Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, April 16, 2013

NHỮNG CUỘC RA ĐI


Kính mời quý vị đọc:

NHỮNG CUỘC RA ĐI

và nghe nhạc phẩm:

SẦU LY HƯƠNG

Nhạc : Huỳnh Trọng Tâm

Trình bày: ca sĩ tâm Thư.

                                                                        UNICODE

NHỮNG CUỘC RA ĐI 

GS NGUYEN THIEN THU.

Kể từ 1945, người Việt Nam đã nhiều lần bỏ nước ra đi. Khi Việt Minh nổi lên, tàn sát các nhà áí quốc và các tôn giáo thì một số đã thầm lặng ra đi như gia đình cựu hoàng Bảo Đại. Sau 1954, một số người cũng bỏ nước ra đi theo quân đội viễn chinh Pháp như Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo,Nguyễn Văn Hinh.. .

 
Sau 1968, một số cũng đã ra đi. Trong khoảng 1950-1970 , một số tướng tá VNCH cho con sang Pháp học, sau đó đám này trở về Hà Nội làm tay sai cho Hà Nội.

Đến năm 1975, thì một số đông đồng bào miền Nam đã băng rừng, vượt biển đi tìm tự do.Khoảng nửa triệu đã chết dưới biển hoặc ở rừng sâu. Ở đường bộ qua Thái Lan, nữ sĩ Hồ Điệp đã bỏ mạng. Trong các cuộc băng rừng, vượt biển, vì sóng nước, vì thuyền hư, hết xăng ,hết lương thực và lạc đưòng, dân ta bị hải tặc Thái Lan và bọn Việt cộng ở Côn Đảo, Phú Quốc, Châu Đốc giả làm hải tặc cướp phá, hãm hiếp đồng bào ta.



Sau 1975, đồng bào miền Nam vẫn tiếp tục ra đi, sau đó nhờ sự can thiệp của quốc tế, đồng bào ta được ra đi tư do. Nhưng trong lúc này, Việt Cộng gây sự với Trung Quốc, chiếm Cao Miên và đuổi Hoa kiều ra khỏi nước.
 
Bọn tay sai của Lê Duẩn hết lòng đánh đuổi để cướp đất, cướp nhà, cướp vàng cướp bạc. Nhưng nuốt phải thứ này chắc chắn khó trôi. Muốn trở lại làm đầy tớ Trung Cộng, bọn Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh phải trả tài sản lại  cho đám kiều nạn này! Bao nhiêu tỷ, mấy trăm ky lô mét , mấy dặm hải đảo đây hỡi các anh hùng bách chiến bách thắng?

Cùng với nạn kiều, Việt cộng đưa gần một triệu người sang Kampuchia làm thực dân xâm lược. Nay Việt Cộng phải rút lui nhưng họ để lại cả triệu người thành ma đói, cờ bạc, buôn người, bán dâm ở bên đó. Họ còn đưa khoảng 30 ngàn quân đội sang giải phóng Phi Châu.
 
Có thể  là 50 ngàn hay một trăm ngàn quân đội anh hùng được xuất khẩu, ai cầm món tiền tỷ này? Trưóc đây vài năm, tin tức báo chí cho biết quân khu Nghệ An bán lính xuất khẩu. Dịch vụ này cũng ngon lành béo bở lắm! 

Nay cộng sản thành tư bản đỏ nhưng đồng bào Việt thành một lũ đói rách khốn khó mà cộng sản nhắm mắt  "sống chết mặc bay"! Ngày nay cộng sản làm ngơ nhưng những tay ăn có lấy danh nghĩa nhân đạo cứu người ở Đài Loan, Đại Hàn, Miên để kiếm lợi.
 
 Bọn này nghe nói cũng đông lắm. Sư cha, mục sư, ca sĩ, nhà báo, nhà đài....đã nhào vô ăn có. Chỗ nào có rác rưới là là ruồi muỗi! Thời buổi kinh tế khủng hoảng con người đành phải cúi mặt, vất lương tâm vào thùng rác!

Và cũng trong lúc này, các con em cán bộ cao cấp được vinh hạnh đi xuất khẩu lao dộng. Và nay, khoảng năm 2000, một số phụ nữ đã ra đi làm dâu, làm ô-xin, và làm gái ở Đại Hàn, Đài loan, Singapore...
 
Và nay một số lớn ra đi hiên ngang dưới sự bảo trợ của đảng quang vinh.  Đó là khoảng 15 ngàn-20 ngàn du sinh mỗi năm qua Mỹ, một số con ông cháu cha du học Pháp, Úc, Canada. 

 Đây là một hiện tượng đặc biệt ở phe đại thắng mùa xuân 75. Riêng tại Mỹ, mỗi du sinh mang nửa triệu đô hay một triệu đô thì 20 ngàn du sinh mỗi năm mang bao nhiêu tỉ?Từ 1990 cho đến 2013 là bao nhiêu tỉ?

 

 

Cái tiết mục nộp tiền để nhập cư nhập tịch thì đã có từ lâu. Ở Mỹ hay Canada, cứ có khoảng 200 ngàn là được nhập cư. Số tiền này là tiền mang vào có giấy tờ đàng hoàng, nó vẫn là của chủ nhân nó,  chủ nhân số tiền này làm chủ các công ty đầu tư, nhà nước không tơ hào một xu, người Mỹ không hiên ngang bỏ túi như các đồng chí Việt Cộng. Nhà nước Mỹ, Canada cho nhập cư có điều kiện chứ không phải  bán đất, cướp đất nhân dân như Việt cộng..  

 

 



Trong năm 2013, Mỹ cho ra một điều kiện mới, đó là số tiền 500 ngàn và thẻ xanh. Trước kia với 200 hay 300 ngàn là nhập cư được, nhưng phải khoảng mười năm sau mới được thẻ xanh. Nay thì chưng tiền là có liền thẻ xanh cho cả nhà! Mỹ hơn các nước khác là ở chỗ thẻ xanh lập tức. Cái đòn chiêu dụ này rất hay.  

 


Cấp thẻ xanh cho những nhà đầu tư từ 500.000 đôla 

vào Hoa Kỳ


 

Để có thẻ xanh, các nhà đầu tư nước ngoài phải đầu tư ít nhất 500.000 đô la vào một khu vực được nhắm vào, thường là những khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao hay những khu vực nông thôn.

 

Chương trình Các nhà Đầu tư Di dân hay còn gọi là “EB-5” được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập bằng Đạo luật di trú năm 1990 nhằm kích thích nền kinh tế Mỹ qua việc tạo nên công ăn việc làm và vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Theo một chương trình di trú thí điểm được thành lập lần đầu tiên vào năm 1992, thì để có thẻ xanh, các nhà đầu tư nước ngoài phải đầu tư ít nhất 500.000 đô la vào một khu vực được nhắm vào - thường là những khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao hay những khu vực nông thôn. 

 

 

 

Theo một Chương trình thí điểm do Quốc hội Hoa Kỳ thành lập vào năm 1992 theo Đạo luật di trú năm 1990 nhằm kích thích các hoạt động kinh tế và tạo công ăn việc làm, đồng thời cho phép các người nước ngoài có cơ hội để trở thành thường trú nhân tại Hoa Kỳ, các nhà đầu tư nước ngoài phải đầu tư tối thiểu 500.000 đô la vào một dự án nằm trong một trung tâm vùng được cơ quan di trú Hoa Kỳ chấp thuận trước hay vào “một đơn vị kinh tế công hoặc tư có liên hệ đến việc giúp kinh tế tăng trưởng, gồm cả việc gia tăng xuất khẩu, cải thiện mức sản xuất trong vùng, tạo việc làm, hay giúp gia tăng vốn đầu tư nội địa.”

 

 

Một trong những dự án hội đủ các điều kiện này đã được thành lập tại bang Vermont, trong một dải đất rộng lớn nằm dọc biên giới Canada. Ông Bill Stenger, đồng chủ nhân một khu trượt tuyết đang làm sống lại vùng nông thôn với tỉ lệ thất nghiệp cao này bằng cách kêu gọi đầu tư nước ngoài để mở rộng khu trượt tuyết. Với số tiền thu hút được hiện nay, vào khoảng 270 triệu đô la, ông Bill Stenger và các đối tác đã xây dựng được ba khách sạn, một công viên nước trong nhà, một sân trượt băng, các trung tâm hội nghị, một số các tiệm ăn và cửa hiệu bán đủ loại hàng hóa.

 

Những công trình này đã giúp cho người dân trong vùng có 
được công ăn việc làm. Một trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học sắp được xây dựng cùng với nhiều khách sạn và nới rộng phi trường tại vùng này. Ngoài các nhà đầu tư tại Mỹ, ông Stenger còn kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài qua chương trình EB5. Trong gần 10 năm qua khu vực này đã hưởng được lợi ích của chương trình Visa EB5 bằng vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Ông Stenger giải thích về chương trình EB5:

 


 

Những nhà đầu tư đủ khả năng có thể đầu tư 500.000 đô la vào những dự án mới. Kết quả là có một số đáng kể việc làm được tạo ra. Những nhà đầu tư này được cấp thẻ xanh. Vợ và các con 20 tuổi hay trẻ hơn của họ cũng được cấp thẻ xanh. Họ có thể sống và làm việc tại bất cứ nơi nào trên nước Mỹ nếu họ muốn và họ được hưởng lợi do việc đầu tư và dĩ nhiên chúng ta cũng có lợi vì có thể xây dựng được những gì chúng ta biết có giá trị kinh tế trong vùng và được chính quyền tiểu bang hỗ trợ.”

Ông Stenger cho biết là trong vòng 3 đến 5 năm tới dự án mở rộng khu trượt tuyết dự trù thu hút được 500 triệu đô la với sự đầu tư của hàng ngàn nhà đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới nhưng đặc biệt là khu vực châu Á.

 

  Có một điều lý thú là khoảng 40% các nhà đầu tư từ các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Thái Lan, Việt Nam, Đài Loan. Và một điều may mắn là chúng tôi thành công 100% trong việc xin thẻ xanh cho những nhà đầu tư này và gia đình và tạo cơ hội để họ có thể đến Hoa Kỳ.”

 

Theo kinh nghiệm của ông Stenger các nhà đầu tư đều thu hồi được vốn lẫn lời:

 

“Những nhà đầu tư này thu được từ 2 đến 4% tiền lời và cuối 5 năm chúng tôi có một chiến lược trả lại cho các nhà đầu tư tiền đầu tư của họ.”

 

Đối với những chỉ trích cho rằng chương trình EB5 này không có gì khác hơn là cho phép những người giàu có được thẻ xanh, ông Stenger phát biểu:

 


 
“Chúng tôi có liên hệ sâu rộng đến chương trình phát triển kinh tế tại Vermont. Chúng tôi đầu tư vào nhiều công ty hay những việc kinh doanh khác nhau, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân trong vùng và những người đầu tư vào chương trình này đều là những người, những gia đình tuyệt vời, những người thành công và tiền đầu tư của họ đã cho phép chúng tôi tạo cơ hội làm việc và phát triển kinh tế tại một khu vực rất khó tìm được vốn. Tôi rất cám ơn vì nếu không có đầu tư của họ, chúng tôi không có khả năng làm được việc chúng tôi đang làm.”


 



Ông Stenger nói rằng càng ngày càng có nhiều nhà đầu tư từ các nước Đông Á vào bang Vermont, đặc biệt là các nhà đầu tư giàu có của Trung Quốc muốn rời khỏi Trung Quốc cũng như những người giàu Nam Triều Tiên muốn rời khỏi nước này, đặc biệt sau khi Bắc Triều Tiên phóng thành công một rốckết đưa một vệ tinh vào quỹ đạo trái đất. Ông Stenger cho biết hiện có chương trình thu hút thêm nhiều nhà đầu tư châu Á.

 

 

“Chúng tôi có chương trình đi thăm châu Á vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 với Thống đốc Peter Shumlin. Chúng tôi sẽ đi thăm Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Trung Quốc và có thể Việt Nam. Chúng tôi sẽ mang theo thông điệp đến châu Á về việc làm cách nào đầu tư vào Vermont. Chúng tôi có những trang mạng và những cơ hội để vươn tới những quốc gia này với ngôn ngữ của các nước đó. Chúng tôi cũng làm việc chặt chẽ với các luật sư hiện đang làm việc tại những quốc gia này.”

 



Tuy nhiên theo ông Stenger số người châu Á tham dự vào chương trình này đông đảo nhất mà ông kỳ vọng lại là những sinh viên đang theo học đại học hay hậu đại học tại Hoa Kỳ và muốn ở lại nước Mỹ sau khi hoàn tất việc học. Ông Stenger giải thích:

 

“Những sinh viên này có thể được cha mẹ cho tiền nếu họ muốn. Chúng tôi đã có nhiều nhà đầu tư là sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc hậu đại học được cha mẹ cho tiền để đầu tư để họ ở lại nước Mỹ và làm việc ở nơi nào họ muốn.”


 

Lượng người Trung Quốc muốn đến Mỹ theo con đường đầu tư ngày càng tăng.

Chương trình chiếu khán EB-5 là chương trình đầu tư-để-định cư, cấp thẻ định cư cho các trường hợp đầu tư tạo việc làm cho ít nhất 10 lao động.

Trong năm 2006, chỉ có 63 visa loại này được cấp cho các công dân Trung Quốc. Năm ngoái, con số này nhảy vọt lên 2.408 và trong năm nay con số này đã vượt quá 3.700.

 

Điều đó có nghĩa là làn sóng tiền từ Trung Quốc đang đổ vào các dự án cơ sở hạ tầng tại Hoa Kỳ.

Chương trình này cho phép mọi đối tượng đệ đơn, nhưng các nhà đầu tư Trung Quốc nay chiếm tới 75% tổng số hồ sơ được nộp.

Thời bất ổn

Hệ thống chính trị cứng nhắc và trì trệ của Trung Quốc có lẽ là lý do khiến người giàu muốn ra đi, đặc biệt là trong năm nay, khi sẽ có những thay đổi diễn ra ở cấp cao nhất trong Đảng Cộng sản.

Cũng có cả những quan ngại về lối sống nữa. Giống như Louie Huang, người có tiền thường muốn sống ở nơi không khí trong lành hơn, có nền giáo dục tốt hơn cho con cái.

 

Thêm nữa là những lo sợ về việc sự bùng nổ kinh tế kéo dài cả thập niên tại Trung Quốc có thể sẽ xì hơi. Cho nên người ta không mấy ngạc nhiên khi giới nhà giàu Trung Quốc tìm cách ra đi.

 

Số liệu về EB-5 không phải là những chứng cứ duy nhất. Cuộc khảo sát hồi cuối năm ngoái, được thực hiện đối với gần 1000 triệu phú đô la Trung Quốc cho thấy 60% tính chuyện ra nước ngoài.

 

Trung Quốc nay là một trong các luồng di dân lớn nhất vào Úc, với số liệu công bố năm 2011 cho thấy lần đầu tiên Trung Quốc đã vượt qua Anh.

Các đại lý bất động sản tại Mỹ nói năm nay lượng người mua nhà có giá trị lớn đến từ Trung Hoa lục địa và Hong Kong tăng vọt.

 

Bữa tiệc của nhà giàu Trung Quốc còn lâu mới kết thúc. Louie Huang vừa mới khai trương một hộp đêm mới toanh.

Việc có những người ngồi với cả chục chai champagne trên bàn cho thấy còn khối người vẫn có thể kiếm được tiền tốt tại đây.

Nhưng trong thời kinh tế bất ổn như lúc này, những người có tiền ngày càng muốn tìm kiếm nơi nào đó an toàn hơn cho mình.



 

 Tùng Nguyên viết trên Dân Trí như sau:

  Trong khi phân khúc nhà cao cấp ở Trung Quốc nói riêng và Châu Á nói chung rơi vào cảnh suy thoái thì giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô sang New York (Mỹ) mua nhà ở triệu đô.

 


Giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô sang New York mua nhà ở hạng sang trong khi nhà ở cao cấp tại các TP lớn của Trung Quốc giảm giá (ảnh: Giáo dục Việt Nam)

Theo báo cáo chỉ số các thành phố lớn trên toàn cầu năm 2011 của công ty nghiên cứu Knight Frank, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang đứng đầu danh sách các thị trường trì trệ trong phân khúc nhà ở cao cấp. Giá nhà ở hạng sang trong khu vực này đang giảm nhanh nhất; mạnh nhất là ở Mumbai (Ấn Độ), giảm đến 18%.

 

Thị trường nhà ở cao cấp cho thuê ở hầu hết các thành phố trọng điểm như Bắc Kinh, Hồng Kông và Tokyo dự kiến cũng sẽ giảm bởi nhu cầu thuê từ người nước ngoài xuống thấp do doanh nghiệp cắt giảm chi phí và thu hẹp quy mô. Nhu cầu suy yếu và sức mua từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước có khả năng gây áp lực làm giảm doanh số bán nhà ở cao cấp tại hầu hết các thành phố lớn.

 

 Qua các báo chí trên, gồm báo Việt Nam quốc nội và báo ngoại quốc, ta thấy các báo chí giải thích hiện tượng này như sau:

 

1.Người ta cho rằng nước Mỹ có tự do, dân chủ và thịnh vượng lâu dài, bền vững trong khi kinh tế Trung Quốc, Việt Nam mong manh, được một thời gian rồi bong bóng sẽ bể .

 

2. Ở Mỹ không khí tốt, đời sống vui vẻ, giáo dục tốt, mọi người bình đẳng trong khi Trung Quốc, Việt Nam ô nhiễm, đời sống đắt đỏ, dân nghèo khốn khổ, giáo dục, luân lý suy đồ, dân chúng luôn bị đe dọa vì trộm cướp, công an, tham nhũng.

 

3. Luật pháp, kinh tế ở Mỹ vững vàng, còn ở ViệtNam, Trung Quốc nạn  bè phái, luật lệ không rõ ràng, khó làm ăn.

 

4. Được học thành tài ở Mỹ, được làm công dân Mỹ, được sống ở Mỹ thì sướng hơn ở Trung Quốc, Việt Nam.

 

Ngoài ra, người ta bỏ qua hoặc nói sơ lược mà thôi. Đó là:

 

1. Nhà giàu Trung Quốc và Việt Nam     có bạc triệu, bạc tỷ là do tham nhũng, cướp bóc. Nay bụng đã no, nên tẩu tán tài sản ra ngoại quốc.

 

2. Việc di chuyển con cái và tài sản đã thực hiện từ lâu cho nên ngân hàng và kho tàng trống rỗng. Hậu quả là kinh tế suy sụp, phải chạy trước khi kinh tế suy sụp. 

 

3. Trung Quốc và Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi và biến loạn vì:

 

(1).  các phe phái đánh nhau,

 

(2). dân có thể nổi lên giết sạch cộng sản,

 

(3). Trung Quốc có thề tiến chiếm Việt Nam, 

 

(4).  chiến tranh thứ ba có thể xảy ra, Trung Quốc, Việt Nam nhất định sẽ  bại trận. (Vì tin rằng Mỹ sẽ thắng cho nên mới chạy qua Mỹ phải không?)

 

Có những đồng chí trung kiên cho rằng tin trên do bọn phản động tuyên truyền xuyên tạc, đảng ta thành đồng vách sắt đâu ngu dại gì mà đem tiền sang Mỹ và tháo chạy lẹ làng như thế. 

Trước đây  báo chí Việt Nam đưa tin có người Việt đã mua một thị trấn Mỹ. Nay nếu không tin,  xin mời qua  Mỹ mà coi . Nay 90% người đi coi nhà, mua nhà  là người Việt quốc nội, và người Hoa Đại Lục là những người từng chiến thắng chống Mỹ xâm lược đấy!

 

 

Đấy là những lý do chính mà các nhà giàu Trung Quốc Việt Nam tháo chạy.   Các nhà giàu này là ai? Là các đảng viên cao cấp, là các lãnh đạo đảng. Các lãnh đạo đã tính đường chuồn, vậy ai sẽ ở lại chiến đấu hy sinh bảo vệ cho tư bản đỏ? cho các đảng cướp đang trên đường tan rã. Họ ẳm tiền, cho vợ con chạy rồi, khi có biến động họ sẽ chạy ngay. Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, NguyễnChí Vịnh, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Văn Hưởng sẽ chạy đi đâu? Những tên công an đánh dân sẽ chạy về đâu?

 


Chính sách xuất cảnh tự do được đảng cộng sản chấp thuận vì đó là phương tiện bảo đảm cho gia đình và tiền tài của họ xuất cảnh dễ dàng. Việc này cũng liên quan đến việc rút tiền ngân hàng, cướp tiền ngân hàng gây ra nợ xấu, gây ra ngân hàng trống rỗng, và kinh tế suy sụp. 

 

 Một điều buồn cười nữa là Marx, các lãnh đạo đảng, các ông trung lập hô hào chống Mỹ yêu nước, chống diễn biến hòa bình thì con em họ, gia đình họ lại chọn sống ở Mỹ là sao? Và còn một điều nữa, trăm sông lại đổ ra biển, tiền Mỹ, tiền thiên hạ lại trở vào túi Mỹ! Bất chiến tự nhiên thành. Không đánh mà thắng chính là chỗ này!

 

  Bây giờ người Việt Nam hai miền đều bỏ đi dù phải đi làm đầy tớ, dù bị làm nô lệ tình dục cho cả gia đình vẫn sướng hơn về Việt Nam... Thế mà sau 1975, ở miệng ông Việt Cộng tuyên truyền hay ông bà ngoại quốc nào lại muốn một đêm trở thành người Việt Nam ?Thế mà bây giờ mấy ông chống Mỹ lại muốn được vinh dự làm công dân Mỹ, sống ở Mỹ và học hành ở Mỹ ư? Ai bảo kinh tế Mỹ suy đồi? Trung Quốc sẽ làm bá chủ thế giới? Ai bảo tư bản dẫy chết? Ai bảo Mỹ đại bại? Ai cười Mỹ là cọp giấy? Ai vỗ ngực Việt Nam anh hùng, kẻ thù nào cũng đánh thắng?

 

 

CXN_Hãy nghe bọn dốt hỏi thẳng thừng rồi nè..bí quá !!!“Cần đột phá gì để đổi chiều nền kinh tế”?


 

Xin pho bien rong rai
-




CXN_040713_2408_Cách tốt nhất, rẻ tiền nhất để biết Ngân hàng bạn đang gửi tiền sắp phá sản hay không: Phá sản ngân hàng: Sự sàng lọc cần thiết


CXN_040613_2407_Càng ngày càng tiến gần con số 740 ngàn tĩ của tôi: ‘Nửa triệu tỷ đồng nợ xấu ngân hàng’



Icon_Symbols_ĐCS_Engels_Karl Marx

Châu Xuân Nguyễn
-

Cả một bộ máy ĐCS bí hết rồi, bế tắc hết rồi. Những người theo dõi blog tôi thường thì thấy tất cả mọi vấn đề được nêu ra trong diễn đàng này cũng như hàng trăm diễn đàn khác từ 4 năm nay đều lập lại những gì tôi viết trong blog tôi từ 4 năm nay.
-

Vậy thì câu hỏi phải được đặt ra tại sao trong 4 năm trước không lấy những dự báo của tôi cho những nguy hiểm sắp xẩy ra cho nền kinh tế này mà điều chỉnh. Nếu họ điều chỉnh những gì tôi dự báo thì tình hình đâu có tê liệt như ngày hôm nay. Ngay cả những độc giả trung thành của tôi còn cảnh báo tôi đừng viết nhiều chúng nó học. Nhưng tôi đã trả lời là dĩ nhiên có nguy cơ chúng học những phân tích của tôi, nhưng điểm lợi là tôi đưa được những phân tích này tới 90 triệu dân VN (sau này khi báo chí tự do trước bầu cử) thì họ mới thấy rõ sự ngu xuẩn của bọn này và từ đó phẩn nộ mà hành động để lật đổ chúng, đó chính là mục đích tối hậu của tôi, chứng minh cho 90 triệu đồng bào rằng ĐCS là một lũ ngu dốt, đừng tin chúng nó tuyên truyền rằng chỉ có DCS mới có khả năng lãnh đạo đất nước VN.
-

Một comment của bạn đọc..
nhandan


đọc các bài viết của CXN về KT từ lâu. Nghiệm lại đều đúng và chinh xác đến Khó tin ( từ vàng. BĐS .suy thoai. NH. nợ xấu…vv). Các GS TS Chiên gia các Kiều về KT quốc nội chi đáng lau giầy cho CXN.

-

Melbourne

09.04.2013

Châu Xuân Nguyễn


“Cần đột phá gì để đổi chiều nền kinh tế”?



Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013

Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013

Phó chủ tịch Quốc hội nói bà đã lắng nghe với sự say mê thích thú các ý kiến tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013.


Cần đột phá gì để đổi chiều nền kinh tế? Đây là câu hỏi được Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh trong phát biểu kết thúc Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013, vừa diễn ra tại Nha Trang. Đây là diễn đàn thường niên do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với UNDP và VCCI tổ chức, quy tụ khá đông đủ các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực.Tại diễn đàn này, hơn một trăm vị khách mời, theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu, là đã không vắng mặt một ai.

Hơn 30 bản tham luận tập trung vào triển vọng kinh tế 2013 và nhìn lại một năm tái cơ cấu nền kinh tế, vẫn theo Chủ nhiệm Giàu, được chuẩn bị chu đáo, sâu sắc.

Tuy nhiên, ngay cả các vị được “đặt hàng” vẫn thoát ly văn bản chuẩn bị sẵn, để tranh luận “vo” trước các ý kiến đa chiều về những vấn đề được đặt ra tại diễn đàn. Nhiều vị đã cầm micro hơn một lần.

Chuyên gia kinh tế, TS. Lê Đăng Doanh nhận xét, Việt Nam có nhiều hội thảo về kinh tế, nhưng đối với ông, đây là một trong các diễn đàn có chất lượng tốt nhất với tinh thần khoa học và xây dựng.

Ngồi ghế chủ tọa cả 4 buổi thảo luận, Phó chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân nói bà đã lắng nghe với sự say mê thích thú, kể cả những điều ngược lại suy nghĩ của mình. Bởi, quan trọng là đưa ra kiến nghị để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, chứ không phải “nói cho đã”!

“Cần đột phá gì để đổi chiều nền kinh tế”? 1Việc không thể có số liệu đáng tin cậy về tồn kho bất động sản, đặc biệt là nợ xấu cũng dẫn đến tình huống “khó xử” ngay tại diễn đàn…

Vậy thì các chuyên gia đã nói gì?

Nếu như ở Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2012 tròn một năm trước, tình hình kinh tế có được cải thiện hay không vẫn nằm trong tranh luận, thì năm nay các nhận định đã gần nhau hơn và đều gặp nhau ở ba chữ khó khăn hơn. Điều đáng nói là không chỉ kinh tế mới đang “có vấn đề nghiêm trọng”.

“Đất nước đang rơi vào tình trạng suy thoái toàn diện từ kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, giáo dục y tế đến niềm tin, kỷ luật, kỷ cương, pháp luật, đạo đức”, TS. Lê Đăng Doanh chọn cách in nghiêng những dòng này trong bản tham luận của ông.

Cũng theo nhìn nhận của vị chuyên gia từng trải này, trong xã hội đã xuất hiện những động lực làm giàu nhanh bằng các thủ đoạn bất chính, thông qua các mối quan hệ với một số người có chức có quyền. Các giá trị đạo đức của xã hội bị thách thức hay đảo lộn. Xã hội ngày càng phân hóa, khoảng cách giữa người dân và giới cầm quyền ngày càng xa cách. Tâm tư, nguyện vọng của người dân chưa có cơ chế thể hiện một cách trung thực và an toàn.

Với chủ đề của diễn đàn thì kinh tế vẫn là nội dung được tập trung bàn thảo sâu nhất. Đi vào những con số cụ thể, nhiều ý kiến đều quan ngại khi tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm hầu như bằng không (0,03%), trong khi thu ngân sách chỉ đạt 16,7% dự toán.

Điều này khiến cho nghi ngờ về tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP và độ trung thực (dù chỉ là tương đối) của các con số thống kê trở đi trở lại ở các phiên thảo luận.

Nhất là ngay phần mở đầu phiên thứ nhất, một vị diễn giả đưa ra phát hiện giật mình là con số GDP năm trước thì dựa vào giá cố định của năm khác, còn GDP năm nay thì dựa vào giá cố định của năm 1994.

Việc không thể có số liệu đáng tin cậy về tồn kho bất động sản, đặc biệt là nợ xấu cũng dẫn đến tình huống “khó xử” ngay tại diễn đàn, khi chủ tọa phải đem con số của bản tham luận này hỏi tác giả của bản tham luận khác. Câu trả lời đã có chút ngập ngừng và dường như chưa thể đủ thuyết phục đối với nhiều người.

Bởi vậy, không ít các kiến nghị đều gặp nhau ở một điểm: cần giảm thiểu rủi ro chính sách qua việc cải thiện mức độ tin cậy của các con số thống kê. Bởi, nếu không có nguồn số liệu đúng và đủ, không thể đưa ra đánh giá đúng tình hình, không thể dự báo chính xác các xu hướng, do đó không thể đưa ra các quyết sách, chủ trương, chính sách và giải pháp đúng được.

“Cần đột phá gì để đổi chiều nền kinh tế”? 2Theo ghi nhận của VnEconomy, hầu như tất cả các kiến nghị, đề xuất tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 đều không mới, mới chăng là sự sốt ruột đến cao độ khi việc thực thi còn nhiều bất cập, trong khi lực cản rất lớn cho công cuộc cải cách đã xuất hiện.

Các đề xuất khác là đẩy mạnh cải cách thể chế, là áp đặt kỷ luật cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước, là lập ủy ban độc lập để tái cơ cấu nền kinh tế, khôi phục lòng tin…

Cần thiết kế lại chế độ trách nhiệm cá nhân, thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng cơ chế kiểm soát lợi ích nhóm bất chính, tư duy nhiệm kỳ lợi dụng đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước để làm giàu bất chính, ông Doanh đề nghị.

Theo ghi nhận của VnEconomy, hầu như tất cả các kiến nghị, đề xuất tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 đều không mới, mới chăng là sự sốt ruột đến cao độ khi việc thực thi còn nhiều bất cập, trong khi lực cản rất lớn cho công cuộc cải cách đã xuất hiện. Theo phân tích của một diễn giả, đó chính là những nhóm lợi ích thao túng ngân hàng, tài chính, bất động sản, thu hồi đất, giàu lên bất chính mà không đóng góp tương xứng cho xã hội.

Cần đột phá gì để đổi chiều nền kinh tế? Để trả lời câu hỏi này, dù nhiệt liệt hoan nghênh tất cả các đề xuất tại diễn đàn, song Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân vẫn mong sau khi kết thúc, diễn đàn vẫn tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp.

Với tranh luận có nên “tái cơ cấu” đề án tái cơ cấu nền kinh tế hay không, bà Kim Ngân nghiêng về quan điểm cần tiếp tục làm cái đã có, làm tới đâu sửa tới đó, hơn là loay hoay làm cái mới.

Theo Nguyên Vũ
VnEconomy

Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?


 

Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?


Dương Danh Huy và cộng sự

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Cập nhật: 09:14 GMT - thứ hai, 15 tháng 4, 2013



Tưởng niệm các quân nhân Việt Nam từ cả hai phía hy sinh ở Hoàng Sa - Trường Sa

Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.

Quốc gia duy trì chủ quyền


Các bài liên quan



Chủ đề liên quan



Trong phán quyết năm 2008 về tranh chấp cụm đảo Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore, Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng ban đầu Malaysia có chủ quyền đối với đảo Pedra Branca.

Tòa nói công hàm 1953 của Johor, nay là một tiểu bang của Malaysia, trả lời Singapore rằng Johor không đòi chủ quyền trên đảo này, không có hệ quả pháp lý mang tính quyết định và không có tính chất ràng buộc cho Johor.

Nhưng Tòa lại dựa vào việc trước và sau đó Johor và Malaysia không khẳng định chủ quyền và dùng công hàm 1953 của Johor như một trong những chứng cớ quan trọng cho việc Malaysia không đòi chủ quyền, để kết luận rằng tới năm 1980 chủ quyền đã rơi vào tay Singapore.

Bài học cho Việt Nam là: bất kể ban đầu Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và dù cho chúng ta có biện luận thành công rằng công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng không có tính ràng buộc về hai quần đảo này đi nữa, việc VNDCCH không khẳng định chủ quyền trong hơn 20 năm, trong khi các quốc gia khác làm điều đó, có khả năng sẽ làm cho VNDCCH không còn cơ sở để đòi chủ quyền nữa.

Vì vậy, trong lập luận pháp lý của Việt Nam phải có sự khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này từ một chính phủ khác, lúc đó là đại diện hợp pháp cho một quốc gia Việt nào đó.

Trên lý thuyết, nếu chứng minh được từ năm 1954 đến 1975 chỉ có một quốc gia, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia đó, thì điều đó cũng đủ là cơ sở cho lập luận pháp lý của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa.

Trên thực tế, thứ nhất, chưa chắc chúng ta sẽ chứng minh được điều đó; thứ nhì, chính phủ Việt Nam ngày nay sẽ khó chấp nhận một chiến lược pháp lý dựa trên giả thuyết này.

Vì vậy, chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến 1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt Nam.

Phân tích này sử dụng ba khái niệm sau.

Đất nước, là một khái niệm địa lý, bao gồm một vùng lãnh thổ với dân cư. Chính phủ, là cơ quan hành pháp và đại diện. Quốc gia (trong bài này từ “quốc gia” được dùng với nghĩa State/État), là một chủ thể chính trị và pháp lý.

Trong Công ước Montevideo 1933, một quốc gia phải có lãnh thổ, dân cư, chính phủ, và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.

Thực chất, trong công pháp quốc tế chỉ có định nghĩa quốc gia như một chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi (tức là có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ luật quốc tế) và chính phủ là thành phần của chủ thể đó, chứ không có khái niệm đất nước.

Một lãnh thổ - hai quốc gia


Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự. Mặc dù không chia Việt Nam thành hai quốc gia, Hiệp định đã tạo ra một ranh giới tại vĩ tuyến 17 giữa hai chính phủ đang tranh giành quyền lực, và ranh giới đó đã tạo điều kiện cho sự hiện hữu của hai quốc gia.

Việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển cử vào năm 1956 đã làm cho ranh giới đó trở thành vô hạn định.


Một cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa

Sự hiện hữu của hai chính phủ hai bên một ranh giới vô hạn định ngày càng củng cố sự hình thành và hiện hữu trên thực tế của hai quốc gia trên lãnh thổ đó.

Điều có thể gây nghi vấn về sự hiện hữu của hai quốc gia là hiến pháp của VNDCCH và VNCH có vẻ như mâu thuẫn với sự hiện hữu đó.

Tới năm 1956, Hiến Pháp VNDCCH viết “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, và Hiến Pháp VNCH viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan” và “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.”

Nhưng sự mâu thuẫn đó không có nghĩa không thể có hai quốc gia.

Hiến pháp của Bắc Triều Tiên viết Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là đại diện cho dân tộc Cao Ly, hiến pháp của Nam Hàn viết lãnh thổ của Đại Hàn Dân Quốc là bán đảo Cao Ly và các hải đảo, nhưng Bắc Triều Tiên và Nam Hàn vẫn là hai quốc gia.

Như vậy, có thể cho rằng từ năm 1956 hay sớm hơn đã có hai quốc gia, trên lãnh thổ Việt Nam, với vĩ tuyến 17 là biên giới trên thực tế giữa hai quốc gia đó.

Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần đảo đó.

Khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLT) ra đời ngày 8/6/1969, có thể cho rằng trong quốc gia với tên VNCH, về mặt pháp lý, có hai chính phủ cạnh tranh quyền lực với nhau: chính phủ VNCH và CPCMLT.

Khi VNDCCH công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho phía nam vĩ tuyến 17 thì có nghĩa VNDCCH công nhận trên diện pháp lý rằng phía nam vĩ tuyến 17 là một quốc gia khác.

Nhưng tới năm 1969 CPCMLT mới ra đời, và cho tới năm 1974 mới có một tuyên bố chung chung về các nước liên quan cần xem xét vấn đề biên giới lãnh thổ trên tinh thần bình đẳng, vv, và phải giải quyết bằng thương lượng.

Vì vậy, nếu chỉ công nhận CPCMLT thì cũng không đủ cho việc khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ thập niên 1950.

Quá trình thống nhất


Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của một quốc gia mới.


Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa

Năm 1976, trên diện pháp lý, hai quốc gia trên thống nhất lại thành một, và từ đó Việt Nam lại là một quốc gia với một chính phủ trên một đất nước (lãnh thổ).

Sự thống nhất này đã không bị Liên Hiệp Quốc hay quốc gia nào lên tiếng phản đối.

Năm 1977, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được chấp nhận tham gia Liên Hiệp Quốc.

CHXHCNVN kế thừa vai trò của hai quốc gia VNDCCH và VNCH/CHMNVN trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế, kế thừa lãnh thổ và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, và mặc nhiên có quyền kế thừa Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.

Lịch sử pháp lý trên nghe có vẻ sách vở, nhưng thực tế của nó là bom đạn, xương máu, và nhiều cảnh huynh đệ tương tàn.

Mặc dù lịch sử pháp lý đó đã kết thúc bằng một quốc gia trên đất nước (lãnh thổ) Việt Nam thống nhất, nó là một cuộc bể dâu làm đổ nhiều xương máu.

Nhưng quá khứ thì không ai thay đổi được, và tương lai thì không ai nên muốn đất nước Việt Nam lại bị chia đôi thành hai quốc gia lần nữa.

Cuộc bể dâu đó cũng đã góp phần làm cho Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, và để lại cho Trung Quốc một lập luận lợi hại, rằng trước 1975 Việt Nam không tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và đã công nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.

Nhưng việc đã từng có hai quốc gia trên một đất nước (lãnh thổ) Việt Nam trong giai đoạn 1956 đến 1976, và việc, vào năm 1976, hai quốc gia đó thống nhất thành một một cách hợp pháp, là một yếu tố quan trọng trong lập luận về Hoàng Sa, Trường Sa.

Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.

Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.

Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này.

Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Dương Danh Huy, Phạm Thanh Vân và Nguyễn Thái Linh từ Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Các tác giả cảm ơn GS Phạm Quang Tuấn đã góp ý cho bài.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/04/130411_hoangsa_truongsa_vn_vnch.shtml

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link