống Diệm và Ông Nhu, cố vấn của Ông vào ngày 2.11.1963 đã là một sáng kiến của người Mỹ, được lưu trử trong tài liệu Hội đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ từ năm 1961, mặc dù đã được bôi xóa một cách cẩn thận. Thật vậy, trong bản lược thuật ngày 5.10.1961 gởi cho Carl Kaysen, một thành viên trong ban Tham Mưu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Frank C.Child, một cựu nhân viên trong Phái Bộ Viện Trợ của Đại Học Tiểu Bang Michigan tại Việt Nam , đã viết:

           Chỉ có một cuộc đảo chánh quân sự - hay là một viên đạn ám sát – mới thay thế quyền lãnh đạo tại Việt Nam .

            Từ những dữ kiện nầy cho thấy một số giới chức tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chuẩn bị cho cuộc đảo chánh và có ý định tiến hành một cuộc ám sát Tổng Thống Diệm từ lâu.

            Và cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 bắt nguồn từ những lý do sâu xa, đó là khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, giữa quan niệm về Dân Chủ Tự Do, những định chế chính trị và hoàn cảnh xã hội của Quốc Gia phát triển kỷ nghệ và một Quốc Gia chậm tiến, cộng thêm với sự hiểu biết về bản tính cá nhân và mâu thuẩn quyền lợi quốc gia đã khiến nhà lãnh đạo của nước Mỹ phải chính thức quyết định một cuộc đảo chánh lật đổ vị lãnh đạo của một quốc gia gọi là Đồng Minh với họ.

            Có lẽ các lãnh đạo Hoa Kỳ đã không hiểu rõ hay không đánh giá đúng mức tầm quan trọng của những khác biệt đó cho nên sau khi đã lật đổ Tổng Thống Diệm, lập lên được những chính phủ quân nhân như họ mong muốn, họ vẫn thất bại không đem đến sự ổn định và dân chủ cho dân chúng Miền Nam. Có lẽ cũng chính vì lý do đó, mà với phương tiện chiến tranh hết sức qui mô và tối tân của một siêu cường bậc nhất trên thế giới, họ đã thua cuộc chiến tranh tại phần đất nghèo nàn và nhỏ bé như Việt Nam .

Tiến sĩ Phạm Văn Lưu
Melbuorne 10.2006
                                                                                                                                                                             

Công Lý là gì? Câu chuyện của hai vụ án


 

Công Lý là gì? Câu chuyện của hai vụ án


© Bảo Giang

Vào khoảng tháng 3-2012, tại miền tây nam Sydney, Úc Châu có một vụ án như sau”. Ông Spring một cư dân của thành phố đang lúi húi với một số công việc vụn vặt ở trong garage ( nhà để xe và chứa những vật dụng làm vườn, vật dụng ít dùng tới) nghe thấy có những tiếng động khác lạ ở khu nhà trên. Ông dừng tay, cầm theo một con dao làm vườn khi trở lại nhà trên.

Cửa mở, ông bước vào phòng khách. Cả hai, chủ và tên trộm, đều hoảng hốt khi giáp mặt nhau ở một vị trí gần như đụng vào nhau. Tên trộm, theo bản lãnh nghề nghiệp, rút cây súng ra ra uy hiếp chủ nhân, đòi tiền. Ông Spring, người được mô tả là có tướng đi chậm chạp, cũng nhanh nhẹn không kém.

Khi súng chưa kịp nổ ông đã tiến thêm một bước và cho tên ăn trộm một con dao vào bụng. Hoảng thần hồn, tên trộm vất bỏ cả súng…giả, (cây súng thật nhưng đã rỉ xét, hoàn toàn bất khiển dụng) phóng ra khỏi nhà. Cùng lúc ấy, đồng chí của y đợi ở ngoài, mở máy xe.

Chờ cho người đồng chí của mình lao vào xe là chạy bay biến đi trước lời réo gọi của chủ nhân ” đứng chạy nữa, mày đã bị thương nặng rồi”! Bản tin lúc 6 giờ chiều đánh đi như thế, kèm thêm hình ảnh cảnh sát đến tận nơi để tìm hiểu thêm sự việc. Hình ảnh của ông Spring không được đưa lên màn ảnh.

10 giớ sáng hôm sau, một bản tin từ bệnh viện cách nơi xảy ra vụ trộm chiều hôm trước khoảng 30km cho biết. Họ nhận một bệnh nhân lúc 8 giờ tối với vết thương rất nặng ở vùng bụng do người đi đuờng bắt gặp y nằm ở công viên, nên gọi xe cứu thương chở Y vào bệnh viện cứu cấp. Nạn nhân đã chết tại bệnh viện vì nhập viện trễ. Tin tức sau đó xác nhận, y chính là tên trộm đã nhận một con dao lút cán của ông Spring! Và đồng chí lái xe cũng bị bắt sau đó hai ngày.

Trở lại nhà ông Spring. Sáng hôm sau dày đặc lớp phóng viên và cảnh sát chìm nổi hiện diện. Nhưng không một phóng viên nào được phép vào nhà, chụp hình và gặp ông ngoại trừ những viên chức có thẩm quyền. Khu đất và căn nhà ông ở bỗng nhiên rất lạnh. Lạnh thêm vì một tấm hình chụp một nửa người ông với cái mũ chụp xuống mặt, đứng sau cánh cửa, được đưa lên báo vào ngày hôm sau.

Những người hàng xóm của Spring nhìn nhau ngơ ngác. Họ không thể tin rằng, ông gìa ngoài 50 ấy bỗng trở thành một kẻ “ giết ngưòi”. Nhìn chung, mọi người đều đồng ý về nhát dao của ông Sring, đã khai trừ ra khỏi xã hội một tên tội phạm ( dù chưa ai phán quyết là nặng hay nhẹ)! Tuy nhiên, nhiều người lo rằng ông ta sẽ mắc vào vòng lao lý. Họ bàn ra tán vào dù chẳng ai hỏi ý kiến.

Họ đều cho hành động tự vệ để bảo vệ quyền sống và an ninh trong nơi mình cư ngụ của ông là chính đáng. Bàn về tên trộm, có người cho rằng, khi đi ăn trộm giữa ban ngày, hắn… quên không mang theo thẻ đảng do Việt cộng cấp phát, lại cũng không được bí thư tỉnh ủy Hải Phòng điều đi, nên mất mạng. Y phải về với “bác” Hồ. Y chả nên trách con dao của ông Spring qúa bén!

Trước khoảng thời gian đó vài tháng, Tiên Lãng, Hải Phòng cũng xảy ra một vụ việc tự vệ tương tự. Ông Đoàn văn Vươn, và Đoàn văn Qúy biết rõ là khu đất nhà mình thuê mướn dài hạn đang bị các đoàn đảng viên lãnh đạo ở Tiên Lãng, Hải Phòng dòm ngó, tính toán, chơi trò “ cưỡng chế” để chia nhau mỗi quan vài ba hecta ao cá, đầm tôm mà hưởng lộc theo cái luật gọi là “quy hoạch”.

Một loại luật duy nhất chỉ xuất hiện dưới trào cộng sản. Nó có khả năng biến ” chủ nhân” của đầm tôm sau gần hai mươi năm dầm mưa, dãi nắng, đổ mồ hôi nước mắt xuống vùng đất hoang. Từ việc cải tạo đất, trồng cây, đắp đê ngăn nước lấn ra biển, đến mượn vốn ngân hàng, khai ngòi, làm nhà, vượt đường, biến hoang vu thành một khu đầm nuôi thuỷ sản sinh lợi nhuận. Khả dĩ có thể nuôi sống tạo tương lai cho gia đình và trả nợ cho ngân hàng thành kẻ trắng tay và tự ôm lấy cái nợ cả đời không thể trả.

Theo đó, trong bước đường cùng để bảo toàn sinh mệnh cho mình và gia đình, Đoàn văn Vươn đã có những tính toán riêng. Không thể để cho bọn cướp tự tung tự tác với cái thẻ đảng viên, mang súng đạn vào cướp toàn bộ tài sản và ngưồn sống của gia đình anh. Và nếu phải đánh đổi, Vươn sẵn sàng chấp nhận cái mất, cái thiệt thòi cho gia đình mình, nhưng xã hội sẽ thoát khỏi nạn cưóp giữa ban ngày.

Tiếng nổ nếu có, nó sẽ có khả năng thay đổi bộ mặt của xã hội trong tương lai. Đó là ý chí của Vươn và Qúy, biến thành hành động trong việc sửa soạn cho bình gas và dăm ba cây súng hàng chợ, được cài đặt trong khu đất vẫn còn thuộc quyền sở hữu của mình. Vũ khí này bình thường không thể gây xát thương, nhưng nó sẽ gây ra tiếng nổ lớn, nhằm cảnh tỉnh người xâm phạm bất hợp pháp hơn là chủ trương lấy mạng của khách qua đường. Nhìn chung, chuyện rào dậu ấy không khó hiểu và có thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, sự việc đã diễn biến ra ngoài tính toán của Đoàn văn Vươn. Những tên ác ôn côn đồ giả danh nhà nước chỉ sợ Tàu cộng, không sợ dân. Nên đã đưa bầy đoàn đến thực hiện cuộc ăn cưóp giữa ban ngày. Súng đạn từ ngoài nổ như đánh trận, cộng tiến công như vũ bão vào đầm tôm, chỉ thiều xe tăng, tàu bay bọc hậu….Trong khi đó, bình Gas tự chế không nổ, chỉ có vài viên đạn súng hàng chợ ( hoa Cải) đì đẹt.

 Sau giờ giao tranh, kết qủa được ghi nhận trên báo chí như sau: 4 bộ đội cộng sản bị thương, 2 tên côn đồ dưới dạng công an, trong đó có viên trưởng đồn cấp huyện bị thương được đồng bọn mang vào nhà thương cứu cấp. Phía tự vệ, Đoàn văn Vươn, Đoàn văn Qúy, Đoàn văn Sịnh, Đoàn văn Vệ bị bắt. Hai bà Nguyễn thị Thương, Phạm thị Báu, là vợ của Vươn và Qúy bị quản chế, toàn bộ nhà cửa của Vươn và Qúy, dù nằm ở ngoài khu bị cưỡng chết, đều bị nhà nước đánh sập. Việc cho xe ủi vào đánh sập các căn nhà này xảy ra đúng theo chủ trương của đảng là biểu dương sức mạnh của đảng. Kế đến là xóa bỏ tất cả các dấu vết đạn đã bắn vào khu nhà ở của Vươn và Qúy như lời trưởng công an Hải Phòng, người chỉ huy trận đánh đã mô tả là, “Trận đánh đẹp, hợp đồng tác chiến cao độ, các phương hướng tiếp cận chính xác, có thể ghi thành sách để cho các quân trường học tập”! Khiếp qúa!

A, Những điểm tương đồng của hai vụ việc:
1. Về Phía người vi phạm tài sản công dân.


- Cả hai đều có chủ trương đi lấy của người về làm của mình.
- Cả hai đều vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Cả hai đều có vũ trang khi đi chôm chỉa tài sản của người khác ( tỏ rõ ý định áp lực với đối phương, giết người nều cần)


2. Về phía những người tự vệ:

- Cả hai đều phải bảo vệ tính mạng, tài sản và sự an nguy của gia đình.
- Cả hai đều bị dồn vào bước đường cùng.
- Cả hai đều mạnh dạn trừ hại cho xã hội.
- Cả hai đều cô thân, đơn thế.


B. những điểm dị biệt của hai vụ việc:

1. Về phía những kẻ vi phạm pháp luật.

* Vụ ở Sydney, làm ăn cá thể, trong người không có thẻ đảng do Việt cộng cấp phát. Võ trang kém. Tài sản trong nhà chưa bị lấy đi. Phần công luận, tất cả báo chí đều lên án hành động xâm phạm gia cư bất hợp pháp và bảo vệ quyền an sinh của con ngưòi. Đặc biệt, ở đó Công Lý của xã hội được luật pháp bảo đảm.
* Vụ Tiên Lãng: Có hợp đồng tác chiến với tập thể mạnh. Võ trang đầy đủ súng đạn. Tất cả đều được đảng trực tiếp chỉ đạo, từ tham mưu đến hiện trường đều được phân công, trách nhiệm. Theo đó, toàn bộ tài sản như nhà cửa của phía nạn nhân đã bị san bằng lập tức. Phần tôm cá ở dưới đầm nước chưa thể vớt ngay được. Hôm sau, cán bộ điều động người thân đến vơ vét nhẵn. Về tuyên truyền, toàn bộ báo chí và đài phát thanh của nhà nước vào cuộc, hồ hởi ca tụng cuộc chiến chớp nhoáng, đem lại vinh quang, thắng lợi vượt mức cho đảng, và đồng loạt biến nạn nhân thành những kẻ giết người! Phần Công Lý, không có luật pháp bảo vệ cho Công Lý trong chế độ CS và ở đó, luật pháp cũng chả biết Công Lý là gi. Có chăng bạo tàn, gian dối thành Công Lý chăng?


C. Kết qủa:1. Vụ Sydney. Vì làm ăn cá thể, kẻ xâm phạm gia cư bất hợp pháp đã bị gia chủ đâm tại chỗ và chết ở trong nhà thương. Gia đình của người chết phải trả tiền cho bệnh viện trong thời gian y được cứu cấp. Phần đồng chí lái xe cho y bị bắt và vào tù.Nguòi dân vì bảo vệ an ninh và tài sản của mình, tự vệ chính đáng. Ông Spring không bị mời lên đồn công an một ngày nào. Trái lại, trong thời gian đầu, an ninh luôn có mặt tại khu vực để bảo đảm an toàn cho ông.

Ông vẫn ở nhà với những sinh hoạt bình thường. Khi cần thêm chi tiết, cảnh sát đến gặp ông tại nhà và phải có hẹn trước. Sau ba tháng ông nhận được quyết dịnh của tòa án tại nhà. Tòa công bố, miễn truy tố dưới mọi hình thức. Mọi việc lại trở lại bình thường. Không một ai bàn tán gì nữa. Công Lý đã sáng tỏ, phần cá nhân, ông rất lấy làm tiếc vì nhát dao qúa mạnh trong lúc hoảng hốt2. Vụ Tiên Lãng: Do đảng lãnh đạo và thuộc tập đoàn tác chiến của nhà nước, nên, những kẻ xâm phạm gia cư bất hợp pháp do nhà nước chỉ đạo, đều lãnh công ban thưởng. Khi bị thương được đảng bao che, đưa vào nhà thương cứu chữa, tiền thuốc men, dưỡng bệnh, bệnh phí do dân trả.

Phần người dân tự đứng ra bảo về quyền lợi và sinh mệnh của bản thân và gia đình thì bị bắt, bị đưa ra tòa với một bản án phi nhân quyền được công bố vào ngày 4/4/2013
- Đoàn Văn Vươn: 5 năm tù giam về tội giết người
- Đoàn Văn Quý: 5 năm tù giam về tội giết người


- Đoàn Văn Sịnh: 3 năm 6 tháng tù về tội giết người

- Đoàn Văn Vệ: 2 năm tù về tội giết người

- Phạm Thị Báu (Vợ anh Quý):18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng về tội chống người thi hành công vụ

-Nguyễn thị Thương ( vợ Đoàn văn Vươn): 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội chống người thi hành công vụ

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một điểm là. Đồng chí X, đang giữ chức thủ tướng Việt cộng cũng đã công khai xác nhận là: “Việc cưỡng chế ở Tiên Lãng là sai pháp luật”. Chẳng biết đồng chí X nói là sai pháp luật nào, ( chắc là luật ở bên tây) chỉ thấy Tòa án ở Hải Phòng đem vụ việc ra xử, nên người dân cũng chẳng biết họ xử theo pháp luật nào nốt?

Riêng phần tài sản thì chẳng có luật lệ nào nói đến nên, tòa án Hải Phòng chỉ biết kết án người theo lệnh đảng. Nên không nghe nhắc nhở gì về việc bồi thường thiệt hại về phần tài sản, công sức, cũng như nhà cửa vô tội của các gia đinh Đoàn văn Vươn, Đoàn văn Qúy đã bị đánh sập. Trường hợp nếu có bồi thường thì không biết đó là tiền đóng thuế của người dân, hay là tiền túi của những kẻ đi làm cưỡng chế đã sai pháp luật, còn ra lệnh phá hoại tài sản của người dân. Riêng việc điều người đưa thuyền đến quăng lưới, vơ vét tôm cá ở trong đầm vào những ngày hôm sau thì chắc là…. huề, vì chả tìm ra người đến quăng lưới và cũng chả biết là bắt được mấy con tôm, mấy con cá mà đền!

Để Kết: Công Lý là gì?

Tôi không dám có định nghĩa. Tuy nhiên, theo tôi, Công Lý là sự ngay thẳng, chân thật, phù hợp với những lý lẽ tự nhiên,( kể cả siêu nhiên) được giáo dục nghiêm minh, cặn kẽ, được phát triển rõ nét trong xã hội và luôn sống ở trong lòng người. Nhờ đó, tính công bằng xã hội được thể hiện, giúp cho con người và xã hội có được cuộc sống an toàn, thịnh đạt. Như thế, dù là ở Đông, hay ở Tây, đều có anh sáng của Công Lý soi dọi cho bước đi của con người. Tuy nhiên, sẽ không bao giờ Công Lý được thể hiện ở trong chế dộ cộng sản và Công Lý không bao giờ có ở trong lòng những người quen gian dối. Theo tinh thần này, nhiều người cho là: Nếu đi ăn cướp. đập phá tài sản của người dân mà được gọi là thi hành công vụ như trường hợp ở Tiên Lãng, Văn Giảng…, thì trong tương lai, ở Việt Nam sẽ còn xảy ra nhiều vụ “ thi hành công vụ” tàn bạo hơn thế nữa.

Theo đó, nếu như người dân Việt Nam muốn tránh tai họa ấy đến cho mình và cho con cháu mình thì chỉ có một con đường duy nhất để đi là. Tất cả chúng ta đừng đứng sau khung cửa nữa. Trái lại, hãy mạnh dạn bước ra khỏi nhà. Hơn thế, hãy bước ra đường, nắm lấy tay người hàng xóm. Hãy nắm lấy tay người đi trên đường . Nắm lấy tay anh công nhân, nắm lấy tay bác nông dân, nắm lấy tay em, tay chị, tay anh, tay người chiến binh Việt Nam, để truyền cho nhau sức sống.

Sợ hãi sẽ lui đi. Nhịp chân bước vững vàng hơn. Rồi chúng ta cùng đi trong hiên nganhg, khí thế. Phản đối cảnh tàn bạo dã man mà nhà nước cộng sản đã và đang đối xử với đồng bào của chúng ta. Rồi cùng nhau chấm dứt những cảnh oan khiên ấy trên đất nước của chúng ta trong ôn hòa, trật tự. Có làm như thế, cuộc sống trong an cư lạc nghiệp mới đến. Trái lại sẽ chết lần mòn trong cô đơn tủi hờn theo lệ xin cho của kẻ độc tài toàn trị vì Công Lý không bao giờ có ở trong các chế độ gian dối và bạo tàn như cộng sản.

© Bảo Giang

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link