Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, April 23, 2013

PHẢI CHĂNG “TRÍ THỨC” Ở VIỆT NAM ĐÃ BỊ DIỆT CHỦNG?!



KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TÀU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)



PHẢI CHĂNG “TRÍ THỨC” Ở VIỆT NAM ĐÃ BỊ DIỆT CHỦNG?!

 

NGUYỄN THIẾU NHẪN

 

-TỪ TRÍ THỨC NGUYỄN MẠNH TƯỜNG:

 

Cách đây 81 năm, năm 1932, một thanh niên 22 tuổi tên Nguyễn Mạnh Tường đã tốt nghiệp 2 bằng Tiến sĩ Luật và Tiến sĩ Văn chương tại Pháp. Cũng như triết gia Trần Đức Thảo, ông đã trở về Việt Nam để tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân. Và, những người trí thức lầm đường này đã bị CSVN “bỏ cho chết đói” - chữ dùng của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường - vì đã dám từ chối đi theo bảng chỉ đường của Đảng.

 

Xin mời độc giả đọc bài báo “For One Man, War’End Was Trivial Next To His Travails” (tạm dịch “Đối với một người, cuộc chiến kết thúc nhưng khó khăn vẫn chưa dứt”) của nhà báo Cammeron W. Bar đăng trên báo The Christian Science Monitor số April 27, 1995, do Tqvn2004 chuyển ngữ), nội dung như sau:

 

“HÀ NỘI, VIETNAM - Gần 40 năm trước, một luật sư và giảng viên tên Nguyễn Mạnh Tường đã tiến lên để chỉ trích những sai lầm của chính quyền. Tiến sĩ Tường là một nhân vật quan trọng lúc đó - ông được chính Hồ Chí Minh (HCM), người thành lập ra đảng CSVN, lựa chọn để đi tranh luận về chủ quyền của VN trước những kẻ thực dân người Pháp ngay sau khi Thế Chiến thứ 2 .

Đảng CSVN không bỏ tù hay xử tử Tường vì quan điểm của ông, nhưng ông bị cấm theo đuổi nghề ruột của mình (luật sư và giảng viên), ông được phép sống, nhưng trong yên lặng.

Khi VN và Hoa Kỳ đánh dấu 20 năm cuộc chiến giữa hai bên, câu chuyện của Tường cho thấy di sản lớn nhất của cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất VN có lẽ là một thể chế toàn trị của những nhà lãnh đạo CS. Xét theo sự trấn áp dành cho trí thức VN, ông Tường nói, sự kết thúc chiến tranh “không ảnh hưởng gì cả”. Gần đây chính quyền đã tỏ ra dễ dãi hơn trước những lời chỉ trích, một phần để giảm bớt mối lo ngại của các quốc gia phương Tây, nơi tạo ra phần lớn nguồn đầu tư nước ngoài cần thiết cho “đổi mới” kinh tế ở VN. Cuối năm ngoái, Đỗ Mười, Tổng bí thư đảng CSVN đã tới thăm Tường như một cử chỉ hòa giải. Tường nói cuộc gặp gỡ chỉ mang tính xã giao và không có thực chất. Cuốn hồi ký của Tường, được xuất bản năm 1992 ở Pháp, bị cấm ở VN, mặc dù các bản sao của nó vẫn được lưu hành một cách bí mật. Đến ngày hôm nay, ông nói, một bài phát biểu công khai chỉ trích đảng vẫn đồng nghĩa với việc bị bắt.

 

Tường đồng ý phỏng vấn tháng trước, đây là lần đầu tiên ông trả lời phỏng vấn báo Hoa Kỳ. Ông có lẽ không thể nào tỏ ra mình trí thức hơn được nữa, một danh hiệu mà ông khoác lên mình như tấm lụa mỏng ông đeo trên cổ. Cách ứng xử của ông thật tao nhã, tiếng Pháp thật lịch sự, và đôi mắt của ông không che được nỗi buồn gây ra bởi “những năm tháng đen tối”, cách ông gọi nó.

 

Sinh tại Hà Nội năm 1909, Tường nhanh chóng thể hiện chính mình trên con đường học thuật. Được gửi sang Pháp để học cao học, ông đã được cấp 2 bằng Tiến sĩ về Luật và Văn chương ở tuổi 22.

Năm 1946, Tường quay trở về Hà Nội, theo đuổi ngành luật và giảng dạy, khi ông được gọi tới văn phòng của HCM. “Ông ta đã yêu cầu tôi xây dựng… một lập luận chính thức để đoàn VN trình bày trước những người Pháp trong cuộc hội thảo song phương,” ông nói. Phía Pháp đã từ chối lập luận này, nhưng sau đó Tường tiếp tục yêu cầu đại diện VN ở 3 cuộc hội thảo quốc tế, và giữ được nhiều vị trí lãnh đạo của các tổ chức quan trọng lúc đó.

“Thật không may”, ông nói “thời gian tốt đẹp đó không kéo dài lâu”.

Một thập niên sau khi trợ giúp HCM, Tường tham gia vào cái mà ở Trung Quốc và VN gọi là phong trào “trăm hoa đua nở”, một giai đoạn mà 2 đảng CS ở cả hai quốc gia này cho phép đối lập lên tiếng chỉ trích. Và ở cả hai quốc gia này, đảng CS đã nhanh chóng quay đường - bịt miệng, bỏ tù và đôi lúc xử tử những ai dám cất tiếng nói.

Tường đã chỉ trích chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tàn nhẫn của chính quyền với hàng ngàn người, rất nhiều người trong số đó là vô tội, đã bị tử hình với lý do tái phân bổ đất đai và của cải ở nông thôn.

Vào tháng 10 năm 1945, Tường tuyên bố: "Ta để cho chết chóc thê thảm những người già cả hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt”, theo lời thuật lại sau này được chính quyền miền Nam VN công bố.

Tường nói ông muốn thúc đẩy tự do ngôn luận lớn hơn và yêu cầu đảng CS lắng nghe các trí thức trong nước. Ông nói ông không muốn chống lại chính đảng ông tuyên bố những thành tựu to lớn của Đảng CSVN trong giáo dục, cuộc chiến chống nghèo đói, và trên nhiều lãnh vực khác - nhưng ông chống lại những sai lầm và bất công của nó.

Tuy nhiên, ông đã bị ngăn cản không thể tiếp tục dạy học, theo đuổi nghề luật hay viết lách, và bị công an giám sát. “Thế mối quan hệ thân thiết của ông với ông Hồ thì sao?” “Tất cả thành viên của đảng CS”, ông Tường nói, “Chủ Tịch đến cán bộ cấp thấp nhất, đều không bao giờ có thể nói lên một ý kiến nào khác ý kiến của Đảng. Đó là lý do tại sao họ để tôi chết đói!”

 

Nhiều thập niên sau đó, thân quyến và những học sinh cũ đi qua phố phải tránh gặp mặt ông một cách công khai. Để sống, Tường bán những cuốn sách trong thư viện mình cho đồng nát. Ông vẫn phải dựa vào “lòng hảo tâm của bạn bè”

 

Ông sẽ nói gì với thế giới VN ngày nay?” “Bất chấp các cải cách kinh tế đang tiến hành và xuất hiện một giai cấp thương mại có khả năng ném tiền qua cửa sổ, vẫn còn một đa số đau khổ”.

 

-ĐẾN “TRÍ THỨC” NGÔ BẢO CHÂU:

 

Năm 2010, Ngô Bảo Châu đoạt giải Toán học Fields là một giải thưởng giành cho những tài năng về Toán dưới tuổi 40. Đây là một vinh dự cho VN. Ngô Bảo Châu, theo tin báo chí đang giảng dạy tại một trường Đại học tại Hoa Kỳ. Ngô Bảo Châu đã được Đảng và Nhà Nước CSVN “ẵm ngữa vào lòng” - như đã từng “ẵm ngữa” danh cầm Đặng Thái Sơn. Được Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ôm hôn thắm thiết. Được Bộ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân  tới nhà sờ đùi, cọ vế. Được cấp nhà to. Được giao cho Viện Toán Học với kinh phí bạc tỷ.

 

Ngô Bảo Châu đã từng “2 lần cãi đảng” trong vụ Đảng và Nhà Nước cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên và vụ tuyên bố về vụ Tòa xử Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ.

Báo chí của Đảng và Nhà Nước CSVN như báo Công An đã từng có những bài viết đưa ra những lời cảnh cáo bóng gió.

 

Năm 2011, giáo sư Ngô Bảo Châu lại làm dư luận nổi bèo, nổi bọt khi trả lời báo Tuổi Trẻ về vấn đề trí thức có vẻ xuôi tai Đảng và Nhà Nước CSVN.

 

Nhiều bậc thức giả đã lên tiếng về những lời phát biểu của giáo sư Ngô Bảo Châu. Do đó, xin không đề cập ở đây.

 

Cũng như nhiều bậc thức giả cho rằng khi quần chúng hết sợ và khi trí thức từ chối đi theo bảng chỉ đường của Đảng thì đất nước sẽ dân chủ, tự do!

 

Cũng như mới đây, ông Bùi Tín, với bài viết “Thời điểm của tụ nghĩa” đưa ra nhận xét rất lạc quan về chuyện ông Đại Biểu Quốc Hội CSVN Dương Trung Quốc họp mặt với khoảng 20 trí thức khác ở Hà Nội. Và ông cho rằng đây là “những mini Diên Hồng” sẽ dẫn tới… Đại Hội Diên Hồng trong tương lai!

 

Tôi xin tôn trọng ý kiến của các vị cho rằng khi quần chúng hết sợ hãi và trí thức từ chối đi theo bảng chỉ đường của Đảng thì đất nước sẽ dân chủ, tự do.

 

Tôi cũng xin tôn trọng “giấc mơ” Hội nghị Diên Hồng của ông Bùi Tín sẽ được ông Đại Biểu QHVC Dương Trung Quốc và các trí thức trong nước thực thực hiện!

 

Nhưng, thực lòng mà nói, hai câu trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Mạnh Tường cách đây 17 năm:

 

“…Một bài phát biểu công khai chỉ trích Đảng vẫn đồng nghĩa với việc bị bắt”.

 


 

“Tất cả những thành viên của đảng CS… Chủ tịch nước đến các cán bộ cấp thấp nhất, đều không bao giờ có thể nói lên một ý kiến nào khác ý kiến của Đảng. Đó là lý do tại sao họ để tôi chết đói”

 

lúc nào cũng ám ảnh tôi.

 

Và, theo tôi biết, những người dám phát biểu khác ý kiến của Đảng CSVN như linh mục Nguyễn Văn Lý, Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Thanh Nghiên, Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, nhạc sĩ Việt Khang và còn rất nhiều người nữa… đã bị bắt và bị giam cầm.

Như mới đây, sinh viên Nguyễn Thị Phương Uyên đã bị bắt giam vì dám dán truyền đơn có nội dung “Vì danh dự Việt Nam, chống giặc Tàu”.

 

Sau “sự biến” này, lại thấy có một số vị trí thức (đã từng viết rất nhiều thư thỉnh cầu Đảng và Nhà Nước) lại “theo đuôi” các sinh viên cùng trường của sinh viên Phương Uyên viết thư thỉnh cầu đương kim Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang yêu cầu trả tự do cho sinh viên Phương Uyên. Nhưng chắc chắn các vị này đều biết là sẽ không có kết quả gì, nhưng phải lên tiếng vì không thể không lên tiếng!  

 

Theo chúng tôi, dù giáo sư Ngô Bảo Châu, dù ông Đại Biểu Quốc Hội VC Dương Trung Quốc hay bất cứ ông bà trí thức nào khác chắc chắn cũng không thoát khỏi số phận mà Đảng CSVN đã giành cho nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường - người mà cách đây hơn 60 năm đã dám nói khác ý Đảng!

 

Trừ phi là những vị đó được Đảng và Nhà Nước CSVN cho phép nói!

*

Trong bài viết giới thiệu tác phẩm “Une voix dans la nuit” (Tiếng vọng trong đêm) nhà phê bình Thụy Khuê có nhận xét như sau:

 

“… Hiện nay, mọi người dường như đã “thích nghi”với chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Ngậm miệng là điều kiện cần và đủ để thành công mọi mặt, từ công việc làm ăn đến thăng quan tiến chức. Từ miếng giấy thông hành về nước đến việc dạy học, việc mở và dư hội thảo ở Việt Nam.

Ngoại trừ những khuôn mặt can trường đã vào tù, tinh thần trí thức hướng dẫn xã hội và dân tộc đến bình đẳng tư do, dân chủ đã bị dẹp tan, gần như diệt chủng, kể cả những “trí thức” đã đi du học, làm việc ở nước ngoài, đã được giải thưởng quốc tế, cũng lộn sòng về nhận ân sủng, phẩm hàm, nhà cửa.”

 

Phải chăng sau 70 năm CSVN thiết lập chế độ độc tài đảng trị , những kẻ được gọi là “trí thức” ở Việt Nam đã bị diệt chủng - như cách nói của nhà phê bình Thụy Khuê?!

 

NGUYỄN THIẾU NHẪN

tieng-dan-weekly.blogspot.com


Chuyện Thật ở Thủ đô Hà Nội

Mới nhận. Xin chuyển.

Chuyện Thật ở Thủ đô Hà Nội
image
Tôi đi Hà Nội một tháng, gặp một số chuyện “độc” chỉ có ở thủ đô, mang về làm quà kể cho bạn nghe. Kể từng chuyện nhé.
Niềm Tin & Quốc Tịch
image
Chồng chị là đảng viên. Chị cũng đảng viên, cả hai đều là đảng viên thứ gộc. Họ làm ăn rất tài và phất rất nhanh. Hết mua bán đất đến mua bán nhà, rồi mua bán chung cư, rồi đến chơi chứng khoán. Đầu tư quả nào trúng ngay quả đó.
Một hôm, chị nói với tôi rằng, “Chị vừa mua thêm căn hộ ở Singapore, em ạ.” Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chị nói như thế. Trước đây, tôi có nghe kể rằng chị đã mua một ngôi nhà ở Australia và một ngôi nhà nữa ở Mỹ, bang Cali hẳn hoi. Nghĩa là cho con đi du học ở xứ nào thì chị mua nhà cho chúng ở xứ đó. Trước để khỏi phải tốn tiền thuê nhà, khi học xong thì cũng vừa trả xong tiền nợ, và giá trị căn nhà cũng tăng đủ để sinh lời. Tuy vậy, tôi hỏi thêm cho rõ, “Nhưng chị đã có nhà ở Úc và ở Mỹ rồi thì mua thêm ở Sing làm gì?”
image
Chị bình thản chia sẻ thật với tôi, “Chị đầu tư mà em. Vả lại vốn vay tại Singapore cực rẻ. Chị sẽ chuyển toàn bộ tài sản ra nước ngoài luôn. Cái quy chế có chừng nửa triệu đô thì được nhập tịch ở Canada rất thoáng, nhà chị đang lo. Như thế sẽ an toàn hơn. Ở mình, giờ nhìn đâu cũng thấy bóng dáng thần chết. Từ thực phẩm cho đến xe cộ, sơ sảy chút là không toàn mạng. Thậm chí, tháng nào bọn chị cũng bay quaSingapore mua thực phẩm rồi đem về Hà Nội sử dụng dần dần. Mấy cái siêu thị ở đây cũng không thể tin được. Làm sao mà biết chắc rằng chúng không bán hàng đểu cho mình. Ăn bậy vào nếu không ngộ độc thì cũng ung thư.”
image
Chị lại khuyên, “Mấy đứa nhỏ ở nhà ráng lo cho chúng đi du học hết đi. Ngày xưa thì hết tị nạn chính trị đến tị nạn kinh tế, còn bây giờ thì phải kể thêm tị nạn giáo dục nữa. Mà thật ra thì thời buổi này, ở cái đất nước này, mọi chuyện đều phải tính hết, không thể ù lì chờ nước tới chân mới nhảy. Em cố gắng mà chạy cho được thêm cái quốc tịch. Dù sao có hai cái quốc tịch vẫn hơn. Lỡ có chuyện gì… thì… bay hơn 1 tiếng đã đến Singapore.”
Trời ơi, cỡ làng nhàng dân ngu khu đen như tôi thì làm sao mà… chạy thêm cái quốc tịch? Quốc tịch chứ có phải là mớ rau ế mua ở chợ chiều đâu mà dễ chạy vậy ta? Làm sao mà sống tiếp đây? Chẳng lẽ, cái xứ này đến hồi vận mạt rồi sao?
Cái gì cũng “đéo”
image
Ngày nay hầu như ở Hà Nội người ta không còn, hay rất hiếm, nói từ “không”, mà thay bằng từ “đéo”. Ra phố thì cái gì cũng “đéo”. Từ già cho tới trẻ, nam hay nữ gì cũng vậy, cũng nói “đéo” thay cho “không”. Thậm chí, có khi bạn còn nghe “đéo” trong các môi trường lẽ ra rất lành mạnh như nhà trường. Cái gì cũng “đéo”. Nghĩa là, “đéo có cái gì mà không đéo”. Giả dụ, ở sạp báo, bạn hỏi, “Ông ơi, có báo Nhân Dân không?” / “Đéo có Nhân Dân, chỉ có Hà Lội Mới thôi!”. Kinh!
Thịt heo tự nuôi, cho nó lành!
image
Xem ti-vi, thấy một chị tre trẻ ở Hà Nội đặt họ hàng ở quê nuôi heo để ăn dần cho nó an toàn, bảo đảm là heo nuôi với nguồn thực phẩm tự nhiên, không có chất “tạo nạc”. Ai muốn ăn thịt heo thì phải ghi tên trước 8 tháng. Nhà đài VTV tường thuật như thể chị chàng kia thông minh lắm, như muốn khuyến khích mọi người theo cái gương đấy. Mình nghĩ, không chừng chắc rồi cũng tới cái lúc dân ta quay lại như thời bao cấp, cái thời nhà nhà nuôi heo, tự cung tự cấp, ủn ỉn ụt ịt trong mọi nhà, trên mọi hành lang chung cư, cho nó lành.
“Sĩ”
image
Ra đây một thời gian ngắn tôi nhận ra được cái tính “sĩ” của dân thủ đô. Tôi gặp một số người cho rằng mình là người Hà Nội chính gốc, có tổ tiên hằng bao nhiêu đời làm quan của triều nhà Hồ, nhà Lê. Những người này có niềm kiêu hãnh về dòng dõi của mình, và họ khinh đám dân nhập cư từ Nghệ An, Thanh Hóa, hay các xứ khác đến sống ở Hà Nội ra mặt. Nếu không khinh ra mặt được thì họ cũng ngấm ngầm tự hào về cái khả năng không nói ngọng nghịu, lẫn lộn hai âm “nờ” và “lờ”, và tự hào về cái giọng thanh tao (nhưng tôi nghe thì có khi chua lét) của họ, chứ không nặng chình chịch và quê mùa của người nhập cư. Họ cho rằng như thế mình mới là “sĩ”, là “kẻ sĩ”; nghĩa là, có thể nghèo, nhưng vẫn sang trọng, một cách nào đó, trong nhân cách thừa kế được từ dòng dõi nhiều đời trước
Khi niềm tin đã mất
“Tháng giêng là tháng ăn chơi”, đó là chuyện đáng nói nhất ở VN vào lúc này. Trong đó lễ hội ở khắp các đình chùa miếu mạo là những nét chính, một phong tục từ ngàn xưa cha ông ta đã để lại. Nhưng không phải người dân VN nào cũng có cơ hội được đi lễ hội. Cuộc sống vô cùng khó khăn chật vật, hầu hết những người lao động chưa hết tết đã phải lao vào kiếm sống. Chỉ những người dư giả chút đỉnh hoặc nhà khá giả, nhà giàu mới đủ khả năng đi lễ hội. Một dòng người chảy xuôi ngược từ tỉnh này qua tỉnh khác, từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vô Nam đến với lễ hội.
Theo thống kê, hiện nay ở VN có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó phần lớn là lễ hội dân gian. Có ảnh hưởng tới đời sống văn hóa của số đông người dân. Mỗi lễ hội đều có cốt cách, sắc thái riêng thu hút khách thập phương đến với hội làng mình.
Ước tính năm nay số người đi lễ hội tăng hơn nhiều so với mọi năm. Như số khách đi chùa Hương năm nay so với năm 2012 tăng khoảng 8%, khoảng 1,5 triệu lượt và kéo dài tới 3 tháng. Còn rất nhiều các lễ hội khác số khách cũng đều tăng đáng kể.
Vì sao số người đi lễ hội ngày càng nhiều?
image
Một sự thật hiển nhiên là con người khi chẳng còn biết tin vào cái gì thì chỉ còn biết gửi hết niềm tin vào những giấc mơ hư ảo. Từ tiền tài, bổng lộc, bằng cấp, sức khỏe cho đến tình duyên, đều trông cậy vào “một phép lạ nhiệm màu” từ trên trời rơi xuống. Mục đích vật chất, vị lợi, cầu xin thánh thần phù hộ cho đủ thứ cần thiết thực dụng đã biến cửa đền chùa thành một nơi phàm tục nhất. Nơi con người mong có thật nhiều lợi lộc mà chẳng cần làm gì.
Tôi cần phải xác định ngay đây không phải là vấn đề tín ngưỡng và cũng không phải tất cả mọi người đến lễ hội đều có một mục đích như nhau. Cũng có người đến lễ hội nhân dịp du xuân theo đúng ý nghĩa nhớ về nguồn cội hoặc chỉ để vui chơi “xem cho biết”.
Nhưng cũng có những người chen lấn, giành giật cành lộc, giẫm đạp xin ấn đền Trần; trèo tường, chui cửa chùa Bái Đính; hay ăn xin, rải tiền, cướp chiếu, xin nước thánh… đang khiến nhiều lễ hội không còn là lễ hội mà là nơi người ta cố chen lấn để mua thần bán thánh. Bởi trong cuộc đời thường họ đã quá vất vả cũng không thể nào khá hơn được nữa.
Bao nhiêu lợi lộc trong cuộc sống thực tế đã bị đánh cắp hay đúng hơn bị ăn cướp mất rồi. Từ thằng du côn, dân anh chị có số má đến anh có một tí quyền lực cũng có thể vơ vét hết công việc kiếm ăn ngay từ trong ngõ hẹp của người lương thiện. Vậy thần thánh tượng trưng cho quyền lực mơ hồ hư ảo chính là nơi cho họ cái hy vọng cuối cùng.
imageDu khách nhét tiền thật vào bất cứ chỗ nào trên pho tượng Phật.
Còn anh giàu muốn giữ của hay muốn giàu hơn, quan nhỏ muốn làm quan lớn. Đi lễ chùa, cầu Trời khấn Phật chính là cái “điểm tựa” thứ hai của họ. Ngoài đời có đàn anh, có phe nhóm che chắn, nhưng để “bảo đảm an toàn” hơn, họ cần có thêm một điểm tựa tâm linh mà họ nghĩ rằng không ai có thể phá đám được. Vì thế họ sẵn sàng lao vào các nghi thức trời ơi, các trò mê tín giữa lễ hội, giành giựt bằng được dịp may hiếm có này. Họ sẵn sàng nhét tiền thật, “tiền tươi” vào bất cứ chỗ nào trong pho tượng Phật, cùng lắm thì nhét dưới cái bệ gạch Phật đang ngồi. Chẳng biết Phật có thể xài tiền dương gian hay không, họ vẫn cứ hối lộ. Dường như hối lộ đã biến thành một thói quen bởi lâu nay, muốn làm bất cứ cái gì cũng phải có tiền đi trước. Không tiền thì đến bệnh viện cũng chỉ nằm ngoài hành lang chứ đừng hòng cấp cứu. Thế nên hối lộ thần thánh biến thành “chuyện tự nhiên như người Hà Nội”. Họ làm với tất cả cái gọi là “lòng thành”, nhưng chính “lòng thành” dúi tiền vào tay Phật đã phản bội giá trị đích thực của Thần Thánh.
Văn hóa dân tộc hay kinh doanh?
Lễ và hội ở khắp các vùng quê xưa kia là đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh vui chơi giải trí của dân cư sống bằng nông nghiệp là chính, theo thời vụ mùa màng và gắn với đất đai tự nhiên. Vui chơi ngày xuân để đền bù suốt 12 tháng làm lụng vất vả. Cúng bái đầu năm là để nhớ ơn tổ tiện, nhớ công đức người dựng làng, dựng nước nên mới có Bàn Thờ Tổ, có Thánh Hoàng Làng, chứ không phải cứ có lễ hội Thánh Hoàng Làng mới được ăn xôi, ăn “oản”. Tiếc rằng cái ý nghĩa đáng trân tọng đó đã bị người đời nay phản bội. Một số nơi tổ chức lễ hội là để kiếm thêm tiền cho địa phương hay cho chính các quan chức địa phương. Rồi các con buôn ở khắp nơi cũng nhào đến lễ hội để kiếm ăn, chặt chém, bói toán lừa bịp đủ kiểu, kể cả ăn cắp vặt. Người đi lễ hội cứ ngay ngáy đề phòng đủ chuyện từ ăn uống, di chuyển đến mua sắm lễ và… chuẩn bị “xung phong” vào nơi nào được coi là linh ứng nhất. Cho nên không chỉ người tổ chức lễ hội phản bội cha ông mà nhiều du khách cũng tham gia trò chơi này. Mượn danh nghĩa “Văn hóa dân tộc”, “Uống nước nhớ nguồn”…nhiều nơi tổ chức lễ hội rầm rộ thật ra là để “kinh doanh” hơn là “truyền thống” làm cho ý nghĩa thực của lễ hội dần dần bị mai một!
Ở đây tôi chỉ điểm lại vài lễ hội chính đã và đang diễn ra tại VN trong tháng giêng này.
Những cảnh chướng tai gai mắt ở lễ hội
image
Lễ hội lớn nhất và lâu nhất, phải kể đến lễ hội chùa Hương. Đã từ nhiều năm lễ hội này đã để lại nhiều điều tai tiếng. Từ sáng ngày15-2, đã có hàng ngàn du khách từ khắp nơi đổ về dự lễ khai hội chùa Hương năm 2013. Ngay trong sáng ngày khai hội, một số hình ảnh chưa được đẹp mắt vẫn còn tồn tại như tình trạng ứ đọng gần như vô tổ chức tại khu vực cáp treo khiến du khách chật vật chen lấn. Các nhà hàng, quán ăn ở chùa Hương vẫn bày bán đủ các loại thịt động vật cho khách hành hương về đất Phật, trông thật chướng mắt. Trong động Hương Tích; tiền lẻ, gạo, muối trắng bị rải ở nhiều nơi.
image
Một điểm đáng nói là hiện tượng các chủ đò “chặt chém” du khách đi đò trên suối Yến đã giảm đáng kể. Một du khách phải trả 85.000 đồng (gồm 35.000 đồng tiền xuống đò, 50.000 đồng tiền vé thắng cảnh) thì người chèo đò chỉ “xin” thêm 15.000 đồng gọi là “tiền bồi dưỡng” – một từ ngữ rất quen ở VN. Tuy nhiên, rất đông du khách phàn nàn về việc bị các quán, hàng ăn “chém đẹp”. Như một bát mì tôm trứng, hay một bát phở bò tái (thực chất là thịt heo) có giá từ 55.000 - 60.000 đồng, một chai nước C2 cũng có giá từ 15.000 – 18.000 đồng, một hột vịt lộn cũng có giá 15.000 đồng…Thật ra hiện tượng chặt chém trong những ngày lễ tết đã trở thành một “thói quen” ở khắp nơi. Ngay như ở sân bay Nội Bài – Hà Nội, giá cũng tăng vô tội vạ. Du khách đành “chịu trận”.
Khai ấn đền Trần, lễ hội của quan
Cách đây năm bảy năm, hầu như người ta chỉ biết đến lễ khai ấn đền Trần, nhưng nay thì huyện Hưng Hà, Thái Bình cũng phát ấn, rồi Yên Tử, Quảng Ninh cũng đóng dấu khai ấn, và cả đền thờ ở tuốt Thanh Hóa cũng phát ấn nhà Trần.
Xưa kia lễ hội là việc của cộng đồng, người dân địa phương đến chơi hội, cùng nhau tổ chức những trò chơi thú vị đầy tính cách dân gian, không tốn kém như đu dây, ném vịt, bịt mắt đập nồi đất hoặc nam nữ ca hát đối đáp chung vui. Nhưng nay chính quyền nhiều địa phương muốn nâng lễ hội lên “tầm cao mới”, họ phân công cán bộ, lập ban tổ chức rồi cố gắng mời thật nhiều quan chức, càng có vị trí cao càng tốt về dự lễ. Người ta truyền tai nhau là nơi nào linh thiêng thì lãnh đạo mới về! Lãnh đạo được đón tiếp rất long trọng, hầu hạ chu đáo.
image
Trước khi lễ hội đền Trần diễn ra, ban tổ chức khẳng định sẽ trả lại lễ hội cho cộng đồng, nhưng đáng tiếc, trong số 1.000 người được cấp thẻ vào đền trong giờ thiêng, quan chức và người nhà chính quyền địa phương chiếm nhiều nhất.
Các vị lãnh đạo chính quyền cũng có tín ngưỡng, cũng có quyền được đi lễ. Nhưng Lễ làng thì có dính dáng gì các quan chức nhà nước mà họ phải làm đình đám. Nếu các quan muốn tham dự thì nên đến với tư cách cá nhân, đừng lạm dụng quyền quan chức mà đến lễ hội để thể hiện mình, ăn nhậu rồi lại bắt nghệ sĩ phục vụ. Điều này không thể chấp nhận được!
Trong đêm khai ấn đền Trần (Nam Định), không chỉ đua nhau ném tiền vào kiệu rước, hàng ngàn người còn chen nhau chui vào đền, giành giật hoa và cành lộc trên ban thờ mang ra ngoài khiến buổi lễ trở nên hỗn loạn.
image
Khi đền Trần bắt đầu phát ấn, để có được một lá ấn, người dân phải trả ít nhất 15.000 đồng và theo quy định mỗi người chỉ được mua 1 – 2 lá. Tuy nhiên, những người vô tổ chức cũng nhiều không kém. Người ta không ngần ngại trèo qua đầu người khác để xông vào đòi mua ấn trước.
Nhiều người chui vào mua tuồn ra cho “anh em” bên ngoài rồi lại chui vào mua tiếp.
Từ đó, tình trạng lộn xộn liên tiếp diễn bởi trong số này có nhiều người vào lấy ấn với mục đích ra cửa bán lại cho người ngại xếp hàng. Hàng ngàn người cứ hùng hục xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để giành giật cơ hội mua bằng được lá ấn nhằm thăng quan tiến chức. Trong khi bổng lộc, may mắn chưa thấy đâu, nhiều người bị xô ngã, mất trộm, rạch túi.
Những cảnh nhếc nhác ở lễ hội khác
Tương tự, hàng ngàn người đổ về xin lộc bà Chúa Kho ngày đầu năm khiến nơi này đông nghẹt. Đâu đâu cũng thấy những mâm lễ đầy ắp tiền, vàng mã ghi đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, sao chiếu mạng của chủ nhân. Cảnh khấn thuê, cò mồi đốt vàng hương, lấy tiền công đức… vẫn diễn ra.
Dọc đường dẫn vào đền bà Chúa Kho, người già, trẻ em, người khuyết tật nằm bất động hay lê lết xin tiền du khách. Nhiều trẻ em bị ép buộc, lạm dụng để kiếm tiền, trước sự bất lực của Ban quản lý di tích.
image
Tình trạng lộn xộn, ý thức kém còn diễn ra ngay tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Mặc dù Ban quản lý di tích đã căng hàng rào không cho khách sờ đầu rùa đội bia đá nhưng nhiều bậc phụ huynh vẫn cố tình bế con qua hàng rào để vào sờ đầu rùa mong học giỏi. Con cứ việc chơi, chuyện học hành đỗ đạt đã có Thánh lo!
Du khách còn bắt chước, đua nhau ném tiền lẻ vào khu vực bia đá. Thậm chí, nhiều người còn gấp nhỏ tiền nhét vào miệng rùa đá cầu may.
image
Với mong muốn sinh con trai, hàng ngàn thanh niên đã đổ về huyện Tam Dương (Vĩnh Phúc) để cướp chiếu trong lễ “đúc Bụt”. Nhiều người cướp được một sợi chiếu cói cũng cảm thấy may mắn.
Còn Hội làng Lim – Bắc Ninh, xưa nay vốn nổi tiếng về hát quan họ. Một thứ văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với các “liền anh liền chị chân quê” trình diễn cho khách thập phương vui hội rất đặc sắc, không nơi nào có. Nhưng năm nay lại có nhiều dư luận ì xèo về cách nhận tiền “boa” của khách.
Bạn NVM cho biết: Hành động của các “liền anh, liền chị” ở hội Lim giống như mấy ca sĩ nghiệp dư phòng trà nhận tiền boa. Nếu có khác là ở các phòng trà, khán giả có thể nhét tiền boa vào áo lót, khe ngực của ca sĩ. Còn các “liền anh, liền chị” ở đây thì ngửa tay ra để nhận tiền.
Lễ hội ở Sài Gòn
Trở lại với TP Sài Gòn, ngày 24-2, người Sài Gòn tấp nập đổ về các ngôi chùa. Các ngôi chùa lớn như Giác Lâm (Q.Tân Bình), Vĩnh Nghiêm (Q.3), Xá Lợi (Q.3),… từ sớm đã đông người lễ Phật, cầu an, cầu siêu, cầu lộc năm mới.
Ngày rằm, các vật phẩm cúng được bán với giá cao gấp ba lần ngày thường. Gặp khách nơi xa đến, người bán cứ ấn đồ cúng vào tay khách bảo cứ vào chùa cúng cho kịp giờ tốt rồi ra tính tiền, nhiều người cả tin mang vào cúng xong khi trở ra bị tính tiền giá… trên trời. Bà Lê Thị Mành từ Bình Dương đến núi Sam viếng chùa than vãn: “Chỉ chục ký gạo, chục ký muối với hai ốp nhang, hai bó hoa mà bị chặt tới 2 triệu đồng”.
image
Dòng người chờ rước kiệu Bà đông nghẹt tại khu vực vòng xoay trung tâm TP Thủ Dầu Một- Bình Dương
Quanh các ngôi chùa, có đội “cò” luôn bám theo khách gạ gẫm đến các am miếu trên núi xem bói, mua chim thả phóng sinh, mua bùa chú, cúng giải hạn cầu may. May chưa thấy đã thấy khá nhiều trường hợp bị kẻ gian móc túi, lừa gạt…
Văn hóa hỏng mất rồi
- Đôc giả Phạm Xuân Nguyên sau khi đi lễ hội chùa Hương về đã cay đắng thốt lên: “Thật khủng khiếp khi chứng kiến cảnh đền chùa, di tích trong những ngày lễ hội: một bãi rác khổng lồ, một đống chen chúc, xô đẩy, một phòng trưng bày lộ thiên tạp pí lù của tham vọng kỳ quặc của con người. Đem bạc dán dắt đầy mình tượng là một trong những hành động khó chịu điển hình nhất của lễ hội không chỉ xuân này.
imageThịt động vật được bán tràn lan ở bến Thiên Trù tại chùa Hương
Đi hội tội người, tội cả thánh thần tiên Phật, tội cả văn hóa tâm linh tinh thần. Văn hóa lễ hội của chúng ta hỏng mất rồi. Nó hỏng trong cái hỏng chung của văn hóa tinh thần của người Việt ta lâu nay. Bây giờ có ai đi hội để ngắm nhìn thưởng lãm cái đẹp, cái hay của những di tích đình chùa nữa đâu. Người ta cứ đi cứ đến cứ vái cứ cúng nhưng về hỏi là đi đâu, nơi đó sự tích thế nào, kiến trúc ra sao, có gì hay gì đẹp thì lại chẳng biết, chẳng thèm biết.
Tiếc rằng hết năm này qua năm khác, vẫn không thấy chính quyền địa phương có được các biện pháp quản lý cụ thể và hữu hiệu nào để ngăn chặn những điều bát nháo cứ xảy ra ngang nhiên tại những nơi thiêng liêng của người Việt!
image
Nhìn những điều tồi tệ vẫn xảy ra ngay ở lễ hội chùa Hương và một số nơi khác mà thấy buồn cho sự xuống cấp của đạo đức, văn hóa và nếp sống của nhiều người Việt ngày nay….”
Lễ hội văn hóa bát nháo, nhạt nhòa bản sắc, còn lễ hội tâm linh thì lôm côm, sặc mùi thực dụng. Tưởng đâu năm nay, vấn nạn này bớt được phần nào nhưng lại có phần tồi tệ hơn. Mùa lễ hội vẫn còn tiếp tục diễn ra sôi nổi đến hết “tháng ăn chơi” trên khắp cả nước.
Cần phải loại bỏ tổ chức phi văn hóa
image
Giẫm đạp lên nhau để mua ấn đến Trần
Để kết luận cho bài này, xin mượn lời bàn của một ông già có tên Yamaha
- “Hãy loại bỏ vĩnh viễn những lễ hội khuyến khích văn hóa cướp giựt, không khuyến khích con người cố tâm rèn tài luyện đức, chỉ mong muốn thu gặt mà không bỏ công sức. Về nhân cách, những con người đó đang tự biến bản thân mình thành một loại ăn mày, một loại cái bang.
Ở Mỹ, hàng năm người ta tổ chức những lễ hội tôn vinh những cố gắng của con người là chính. VN ta trong những năm qua tệ nạn cướp giật ngày càng nhiều, các vụ tranh cướp khai thác trộm tài nguyên phát triển, tham nhũng, giả dối, ngày càng có khuynh hướng tăng lên , cẩu tặc, đinh tặc, mua quan bán chức, chạy băng cấp, chạy chức quyền và bao nhiêu chuyện tệ hại khác gia tăng. Có lẽ xuất phát từ những mơ mộng mông lung, muốn không làm mà có ăn như những lễ hội vay tiền bà chúa Kho, cướp ấn đền Trần… mà ra. Theo tôi những nhà lãnh đạo hãy mạnh dạn dẹp bỏ những lễ hội không văn hóa như thế. Tương lai một dân tộc không thể dựa vào sự xin xỏ, sự cướp bóc hay mộng mơ đánh quả. Mà phải từ sự miệt mài phấn đấu của từng cá nhân. Ngay cả tương lai một con người, một gia đình cũng vậy. Đó là những hiện tượng báo trước sự suy vong của con người, gia đình và đất nước. Cần phải quyết liệt ngăn chặn ngay. Cần phải kỷ luật những người tổ chức các lễ hội phi văn hóa ấy”.
image
Ăn xin vây kín đền Củi – Hà Tĩnh. Đây là “đặc sản” ở bất kỳ lễ hội nào. Có nơi, một người ăn xin kiếm được tới cả triệu đồng mỗi ngày.
- Bạn Quang Hòa đưa ra kết luận gọn hơn:
“Mấy ngày sau Tết, mỗi lẫn xem TV, tôi không hiểu vì sao thay vì cổ vũ cho đồng bào cố gắng lao động sản xuất, dường như các phương tiện truyền thông cố tình kéo Tết thật dài ra và quảng cáo ghê gớm cho lễ hội. Ngưới ta cứ nói “đậm đà bản sắc dân tộc”. Tôi nói, muốn biết văn hóa nước ta giờ đây nó bát nháo, xuống cấp như thế nào, cứ đến lễ hội mà xem”.
Chắc chắn tôi không phải bình luận gì thêm khi niềm tin đã bị đánh cắp thì tất cả cùng theo nhau xuống dốc. Nhưng cách đi tìm niềm tin đích thực không phải là dựa vào người khác hoặc bất cứ một thế lực hư ảo nào, không phải ngồi đó mà than vãn, chờ đợi trong mơ hồ mà phải do chính con người tạo nên bằng chính nghị lực, sự kiên trì và dũng cảm của mình.
VănQuang
01-3-2013

Chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản


Chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản

 

Nguyễn Hưng Quốc

07.04.2013

 

Nhớ, năm 1978, lúc đang học năm thứ ba ở trường Đại học Sư phạm, tôi và các bạn trong lớp đi thực tập ở trường cấp 3 Tân Lý Tây thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Đó là một xã nhỏ, chưa tới mười ngàn dân, lúc ấy còn khá nghèo, hầu hết các nhà vệ sinh đều nằm chênh vênh trên các hồ cá tra. Thấy sinh viên từ thành phố về, dân chúng có vẻ rất vui. Ủy ban nhân dân xã tổ chức một buổi tiếp đón khá nồng hậu ngay trong buổi tối đầu tiên lúc chúng tôi mới đến. Chủ tịch xã đứng lên phát biểu.

Ông là một nông dân, có lẽ, trước 1975, vốn là du kích. Đứng trước hơn 100 đứa sinh viên, ông không giấu được sự lúng túng, nói năng cứ lấp vấp, lập bập, không đầu không đuôi gì cả. Nội dung chính vẫn là ca ngợi tính chất ưu việt của chế độ mới, những điều có lẽ ông nghe được trong các buổi học tập chính trị hoặc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng vui nhất là, để nhấn mạnh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, ông cứ lặp đi lặp lại là “chúng ta không giống bọn Mác-xít độc tài và tàn bạo giết hại cả hàng triệu người”. Bọn chúng tôi biết là ông nhầm giữa Mác-xít và Phát-xít. Nhưng không đứa nào dám cười. Chỉ sau đó, mấy đứa miền Nam mới thì thầm với nhau: “Thì Mác-xít hay Phát-xít cũng vậy thôi!”

Chuyện cũ, cách đây đã hơn 35 năm, tưởng đã quên, bỗng dưng lại sống dậy khi mới đây, tình cờ đọc lại cuốn Intellectuals and Society (Basic Books, 2011) của Thomas Sowell, tôi bắt gặp một đoạn Sowell so sánh chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít (bao gồm cả Nazism) ở Đức.


Một bên được xem là cực tả và một bên được xem là cực hữu; hai bên lúc nào cũng kết tội nhau và muốn tiêu diệt nhau (với Cộng sản, chủ nghĩa Phát-xít là biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc; với Hitler, Cộng sản và Do Thái là hai kẻ thù chính), nhưng theo Sowell, giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít có rất ít sự khác biệt, trừ trong lãnh vực tu từ.

Những người Phát-xít, từ Ý đến Đức, đều công khai tuyên bố theo chủ nghĩa dân tộc; những người Cộng sản, trên lý thuyết, biểu dương chủ nghĩa quốc tế, nhưng trên thực tế, vẫn luôn luôn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, cũng đều nhắm, trước hết, đến quyền lợi của quốc gia và dân tộc của họ. Và cả hai đều là những chế độ độc tài vô cùng tàn bạo. (tr. 99-101)

Một nhận xét tương tự được Vladimir Tismaneanu phân tích kỹ lưỡng hơn trong cuốn The Devil in History do University of California Press xuất bản năm 2012. Cái được gọi là “quỷ dữ” (devil) ấy được Tismaneanu nêu đích danh: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Cả hai đều gắn liền với những quan điểm không tưởng về tương lai. Cả hai đều muốn chống lại các giá trị của giai cấp trưởng giả và dân chủ tự do.


Cả hai đều muốn làm cách mạng triệt để bằng cách xóa bỏ truyền thống để xây dựng một hệ thống chính trị, xã hội và văn hóa hoàn toàn mới; nhưng khi làm như vậy, cả hai đều xóa nhòa ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xấu. Cả hai đều nhân danh tinh thần nhân đạo nhưng lại biến con người thành những con số để tha hồ giết chết hoặc đày đọa họ mà không hề có chút áy náy nào cả.

Cả hai đều đề cao bạo động, một bên là tác giả của Gulags và một bên của Auschwitz, đều chiếm kỷ lục về tội sát nhân và diệt chủng: Trong hơn mười năm (1933-1945), chủ nghĩa Phát-xít giết hại khoảng 25 triệu người và trong vòng hơn 70 năm (1917-1990), chủ nghĩa Cộng sản giết hại khoảng từ 80 đến 100 triệu người.

Nhận xét ấy cũng được hai sử gia, một người Pháp và một người Đức, Francois Furet và Ernst Nolte, phân tích trong cuốn Fascism and Communism (University of Nebraska Press, 2004). Nó cũng lại được mổ xẻ trong cuốn Fascism, Communism and the Consolidation of Democracy: A Comparison of European Dictatorships do Gerhard Besier biên tập (LIT Verlag, 2006), cuốn Lenin, Stalin and Hitler: The Age of Social Catastrophe của Robert Gellately (Vintage, 2008); quan trọng nhất, trong cuốn The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt (được xuất bản lần đầu từ năm 1951), trong đó, ở phần ba, bà tập trung chủ yếu vào hai hiện tượng: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít.


 Tất cả, từ nhiều góc độ khác nhau, hoặc chính trị hoặc lịch sử hoặc ý thức hệ, đều đi đến kết luận giống nhau: cả chủ nghĩa Phát-xít lẫn chủ nghĩa Cộng sản đều, nói theo Richard Overy, “nhà nước của sự khiếp hãi” hay “nhà nước của khủng bố” (states of terror), theo Eduard Kuznetsov và Dorin Tudoran, một “nền văn minh tội phạm” (criminal civilization), hoặc nói theo Leszek Kolakowski, một triết gia người Ba Lan, là sự đầu thai của quỷ dữ trong lịch sử, “một con quỷ sáng chế ra những nhà nước ý thức hệ (ideological states), nghĩa là, thứ nhà nước tự cho tính chính đáng của nó được đặt trên sự kiện là chủ nhân của nó cũng đồng thời là chủ nhân của chân lý. Nếu bạn chống lại nhà nước hay hệ thống nhà nước ấy, bạn sẽ bị xem là kẻ thù của chân lý.”

(Dẫn theo Vladimir Tismaneanu, tr. 2-3, 11 & 26).

Về phương diện luật pháp, năm 2010, Quốc hội Hungary thông qua đạo luật cấm phủ nhận tội ác diệt chủng ở Holocaust của Nazi, sau đó, lại thông qua đạo luật cấm phủ nhận các tội ác của chủ nghĩa Cộng sản: Những người vi phạm, hoặc bằng cách phủ nhận hoặc bằng cách nghi vấn các tội ác ấy, có thể bị phạt từ một đến ba năm tù. Với Quốc Hội Hungary, tội ác của chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản ngang nhau.

Theo Timothy Snyder, việc so sánh chủ nghĩa Nazi (một biến thể của chủ nghĩa Phát-xít tại Đức) và chủ nghĩa Stalin (một hình ảnh tiêu biểu của chủ nghĩa Cộng sản) là điều cần thiết: Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn không những về hai hiện tượng khủng khiếp nhất của thế kỷ 20 mà còn về thời đại của chúng ta và kể cả bản thân chúng ta nữa. (Như trên, tr. 19)

Đó là thời đại, nói theo Nietzsche, “Thượng đế đã chết” và con người muốn thay thế Thượng đế để xây dựng những “thành phố của Thượng đế” (city of Gods) ngay trên trần gian này. Họ muốn thay đổi lịch sử, một bên, với giai cấp, một bên với chủng tộc. Họ sùng bái lãnh tụ, và bằng mọi cách, biến lãnh tụ thành thần linh, qua đó, biến đảng phái thành một thứ tôn giáo mới và xây dựng một chế độ toàn trị, khống chế toàn bộ đời sống tinh thần và vật chất của con người. Họ muốn thay đổi cả bản chất của con người bằng các biện pháp tuyên tuyền, nhồi sọ và khủng bố. Bất kể ngôn ngữ hay ho họ thường sử dụng, những “con người mới” họ muốn sản xuất chỉ là những công cụ mù quáng chỉ biết vâng dạ trước lãnh tụ và vì lãnh tụ, sẵn sàng giết người, kể cả đồng bào và người thân của mình, một cách không gớm tay.

Đó là thời đại của khoa học và kỹ thuật, của văn minh và tiến bộ vượt bậc, của lý trí và của rất nhiều lý tưởng nhưng đồng thời cũng là một thời đại của sự cuồng tín và mê tín, của sự thắng thế của thứ lý trí công cụ (instrumental reason) trên lý trí phê phán (critical reason), của sự độc tôn của sức mạnh và bạo lực. Hậu quả cuối cùng của tất cả những nghịch lý ấy là cả hàng trăm triệu người bị giết chết.

Dĩ nhiên, giữa chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản có không ít khác biệt. Chủ nghĩa Phát-xít chỉ xây dựng sức mạnh trên một người, người-được-thần-thánh-hóa (ở Đức là Adolf Hitler; ở Ý là Benito Mussolini); chủ nghĩa Cộng sản xây dựng sức mạnh trên cả việc thần thánh hóa lãnh tụ lẫn việc thiêng liêng hóa đảng phái, như một thứ thiên mệnh.


Chủ nghĩa Phát-xít đề cao chủ nghĩa dân tộc trong khi chủ nghĩa Cộng sản lại đề cao chủ nghĩa quốc tế và sử dụng chủ nghĩa quốc tế để phục vụ cho tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Hệ thống tuyên truyền của Cộng sản tinh vi và khôn khéo hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ đề cao thù hận, chủ nghĩa Cộng sản đề cao tình yêu và nhân danh tình yêu, kích động thù hận; trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ nói đến việc trả thù, chủ nghĩa Cộng sản nhấn mạnh việc giải phóng, dù để đạt được mục tiêu giải phóng, họ sử dụng chuyên chính vô sản để trả thù. Cộng sản cũng có nhiều tham vọng hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ muốn quản lý hành động của con người, chủ nghĩa Cộng sản muốn quản lý cả tư tưởng và tình cảm thầm kín nhất của con người.

Hậu quả là Cộng sản đa nghi hơn Phát-xít: Phát-xít thường chỉ giết những người bị họ xem là kẻ thù chứ hiếm khi thanh trừng trong nội bộ; Cộng sản, đặc biệt Cộng sản ở Nga dưới thời Stalin, vừa tàn sát kẻ thù vừa tàn sát các đồng chí của mình.

Đằng sau chủ nghĩa Phát-xít chỉ có vài tín lý đơn giản như một thứ tín ngưỡng dân gian; đằng sau chủ nghĩa Cộng sản là cả một hệ thống triết học phức tạp đủ để mê hoặc giới trí thức và văn nghệ sĩ: Hệ quả là có một thứ văn học nghệ thuật Cộng sản chứ không có thứ văn học nghệ thuật Phát-xít.


 Tuy nhiên, sự tồn tại của thứ văn học nghệ thuật Cộng sản không phải là một điều tốt: nó chỉ gieo rắc sự mê tín và cuồng tín, dung dưỡng các ảo tưởng, và cuối cùng, kéo dài thảm họa: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ kéo dài hơn một thập niên, chủ nghĩa Cộng sản kéo đến hơn bảy thập niên; trong khi hầu như mọi người đều nhận ra tội ác của chủ nghĩa Phát-xít, không ít người vẫn còn ảo tưởng về chủ nghĩa Cộng sản; trong khi chủ nghĩa Phát-xít đã trở thành quá khứ, chủ nghĩa Cộng sản vẫn ở trong thì hiện tại, ít nhất là ở năm nước: Trung Quốc, Lào, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam.

Chữ “Việt Nam”, xuất hiện trong ngữ cảnh ấy, quả là một điều đau đớn.

Lý do chính khiến tôi viết bài này là vì tôi biết, ở Việt Nam hiện nay, có không ít người, kể cả trong giới trí thức, chưa nhận ra chủ nghĩa Cộng sản, tự bản chất, rất gần với chủ nghĩa Phát-xít, điều mà họ luôn luôn nguyền rủa.


Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.



Vì sao người Việt khó “ra khỏi cuộc chiến”?


 


Vì sao người Việt khó “ra khỏi cuộc chiến”?


 

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-04-22

 

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này


thanhquang04222013.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

dn-305.jpg

Quân Đoàn 1 của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cũng như dân chúng rút khỏi Huế và Đà Nẵng hồi cuối tháng 3 năm 1975.

Photo by Trần Khiêm

 

Thưa quý vị, thế là còn một tuần nữa đến thời điểm đánh dấu biến cố 30 tháng Tư năm 1975, ngày Sài Gòn thất thủ về tay người CS cách nay 38 năm.

Ký ức luôn quay về


Theo blogger Nguyễn Thị Hậu qua bài “Tháng Tư, và bạn và tôi”, thì “Tháng Tư là một khoảng thời gian ‘âm tính’ bởi những ký ức từ gần 40 năm trước luôn luôn quay về, mỗi năm như không hề nhạt bớt với cả bên “thắng cuộc” hay bên “thua cuộc”.
 
Nỗi đau của thế hệ tham chiến bên này lẫn bên kia không chỉ vì sự hy sinh đã không được đáp đền xứng đáng mà còn là nỗi đau của những lý tưởng đã không trở thành hiện thực…”. Vẫn theo tác giả thì “ Ký ức chiến tranh tưởng đã biến mất nhưng thật ra vẫn ẩn sâu trong tâm thức họ, để có khi vào một lần nào đó, nhân một chuyện gì đó, tâm thế bên này bên kia ở họ sẽ vô tình bộc lộ, nhói đau…”. Và tác giả thắc thắc, “Gần 40 năm rồi sao chúng ta vẫn chưa thực sự ra khỏi cuộc chiến…?”

Câu trả lời khá đa dạng và chắc cũng không kém phần phong phú. Chẳng hạn như nhận xét của báo Tổ Quốc hồi trung tuần tháng Tư này thể hiện một trong những trở ngại đáng kể khiến người dân Việt khó “ra khỏi cuộc chiến” ấy, đó là, theo tờ báo, đảng CSVN đương quyền đã cố “bám quá lâu vào một chủ nghĩa không những sai mà còn bị lên án như một tội ác đối với nhân loại”. T
 
ờ báo nhận xét rằng không phải giới lãnh đạo VN hiện nay không nhìn thấy sự sai trái của chủ nghĩa không tưởng Mác - Lênin, nhưng họ cần nó để biện minh cho một chọn lựa không mấy chính đáng khác là “duy trì độc quyền thống trị của đảng”, khiến “lòng tham bất chính đã dẫn đến sự sa đọa của trí tuệ”. Tờ báo lưu ý rằng tất cả sự chính đáng mà ĐCSVN tự gán cho mình chỉ dựa trên những thành tích chiến tranh trong quá khứ và huyền thoại Hồ Chí Minh, dù những thành tích đó và lãnh tụ đó, đàng nào cũng đã xa vời với họ, đã khiến Việt Nam trở thành một trong nhưng nước chậm tiến và nghèo khổ nhất thế giới sau khi người dân Việt đã chịu nhiều tổn thất nhất so với nhiều dân tộc khác, nhất là những dân tộc láng giềng.

dn-11-250.jpg

Quân đội Việt Nam Cộng Hòa và dân chúng rút khỏi Huế và Đà Nẵng hồi cuối tháng 3 năm 1975. Photo by Trần Khiêm.

Qua bài “Chỉ đổi tên nước để làm gì ?”, TS Tô Văn Trường kể lại việc một nhà trí thức “làm việc ở xứ người nhưng luôn quan tâm đến vận nước”, đó là TS Hoàng Lê Tiến, đã tâm sự qua email, với nguyên văn như sau:

“Nhiều khi Tiến tự hỏi, ở nước ta có bao nhiêu người thực sự hiểu chủ nghĩa Mác, rồi vào những năm cuối thể kỷ 20 chắc chúng ta chưa có tiến sĩ về chuyên môn này, thế ai là người hướng dẫn tiến sĩ cho một loạt các tiến sĩ rồi sau đó qua hội đồng phong giáo sư nhà nước (trong hội đồng có bao nhiều người có chuyên môn về chủ nghĩa Mác). Cho nên mới có một loạt GS… như thế! Cho nên phải nhắc lại câu nói của Bác Hồ: đi lên chủ nghĩa xã hội “bò” qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Thế nhưng các chú đâu có hiểu tiếng Nghệ – bác nói bò qua thì các chú lại hiểu là “bỏ” qua,thế mới chết chứ!”

Đến nơi mình không hề biết


Blogger Hạ Đình Nguyên kể lại chuyện cách nay khá lâu, khi ông đang quét dọn căn phòng trọ thì thấy một mảnh nhật báo cũ với câu chuyện rất ngắn tựa đề “nhớ về một chuyện đụng xe” của một nhà văn, khiến nhà văn, sau cùng, kết luận rằng “ ở đời phải biết chỗ đến của mình, nếu đi theo người ta mà không biết về đâu, sẽ rước lấy tai hoạ, có khi phí cả cuộc đời !”. Và câu chuyện ngắn đó làm cho blogger Hạ Đình Nguyên nhớ mãi, vì “tình cảnh này có lẽ không riêng ai, có khi là cả dân tộc ?”.

30 năm chiến tranh kết thúc, độc lập thì “tạm xem như” đã có. Tự do Dân chủ thì chưa.! Nó được thay thế bằng từ ngữ “Chủ nghĩa Xã hội” rất rỗng rang.
-Blogger Hạ Đình Nguyên

Qua bài “Cương quyết không đi theo ai, để đến cái nơi mà mình không hề biết!”, tác giả Hạ Đình Nguyên báo động rằng “ …nhiều thế hệ đã hy sinh đời mình, kể cả những người đang sống sót, cũng không biết CNXH là gì, và họ cũng đã từng ‘chưa quan tâm.”
 
Mà họ ra sức chiến đấu vì mong mỏi sẽ có được “Độc lập, Tự do”; đi theo sự lãnh đạo của đảng suốt 2/3 thế kỷ để đấu tranh mong giành được “độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ” cho nhân dân VN; mong đạt đến một “CNXH tươi sáng” như đảng hứa hẹn; đáp ứng lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh hồi năm 1946 qua Tuyên ngôn Độc lập rằng “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tư do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”.
 
Nhưng, hậu quả, như tác giả Hạ Đình Nguyên cho biết:

“Và 30 năm chiến tranh kết thúc, độc lập thì “tạm xem như” đã có. Tự do Dân chủ thì chưa.! Nó được thay thế bằng từ ngữ “Chủ nghĩa Xã hội” rất rỗng rang, do Đảng CS hiện nay tiếp tục lãnh đạo, dưới bộ máy chuyên chính vô sản. Suốt chặng đường 38 năm nay, một con đường mờ mịt quanh co, lúng túng không có lộ trình, không biết nơi đến, không rõ khuôn mặt, mà tuyệt nhiên, thực chất, chẳng có ai biết nó ra sao, kể cả mấy anh lớn dẫn đường ! Anh cả Liên Xô thì đã bỏ cuộc, một đi không trở lại. Anh Ba Trung quốc thì thành “Bá quyền”, bầy hầy, lếu láo mà lại phản bội. Bây giờ thì đi đâu ? Hiện nay, không ai biết một nước Việt Nam trong tương lai sắp đến như thế nào!”

dn250.jpg

Quân Đoàn 1 của quân đội Việt Nam Cộng Hòa rút khỏi Huế và Đà Nẵng hồi cuối tháng 3 năm 1975. Photo by Trần Khiêm.

Giữa lúc “cái cột mốc vĩ đại Tổ quốc Cách mạng Liên Xô” giờ chỉ còn là một “phế tích” trong khi “sự thật đã quá lõa lồ” thì, theo tác giả Hạ Đình Nguyên, những “người dẫn đường” của VN hiện nay “vẫn cương quyết dẫn đường!” vì khi dẫn đường, “họ được tự do gấp vạn lần tự do của nhân dân, được tham nhũng thoải mái có luật pháp của mình che chắn, được ăn uống tất cả các thứ mà con người có thể ăn uống được…”; họ nhân danh nhân dân, chính nghĩa để lao trở lại “một quá khứ tối tăm”, và nhân danh sự bình đẳng ấy vốn đang được đề cao với một thứ “triết lý bọc thép”, như blogger Hạ Đình Nguyên tóm tắt:

“Công giành được giang san này là của Đảng, do đó đất nước này là sở hữu của Đảng, dân tộc này là thuộc quyền điều khiển của Đảng, nhờ Đảng mà có, do Đảng mà sống, nên Đảng có quyền muốn dẫn đi đâu thì dẫn? Hiểu khác là đồng nghĩa với phản bội, là phủ nhận “công ơn” của đảng. Phải chăng hình mẫu đặc sắc của VN mà Đảng muốn là mô hình Bắc Triều Tiên, ở đó nhân dân chịu lép một bề dưới quyền cai trị của một nhóm người? Lối suy nghĩ này thuộc về thời tiền sử, tồi tệ hơn phong kiến, thực dân và đế quốc cộng lại mà ĐCS trước đây luôn luôn tuyên bố chống lại nó!”

Qua bài “Cương quyết không đi theo ai, để đến cái nơi mà mình không hề biết!” như vừa nêu, tác giả Hạ Đình Nguyên không quên nhắc lại “món nợ còn nguyên” gần 70 năm qua của Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 1946 của VN, khi, cũng cùng thời điểm phát xuất ấy, nước Nhật từ đống tro tàn đã trở thành cường quốc nhờ Bản Hiến pháp Dân chủ tiến bộ; nhờ nước Nhật với Minh Trị Thiên Hoàng và nhà tư tưởng Fukuzawa “Xây dựng và bảo vệ tự do của một quốc gia là thông qua việc xây dựng và bảo vệ tự do của mỗi công dân”.

Thế còn VN thì sao? Theo tác giả, “Xét cho cùng, nhân dân Việt Nam lấy cái gì để tự hào và lên giọng, ngoài cái hy sinh 30 năm xương máu, và 38 năm đi quanh quẩn cùng với các khẩu hiệu và cờ trống ? Ăn vào quá khứ, vơ vào mình những công lao moi lên từ những nấm mồ, mà không làm nên được một đột phá nào để thoát tình cảnh lùng bùng và tụt hậu hôm nay. Đúng là điều sỉ nhục của trí tuệ và lương tri, là biểu hiện của những lời huênh hoang”.

Trong khi đó, blogger Quê Choa, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập, cảm thấy "vui vui là câu chuyện Bauxite Tây Nguyên nó na ná câu chuyện xây dựng CNXH ở nước ta vậy, cả hai đều là những cái chết được báo trước", mà theo nhà văn Nguyễn Quang Lập, "ai cũng hiểu chỉ có mấy ông lú là không hiểu".

Qua bài "Bauxite Tây Nguyên & CNXH", nhà văn Nguyễn Quang Lập nhận xét rằng thoạt kỳ thủy, CNXH không những là “chủ trương lớn của Đảng ta”, mà nó còn là lý tưởng, là kim chỉ nam cho dân tộc. Nhưng trải qua hơn nửa thế kỷ, blogger Quê Choa lưu ý, "càng đeo lấy CNXH, đất nước càng lụn bại, khi nào Đảng buông CNXH thì đất nước lại khấm khá lên, lắm khi như chết đi sống lại vậy". Rồi tác giả so sánh với "Chủ trương lớn của đảng" về Bauxite Tây Nguyên, quả quyết rằng "Cũng giống như Bauxite Tây Nguyên, nhìn thấy rất rõ xây dựng CNXH chẳng lợi lộc gì, chẳng những không lợi lộc mà hết sức nguy hiểm".

Theo blogger Quê Choa thì trên thế giới này, hệ thống CNXH đã sụp đổ, sụp đổ vì nó "trái quy luật chứ chẳng vì ai cả, kẻ có chỉ số IQ bằng không cũng biết chắc như vậy, không cần phải người thông minh". Và "Cũng như Bauxite Tây Nguyên, mấy ông lú cũng biết CNXH chẳng lợi lộc gì, càng làm càng thua lỗ, càng giữ càng nguy hiểm… nhưng vẫn không ai dám bỏ". Như vậy, tác giả nêu lên câu hỏi, " Đi theo CNXH để làm gì, cần thiết cho ai, có lợi cho ai?"; và nhà văn Nguyễn Quang Lập "nói cho nó nhanh" rằng "...có lợi cho Đảng, cần thiết cho Đảng, chỉ có cần thiết cho Đảng có lợi cho Đảng mà thôi".

Tạp chí Điểm Blog tạm dừng ở đây. Thanh Quang kính chúc quý vị mọi điều như ý.

 

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link