Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, April 20, 2013

A reporter's love for a wounded people


 

   Chiến thng ca Cng sn da vào nhng căn bn đc ác: 

                 khng b, tàn sát và phn bi

 

 

----- Forwarded Message -----
From: nguoiphuongnam <
To: DDChinh Nghia <
Sent: Saturday, April 20, 2013 6:53 AM
Subject:  FW: Fwd: Reporter’s Love for a Wounded People ’

 

 

Mời đọc

 

Xin Dung Bo Qua 

 
 Bài do một ngừơi Đức viết - Rất đáng đọc .
 
 
Tác giả là người Đức, hiện cư ngụ tại USA. Là phóng viện, ông có mặt tại VN khoảng 5 năm và là chứng nhân việc thảm sát Mậu thân, việc 4 vị giáo sư Đức của Đại học Y Khoa Huế bị việt cộng thảm sát. v.v..
Đây là một cái tát tay trả lại cho CS về bộ phim xuyên tạc sự thật Mậu Thân của nhân vật mang tên Lê Phong Lan.

Tuesday, March 12. 2013

A reporter's love for a wounded people

Cuốn sách Đức: "A reporter's love for a wounded people" của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết "foreword" và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
 
Đoạn kết -
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng." 
 
Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? 
Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. 
Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. 
 
Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." 
Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?
 
 Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?
 Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?
Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân." 
 
Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không?
 
 Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?
-Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. 
-Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. 
-Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không.
-Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.
Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. 
 
Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. 
 
Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? 
 
Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? 
 
Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. 
Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. 
 
Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).
 Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"
Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."
Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. 
 
Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.

Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. 
Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. 
 
Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng.
 
 
 
Dr. Uwe Siemon-Netto – Executive Director of the Center for Lutheran Theology and Public Life in Capistrano Beach, CA, International Journalist, Lutheran Lay Theologian, Author of ‘Duc – A Reporter’s Love for a Wounded People’
Đọc thêm về tác giả tại:
http://en.wikipedia.org/wiki/Uwe_Siemon-Netto

Nơi đặt mua sách ( sách viết bằng tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt sẽ xuất bản tháng 5.

Friday, April 19, 2013

Nhận xét về vụ Nghị Quyết SJR 455 của Quốc Hội Virginia


 



  Ý kiến đóng góp của Ông Nguyễn Quốc Khải, một chuyên gia kinh tế của Ngân Hàng Thế Giới(World Bank), giảng viên Đại Học John Hopkins, một cư dân vùng thủ đô am tường sinh hoạt chính trị giao thoa của một số nhân vật Mỹ- Việt.

 ____________________________________________________ 

 

Nhận xét về vụ Nghị Quyết SJR 455 của Quốc Hội Virginia

 

Nguyễn Quốc Khải

18-4-2013

 

Sau hai tuần lễ vụ SJR 455 được thảo luận trên Internet, mặc dù ông Nguyễn Ngọc Bích nói dối loanh quanh, chứng cớ đã rõ ràng rằng Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt Tại Hoa Kỳ (National Congress of Vietnamese Americans – NCVA) là kẻ chủ mưu trong việc vận động thành lập Ngày Công Nhận Người Dân miền Nam Việt Nam (South Vietnamese Recognition Day) vào 30/4 mỗi năm. Ông Bích cố tình dịch sai là “Ngày Miền Nam Việt Nam” hay “Ngày VNCH”. 

 

Ngày Công Nhận Người Dân miền Nam Việt Nam đã không có một ý nghĩa gì cả mà lại trùng vào 30/4. Hậu quả là nó sẽ làm lu mờ và xóa dần Ngày Quốc Hận, nên ông Nguyễn Ngọc Bích bị chỉ trích nặng nề là chuyện hợp tình hợp lý. Thay vì nhìn nhận sự sai lầm, ông Bích lại dấu diếm, giải thích lòng vòng để chạy tôi, làm cho mọi người càng tức giận thêm. Ông Bích quả là quá tệ khi ông Bích đổ lổi hết mọi chuyện lên đầu TNS Dick Black của Quốc Hội Virginia. Những ai đã từng tham gia vào việc vận động hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ, đều thông thạo về thủ tục này. Ông Bích vô phương có thể che mắt mọi người.

 

Tuy nhiên, công luận xem ra thiếu công bằng vì mọi mũi dùi đều chĩa vào ông Nguyễn Ngọc Bích. Ông Bích không hề hành động với tư cách cá nhân. Trái lại, ông nhân danh NCVA để  làm chuyện này. Ngoài ông Nguyễn Ngọc Bích, trong Ban Chấp Hành còn có ông Nguyễn Mậu Trình, và Bà Đào Thị Hợi (vợ của ông Nguyễn Nguyễn Ngọc Bích, đương kim chủ tịch NCVA).  Ngoài Ban Chấp Hành còn có Ban Cố Vấn gồm có một số vị sau đây: cụ Huỳnh Thanh Hưng, ông Bùi Diễm, Bà Mary Chi Ray, ông Nguyễn Mạnh Hùng, … Danh sách hội viên không liệt kê ai cả. Ông Bích có thể không hỏi ý kiến Ban Cố Vấn, nhưng buộc lòng phải tham khảo với ít nhất hai người trong Ban Chấp Hành: ông Nguyễn Mậu Trình, và Bà Đào Thị Hợi.

 

TS Nguyễn Phúc Liên giải thích về sự khờ khạo, ngu dốt tai hại của ông Nguyễn Ngọc Bích trong vụ Nghị Quyết SJR 455 như sau:

 

Một là ông Bích “khờ khạo, ngốc nghếch chủ ý hay vô tình mà không hiểu tầm quan trọng của ngày 30/4 Quốc Hận đối với Cộng Đồng VN tại Hoa kỳ mà còn cho các Cộng Đồng VN trên toàn Thế giới, nên không dám lên tiếng cản Ông Mỹ kia chọn ngày 30/4 thành ngày Miền Nam Việt Nam hay ngày VNCH.”

 

Hai là ông Bích “ngu dốt đặc cán mai không biết gì về sự Uất Hận sâu đậm của toàn thể Người Việt, mà câm họng không lên tiếng để Ông Mỹ kia muốn chọn ngày nào thì chọn, bất kể việc đó vùi dập tâm hồn Uất Hận của Người Việt Nam.”

 

Vào năm 2005, Nghị Hội của ông Nguyễn Ngọc Bích cũng đã dùng 30/4 để chế biến ra Ngày Tự Do và cũng đã bị cộng đồng người Việt ở hải ngoại phản đối kịch liệt. Cá nhân tôi không thể hiểu được tại sao ông Nguyễn Ngọc Bích và Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt Tại Hoa Kỳ lại không học được bài học nào từ kinh nghiệm 8 năm trước đây. Ngu dốt không phải là một cái tội nhưng tiếp tục ngu dốt không thể được tha thứ (“Ignorance is not a crime, but perpetuation of ignorance is.”) 

Tôi cũng nghĩ rằng vì thiếu hiểu biết, không biết lượng sức mình, mà chỉ cách đây vài tháng, vào cuối năm ngoái, Ông Nguyễn Ngọc Bích nhẩy ra thành lập chính phủ lưu vong dưới tên Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH, nhưng không dùng tước vị tổng thống hay thủ tướng, mà chỉ dùng danh xưng chủ tịch.  Một người sai lầm như trong vụ Nghị Quyết SJR 455 mà dám ra cầm đầu một chánh phủ, một quốc gia quả thực phải là một người quá liều lĩnh. Ngoài chức vụ mới nhất là chủ tịch UBLĐLTVNCH, ông Nguyễn Ngọc Bích còn giữ chức cố vấn, chủ tịch, phó chủ tịch của trên dưới 25 tổ chức. Một số tổ chức có danh xưng rất lớn, như Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ hay Hội Văn Hóa Miền Đông Bắc Hoa Kỳ chẳng hạn, nhưng hội viên không có một ai, mà thường chỉ có một số các vị có tên trong ban cố vấn, hay ban chấp hành.  Nhưng có tên là một chuyện, còn hoạt động hay không là chuyện khác.

 

Chính phủ lưu vong của ông Bích chủ trương vận động quốc tế để phục hồi Hiệp Định Paris 1973, nhắm lấy lại miền Nam Việt Nam từ tay CSVN để tái lập VNCH. Một việc làm mà tôi cho là hoang tưởng, làm phí sức đấu tranh và tạo thành một trò hề thế kỷ 21 cho CSVN. Cũng như trong vụ Nghị Quyết SJR 455, ông khéo léo sử dụng từ VNCH để lôi kéo sự ủng hộ của một số người. Cũng như vụ Nghị Quyết SJR 455, ông Nguyễn Ngọc Bích không bao giờ tỏ ra biết phục thiện, mặc dù có sự góp ý của LS Trần Thanh Hiệp và cựu Đại Sứ Bùi Diễm và kinh nghiệm của những người đi trước về sự thất bại trong việc phục hồi Hiệp Định Paris vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, như GS Vũ Quốc Thúc, GS Vương Văn Bắc, LS Nguyễn Hữu Thống, v.v.  Riêng về vụ Nghị Quyết SJR 455, một việc nhỏ nhoi, ông Bích còn làm không xong, huống chi việc đội đá vá trời, tái lập nước VNCH ở miền Nam vĩ tuyến 17.

 

Cũng như trong vụ Nghị Quyết SJR 455, ông Nguyễn Ngọc Bích luôn luôn thiếu thẳng thắn trong cuộc thảo luận về chính phủ lưu vong và Hiệp Định Paris 1973.  Ông Bích thường tránh né những câu hỏi do thảo luận viên đặt ra. Một trong những câu hỏi có thể liên quan đến Nghị Quyết SJR 455 là việc ông Nguyễn Ngọc Bích gặp gỡ Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng CSVN Phạm Gia Khiêm vào năm 2007 do văn phòng của TNS Jim Webb dàn xếp. Từ đó đến nay, ông Bích vẫn dấu diếm cộng đồng hải ngoại về nội dung và kết quả của cuộc gặp gỡ này.

 

Ông Jim Webb thời đó muốn người Việt hợp tác với chính quyền Hà Nội và người Việt trong và ngoài nước đoàn kết chống Trung Quốc.  Người Việt ở hải ngoại có rất nhiều chuyên gia trong khi Hà Nội quá thiếu thốn. Tôi là một trong một số người được ông mời tham dự buổi nói chuyện thân mật tại văn phòng của ông tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau khi biết về chủ trương của ông không thích hợp, đa số chúng tôi (khoảng 5 người) không bao giờ gặp lại ông Jim Webb nữa.  

 

Chúng ta mong là trong khối người Việt hải ngoại sẽ không có những chuyện tồi tệ tương tự như trên xẩy ra và không có tệ nạn háo danh đến mức khiến cho con người trở nên mù quáng, thiếu sáng suốt, có những hành động sai lầm thì cộng đồng chúng ta mới khá lên được.

 

Tôi hoàn toàn đồng ý với quyết định của Cộng Đồng Việt Nam vùng HTĐ, MD và VA và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH không đồng ý biến ngày 30/4 thành Ngày VNCH hay Ngày Miền Nam Việt Nam và không tham gia vào buổi lễ tiếp nhận Nghị Quyết SJR 455.  Tôi cũng hoàn toàn hỗ trợ quyết định của Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị không chấp nhận Nghị Quyết SJR 455 và sẽ vận động Quốc Hội Virginia hủy bỏ nghị quyết này.


 

Nghị viện châu Âu ra nghị quyết khẩn về nhân quyền tại Việt Nam


 

 

TIN VUI CHO NHÂN DÂN TỪ NGHỊ VIỆN LIêN ÂU : Chính quyền cộng sản Hà nội phải tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do dân chủ!  Ngoại giao gian dối của Hà nội bị lật tẩy !


 " Từ năm 2009, Việt Nam đã có cam kết với Hội đồng nhân quyền về việc cải thiện các quyền tự do báo chí nhưng từ đó đến nay các cam kết đó không hề được tôn trọng. Theo báo cáo của các tổ chức bảo vệ nhân quyền, cũng như theo nhà báo của quốc tế, thì từ một năm trở lại đây, chiến dịch trấn áp các tiếng nói đối lập có chiều hướng gia tăng. Hàng chục nhà động tôn giáo, blogger, nhà báo bất đồng chính kiến đã bị kết án bằng những bản án tù nặng nề." RFI

 " Theo giới quan sát tại châu Âu, nghị quyết vừa được thông qua tại Strasbourg là một thông điệp mạnh mẽ đối với chính quyền Hà Nội và sẽ có ảnh hưởng đến cuộc đàm phán sắp tới về tự do mậu dịch giữa Liên hiệp châu Âu và Hà Nội. Văn kiện này cũng sẽ được tại Hội đồng nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tại Genève lưu tâm. "


Tin tưởng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền cho nhân dân đồng bào.TS

 


Nghị viện châu Âu ra nghị quyết khẩn về nhân quyền tại Việt Nam


Nghị viện châu Âu tại Straspourg.

Nghị viện châu Âu tại Straspourg.

REUTERS/Jean-Marc Loos

Anh Vũ http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130419-nghi-vien-chau-au-ra-nghi-quyet-khan-ve-nhan-quyen-tai-viet-nam


Theo trang thông tin của nghị viên châu Âu www.europarl.europa.eu, hôm qua 18/4/2013, tại Strasbourg, các nghị sĩ của Liên hiệp châu Âu đã nhất trí hoàn toàn về nghị quyết khẩn cấp kêu gọi Hà Nội trả tự do cho các nhà báo, blogger và các nhà ly khai bị cầm tù vì bất đồng chính kiến với chính quyền. Đồng thời nghị quyết kêu gọi Việt Nam tôn trọng các cam kết quốc tế, đặc biệt trên lĩnh vực tự do ngôn luận, tự do tôn giáo.

Bản nghị quyết được thông qua khẩn cấp nói trên đã được sự ủng hộ của đa số các đảng phái chính trị tại nghị viện. Nghị quyết của Nghị viện châu Âu bày tỏ mối quan ngại sâu sắc trước các bản án nặng nề của chính quyền đối với các nhà báo và blogger Việt Nam, kêu gọi chính quyền Hà Nội sửa đổi hoặc hủy bỏ các điều luật bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Văn kiện thông qua gấp này cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam chấm dứt các vụ cưỡng chế đất đai và sách nhiễu các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam.
Hôm 27/6/2012, Liên hiệp châu Âu và Việt Nam đã ký Thỏa thuận đối tác và hợp tác, trong đó bao gồm điều khoản cam kết về nhân quyền. Điều này có nghĩa là các bên ký thỏa thuận có thể « thảo luận » về những vấn đề nội bộ của nhau, nếu như một bên vi phạm các nguyên tắc căn bản về nhân quyền và dân chủ. Các nghị sĩ châu Âu đã đề nghị Liên hiệp phải nhất trí và sử dụng các cơ chế quy định trong thỏa thuận trên để bảo vệ đúng đắn nhân quyền và quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.
Theo giới quan sát tại châu Âu, nghị quyết vừa được thông qua tại Strasbourg là một thông điệp mạnh mẽ đối với chính quyền Hà Nội và sẽ có ảnh hưởng đến cuộc đàm phán sắp tới về tự do mậu dịch giữa Liên hiệp châu Âu và Hà Nội. Văn kiện này cũng sẽ được tại Hội đồng nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tại Genève lưu tâm.
Việt Nam đang có tham vọng trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp Quốc vào năm 2014. Lập trường của các nghị sĩ châu Âu về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam sẽ có một trọng lượng đáng kể trong các cuộc vận động quốc tế của Hà Nội.
Từ năm 2009, Việt Nam đã có cam kết với Hội đồng nhân quyền về việc cải thiện các quyền tự do báo chí nhưng từ đó đến nay các cam kết đó không hề được tôn trọng. Theo báo cáo của các tổ chức bảo vệ nhân quyền, cũng như theo nhà báo của quốc tế, thì từ một năm trở lại đây, chiến dịch trấn áp các tiếng nói đối lập có chiều hướng gia tăng. Hàng chục nhà động tôn giáo, blogger, nhà báo bất đồng chính kiến đã bị kết án bằng những bản án tù nặng nề.

Thursday, April 18, 2013

Xin đừng gọi “em” bằng… chiến tranh chống Mỹ


 

 

----- Forwarded Message ---

 

 

TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ

Xin đừng gọi “em” bằng… chiến tranh chống Mỹ


 

Thưa các anh,

 

Em là cuộc chiến tranh kéo dài trên 20 năm trên nước Việt Nam mà anh chàng nhạc sĩ phản chiến dựa hơi lính để trốn lính của “bên thua cuộc” gọi là “20 năm nội chiến từng ngày”; còn các anh thì gọi là “chiến tranh chống Mỹ cứu nước”, về sau này gọi vắn tắt “chiến tranh chống Mỹ”. Em đau khổ dường nào khi bị các anh gọi không đúng tên em.

 

Trước hết, em muốn gợi nhắc nhở để may ra các anh sống lại chút tình đồng cảm mà thấu hiểu cho nỗi lòng em ròng rã từ 50 năm qua. Các anh thử tưởng tượng khi tên mình bị người ta gọi sai đi, hoặc do vô tình, hoặc cố ý vì nguyên nhân hay mục địch nào đó. Chẳng hạn như anh Nguyễn Thanh Tú bị gọi là Nguyễn Thành Thúi, anh Trần Đăng Thanh ra Trần Bất Hạnh, anh Nguyễn Phú Trọng thành Lú Nặng, anh Nguyễn Tấn Dũng ra Dũng Xà Mâu hay Ba Ếch, anh Trương Tấn Sang thành Trương Tấn Xạo... mặc dù trên thực tế người ta gọi tên các anh này trại ra như thế rất là “hợp tình hợp lý”- em mượn chữ của “nhà báo” kiêm “tiến sĩ” kiêm luôn “giáo sư” Nguyễn Thanh Tú nói về “phải giữ lấy điều 4 HP”.

 

Thưa các anh, tên cúng cơm đầy đủ của em là “Chiến tranh do CS Miền Bắc (tức nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) xâm lăng Miền Nam (tức Việt Nam Cộng hòa)”, ban đầu bị các anh gọi là “Giải phóng Miền Nam”, về sau đổi thành “Chiến tranh Chống Mỹ”.

 

Người ta gọi trại tên các anh Thanh Tú ra “thằng thúi”; Đăng Thanh “bất hạnh”; Phú Trọng “lú nặng”; Tấn Dũng “Dũng xà mâu, Ba Ếch”; Tấn Sang “tấn xạo”... là gọi đúng bản chất “sự việc”; thế mà các anh đã chẳng những buồn phiền, rầu rĩ mà còn giận hờn tím gan. Còn như em đây, bị các anh gán cho cái tên với ý nghĩa hoàn toàn trái ngược lại. Nay thiết nghĩ đã đến lúc em phải đòi lại cho đúng tên thực của mình. Em đau khổ cũng quen rồi nhưng vì, như lời bác cuỗm được của ông Quản Trọng bên Tàu dạy các cháu, “vì lợi ích trăm năm trồng người”, em thiết nghĩ sự gọi đúng tên đúng việc này nếu không thức tỉnh được các anh đầu óc có chưa chai lì thì cũng vì “sổ hưu” thì ít ra cũng giải độc được cho con cháu các anh để chúng hiểu đúng sự thật lịch sử nước non nhà.

 

Em ra đời năm 1954 tức là ngay khi các anh phải rút về Bắc vĩ tuyến 17 theo Hiệp định Genève chia đôi đất nước, các anh đã cài cắm người ở lại và chôn dấu vũ khí để chuẩn bị đánh chiếm Miền Nam khi đó chưa có sự hiện diện của quân đội Mỹ. Hiệp định do các anh ký chưa ráo mực thì chính các anh chờ đêm tối đến mò về làng mạc thôn ấp nơi đồng bào Miền Nam đang sống yên lành, tìm bắt cóc sát hại viên chức chính quyền, rồi từ từ “thừa thắng xông lên”, các anh cho ra mắt “Mặt trận giải phóng Miền Nam”, vào ngày 20/12/1960.

 

Từ đó, thân em càng phình ra theo những “thành công” phá làng đốt xóm, bắt cóc giết người, đắp mô, gài mìn đường sá, tung lựu đạn rạp hát phòng trà... Cho mãi đến 1964, khi Miền Nam chịu không thấu sự hoành hành từ phía các anh mà Miền Nam có câu hát “giặc Miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu anh em...”, quân đồng minh của họ do Mỹ dẫn đầu với Thái Lan, Tân Tây Lan, Úc, Nam Triều Tiên, Phi Luật Tân mời mới nhảy vào cứu nguy.

 

Như vậy thì rõ ràng: “các anh chống đồng bào Miền Nam trước khi “chống Mỹ”. Rõ ràng Mỹ chỉ là kẻ đến sau bộ đội cụ Hồ trong cuộc đời em”.

 

Mà quả thực rõ ràng là như vậy. Khi Hiệp định Paris chưa ngã ngũ, “anh” Lê Đức Thọ đã đi đêm với Kissinger Mỹ để lừa gạt Miền Nam ký vào bản hiệp định cho Mỹ rút quân và các anh muốn làm gì thì làm sau đó.

 

Quân Mỹ đã rút năm 1973, đúng như tinh thần Hiệp định Hoà bình mà các anh đã ký kết.

 

Quân Mỹ đã rút khỏi, nhưng thân em nào có được yên. Các anh vẫn giày vò thân em vì sự thực, như thuở ban đầu, mục đích chủ trương của các anh là chống người Việt Mền Nam chứ đâu phải chống Mỹ. Chỉ cần xem những tấm hình chụp “anh” Thọ đi đêm với Kít Mỹ với khuôn mặt hồ hởi phấn khởi của hai anh thì biết thân phận em còn phải nằm ngửa ra cho đến hai năm sau.

 

Nói chi đâu xa: vụ Mậu Thân mà mới đây nhân dịp kỷ niệm 45 năm các anh vẫn còn bày trò gian lận bằng cuốn phim gọi là “tài liệu” về Mậu Thân Huế của cô ả Lê Phong Lan.

 

Năm đó em tưởng mình được yên thân trong ba ngày Tết, vì chính các anh đề nghị và được bên Miền Nam đồng ý hưu chiến cho bà con Mừng Xuân sang, nhưng chính các anh đã tráo trở. Xuân vừa sang, tiếng súng AK đã nổ vang phố Huế. Em (tức chiến tranh) lại phải tức giấc. Chính các anh đi ruồng bắt rồi đem chôn sống hàng ngàn người Việt chứ đâu phải người Mỹ! Chống Mỹ thì chôn sống Mỹ chớ hà cớ gì lại đi chôn sống người Việt!

 

Em nhớ không sai, tinh thần của Hiệp Định Paris 1973 là chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hoà bình mà các anh đã ký; và quả nhiên rõ ràng là quân Mỹ đã rút khỏi Miền Nam. Vậy mà các anh vẫn đánh quân Miền Nam và đánh lớn bằng chiến dịch Hồ Chí Minh để phe các anh có được “đại thắng mùa xuân”, và tù binh không ai khác hơn là người Việt Nam. Trắng đen thế ấy nhưng các anh cho đến nay vẫn không chịu “sáng mắt sáng lòng” gọi em bằng tên “Chiến tranh chống Mỹ” thì oan cho em quá.

 

Các anh ơi, nếu em nhớ không lầm thì trong một cuốn tiểu thuyết nói về yêu đương nào đó có chuyện anh chàng kia tuổi tác đáng bậc chú cô bé nọ, nhưng vì yêu đã xin “đừng gọi anh bằng chú”

 

Nay em cũng xin các anh, không phải vì yêu mà vì công lý, xin đừng gọi em là “Chiến tranh chống Mỹ”, nhưng hãy gọi cho đúng tên.

 

Đó là cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam Tự Do do Cộng sản Miền Bắc phát động.

 

Em cám ơn các anh,



 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link