Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, May 2, 2013

CSVN Lừa Ðảo “Cứu Nước” Ðể “Xâm Lăng Miền Nam ”Rồi “Bán Nước” Cho Tàu


CSVN Lừa Ðảo “Cứu Nước” Ðể “Xâm Lăng Miền Nam ”

Rồi “Bán Nước” Cho Tàu

 

Ngày 30 tháng 4 năm 2013

 

H,

 

Ðọc lại “Cổ Học Tinh Hoa” của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Giáo Già ghi nhận chuyện “Tăng Sâm Giết Người” có giá trị biểu tượng như sau:

 

“Ông Tăng Sâm[1] ở đất Phi, ở đấy có kẻ trùng danh với ông giết chết người.

            Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người ”. Bà mẹ nói : “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.

            Một lúc lại có người đến bảo:“Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi .

            Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người” Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn”.

 

Sách “Cổ Học Tinh Hoa” có Lời Bàn như sau:

 

“Tăng Sâm vốn là người hiền hậu, hiếu thảo, bà mẹ vốn là người trung tín, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, và người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ rất là mạnh. Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người đã có cùng một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến người ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom đỉa hóa ra con rươi, trông con chó thành con cừu. Ðến như giữa chợ, làm gì có cọp! Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc ra được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thế được mới cao. Một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận”.

 

Từ chuyện “Tăng Sâm Giết Người” Giáo Già nghĩ ngay đến xảo thuật tuyên truyền của Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam”, kết thúc 38 năm trước, tức ngày 30/4/1975, mà dư luận, từ Việt Nam đến quốc tế, đều bị đánh lừa là “Chống Mỹ Cứu Nước”.

 

Cho đến nay trò lừa này vẫn được chúng tiếp diễn, cho dầu sự thực đã được phơi bày đến độ trắng trợn. Xin đơn cử một thí dụ điển hình bằng chính chứng liệu do chúng công bố. Ðó là trên báo Tuổi Trẻ của chúng, ra ngày 18/04/2013, đăng bài “Công Bố Sách Lịch Sử Chống Mỹ Cứu Nước” như sau:

 

Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) vừa được công bố chính thức tại TP.HCM vào sáng 17-4 trong buổi công bố do NXB Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật cùng với Ban Tuyên giáo trung ương, Thành ủy TP.HCM và Viện Lịch sử quân sự VN phối hợp tổ chức [Xem hình Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước trưng bày tại buổi công bố - Ảnh: L.Ðiền]. Ðây là bộ sách xuất phát từ bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) xuất bản từ năm 1990-1991 do Viện Lịch sử quân sự biên soạn, nhưng chủ yếu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy ở các học viện, các trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân VN. Sau đó từ năm 1995-2012, Viện Lịch sử quân sự đã biên soạn bộ mới gồm chín tập, đã được NXB Chính Trị Quốc Gia lần này phổ biến rộng rãi trong cả nước”.

CSVN đâu có chống Mỹ cứu nước. Sáng ngày 30/4/1975 viên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt Phạm Xuân Thệ vào dinh Ðộc Lập thúc ép Ðại tướng Dương Văn Minh đến đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng đã phô bày trắng trợn thực tế xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt chớ có chống người Mỹ nào để cứu nước đâu. Chuyện chống Mỹ cứu nước chỉ là một trò lừa, lộng giã thành chơn, như nói chuyện Tăng Sâm giết người. Vậy mà cho tới nay Việt cộng vẫn tiếp tục lừa, lừa dư luận và lừa chính chúng, tiếp tục viết sách và in sách lừa đảo sự thật.

 

Ðể vạch mặt trò lừa đảo này, nhìn vào lịch sử cuộc chiến, với trận chiến khốc liệt kết thúc ngày 30/4/1975, nhìn vào từng diễn biến của từng sự việc hầu như ai cũng thấy, nhưng có điều rất đau lòng là không có mấy người chịu phơi bày sự thật cho dư luận thấy và biết rõ trò lừa vô cùng bỉ ổi và nguy hiểm này của Việt cộng.

 

Hôm nay, nhân mùa Quốc Hận 30 tháng 4 năm 2013, Giáo Già xin nhắc lại một số điểm quan trọng cho thấy Mỹ không có “cướp nước” Việt Nam; vậy mà Việt cộng cứ buộc dân Việt Nam phải nghe theo chúng mà “chống Mỹ cứu nước”. Trong suốt mấy mươi năm qua chỉ có bọn cầm quyền Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam rồi cai trị cả nước bằng độc đảng độc tài, gây tang tóc quê hương và điêu linh dân tộc. Xin ghi lại một số điểm chánh:

 

1.      Mỹ không hề xâm lược Việt Nam, hay rõ hơn là Miền Nam Việt Nam, như Việt cộng rêu rao; vì Mỹ đến Việt Nam không chiếm của Việt Nam một tất đất, một hải đảo nào. Họ cũng không cai trị Việt Nam bằng bất cứ một chánh quyền nào. Ngược lại họ chỉ giúp Miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt. Hơn thế nữa, họ còn giúp Miền Nam phát triển kinh tế để trở thành vùng đất phồn vinh ngang hàng, có khi hơn, các quốc gia phồn vinh trong vùng Ðông Nam Á, như Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia...

 

2.      Quân đội Mỹ có mặt ở Miền Nam Việt Nam trước hết là là để cố vấn quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ trong giai đoạn đầu. Khi Cộng sản Bắc Việt cho thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ” ngày 20/12/1960 đâu có ai thấy bóng dáng quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam . Năm 1965 Mỹ mới bắt đầu đưa quân vào Miền Nam Việt Nam để giúp Miền Nam Việt Nam chống lại Cộng sản Bắc Việt; vì cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt ngày càng leo thang với số viện trợ quá dồi dào của Liên Sô, Trung cộng và khối Cộng sản quốc tế.

 

3.      Chính Liên Sô, quốc gia chi viện nhiều nhứt cho Cộng sản Bắc Việt, trong một số tài liệu được giải mã, cũng nhìn nhận “Người Mỹ chắc chắn không xâm lược Việt Nam như cách người Pháp thực dân làm trước năm 1945...” Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam trong vai trò nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á cho Cộng sản quốc tế. Chính Lê Duẫn, Bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng (CSVN), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

 

4.      Hơn nữa, chính Trung cộng, qua cửa miệng Mao Trạch Ðông, muốn Cộng sản Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam để Tàu tràn xuống chiếm các vùng đất trù phú ở phía đông và nam Thái Bình Dương... nên việc “chống Mỹ cứu nước” không phải là cứu nước Việt Nam mà là mở rộng nước Tàu cộng, như mọi người đều biết là từ tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Ðiện, Malaysia, Singapore... Một vùng như Ðông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

5.      Ðến khi sự có mặt ở Việt Nam không còn cần thiết nữa thì Mỹ cho thu xếp mọi chuyện tiến hành Hiệp định Paris, ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, để rút quân về nước [xem hình Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ bắt tay nhau sau lễ ký kết]. Vì chuyện riêng của đất nước mình Mỹ không muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh Việt cộng nữa; họ thu xếp rút quân về chớ có thua đâu mà mỉa mai là “tháo chạy” như lời tựa cuốn sách của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng; để bộ đội Việt cộng ở lại khắp các chiến trường; để chúng mau lẹ vị phạm hiệp ước chúng vừa ký kết, xua quân tràn qua vĩ tuyến thứ 17, tràn ngập các chiến trường, tiến hành mau lẹ các trận đánh ác liệt, hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Ðây cũng là cách Việt cộng Lê Ðức Thọ lừa đảo cả giải Nobel Hòa Bình thế giới, khiến họ đã trao giải “Nobel Hòa Bình” cho một tội phạm chiến tranh, để Việt Nam có một nền “hòa bình” khiến số người chết còn thê thảm hơn cả chiến tranh.

 

6.      Ðiều cũng không được quên nữa là trong cuộc chiến bị Việt cộng gọi là “Chống Mỹ Cứu Nước” đó chúng đã dàn dựng quá nhiều chuyện để lên án quân đội Mỹ là “ác ôn” trong khi chẳng có một lần, cho dầu chỉ một lần, nói lên lòng nhân đạo của người quân nhân Mỹ như trong hình chụp đính kèm [xem hình].

 

Như vậy, chống Mỹ cứu nước chỉ là trò lừa của Cộng sản Bắc Việt để tiến hành cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, sau khi đã chiếm được một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến thứ 17 trở ra phía bắc, theo Hiệp định Genève năm 1954, với sự giúp đỡ tích cực của Trung cộng.

 

Do đó, danh xưng được dùng cho cuộc chiến không phải “Chống Mỹ Cứu Nước” mà là “Cuôc Chiến Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam Của Cộng Sản Bắc Việt”.

 

Cùng lúc với trò lừa đảo “Chống Mỹ Cứu Nước” Cộng sản Bắc Việt cũng lừa đảo chuyện “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam” mà chúng đã chuẩn bị ngay khi Hiệp định Genève năm 1954 vừa ráo mực, vì chúng chỉ đưa một số cán binh lộ diện tập kết ra Bắc, còn lại thì ém ở các địa phương Miền Nam, trà trộn trong dân. Ðồng thời chúng cũng hối hả cho tổ chức những cuộc hôn nhân, cho cán binh cưới vợ rồi để vợ ở lại Miền Nam, làm cơ sở cho cán binh trở lại hoạt động, khi thời cơ cho phép; đó là chưa kể những người phụ nữ bất hạnh đó sinh cho chúng những đứa con làm gạch nối cho những hoạt động của chúng về sau, gây nên trùng trùng ngang trái trong đời sống của người dân Miền Nam, khi chúng tiến hành cuộc chiến xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trước khi cán binh Việt cộng lên đường tập kết, Việt cộng cũng cho chôn giấu võ khí ở một số nơi chúng dự trù làm căn cứ cho cuộc chiến mà chúng chuẩn bị trước.

 

Ðể che giấu mặt thật xâm lăng Miền Nam Việt Nam , Việt cộng dựng lên chiêu bài “giải phóng” để lừa đảo dư luận. Ngày 20/12/1960 chúng cho thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam . Nó được chính thức ra đời theo yêu cầu chiến tranh của Ðảng Lao động Việt Nam (CSVN), vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam.

 

Từ đó, dưới sự lừa đảo tinh vi, cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, qua chiêu bài “giải phóng”, được tiến hành ngày càng mãnh liệt hơn, với số bộ đội xâm nhập ngày càng đông hơn, vũ khí được trang bị tối tân hơn và sự tàn bạo của cán binh nhắm vào các viên chức Việt Nam Cộng Hòa và người dân có liên quan đến chánh quyền cũng dã man hơn... để cuối cùng kết thúc bằng sự lừa đảo thô bạo của Cộng sản Bắc Việt khi tiến quân vào Sài Gòn. Nó thể hiện qua thái độ xấc xược của tên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt trực diện Ðại tướng Dương Văn Minh, ngồi ở dinh Ðộc Lập, sáng ngày 30/4/1975, chờ bàn giao chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa cho chúng. Hắn thô bạo nói:

Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!” [Trích Hồi ký của cựu Ðại tá Dương Hiếu Nghĩa, thuật lại theo lời kể của cựu Trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rễ của Ngô công Ðức, cũng là bạn thân của cựu Ðại tá Nghĩa) người cũng có mặt tại Dinh Ðộc Lập từ sáng ngày 30/4... Xem hình Ðại tướng Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng do Việt cộng soạn ở đài phát thanh Sài Gòn]

 

Cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam hoàn tất. Vai trò Giải phóng Miền Nam Việt Nam coi như đã xong. Tưởng như mọi chuyện đều tốt đẹp. Nhưng nỗi kinh hoàng đã thật sự trùm phủ toàn cõi Miền Nam Việt Nam . Nó được ghi lại qua bài viết mang tên “GIẢI PHÓNG” NỔI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT” của Tiến Sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. Xin trích nguyên văn:

 

“Còn nhớ ngày 30 táng 4 năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ kẹp” nữa... Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi “giải phóng”. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn “ngụy quyền ác ôn”!? bị sự trừng phạt bởi chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi... Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, “ngụy quyền ác ôn” của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên “ngụy quyền” ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước... Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã “đả thương” được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó.!? Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó...?? [xem hình Quân đội Bắc Việt áp giải tù binh miền Nam, tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO]

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang “ánh sáng văn hóa” vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì!?

.           Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Ðà Nẵng... rồi Nha Trang, Sài Gòn, rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá, chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu.

Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Ðồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Ðồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên “tư sản” Thiên Lợi... Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là toilet tự xả nước, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ là không có, chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm “cấp nhà nước” của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh

Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”...

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên “can tội trộm cắp” phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã...!?. Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá

Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô

Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ...”

Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam”... Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó... Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân... mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội...

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà... “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng... (từ ngân hàng chế độ Saìgòn Miền Nam để lại) Nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội XHCN miền Bắc, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi... Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với nhân dân miền Bắc là cảnh nhà nhà côi cút vì “sinh Bắc tử Nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường miền Nam để đi “giải phóng” và không bao giờ trở về nữa... “Giải phóng” với dân miền Nam cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ... mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc nơi mình sinh ra!

Rồi đến “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho “muôn quan” địa phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh, nỗi hãi hùng của “muôn dân”, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê thị Thanh.

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không... Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

Ðồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương

Nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp.

 

Bên cạnh nỗi kinh hoàng của Tiến sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, mọi người ai cũng thấy, sau năm 1975, không lâu sau khi người Miền Bắc tràn vào Miền Nam, vấn nạn “giải phóng” xoay ngược chiều mau lẹ, khiến dư luận đặt ngay câu hỏi “ai giải phóng ai?” [xem biếm họa của Babui trích từ DCV Online]

 

Thật vậy, buổi đầu, người Miền Nam bị những kẻ cao ngạo Miền Bắc tự cho là “chiến thắng” ép sống theo phong cách của người Miền Bắc, từ cách ăn mặc cho đến ngôn ngữ và lối cư xử hằng ngày... Nhưng, trừ bọn “cách mạng 30”, và những kẻ theo đuôi, chẳng có mấy ai theo.

 

Trong khi đó, trái lại, hầu hết người Miền Bắc có dịp vào Nam, hay có dịp tiếp xúc với người Miền Nam ra Bắc, họ đều học theo phong cách của người Miền Nam, cái phong cách mà trong mấy ngày đầu 30 tháng 4 năm 1975 chúng cho là “đồi trụy”. Họ ăn mặc theo kiểu cách của người Miền Nam, đua đòi theo thời trang của người Miền Nam, say mê nghe “nhạc vàng”, tìm đọc sách của các tác giả Miền Nam mà chúng từng cho là “đồi trụy”, từng bị chúng kiểm kê, tịch thâu, đốt bỏ, lấy làm giấy gói đồ... Ngay cả nam cán bộ lãnh đạo hàng đầu của chúng cũng đua đòi mang giày da, thắt cà vạt..., nữ cán bộ mặc áo dài may đúng thời trang... trang điểm phấn son... đến độ coi như tất cả đã bị Miền Nam đồng hóa... khiến kẻ bại nghiểm nhiên trở thành người thắng trên đủ mọi lãnh vực...

 

Xâm lăng được Miền Nam Việt Nam rồi Cộng sản Bắc Việt không “giải phóng” được Miền Nam mà chúng đã lần hồi được người Miền Nam “giải phóng” khỏi cái lạc hậu mấy mươi năm trước, để chúng hãnh diện đua đòi sống theo phong cách Miền Nam. Nhưng, bất hạnh thay, cái coi như “chiến thắng” của chúng không phải để phát triển và xây dựng đất nước Việt Nam mà để từng hồi “bán nước” cho Tàu, gây thành đại họa mất nước. Vấn nạn này đã từng được trình bày sống động qua cuốn DVD Ðại Họa Mất Nước do Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện và phát hành 3 năm trước [2010 ố Xem hình].

 

Hôm nay, theo dõi những chuyển biến thời cuộc trong thời gian gần đây Giáo Già xin được ghi nhận một số sự kiện tiêu biểu CSVN đã bán nước như thế nào, để thấy những nỗ lực “chống Tàu diệt Việt cộng” cần được đẩy mạnh hơn nữa, khi đại họa mất nước đang là những thực tế phũ phàng đè nặng đất nước và dân tộc Việt:

 

1. Cho tới nay, rất nhiều lần Cộng sản Việt Nam tìm đủ mọi cách để cải chính, nhưng phần lãnh thổ ở biên giới và lãnh hải bị Trung Cộng lấn chiếm từ thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu không cách gì che giấu được khi nó đã rõ trong 3 văn kiện, gồm:

(1)   “Hiệp ước biên giới trên đất liền” (30/12/1999);

(2)   “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ”; và

(3)   “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” (25/12/2000).

Chính người của CSVN là Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1989, đã nói như sau:

“Ðánh ta năm 1979 một mặt gạt bỏ sự hàm ơn của ta đối với những giúp đỡ trước đây của nhân dân Trung Quốc, mặt khác tự phơi bày ý đồ vụ lợi trong sự viện trợ cho ta. Khi không đạt được thì trở mặt... Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 ở huyện Vị Xuyên, cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn. Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định theo hiện trạng”, tranh luận qua lại, Trung Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì đại cục(?),cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận ải Nam Quan, trước nay ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc...” (17-03-2010, Bauxite Việt Nam )

 

2. Tiếp theo sau Lê Khả Phiêu, khi ông Nông Ðức Mạnh lên làm Tổng Bí thư liền hai khóa đảng IX và X (từ 22/04/2001 đến 12/01/2011), ông này, với sự đồng thuận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mặc dù không có phép của Ủy ban Trung ương đảng và của Quốc hội. Theo tiết lộ WikiLeaks [ghi nhận được trên Google]: “Vụ Bauxite Tây Nguyên, Nông Ðức Mạnh nhận 300 triệu USD và Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu USD là có thật. Tiết lộ này cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands . Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la...” Ngoài ra, Radio Chân Trời Mới ngày16/6/2009 cũng nói rằng “Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ.Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Ðắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam” [Xem thêm “Từ Bauxite đến Uranium, tiến trình đô hộ Việt Nam của Trung cộng, của Mai Thanh Truyết, Trần Minh Xuân, Phan Văn Song, Mekong-Tỵnạn tái bản, 2012].

 

3. Rất nhiều Công ty của Trung Cộng đã được ưu tiên “trúng thầu” nhiều dự án kinh tế với giá rẻ, chiếm nhiều vị trí chiến lược dọc theo bờ biển và dọc theo biền giới... Ở những nơi Trung cộng hiện diện Nhà nước CSVN đều để chúng coi như lãnh địa của chúng, cho thiết lập những làng xóm cho bọn người của chúng cư trú, xem thường luật pháp Việt Nam ...

 

4. CSVN cũng cho Trung cộng xâm nhập lãnh thổ Việt Nam qua kế họach cho thuê rừng dài hạn đến 50 năm, để chúng trọn quyền khai thác, phá rừng và trồng rừng... coi như lãnh thổ của chúng; đặc biệt là phần lãnh thổ chiến lược dọc theo biên giới...

 

5. Ðến khi Nguyễn Phú Trọng nhận chức Tổng Bí thư ngày 19-01-2011 tại Ðại hội đảng khóa XI; chỉ 10 tháng sau, Trọng sang Bắc Kinh ký 6 điểm thỏa hiệp với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng là Hồ Cẩm Ðào gọi là “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”, để “hợp tác cùng phát triển”. Ðược biết, thỏa hiệp Nguyễn Phú Trọng ký ở Bắc Kinh ngày 11/10/2011 có điểm quan trọng là:

  • Ðiểm 5: “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”

Nhưng Trung Cộng đâu có chủ quyền lãnh hải ở Biển Ðông trong lãnh hải của Việt Nam mà đòi “hợp tác cùng phát triển”?.

 

6. Ngang ngược hơn nữa là giờ đây, Trung Cộng đã gọi đấu thầu Quốc tế ít nhất là 9 lô tìm kiếm dầu trong vùng “đặc quyền kinh tế” của Việt Nam, hoặc “nằm chồng lên” các lô tìm kiếm mà chính Việt Nam đã gọi thầu Quốc tế trước Trung Cộng, ở giữa Quần đảo Trường Sa và bở biển tỉnh Khánh Hòa! Trung Cộng cũng đã và đang khai thác dầu trong vùng Vịnh Bắc Bộ mặc dầu hai bên chưa ngã ngũ về đường ranh giới chủ quyền, theo Thỏa hiệp năm 2000, dưới thời Lê Khả Phiêu...

 

Hôm nay, lại đến ngày Quốc Hận 30 tháng 4, ngày Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam 38 năm trước (30/4/1975), và đang bán nước cho Tàu cộng, hầu hết mọi nơi ở hải ngoại đều có tổ chức ngày tưởng niệm ngày tang chung của dân tộc, ngày đau thương của đất nước, với nhiều nghi thức vinh danh những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho Tổ Quốc Việt Nam; và lên án Cộng sản đã và đang đưa đất nước đến thảm họa; đã và đang cai trị toàn cỏi Việt Nam bằng độc đảng độc tài; đã và đang đưa dân tộc vào đại họa Bắc thuộc lần thứ 5.

 

Hai ngày trước, đề cặp đến vấn nạn này, ngày 28/4/2013, thông tín viên Hiền Vy, trong một bài viết được đưa lên đài RFA đã nói rằng: “...38 năm trôi qua, những sự thật về “chiến thắng”, “giải phóng”, hay “xâm lăng” đã hiện rõ, ai là bên thắng, ai là bên thua và chính nghĩa ở đâu, đã phơi bày. Kỹ thuật tân tiến về thông tin đã làm các mặt nạ “giải phóng” rơi xuống. Hiện tình đất nước đổi thay, Việt Nam đang phát triển hay mất dần vào tay Trung Quốc? Sự thật bi đát đã phơi bày và chính những người trẻ sống và lớn lên trong chế độ như Việt Khang, Ðoàn văn Vươn, Nguyễn Ðức Kiên... là những nhân chứng sống hùng hồn cho những ai còn ảo tưởng về Xã Hội Chủ Nghĩa. Người dân Việt trong nước vẫn tiếp tục hy sinh và giai cấp độc quyền thống trị chỉ biết có quyền lợi riêng tư đang ngự trị trên quê hương. Rất nhiều người cho rằng những người cầm quyền không hề quan tâm đến sự tồn vong của đất nước. Không ít người tự hỏi, phải chăng “nhà nước” đang góp phần tích cực phục vụ cho âm mưu biến Việt Nam thành một phần của Trung Quốc”.

 

Tại Pháp, cuộc biểu tình ngày Quốc Hận cũng đã được tổ chức vào lúc 15 giờ ngày 27/4/2013 tại Place du Trocadéro [xem bích chương đính kèm]. Tại Frankfurt ngày Quốc Hận cũng được tổ chức vào ngày Thứ Bảy 27/4/2013 để cùng nhau tố cáo tội ác của tập đoàn Cộng sản Việt Nam và cùng nhau lên án âm mưu xâm lược của Trung cộng với chương trình sống động gồm biểu tình trước Tổng Lãnh sự CSVN và trước Tổng Lãnh sự Trung cộng; sau đó là hội thảo và văn nghệ đấu tranh [xem bích chương đính kèm].

 

Tại Hoa Kỳ, các buổi lễ ở Miền Nam California gồm có:

§  Tưởng niệm Quốc Hận: Thứ Bảy 27/04/2013, từ 5:00g chiều đến 9:00g tối, tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Cũng là dịp kỷ niệm “10 Năm thành lập Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ”.

§  Ðặt Vòng Hoa; Cầu Nguyện; Niệm Hương; Trao Bằng Tưởng Lệ; Diễn Văn Ba Thế Hệ; Văn Nghệ Ðấu Tranh...

§  Tưởng Niệm Thuyền Nhân : Chủ Nhật 28/04/2013, từ 1:00PM-4:00PM tại Tượng Ðài Thuyền Nhân (trong Westminster Memorial Park ).

 

Ngoài ra, hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Nam Cali cũng đã tổ chức buổi “HÁT CHO QUÊ HƯƠNG ÐANG ÐẤU TRANH CHO DÂN CHỦ” từ 1:45 PM- 5:00PM ngày Chủ Nhật 28-4-2013 tại Hội trường Việt Báo, 14841 Moran St,Westminster, CA 92683.

 

Ở Miền Bắc California, ông Nguyễn Phú cũng đã huy động các cuộc biểu tình ngày Quốc Hận 30 tháng 4 để tố cáo tội ác của Cộng sản Việt Nam trước Lãnh sự quán của chúng tại San Francisco; và tố cáo hành động xâm lược cướp đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Ðông của Việt Nam trước Lãnh sự quán Trung cộng cũng ở San Francisco.

 

Ngoài ra, Lễ Giỗ Quân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức tại Khu Hội Cựu Tù Nhân Chánh trị Bắc California , San Jose , vào lúc 4 giờ chiều ngày 27/4/2013 [xem hình đính kèm và Youtube trên Diễn đàn Việt Vùng Vịnh]. Hôm sau, sáng Chủ nhật, 28/4/2013, Hội Ái Hữu Người Việt Quận Marin cũng tổ chức Lễ Tưởng Niệm quốc Hận 30 Tháng Tư tại Hồ Hoài Hương, khu công viên số 3501 Civic Center Drive thành phố San Rafael, Quận Marin, tiểu bang California, thuộc hướng bắc Vùng Vịnh, bên cạnh cầu Golden Gate, có hơn 3000 cư dân gốc Việt tại đây. Bản tin cũng được phổ biến qua Youtube trên Diễn đàn Việt Vùng Vịnh http://www.vietvungvinh.com


 

Mặt khác, song song với hải ngoại, tại quốc nội, ngày 28 tháng 4 năm 2013, Luật sư Nguyễn Văn Ðài cũng bày tỏ cảm xúc về ngày Quốc Hận 30 tháng 4 trong bài viết được trích đăng như sau:

 

SAU 30-4-75

CẢM XÚC NGÀY 30-4 Từ Một Người Sống Giữa Lòng Hà Nội

Luật sư Nguyễn Văn Ðài [xem hinh]

Hà Nội ngày 28 tháng 4 năm 2013

“Một quốc gia đã giành được độc lập và thống nhất, mà nhân dân không được hưởng các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền không được tôn trọng, thì người dân của quốc gia đó đã hy sinh xương máu một cách vô ích để thay thế sự cai trị của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị của giặc nội xâm. Mà giặc nội xâm thì lại tham lam và gian ác gấp trăm ngàn lần giặc ngoại xâm.”

Mỗi dịp 30-4 hàng năm, tôi lại nhận được câu hỏi của những người đồng bào Việt Nam ở hải ngoại là “anh nghĩ và có cảm xúc gì khi sắp tới ngày 30-4?”. Tôi lại có dịp kể cho họ nghe về suy nghĩ và cảm xúc của mình.

Từ nhỏ cho đến năm mười chín tuổi, mỗi dịp 30-4 tôi thực sự vui mừng và tự hào bởi đó là ngày chiến thắng và thống nhất của đất nước. Việt Nam đã chiến thắng cường quốc số một thế giới về quân sự và kinh tế.

Cuối năm 1989, tôi có cơ hội được sang CHDC Ðức (cũ) và được chứng kiến người dân Ðông Ðức lật đổ chế độ cộng sản để thống nhất với chế độ tư bản, dân chủ ở Tây Ðức. Tôi lại có dịp may mắn được sang Tây Berlin để xem cuộc sống sung túc và tự do của chế độ tư bản, dân chủ. Và tôi hiểu tại sao người dân Ðông Ðức đã không cam chịu sống dưới sự cai trị độc đoán, phi lý, lạc hậu của chế độ cộng sản.

Cùng thời điểm đó, tất cả người dân các nước Ðông Âu đã vùng lên đập tan sự cai trị của các chế độ cộng sản. Và họ đã xây dựng lại từ đầu chế độ tư bản, dân chủ. Cho đến nay, tất cả các nước Ðông Âu, người dân đều có cuộc sống sung túc và hạnh phúc trong một chế độ chính trị tự do và dân chủ mà không có sự cai trị của chế độ cộng sản.

Cuối năm 1990, tôi trở lại Việt Nam, kể từ đó cứ mỗi dịp 30-4, tôi không còn cảm xúc vui mừng, mà thay vào đó là sự hoài nghi và nuối tiếc.

Năm 2001 và 2003, tôi có dịp được sang thăm Hàn Quốc và thấy đó là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế và quân sự. Ở đó không bao giờ có sự hiện diện và tồn tại của đảng cộng sản. Trong khi đó, Bắc Triều Tiên dưới sự cai trị độc đoán và tàn bạo của chế độ cộng sản. Mỗi năm có cả trăm ngàn người chết đói mặc dù họ đã nhận được sự giúp đỡ to lớn từ Hàn Quốc và cộng đồng quốc tế. Tôi cảm thấy buồn và nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Nhìn lại Việt Nam chúng ta, sau ngày 30-4-1975, trong chế độ quan liêu bao cấp, ngăn sông cấm chợ, nhân dân phải chịu đói khổ, lầm than. Khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế có phát triển, đời sống người dân khấm khá hơn, đủ ăn, đủ mặc, có được phương tiện sinh hoạt và đi lại hiện đại. Nhưng tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thành giặc nội xâm của dân tộc. Sự suy thoái đạo đức và lối sống diễn ra một cách toàn diện, trên mọi phương diện của đời sống xã hội từ giáo dục, y tế, ngành tư pháp, cơ quan hành chính,... và trên mọi cấp độ từ trung ương đến địa phương.

Nhiều người trong chúng ta đã từng chứng kiến cảnh doanh nghiệp, quan chức chính quyền, các lực lượng vũ trang và xã hội đen hợp sức với nhau để cưỡng chế người nông dân lấy đi tư liệu sản xuất quan trọng nhất của họ là ruộng đất. Biết bao người dân vô tội khi bước vào đồn công an thì khỏe mạnh, nhưng chỉ ít giờ sau, họ chỉ còn là một cái xác không hồn. Và còn biết bao nhiêu những người dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ và sự toàn ven lãnh thổ quốc gia đã bị sách nhiễu, đánh đập, và bị cầm tù. Thật sự đau lòng và xót xa.

Giờ đây, mọi người lại hỏi tôi “anh nghĩ và có cảm xúc như thế nào về ngày 30-4?”

Tôi trả lời: “Một chế độ dân chủ và văn minh đã thua một chế độ độc đảng toàn trị và lạc hậu. Cái ác đã chiến thắng.”

Còn cảm xúc thì buồn và nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bởi tôi và rất nhiều người đều cho rằng nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.

 

Có một vấn đề Luật sư Nguyễn Văn Ðài không đề cặp tới. Ðó là “nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây...” Cộng sản Việt Nam đâu có từng bước bán nước cho Tàu; và Ðại Họa Mất Nước không là đại họa của đất nước và dân tộc Việt Nam .

 

Hẹn con thư sau,

Giáo Già



[1] Tăng Sâm: Người thời Xuân Thu, tính chất chân thật và có hiếu, học trò đức Khổng Tử và mau truyền được đạo của Ngài.

 

KẾ HOẠCH ĐỔI TIỀN CHI TIẾT





From: Phong Ngo .com>
To:
Sent: Wednesday, May 1, 2013 4:52 PM
Subject: Fw: KẾ HOẠCH ĐỔI TIỀN CHI TIẾT có thể đư ợc làm trong vòng 2 t u ần lễ


Chuyển tiếp mời xem TIN NÓNG HỔI,
Thật , hay giả thì không biết được...?
Chắc bà con VN qua nhiều lần đổi tiền
rồi đã có inh nghiệm , xin miễn bàn thêm

 Chúc bà con VN gặp may mắn

 LK 29/4/13

 1-KẾ HOẠCH ĐỔI TIỀN CHI TIẾT

 Thứ sáu, ngày 26 tháng tư năm 2013


KẾ HOẠCH ĐỔI TIỀN CHI TIẾT có thể được làm trong vòng 2 tuần lễ


Tổng Hợp



Hiện đang có khoảng 4 triệu tỉ đồng đang lưu hành, nếu đổi 1000 đồng cũ lấy 1 đồng mới, thì cần 4 ngàn tỉ đồng mới. Tờ lớn nhất 1000 đồng thì cần 4 tỉ tờ, tức 4 triệu kg, 4 ngàn tấn.


Nếu mỗi chuyến bay đặc biệt chở 40 tấn, thì chỉ cần 100 chuyến. Vả lại không cần đổi hết 1 lần, mà vì muốn có HẠN ĐỊNH nên chỉ đổi 1/5, 1/10 số đang lưu hành mà thôi (số còn lại VC quỵt hết).

Nếu chỉ đổi 1 triệu tỉ đồng trong số 4 triệu tỉ đang lưu hành, thì chỉ cần 1/4 số trên đây, tức 25 chuyến bay chở tiền.

Mỗi ngày 5 chuyến thì chỉ trong 5 ngày là đủ.


Đúng thế, toàn bộ KẾ HOẠCH ĐỔI TIỀN CHI TIẾT có thể được làm trong vòng 2 tuần lễ, sau đó ký kết hợp đồng in, chờ in 3-4 tuần và hoàn tất nhận tiền mới trong vòng 1 tuần.


Nghĩa là sau khi có quyết định ĐỔI TIỀN từ đầu nậu Việt Cộng khoảng 6-7 tuần, chúng đã hoàn toàn sẵn sàng cho đổi tiền bất kỳ lúc nào. Chỉ cần thấy thuận lợi cho việc ăn cướp là ban bố lệnh ngay.

Theo như những gì Việt Cộng lộ ra thì chúng ĐANG IN TIỀN MỚI, và hiện giờ đang được giải thích một cách lờ mờ là "in bộ tiền mới" để bổ sung vào bộ tiền đang lưu hành.


Các bác hãy nhớ rằng "tiền giấy là tiền quy ước"; cho nên "bộ tiền mới" có thể được dùng để bổ sung bộ tiền cũ mà cũng có thể là "bộ tiền mới hoàn toàn với tỷ lệ đổi do Việt Cộng quy định khi đổi tiền".


Nếu chúng để cho ta biết được CHÍNH XÁC NGÀY NÀO chúng ban hành lệnh đổi tiền thì chúng đâu phải.... Việt Cộng. Tuy nhiên có vài điểm sau đây có thể giúp chúng ta đoán được là ngày đó còn không xa:

- Những công ty vừa sụt giá chứng khoán rất mạnh hay thanh lý tài sản đều ít nhiều có quan hệ tới những thằng Việt Cộng đầu sỏ (Masan, VinaCapital,...) nên chúng ta đoán được chúng nó có nguồn tin cấp tối cao (về đổi tiền) từ các tên này & khả năng cao những thằng Việt Cộng chóp bu kia là tác giả kế hoạch lần này.

- Kế hoạch đổi tiền hiện chỉ trong nội bộ giới chóp bu biết nên chưa xảy ra cảnh tháo chạy hỗn loạn trong giới doanh nhân tầm trung và thấp.


Tuy nhiên, việc này sẽ phải "trình Trung Ương thảo luận" trong tháng 5 nên số người biết sẽ tăng lên. Các UV BCH TW đều có đệ tử, sân sau nên sẽ lộ tin này ra để đàn em tẩu tán và bản thân chúng cũng tẩu tán.

 Vậy nếu sau Hội Nghị Trung Ương 7 mà làn sóng tháo chạy gia tăng & giá USD lên cao thì chắc chắn có đổi tiền rất sớm sau đó.

- Gần đến NGÀY ĐỔI TIỀN sẽ có 2 sự việc xảy ra: ngân hàng sẽ không cho vay hoặc đảo nợ nữa (ta dễ nhầm là ngân hàng bị cụt vốn) và sẽ có lệnh xuống ban tuyên giáo tuyên truyền không có đổi tiền.

- Hãy quan sát động thái của các cty có liên quan đến những người vừa "biến mất bí ẩn" trong thời gian qua (khả năng là được mời họp bàn "kế hoạch" và đang bị nhốt để bảo đảm bí mật, sau HN TW 7 sẽ thả).


Đây là những gì đã diễn ra thời năm 1985:

- Những tờ giấy tiền mệnh giá lớn LẬP TỨC mất giá trị lưu hành trong hệ thống thanh toán quốc gia, chỉ còn giá trị đem đổi tiền mới tại các nơi đổi tiền mà thôi. Thời hạn đổi tiền có vài ngày và phải đem sổ hộ khẩu, CMND,.... mới đổi được theo hạn mức quy định. Nhiều người tích trữ tiền Hồ phải đốt trong nước mắt vì không kịp nhờ người khác đổi những lượng tiền quá lớn.

- Những tờ mệnh giá nhỏ vẫn còn giá trị trong khoảng vài tháng sau đó. Việt cộng đưa ra lời giải thích là "chưa có tiền lẻ về kịp nên nhà nước vẫn chấp nhận tiền tiền cũ, nhân dân đừng sợ". Mà đúng thế thật, Việt Cộng giữ lời hứa trong vụ "tiền cũ mệnh giá nhỏ".


Tại sao vậy ? Vì nếu không cho phép như thế thì sẽ loạn ngay, hoạt động kinh tế (mặc dù chưa xóa bao cấp, nhưng thị trường tự do rất sôi động) sẽ tê liệt ngay. Hơn nữa, giá in tiền mệnh giá lớn và mệnh giá nhỏ ngang ngang nhau, đổi tiền mệnh giá lớn sẽ thuận lợi hơn vì người dân ít cảm thấy mình bị ăn cướp hơn.

 Vài tháng sau, lạm phát phi mã làm cho những tờ tiền cũ mệnh giá nhỏ trở thành rác, nên chẳng ai buồn đem đi đổi làm gì.

(Giờ ngồi gõ những dòng chữ này mới rõ hơn tại sao tiền lẻ vô cùng hiếm hoi trong thời gian đầu sau khi đổi tiền và tại sao những thằng cướp lại cho phép tiền cũ mệnh giá nhỏ lưu hành một thời gian ngắn sau đó)

Thậm chí, số lượng tiền mới cần in ra còn nhỏ hơn số tính toán ở trên nữa, bởi vài nguyên nhân sau:

- Một số người sau khi đổi tiền mới xong sẽ gửi lại hệ thống ngân hàng. Ngân hàng nhà nước sẽ dùng chính những tờ tiền mới đó đổi cho người khác.

- Thời gian đầu sẽ chỉ phát hành ra những tờ tiền mới mệnh giá lớn tương đương cỡ 50,000 - 100,000 - 200,000 - 500,000 - 1,000,000 - 2,000,000 tiền Hồ bây giờ.


Những tờ tiền tương ứng đó LẬP TỨC mất giá trị. Những tờ mệnh giá nhỏ hơn tiếp tục được phép lưu hành trong khoảng 3 tháng sau, trong khi chờ tiền lẻ về kịp (kịch bản của Việt Cộng).

Còn một "nghiệp vụ ăn cướp" rất nhanh nữa là hệ thống ngân hàng tự động chuyển đổi tài khoản tiền mặt của dân từ tiền cũ sang tiền mới theo ĐỊNH MỨC. Số lượng vượt định mức bị xóa thành "không".


Tuy nhiên, chiêu này thì QUÁ LỘ LIỄU, nên khả năng áp dụng thấp. Có lẽ chúng sẽ cho người dân được phép rút toàn bộ tiền mặt (tiền cũ) ở ngân hàng về, không quỵt đồng nào cả. Chuyện này thì quá dễ, chỉ tốn vài cent Mỹ in mỗi tờ thôi. Nhưng dân rút được tiền cũ về thì lại vướng ĐỊNH MỨC đổi nên có rút về được cũng như không.

Dân càng thấp cổ bé miệng thì càng chậm đổi được tiền mới. Tất nhiên, bầy quan chức cấp cao sẽ nhanh chóng đổi được toàn bộ tiền mới không hạn mức nên chúng sẽ gom mua hàng hoá, khuynh đảo thị trường.


Thời năm 1985 còn khó, chứ bây giờ quan chức Việt Cộng có hàng loạt công ty sân sau nên chúng dễ dàng thao túng một cách hợp pháp.

Quan trọng nhất là Việt Cộng cướp thông qua ĐỊNH MỨC ĐỔI TIỀN.

Chắn chắn sau đổi tiền sẽ là LẠM PHÁT PHI MÃ.

Lạm phát phi mã vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của việc người dân mất lòng tin, nền sản xuất sụp đổ nên ai cũng đổ xô nhau mua hàng hóa về tích trữ.


Chắc chắc khi đó bộ máy tuyên truyền của Việt Cộng sẽ hoạt động hết công suất tố cáo "thế lực thù địch chống phá công cuộc cải cách tiền tệ cua Việt Nam",.....

Hãy nhớ rõ rằng ĐỔI TIỀN kiểu Việt Cộng là cướp tài sản của dân chứ chẳng giải quyết được vấn đề kinh tế gì


- KỂ HOẠCH ĐỔI TIỀN BỊ BẠI LỘ? - TẠI SAO PHẢI CHẠY TRỐN HÒA BÌNH?


 

mấy anh đại diện tôn giáo này đang làm chuyện RUỒI BU, nói chuyện vơi côn đồ CS? vạch đầu gối ra mà nói đi bạn!

2013/5/1 Nguyen Quang Duy <

 

Đại diện 5 tôn giáo cùng ra tuyên bố chung về sửa đổi Hiến pháp









 

Chức sắc 5 tôn giáo cùng ra tuyên bố chung về sửa đổi Hiến pháp
 
- KỂ HOẠCH ĐỔI TIỀN BỊ BẠI LỘ?
 
- TẠI SAO PHẢI CHẠY TRỐN HÒA BÌNH?

Trân trng kính chuyn đ QUÝ V tham kho, ph biến rng rãi trong ln ngoài nước. Chúng tôi rt hoan nghênh 5 tôn giáo đng thanh nht trí ra tuyên b chung v sa đi Hiến pháp. " Mt cây làm chng nên non, nhiu cây chùm li lên hòn núi cao".

Chúng tôi mong rng chng nhng các tôn giáo đ kết hp nhau li thành mt khi đ tranh đáu, mà các đng bào ti Quc ni và Hi ngoi cũng phi đoàn kết nht trí cùng nhau tìm mi phương cvách kh thi, hu hiu tranh đu cho nhân quyn, t do, dân ch, bo v đt nước, chng gic ni xâm CSVN và Tàu cng xâm lược quan thy CSVN.

Kính mến,

Bs LÊ Th L


TẠI SAO PHẢI CHẠY TRỐN HÒA BÌNH?


Danlambao - Hôm 1/5, Các chức sắc của 5 tôn giáo là Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt, Công Giáo, Tin Lành - Giáo Hội Lutheran Việt Nam - Hoa Kỳ, Cao Đài chính thống - Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo thuần túy đã cùng nhau ra Tuyên Bố Chung về việc sửa đổi Hiến pháp 1992.

Nội dung bản Tuyên Bố Chung nhấn mạnh đến 8 điểm:

 

1- Do ý kiến nguyện vọng của toàn dân Việt Nam lập nên, tức là phải trưng cầu dân ý, có Liên Hiệp Quốc giám sát.

2- Tránh tất cả mọi sự lệ thuộc vào ngoại bang, nhất là Trung Quốc.


3- Tránh mọi điều xâm phạm đến quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam như: Tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội...


4- Bầu cử Quốc Hội, tất cả các đảng phái đều được tự do ứng cử.

5- Bầu  cử chính quyền do dân cử, dân bỏ phiếu trực tiếp dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc.


6- Bầu cử theo thể chế Dân Chủ Tự Do.


7- Tam Quyền Phân Lập rõ ràng.


8- Xây dựng một nước Việt Nam thật sự Hòa Bình - Trung Lập - Tự Do - Dân Chủ; Do Dân - Phục Vụ Dân - Lập Quyền Dân.

 

Những người tham gia ký tên đại diện cho 5 tôn giáo tại Việt Nam gồm có: 

 

1- Hòa Thượng Thích Không Tánh - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

2- Linh Mục Đinh Hữu Thoại - Dòng Chúa Cứu Thế - Sài Gòn.

3- Linh Mục Lê Ngọc Thanh - Dòng Chúa Cứu Thế - Sài Gòn.

4- Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa - Giáo Hội Lutheran Việt Nam - Hoa Kỳ.

5- Mục Sư Hồ Hữu Hoàng - Giáo Hội Lutheran Việt Nam - Hoa Kỳ.

6- Cụ Lê Quang Liêm - Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo thuần túy.

7- Chánh Trị Sự Hứa Phi - Cao Đài chính thống - Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.

 

Dưới đây là toàn văn bản Tuyên Bố chung:

 


 

 



From: Thomas D. Tran <

Date: 2013/5/1
Subject: Fwd: Kế Hoạch Đổi Tiền Bị Bại Lộ !


Kính chuyể coi video rất sống động

Kính

TDT


From: Dan Lee <
Date: Wed, May 1, 2013 at 11:24 AM
Subject: Kế Hoạch Đổi Tiền Bị Bại Lộ !

 

Kế Hoạch Đổi Tiền Bị Bại Lộ !

 


Tại sao phải chạy trốn hòa bình?


Trịnh Hội

Gửi tới BBC từ Manila

Cập nhật: 10:54 GMT - thứ tư, 1 tháng 5, 2013


Đây là bản tiếng Việt bài viết mới nhất của tôi đã được đăng bằng tiếng Anh trên báo Asia Times (Á Châu), USA Today (Mỹ) và The Age (Úc) nhân kỷ niệm lần thứ 38 ngày Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.


Luật sư Trịnh Hội đang làm việc cho VOICE, giúp người tỵ nạn Việt tại Philippines

Là thế hệ lớn lên sau chiến tranh, không liên quan đến việc thắng, thua, nên từ lâu tôi đã có hai câu hỏi.

Các bài liên quan



Chủ đề liên quan



Một dành cho những người đang lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nếu Sài Gòn thật sự được giải phóng, thì tại sao hơn một triệu người phải bỏ nước ra đi?

Hai dành cho những thành phần phản chiến trước năm 1975.

Nếu lúc ấy họ thật sự tranh đấu cho dân tộc Việt Nam được tự chủ, tự cường thì tại sao, trong suốt bốn thập niên dài mãi cho đến hôm nay, khi người dân Việt Nam hoàn toàn không được tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, không có tự do bầu cử những người phản chiến này đang ở đâu, sao không lên tiếng?

Tôi có câu hỏi nhưng không có câu trả lời. Nếu bạn có xin vui lòng cho tôi biết qua email: hoitrinh@gmail.com

Hai hình ảnh về Việt Nam


Ngày 30 Tháng Tư năm 2013 đánh dấu kỷ niệm lần thứ 38 ngày Sài Gòn thất thủ, ngày Miền Nam Việt Nam bị Miền Bắc Cộng Sản tiêu diệt - hay thường được nhiều người gọi là ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam.

Nếu không có ngày này, tôi tin rằng đã không có nhiều nhà hàng Việt Nam như hiện nay nơi bạn ở. Và nếu không có ngày này thì chắc chắn tôi cũng đã không có mặt hôm nay tại nơi này để nói cho các bạn rõ về những gì đã xảy ra.

Sinh sống qua gần 2 thập niên ở nước ngoài trước khi quyết định trở lại Việt Nam vào năm 2007, tôi thường được hỏi về thời gian tôi sống ở Việt Nam sau năm 1975 và về tình hình đất nước hiện nay, 38 năm sau.

Điều thường khiến tôi ngạc nhiên là khi tôi hỏi lại họ về những gì họ đã biết thì hình như chỉ có hai phiên bản Việt Nam được nhắc tới.



 

"Angeline Jolie và Brad Pitt còn nhận một em bé Việt Nam làm con nuôi và đặt tên cho em là Pax – Hòa Bình."

Phiên bản thứ nhất là một Việt Nam đầy rẫy những câu chuyện kinh hoàng, những hình ảnh về một đất nước tan nát vì cuộc chiến do người Mỹ dẫn đầu tàn phá.

Phiên bản thứ hai là một con hổ kinh tế đang trỗi dậy ở Viễn Đông , điểm đến 'thời thượng' của những người trẻ trung và danh tiếng.

Brad Pitt và Angelina Jolie đã tiếp tục trở lại Việt Nam. Trước đây không lâu họ còn nhận một em bé Việt Nam làm con nuôi và đặt tên cho em là Pax – Hòa Bình.

Trong khi hàng đoàn du khách từ Úc, Châu Âu và khắp nước Mỹ theo lời khuyên của sách hướng dẩn du lịch Lonely Planet ghé thăm mọi nơi từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh, tên mới của Sài Gòn, để sững sờ trước nền văn hóa và cảnh sắc mỹ miều.

Họ đã có thể nhìn thấy tận mắt rằng bây giờ mọi thứ đều thanh bình, yên ổn và dân chúng có vẻ hạnh phúc, hài lòng với vận mệnh mới của mìn

Hay ít ra nó cũng có vẻ như vậy. Cho đến khi tôi cho họ biết sự thật không hẳn vậy.

Như các bạn có thể đã biết, cũng giống như hai triệu người Việt Nam rời bỏ đất nước từ ngày định mệnh đó, gia đình tôi đã đến Úc như những người tỵ nạn khác.

Nhưng thật ra chúng tôi là những người Việt đầu tiên trong lịch sử đất nước quyết định rời bỏ quê cha đất tổ.

Mặc dù đã xảy ra nhiều cuộc chiến với nước Trung Hoa láng giềng ở phương bắc qua hàng ngàn năm, mặc dù đã trải qua một trăm năm đấu tranh giành độc lập chống chủ nghĩa thực dân Pháp, và mặc dù là nạn nhân của một nạn đói khủng khiếp do người Nhật gây ra trong Thế chiến thứ II, tiếp theo đó là Chiến tranh Việt nam kéo dài cho đến năm 1975, người Việt đã luôn gắn bó với nơi chôn nhau, cắt rốn của mình và chấp nhận, chịu đựng tất cả để chọn Việt Nam làm quê cha đất tổ.

Bất chấp mọi cuộc đổ máu. Bất chấp mọi mất mát, thiệt hại.

Nhưng. Lần đầu tiên trong lịch sử và chẳng bao lâu sau khi chiến tranh chấm dứt, người ta bắt đầu ra đi.

Thoạt tiên là từng nhóm nhỏ, rồi sau đó là hàng chục, hàng trăm ngàn người. Họ đi bằng thuyền và bằng đường bộ. Bất chấp mọi hiểm nguy trên biển cả và những gì đang chờ đợi họ tại bến bờ bên kia.

Theo ước tính, từ 10% cho đến 30% tổng số thuyền nhân đã không bao giờ được đặt chân lên đất liền. Từ 1975 đến 1997, khi cuộc vượt thoát ồ ạt chấm dứt, đã có khoảng 1 triệu thuyền nhân Việt Nam đặt chân đến được các nước trong vùng.

Chạy trốn hòa bình



Thuyền nhân Việt dạt vào bờ biển Malaysia trong một đợt chạy trốn

Điều này bắt buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi: Tại sao họ lại phải trốn chạy hòa bình?

Câu trả lời rất đơn giản. Đó là ngay cả sau khi chiến tranh kết thúc và hòa bình được lập lại, sự thật và công lý chưa bao giờ thắng thế trên đất nước tôi. Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về quyền tự do hội họp và lập hội, Ông Maina Kiai, đã gọi tình trạng này là một “cơn hôn mê hòa bình” (peace coma).

Rằng nhân danh hòa bình, chúng ta đã cố tình làm ngơ trước những vi phạm trắng trợn nhất về quyền con người bởi các chế độ áp bức nhất trên thế giới hiện nay, trong đó có chế độ Cộng sản Việt Nam.

Mặc dù từ thập niên 1990, những nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cho cải tổ về kinh tế, nhưng trong suốt 38 năm qua, chế độ xã hội và chính trị của đất nước này vẫn không có gì thay đổi.

"Không một phương tiện truyền thông độc lập nào được phép hoạt động, các cuộc biểu tình phản đối bị nghiêm cấm, và những người bảo vệ nhân quyền thường xuyên bị sách nhiễu"

Cho đến hôm nay, tất cả đất đai vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà nước và hàng trăm người bất đồng chính kiến vẫn còn bị bắt bớ, giam cầm chỉ vì họ dám thách thức sự cai trị độc đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự thật là Facebook bị ngăn chặn, không một phương tiện truyền thông độc lập nào được phép hoạt động, các cuộc biểu tình phản đối bị nghiêm cấm, và những người bảo vệ nhân quyền thường xuyên bị sách nhiễu, khủng bố.

Để cuối cùng một số nhân vật bất đồng chính kiến phải đào thoát để xin tỵ nạn chính trị ở các nước khác. Trong khi những người ở lại có thể bị kết án đến 16 năm tù như Trần Huỳnh Duy Thức vì những hoạt động ủng hộ nhân quyền của họ.

Vì vậy, một sự thật phũ phàng là vẫn còn người tỵ nạn từ Việt Nam và chưa bao giờ hòa bình thật sự hay công lý được thực hiện trên quê hương tôi.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư Trịnh Hội, nhà hoạt động nhân quyền hiện làm cho tổ chức Bấm VOICE.

 

 











 


 


Chức sắc 5 tôn giáo: Tuyên bố chung về HP 1992


Đăng bởi lúc 


VRNs (02.05.2013) – Sài Gòn – Từ quốc nội, hôm qua, 22 tháng 03 năm Quý Tỵ, nhằm ngày 01.05.2013, một số Vị chức sắc của 5 tôn giáo đang hoạt động tại VN là Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt, Công Giáo, Tin Lành – Giáo Hội Lutheran Việt Nam – Hoa Kỳ, Cao Đài chính thống – Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo thuần túy, đã cùng đứng tên ra Tuyên Bố Chung về Hiến Pháp 1992.

Bản Tuyên Bố Chung đưa ra 8 yêu cầ3u:

“1- Do ý kiến nguyện vọng của toàn dân Việt Nam lập nên, tức là phải trưng cầu dân ý, có Liên Hiệp Quốc giám sát.

2- Tránh tất cả mọi sự lệ thuộc vào ngoại bang, nhất là Trung Quốc.

3- Tránh mọi điều xâm phạm đến quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam như: Tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội…

4- Bầu cử Quốc Hội, tất cả các đảng phái đều được tự do ứng cử.

5- Bầu  cử chính quyền do dân cử, dân bỏ phiếu trực tiếp dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc.

6- Bầu cử theo thể chế Dân Chủ Tự Do.

7- Tam Quyền Phân Lập rõ ràng.

8- Xây dựng một nước Việt Nam thật sự Hòa Bình – Trung Lập – Tự Do – Dân Chủ;  Do Dân – Phục Vụ Dân – Lập Quyền Dân.”

VRNs xin trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên Bố Chung này.

Wednesday, May 1, 2013

Phát hiện một quân nhân Mỹ sống 45 năm ở vùng núi Việt Nam?



Phát hiện một quân nhân Mỹ sống 45 năm ở vùng núi Việt Nam? Tin giã
http://au.news.yahoo.com/world/a/-/world/16978372/vietnam-vet-found-after-44-years-is-fake/
  



 

 

From: Paul Van <
Date: Wed, May 1, 2013 at 7:00 AM
Subject: Green Beret who vanished in Vietnam War still alive?



"Lính Mũ Xanh mất tích trong cuôc chiến Việt Nam nay vẫn còn sống ?". Đề tựa và câu chuyện người lính Lực Lượng Đặc Biệt MỸ, (Master Sergeant John Hartley Robertson,  nay 76 tuổi), được đăng tải trên tờ báo  Toronto Star, Canada như dưới đây sẽ đặt ra câu hỏi vê vấn đề trao trả tù binh năm 1973.


Vào năm 1992, trong một buổi sinh hoạt chính trị tại Town Hall ở thị trấn Milford, Connecticut; Thượng Nghị Sĩ John Kerry từ Boston,


Massachusetts đến tham dự để vận động cử tri bỏ phiếu cho Bà DeLaroso, một nhân viên văn phòng Senator Kerry tranh cử Dân Biểu tại tiểu bang Connecticut.


Một nhóm cựu chiến binh Hoa Ky (Vietnam War Veterans) đến tham dự đặt câu hỏi, yêu cầu Senator Kerry cho biết tù binh MỸ đã thật sự phóng thích hết hay chưa? Kerry trả lời ca tụng Công Sản tỏ ra rât hợp tác, đầy thiện chí (willingly , cooperative) trong vấn đề trao trả tù binh, tìm hài cốt binh sĩ tữ trận mất tích. Một vài cựu chiến binh lên tiếng: tin tức họ có được cũng như tù nhân VNCH bị giam cầm cải tạo tiết lộ, cung cấp rằng: có thấy người ngoại quốc da trắng ÂU MỸ phụ trách máy phát điện (generator) biệt lập cách khu giam giữ tù nhân VN vài trăm mét.Trại tù này ở vùng thượng du Bắc Việt. Kerry  dựa theo cam kết của CSBV đã hoàn toàn phủ nhận sự kiện này. Không khí thảo luận trở nên sôi nổi vang lên những tiếng la ó phản đối "Coward; Liar v.v..." . 


pv

 


 


 


Green Beret who vanished in Vietnam War still alive?


By Mike Krumboltz, Yahoo! News | The Lookout – 15 hrs ago


Photo of Sgt. Robertson (movieunclaimed.com)Sgt. John Harley Robertson (movieunclaimed.com)

"Unclaimed," a new documentary premiering at Toronto's Hot Docs film festival on Tuesday night, tells the story of Special Forces Green Beret Master Sgt. John Hartley Robertson, who was shot down over Laos in 1968 and was long presumed dead.

The documentary actually follows fellow Vietnam vet Tom Faunce, who heard about Robertson's whereabouts while on a humanitarian mission and wants to find him. Faunce does track down someone claiming to be Robertson in a remote village in south-central Vietnam. The man, according to the Toronto Star, was a "wiry 76-year-old" who "trembles with frustration or pounds his forehead when he is unable to remember his birthday or his American children’s names. He is only able to speak Vietnamese."

According to the documentary, directed by Edmonton filmmaker Michael Jorgensen, Robertson was captured by North Vietnam forces and tortured, but eventually escaped. Rather than return to his wife and children in the U.S., he stayed in Vietnam and married another woman, assuming the name of her deceased husband, Dang Tan Ngoc. An article from the Toronto Star says that in the years since, he has apparently forgotten how to speak English.

The Globe and Mail writes that the man was "prone to weeping and fits of dementia. His memory was in tatters, unable to conjure even a seemingly simple fact like his birthday or the names of his two American children. And when he did remember, the recollections often were wrong or difficult to confirm. The U.S. military, moreover, refused any help or information."

Whether or not the man is indeed Robertson remains unproved. But, as the Toronto Star puts it, the film "makes a compelling case":

There is physical proof of Robertson’s birthplace, collected in dramatic fashion onscreen; a tearful meeting in Vietnam with a soldier who was trained by Robertson in 1960 and said he knew him on sight; and a heart-wrenching reunion with his only surviving sister—80-year-old Jean Robertson-Holly—in Edmonton in December 2012 that left the audience at the Toronto screening wiping away tears.

Robertson-Holly was offered a chance to take a DNA test to prove the relationship, but declined, saying she didn't need to to know the man is her brother, according to the Toronto Star. Jorgensen told the paper that Robertson’s American wife and two children initially offered to participate in DNA testing, but later withdrew the offer.

While speaking to the Globe and Mail about his film and what's next for the man believed to be Robertson, Jorgensen said, "There’s maybe a bit of a misconception; everybody assumes: ‘Well, obviously, he wants to come back to North America. But at this point he’s happier being back there, taking care of his wife, to whom he feels an incredible amount of loyalty, and their kids."

Below, the trailer for "Unclaimed."

 

Phát hiện một quân nhân Mỹ sống 45 năm ở vùng núi Việt Nam? Tin giã
http://au.news.yahoo.com/world/a/-/world/16978372/vietnam-vet-found-after-44-years-is-fake/
 

Dư luận Mỹ bị sốc trước thông tin cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam John Hartley Robertson, người được cho là đã chết năm 1968, vừa được phát hiện vẫn sống ở vùng núi miền Bắc Việt Nam.

 


 John Hartley Robertson, ảnh chụp năm 1966.

Tuy nhiên, tin này chưa được xác nhận từ các cơ quan của Mỹ và Việt Nam.

Bộ phim tài liệu "Unclaimed" của nhà làm phim nổi tiếng Michael Jorgensen chính thức công chiếu từ ngày 30/4 tại Mỹ và Canada, nhưng trong những ngày qua đã bắt đầu gây sốc.

Theo thông tin trên báo chí Mỹ, Canada (cụ thể là tờ Toronto Star, Business insider...) và trên nhiều diễn đàn của cựu chiến binh Mỹ, nhà làm phim Michael Jorgenson phát hiện cựu binh Robertson, năm nay đã 76 tuổi, đang sống trong một ngôi làng nhỏ ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Robertson sinh tại Alabama, gia nhập lực lượng Mũ nồi xanh Mỹ và máy bay của anh bị bắn rơi tại vùng biên giới Lào năm 1968.
 
Theo nhà làm phim Jorgenson và các đoạn phim rò rỉ, cựu binh Robertson do sống quá lâu ở vùng núi Việt Nam nên không thể nói được tiếng Anh, nhưng vẫn nhớ ngày sinh của mình, nhớ tên vợ con mình ở Mỹ.

Trong phim, cựu binh Robertson cho biết ông bị bộ đội Việt Nam bắt giữ sau khi máy bay rơi, rồi được trả tự do và kết hôn, có con với nữ y tá người Việt đã chăm sóc mình.

 

Lính Mỹ trong một chiến dịch trong chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Larry Burrows/LIFE.

Chuyện khó tin Bộ phim tài liệu Unclaimed bắt đầu với câu chuyện một cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là Tom Faunce, trong chuyến cứu trợ thiên tai tới Đông Nam Á cách đây nhiều năm (2008) đã tình cờ phát hiện ra Robertson. Phát biểu trên báo chí Canada, nhà làm phim Jorgenson thừa nhận chính mình cũng hoài nghi khi cựu binh Tom Faunce năm 2012 tìm đến gặp mình và kể câu chuyện tình cờ gặp một cựu binh Mỹ khác tưởng đã chết, nhưng hiện vẫn còn sống ở Việt Nam là Robertson.
 
 Tuy nhiên, nhà làm phim này đã tin sau khi trực tiếp sang Việt Nam để gặp người được cho là cựu binh Robertson và hi vọng có thể giúp Robertson tái ngộ với gia đình mình tại Mỹ. Nhà làm phim cũng đã liên hệ với Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, quân đội Mỹ, người thân của cựu binh Robertson tại Mỹ. Tuy nhiên, bằng chứng đáng tin cậy nhất là xét nghiệm DNA với con của Robertson thì vẫn chưa thực hiện được.
 
Theo cựu binh Tom Faunce, Robertson năm 2010 đã được lấy dấu vân tay tại Đại sứ quán Mỹ, nhưng điều này chưa đủ để chứng minh người này là John Hartley Robertson và cũng không thể bác bỏ. Bộ phim tài liệu cung cấp những thước phim về nơi sinh của Robertson, cảnh một người lính Mỹ từng được Robertson huấn luyện năm 1960 vừa gặp lại ông tại Việt Nam và khẳng định đây đích thị là Robertson.
 
 Phim cũng chiếu cảnh về cuộc gặp đầy nước mắt giữa người chị gái duy nhất còn sống của Robertson là bà Jean Robertson-Holly, 80 tuổi. Cuộc hội ngộ diễn ra tháng 12/2012. “Bà Jean nói … ‘Không có thắc mắc nào. Tôi chắc chắn đó là nó trên video, khi tôi ôm ghì đầu nó và nhìn vào mắt nó tôi không còn nghi ngờ gì về việc nó là em trai mình”, đạo diễn Jorgensen kể với báo chí.
 

 

Lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Larry Burrows/LIFE.

Kiểm chứng Cũng theo đạo diễn việc xét nghiệm DNA giữa Robertson với bà Jean là không cần thiết vì bà khẳng định chắc chắn đó là em trai mình. Việc xét nghiệm DNA của Robertson với vợ và hai con ở Mỹ đã được đề nghị. Vợ con của Robertson đã đồng ý nhưng gần đây lại đột nhiên từ chối.
 
Theo giải thích của nhà làm phim thì do ám ảnh chiến tranh và sự việc trôi qua quá lâu có thể hai con gái của Robertson nhất thời chưa muốn biết về người cha của mình. Hugh Tran, sỹ quan cấp cao cảnh sát Mỹ gốc Việt ở Edmonton, đã tháp tùng nhà làm phim Jorgensen và cựu binh Tom Faunce sang Việt Nam gặp cựu binh Robertson để làm phiên dịch.
 
Theo Hugh Tran, cựu binh Robertson nói giọng như một người Việt bản địa, không có dấu hiệu nào của một người Mỹ qua giọng nói. “Để nói với các bạn sự thật, sau khi tôi phỏng vấn ông ấy lần đầu tiên, tôi tin tới 90% rằng ông ấy là cựu binh Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam”, ông Tran chia sẻ. Tuy nhiên, ông Tran thừa nhận mình vẫn còn một chút hoài nghi.
 
 Theo bộ phim, cựu binh Robertson đang sống ở Việt Nam và không muốn rời đi, ông chỉ có một ước nguyện được gặp gia đình Mỹ một lần trước khi chết.

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link