Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, May 4, 2013

Khi lạm phát cao hơn tăng trưởng


 

Khi lạm phát cao hơn tăng trưởng


Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2013-05-03

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này



Hang-hoa-trong-sieu-thi-305.jpg

Hàng thủy sản bán trong một siêu thị ở Hà Nội hôm 12/04/2013.

RFA

 

Số liệu lạm phát mới được Tổng cục Thống kê công bố cuối tuần trước cho thấy, lạm phát tháng 4 xuống thấp nhất trong vòng 7 tháng qua và cũng là mức thấp nhất trong vòng 9 năm, xuống mức 6,61% và cả năm khoảng 7%.

Đây liệu có được xem là tín hiệu đáng mừng hay không, khi tốc độ tăng trưởng của năm nay được dự đoán chỉ ở mức 5,5%?

Chính phủ: nhiều dấu hiệu bi quan


Cùng với những thông tin về lạm phát và tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước hồi đầu tháng cũng cắt giảm lãi suất chiết khấu từ 8% xuống 7%, đây là lần cắt giảm liên tục thứ 7 chỉ trong vòng hơn 1 năm trở lại đây, một động thái mà Chính phủ muốn ngân hàng tăng cho vay và kích thích tiêu dùng, sau khi nền kinh tế rơi vào tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong vòng 13 năm, ở mức 5.03% toàn năm 2012.

Điểm đáng nói ở đây là tốc độ lạm phát giảm không phải do một chính sách đúng đắn, bởi theo phân tích của Phó Chủ nhiệm Ủy ban các Vấn đề Xã hội Bùi Sỹ Lợi thì “chỉ số CPI không thể tăng được vì cung lớn hơn cầu, giá có rẻ dân cũng không có tiền để mua chứ không phải do kiềm chế lạm phát tốt.

Chỉ số CPI không thể tăng được vì cung lớn hơn cầu, giá có rẻ dân cũng không có tiền để mua chứ không phải do kiềm chế lạm phát tốt. - Ô. Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các Vấn đề Xã hội

Với nhận định do mất mãi lực chi tiêu nên giá tiêu dùng sụt giảm, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành phân tích có nhiều điểm tương đồng với nhận xét của ông Bùi Sỹ Lợi:

Số doanh nghiệp phá sản tăng thêm nữa, tình hình hoạt động kinh tế bị đình đốn. Chúng ta thấy rằng có hàng triệu người bị thất nghiệp, mất mãi lực mua bán và các doanh nghiệp bị tồn kho rất nhiều, bán hàng không được, tung ra bán không ai mua, bán một mua một cũng không ai mua, bởi vì dân chúng không còn tiền nữa, trong nền kinh tế không còn sức mua nữa.”

Lạm phát năm nay Chính phủ đang phấn đấu khoảng 7%, là một con số đẹp, song điều đó không đáng ngại bằng sức mua và khả năng chi trả của nền kinh tế nội địa bị thu hẹp.

Dưới góc độ vĩ mô, Ủy ban kinh tế của Quốc hội hồi tháng trước khi đánh giá về triển vọng kinh tế đã không ngần ngại đúc kết “thực tế cho thấy, tốc độ quay vòng của tiền tệ đã bị chậm đáng kể, phản ánh sự trì trệ của nền kinh tế và sự sụt giảm lòng tin của thị trường”.

lam-phat-250.jpg

Một chợ nhỏ ở Hà Nội hôm 28/04/2013. RFA PHOTO.

Trong đó bản báo cáo phân tích tín dụng tăng trưởng thấp hơn nhiều so với mục tiêu, dòng tín dụng “bị kẹt” do nợ xấu, dù tổng phương tiện thanh toán tăng trưởng cao và tính thanh khoản khá dồi dào.

Trên cả góc độ vi mô lẫn vĩ mô đều cho thấy nền kinh tế bị hụt hơi một cách đáng kể, do đó lạm phát thấp khá dễ hiểu, nguyên nhân chủ chốt: người dân cạn kiệt tiền để chi tiêu, còn tốc độ vòng quay tiền tệ cung ứng cho doanh nghiệp lại đình trệ, vì thế số doanh nghiệp “chết lâm sàng” tăng không ngừng là điều khó tránh khỏi.

Trong phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế sáng 26/4, nguyên Thống đốc Ngân hàng Cao Sỹ Kiêm đã không e ngại khẳng định tình trạng nền kinh tế từ 2010 đến nay ngày càng đi xuống.”

 

Người dân: phải cắt giảm chi tiêu


Trong khi lạm phát được đánh giá là thấp, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế lại còn thấp hơn, những hình ảnh này được thấy khá rõ qua những chia sẻ về cuộc sống khó khăn của người dân và tình cảnh bấp bênh của các doanh nghiệp đang hoạt động.

Trao đổi với chúng tôi, chủ một doanh nghiệp về sản xuất thức ăn chăn nuôi gia cầm trên địa bàn Hà Nội, anh Nguyễn Văn Tân cho biết:

“Ngân hàng Nhà nước vừa qua đã có chính sách giảm lãi suất, đó cũng được coi là tin mừng của nền kinh tế, nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp của chúng tôi tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp ấy thì vẫn còn rất khó khăn.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước thì lượng tiền gửi vào nhiều, nhưng không hiểu vì lý do gì mà việc DN tiếp cận vay lãi suất khó khăn. Phải chăng có câu hỏi đặt ra là Ngân hàng Nhà nước tổ chức các cuộc đấu thầu vàng và các Ngân hàng Nhà nước cũng rất hăng say với chương trình đấu thầu vàng.

Chi tiêu hàng ngày thôi, chứ còn không dám nói đến mua sắm đồ đạc nữa, cho nên cuộc sống bây giờ rất phải tằn tiện.- Bà Thu Hồng, Cầu Giấy-Hà Nội

Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Thương mại vẫn mải mê theo đuổi cơn sốt vàng, có lẽ vàng mới mang lại hiệu quả to lớn cho các ngân hàng, mà họ quên mất rằng việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp là hỗ trợ cho nền kinh tế. “

Trong khi đó, bà Thu Hồng, nhà ở quận Cầu Giấy cũng cho rằng, do tình hình kinh tế không mấy sáng sủa nên bản thân hai vợ chồng với khoảng 5 triệu đồng/tháng lương hưu, cũng phải cắt giảm nhiều khoản chi cho gia đình, bà cho biết:

“Tôi đi làm đã hơn 30 năm, bây giờ về hưu, đồng lương hưu nói chung không đủ cho cuộc sống này, hai vợ chồng cùng về hưu, lương hưu chỉ có hơn 5 triệu mà đủ mọi thứ tiền, nào là tiền điện, tiền nước, tiền ga…

Rồi cho đến những tiền như xem vô tuyến, tiền này tiền kia, đến lúc cầm đồng tiền đi chợ thì như bị mất cắp.

Đó là chi tiêu hàng ngày thôi, chứ còn không dám nói đến mua sắm đồ đạc nữa, cho nên cuộc sống bây giờ rất phải tằn tiện.”

Giải pháp cho thời gian tới?


Người dân thắt chặt hầu bao, doanh nghiệp thì hạn chế đầu tư mở rộng, vì thế, bức tranh chung toàn bộ nền kinh tế vĩ mô xem ra cũng không sáng sủa hơn nhiều.

Trong diễn đàn kinh tế Mùa xuân mới đầu tháng tư, PGS.TS Bùi Tất Thắng, Viện Chiến lược phát triển không ngần ngại tổng quát “doanh nghiệp bi quan, nhà đầu tư không đưa vốn, người tiêu dùng không sẵn sàng chi tiêu nên tổng cầu và tổng cung năm nay khó cải thiện.”

Cũng tại cuộc họp này, T.S Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng tình hình kinh tế hiện tại rất chậm được cải thiện, nếu không nói là có xu hướng xấu đi trên nhiều phương diện, niềm tin vào sự vững chắc và triển vọng nhằm chặn đà suy giảm tăng trưởng vẫn còn rất yếu.

Theo T.S Thiên thì Việt Nam sẽ còn tiếp tục bất ổn nếu cứu loay hoay trong các giải pháp cứu chữa ngắn hạn, thay vì tạo ra thay đổi thực sự trong cơ cấu.

Chỉ rõ về những nhược điểm còn tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam năm 2013 và cần phải có những biện pháp giải quyết cụ thể, T.S Ngô Trí Long trong một lần trả lời với phóng viên Nam Nguyên của đài chúng tôi trước đây đã phân tích:

“Dự báo 2013 thì Việt Nam gặp một loạt những thách thức khó khăn mà đòi hỏi phải có những biện pháp xử lý rất cụ thể.

Thách thức thứ nhất là lạm phát có khả năng vẫn còn tiềm ẩn.

Thứ hai là nợ xấu vẫn ở mức cao. Thứ ba là hàng tồn kho lớn đặc biệt là tồn kho trong lĩnh vực bất động sản gây một ách tác rất lớn.

Thứ tư thì niềm tin vào thị trường cũng đã giảm thấp. Thứ năm là các doanh nghiệp tiếp tục khó khăn và sức mua giảm xuống rất thấp.

Vấn đề cuối cùng là Việt Nam còn chịu áp lực đột biến của thế giới với tác động mạnh mà sức chịu đựng thì chưa cao, phản ứng chưa cao.”

Có thể thấy kiểm soát lạm phát là điều cần thiết, nhưng cần phải có sự cân đối và đồng bộ trong cả chính sách tiền tệ và tài khóa, đặc biệt là cần giảm độc quyền trong kinh doanh, vì đây là nhân tố quan trọng gây tăng giá như giá điện, xăng dầu, giáo dục, y tế… và rất có thể tới đây là điều chỉnh tiền lương tối thiểu.

Riêng về chính sách tiền tệ và tài khóa, theo các chuyên gia kinh tế một trong những chính sách tiền tệ quan trọng là tăng mua ngoại tệ, bởi đây là biện pháp tăng cung tiền đồng cho nền kinh tế một cách lành mạnh và khả thi, cũng như vẫn giữ tỷ giá ổn định.

Trong khi đó, về chính sách tài khóa, các nhà cố vấn khuyến nghị rằng tiếp tục giảm thuế và phí để tào điệu kiện cho khu vực tư nhân có thêm những khoản tiền đầu tư, mở rộng sản xuất, như vậy mới góp phần cho sự tăng trưởng một cách bền vững và dài hạn.

 

 

Thư gửi Ngài Kimmo Lähdevirta – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hoà Phần Lan tại Việt Nam


 

 

Nguyễn Tuấn Linh - Thư gửi Ngài Kimmo Lähdevirta – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hoà Phần Lan tại Việt Nam

Nguyễn Tuấn Linh (nick Bát Trảm Đao)
Chia sẻ bài viết này
 
Kính gửi: Ngài Kimmo Lähdevirta – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hoà Phần Lan tại Việt Nam

Tôi là Nguyễn Tuấn Linh, công dân Việt Nam hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Bằng thư này, tôi xin được phản ánh với Ngài về thực trạng của dự án “ứng dụng Điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam” do chính phủ Cộng hòa Phần Lan tài trợ một phần lớn bằng nguồn vốn phát triển không chính thức ODA.

Ngày 05-03-2013, tôi có lên thăm xã Háng Đồng, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La và được thấy tận mắt việc thực hiện dự án “ứng dụng Điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam” tại xã Háng Đồng. Tại đây, tôi chỉ thấy rất nhiều hòm thiết bị của hãng NAPS để ngổn ngang ngoài trời mà không hề có mái che hay bất kỳ sự bảo quản nào mặc cho hư hỏng từ nhiều năm nay.

Xã Háng Đồng là một xã rất nghèo và đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Yên, Sơn La luôn phải cần đến sự hỗ trợ quyên góp, từ thiện của những người hảo tâm có điều kiện ở đồng bằng. Các trẻ em nơi đây phải sống trong điều kiện rất thiếu thốn về lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cũng như các điều kiện ăn ở và học hành. Việc dự án “ứng dụng Điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam” đã triển khai tới nơi đây nhưng không được lắp đặt mà để mặc cho hư hỏng từ nhiều năm qua là một sự lãng phí không thể chấp nhận được của Ban quản lý dự án cũng như những người tham gia vào việc giám sát, đánh giá chất lượng của dự án.

Tổng giá trị của dự án lên tới 7,920,739EUR trong đó phần vốn vay của Cộng hòa Phần Lan: 5,385,580 EUR là con số không hề nhỏ đối với một quốc gia nghèo khó như Việt Nam.

Chính Phủ Việt Nam hiện đã có số nợ công đạt mức kỷ lục 72.5 tỷ USD tính đến ngày 15-04-2013. Đóng góp vào phần lớn trong số nợ công này là các dự án vay vốn ODA tương tự như dự án “ứng dụng Điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam”. Nếu số vốn vay ODA này không được sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý sẽ gây tổn hại đến kinh tế vô cùng lớn cho đất nước và người dân Việt Nam chúng tôi.

Do vậy, với trách nhiệm của một công dân Việt Nam, tôi khẩn thiết đề nghị Ngài đại sứ cho kiểm tra tình hình thực tế việc triển khai, chất lượng và hiệu quả của dự án này, tránh để xảy ra tình trạng lãng phí như ở xã Háng Đồng, gây tổn hại tới lợi ích kinh tế cho nhân dân Việt Nam và mất uy tín của nhà tại trợ là Cộng hòa Phần Lan.
Tôi xin gửi kèm theo thư các tấm ảnh tôi đã chụp được tại xã Háng Đồng để Ngài tham khảo.

Rất mong có sự phúc đáp của sứ quán quý quốc trong thời gian sớm nhất có thể.
Xin chân thành cảm ơn Ngài đại sứ.

Nguyễn Tuấn Linh
_____________________________
Tham khảo
Những cuộc phiêu lưu của Bát Trảm Đao

Sơn La - những nẻo đường biên ải - P25

Ngồi nói chuyện với các giáo viên của trường, tôi cũng hiểu thêm ra nhiều vấn đề. Đặc biệt có một câu chuyện mà đối với tôi, nó là một sự thật quá phũ phàng, mặc dù ai cũng biết là xã hội giờ nó như vậy nhưng có vẻ ở đây, nó được phơi bày một cách quá trần trụi và không thể không bị lên án.

Có hai mẹ con người Mông đi hái củi về. Cũng phải nói thêm rằng xã Háng Đồng này, 100% là người Mông. Thông thường thì người Mông ở đây, phụ nữ không biết tiếng Kinh và tất nhiên là không biết chữ.
Cậu bé này không biết có được đi học hay không mà giờ này còn đang hái củi.

Một dãy lớp học cũ rất tuềnh toàng, nhìn xa tưởng là cái chuồng trâu vì hở hoang hoác.
Lớp học này chắc là còn sót lại từ rất lâu rồi.

Hôm trước, lúc chúng tôi ở Mộc Châu, khi nói chuyện với ông Trương Quang Nghĩa, Bí thư tỉnh ủy Sơn La thì được biết là ngày mai (6/3/2013) ông sẽ lên Háng Đồng để trực tiếp xem xét và làm việc với xã để có các chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời cho xã. Thế mới biết sức mạnh của truyền thông thật là kinh khủng.

 Chỉ một phóng sự nhỏ đã tạo nên một dư luận rất lớn và gây ảnh hưởng mạnh mẽ. Do vậy, khi chúng tôi đến đây, trường và xã đã chuẩn bị chu đáo để ngày mai tiếp đón đoàn của Bí thư lên làm việc.

Quay trở lại câu chuyện với các giáo viên của trường tiểu học Háng Đồng, trong khi tôi hỏi thăm về tình hình hạ tầng điện nước ở đây thế nào, các anh nhắc đến có một dự án về năng lượng mặt trời, đã được triển khai ở đây từ năm 2009.

    Thiết bị máy móc đã được vận chuyển lên nhưng không hiểu sao từ bấy tới giờ không thấy ai tới lắp đặt cả. Cả đống thiết bị cứ vứt ngoài trời giữa mưa gió nay chắc đã hỏng cả rồi. Tôi và mọi người trong đoàn rất tò mò và đề nghị anh cán bộ phòng giáo dục huyện dẫn tới xem đống thiết bị này ra sao.

Đi bộ chừng 5 phút thì chúng tôi đã tới chỗ tập kết thiết bị.

Cả một đống lớn đến gần chục hòm gỗ dán được xếp chồng lên nhau để trực tiếp dưới đất ở ngoài trời không hề có mái che, vỏ hòm đã mốc đen vì mưa nắng.

Những hòm gỗ được làm có vẻ rất công phu và đắt tiền này giờ thành chỗ để phơi giày dép.

Một cái nhãn giấy trên vỏ thùng gỗ.

Tôi tra thử trên mạng thì tìm được thông tin sau:
http://www.cema.gov.vn/modules.php?n...&mid=117449312
04/08/2009

Dự án "Ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam"
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong việc tìm kiếm, huy động nguồn đầu tư quốc tế nhằm hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, tháng 5/2000 Uỷ ban Dân tộc và Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam cùng Tập đoàn NAPS SYSTEMS (Cộng hoà Phần Lan) đã thỏa thuận xây dựng Dự án cung cấp điện mặt trời cho 300 xã đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn Chương trình 135 từ nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ Phần Lan.

Trong quá trình xây dựng dự án và căn cứ vào kết quả thực hiện dự án thí điểm tại vùng có số giờ nắng và chế độ cường độ bức xạ mặt trời thấp nhất của vùng dự án (xã ái Quốc, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), các bộ ngành, các nhà khoa học và địa phương đã thống nhất ủng hộ về tính cấp thiết, tính khả thi và quy mô đầu tư của Dự án.

Trên cơ sở đó, ngày 01/8/2003 tại Công văn số 1022/CP, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch mở rộng Dự án “ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam”, giao Uỷ ban Dân tộc là Chủ Dự án.

Tổng vốn đầu tư của Dự án giai đoạn I là 6,0531 triệu EURO - tương đương 102.902,7 triệu VND; trong đó: 5,385 triệu EURO thuộc nguồn tín dụng ưu đãi của Chính phủ Phần Lan với lãi suất 0%, thời hạn vay 17 năm (vay 12 năm và 5 năm ân hạn), các thành tố cấu thành không hoàn lại là 37%. Nguồn vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam đóng góp phần ngân sách là 01 triệu EURO.

Dự án “ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam” giai đoạn I đầu tư cho 70 xã đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn Chương trình 135, đồng thời là các xã mà theo quy hoạch điện lưới quốc gia không đáp ứng được sau năm 2010.
Mục tiêu của dự án là cung cấp điện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt công cộng và phúc lợi xã hội thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn Chương trình 135. Dự án sẽ góp phần tạo nên các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu nhằm nâng cao mặt bằng trình độ dân trí, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định tình hình dân tộc, và an ninh quốc phòng.

Dự án đầu tư hệ thống thiết bị đồng bộ cung cấp điện mặt trời kèm theo các phụ tải: Hệ điện trụ sở xã, trạm y tế, tủ lạnh bảo quản vaccine, nhà văn hoá xã, trạm nạp ắc quy và trạm thu-phát truyền hình qua vệ tinh.

Giai đoạn I của dự án được thực hiện ở 70 xã đặc biệt khó khăn thuộc các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc. Trong đó có 34 xã miền Trung và 36 xã miền núi phía Bắc. Các xã được lựa chọn theo các tiêu chí như: địa bàn nằm ngoài quy hoạch đầu tư điện lưới quốc gia, cấp điện bằng các dạng năng lượng tái tạo khác không thích hợp, chế độ bức xạ mặt trời từ 3,5kwh/m2/ngày trở lên, số lượng hộ gia đình và nhân khẩu, mục đích sử dụng phù hợp với mục tiêu của dự án.

Thời gian thực hiện từ quý II năm 2009 đến quý III năm 2010. Thiết kế kỹ thuật và thiết kế công suất các hệ điện mặt trời do chuyên gia Tập đoàn FORTUM kết hợp với chuyên gia Việt Nam, chính quyền và nhân dân các địa phương cùng hợp tác xây dựng theo nhu cầu thực tế (bao gồm cả việc tính toán sau 15 năm phát triển). Số lượng Module các hệ điện mặt trời cần thiết cho các hệ thống ở các xã miền Bắc và miền Trung, Tây Nguyên được thiết kế với công suất khác nhau do cường độ bức xạ mặt trời tại hai vùng này khác nhau nhằm tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo tối đa hiệu quả đầu tư của dự án.

Sau khi hoàn thành việc lặp đặt, các công trình Dự án sẽ được bàn giao cho chính quyền các cấp địa phương quản lý và khai thác sử dụng theo quy định quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và yêu cầu cụ thể khác của nhà tài trợ. Tổ quản lý công trình Dự án xã được thành lập để giúp Uỷ ban nhân dân xã quản lý vận hành hệ thống thiết bị. Trong tương lai, nếu các xã được đầu tư điện lưới quốc gia thì các công trình của dự án được chuyển về thôn bản của xã đó theo quyết định của địa phương và các yêu cầu khác về kỹ thuật.

Đối với vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp, dân cư phân tán, nhu cầu phụ tải nhỏ, và không có nguồn nước đảm bảo phát triển thủy điện thì ứng dụng điện mặt trời là giải pháp kỹ thuật tối ưu mang lại hiệu quả kinh tế nhất so với các giải pháp cung cấp điện năng khác. Dự án là động lực thúc đẩy nâng cao mặt bằng trình độ dân trí, thúc đẩy phát triển nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần ổn định tình hình dân tộc, bảo vệ môi trường và thực hiện công bằng xã hội. Dự án tạo ra động lực giúp đồng bào dân tộc thiểu số các xã đặc biệt khó khăn có thêm điều kiện thuận lợi trong tiến trình hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước.

Việc sử dụng nguồn năng lượng mặt trời cung cấp điện không có bất kỳ một tác động tiêu cực nào đối với môi trường, sinh thái khi so sánh với việc sản xuất điện từ các nguồn năng lượng hoá thạch như than đá, dầu mỏ...

Giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính khoảng 67.075 tấn khi so sánh với việc sử dụng các nguồn năng lượng hoá thạch khác nói trên. Đây thực sự là nguồn lợi kinh tế lớn của dự án mang lại trong việc bảo vệ môi trường sinh thái để các ngành liên quan hợp tác khai thác đầu tư trong khuôn khổ các dự án khác .

Dự án “ứng dụng Điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam” là dự án mang đầy đủ tính khả thi về kỹ thuật chuyên môn, mục tiêu, nội dung và địa bàn thực hiện. Dự án còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, nhằm tạo nên những công trình hạ tầng cơ sở, thực hiện quyền bình đẳng, tạo ra những cơ hội cho sự phát triển và góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa cũng như giúp đồng bào dân tộc thiểu số vùng dự án có thêm điều kiện thuận lợi trong tiến trình hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước.

Điện là một trong những hạng mục công trình cơ sở hạ tầng quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội đối với tất cả các vùng trong cả nước. Vì vậy mục tiêu điện khí hoá nông thôn đã được Chính phủ đặt thành một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển giai đoạn 2001-2020.

Đối với các xã vùng dự án là vùng miền núi cao có độ dốc lớn, không có nguồn nước để phát triển thuỷ điện; Số giờ nắng và chế độ cường độ bức xạ mặt trời lớn; Xa đường điện trung thế, địa hình đi lại phức tạp, đồng bào cư trú rải rác phân tán, phụ tải nhỏ; Khoảng cách từ trung tâm xã tới đường điện trung thế quá xa (từ 22 km trở lên) thì cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời là giải pháp tối ưu.

Hoạt động của dự án sẽ là một trong những nội dung quan trọng của Kế hoạch hành động năng lượng tái tạo quốc gia do Bộ Công Thương đang chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2001-2010.

ThS. Nguyễn Văn Thanh

Ngoài ra, tôi còn tìm hiểu thêm quyết định số 175/QĐ-UBDT của ỦY BAN DÂN TỘC do ông Giàng Seo Phử - bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc ký ngày 15-6-2010

http://cema.gov.vn/images/pdf/qd_175_2010_ubdt.pdf
Nội dung như sau:

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT LẠI BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHẢ THI CỦA DỰ ÁN “ỨNG DỤNG ĐIỆN MẶT TRỜI CHO KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM” BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM ỦY BAN DÂN TỘC

Căn cứ Nghị định 60/2008/NĐ-CP ngày 09/5/2008 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc;
Căn cứ Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Thông tư số 03/2009/TT-BXD ngày 26/03/2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;

Căn cứ Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/09/2009 của Bộ Xây dựng về việc công bố Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình;

Căn cứ Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước; Thông tư số 130/2007/TT-BTC ngày 02/11/2007 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước; Văn bản số 9878/BTC-QLN ngày 13/07/2009 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn cơ chế tài chính và thực hiện dự án điện mặt trời sử dụng vốn ODA Phần Lan;

Căn cứ Quyết định số 292/QĐ-UBDT ngày 25/09/2009 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về việc phê duyệt nội dung điều chỉnh Quyết định số 164/QĐ-UBDT ngày 17/06/2004 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về việc phê duyệt đầu tư dự án ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam; Văn bản số 1903/BCT-NL ngày 25/2/2010 của Bộ Công thương về việc tham gia ý kiến về điều chỉnh, bổ sung Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án ứng dụng điện mặt trời;

Căn cứ hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam do Trung tâm tư vấn xây dựng điện lực I lập;
Xét đề nghị của Ban quản lý dự án điện mặt trời về việc Phê duyệt lại Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam tại tờ trình số 263/TT-BQLDA ngày 08/6/2010; của Vụ Kế hoạch - Tài chính tại tờ trình phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi (hiệu chỉnh) dự án ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam ngày 11/6/2010,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt lại Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án “Ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam” với các nội dung chủ yếu sau:
1. Tên dự án: Dự án Ứng dụng điện mặt trời cho khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam.

2. Chủ đầu tư: Ủy ban Dân tộc
3. Tổ chức tư vấn lập dự án: Trung tâm Tư vấn Xây dựng Điện lực 1 - Công ty Điện lực 1.

4. Chủ nhiệm lập dự án: Lê Kim Dũng.
5. Mục tiêu đầu tư xây dựng:
Mục tiêu của Dự án là cung cấp nguồn điện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt công cộng và phúc lợi xã hội thiết yếu cho các xã, thôn bản chưa có điện lưới quốc gia sau năm 2010, qua đó sẽ góp phần tạo nên các hạ tầng cơ sở thiết yếu nhằm nâng cao trình độ dân trí, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, ổn định tình hình dân tộc và an ninh quốc phòng.

6. Nội dung và quy mô đầu tư xây dựng:
Nội dung Dự án là đầu tư đồng bộ thiết bị cung cấp điện từ nguồn năng lượng mặt trời kèm theo các hệ phụ tải tại địa bàn của 70 xã thuộc 8 tỉnh, 20 huyện. Mỗi xã thuộc dự án được đầu tư đồng bộ với thiết bị thuộc các hệ điện mặt trời như sau:
a) Các xã Miền Bắc.
- Trụ sở các UBND xã Công suất: 600w
- Trạm Y tế xã Công suất: 400w
- Tủ bảo quản Vaccine. Công suất: 200w
- Nhà văn hóa xã (hoặc thôn, bản…). Công suất: 400w
- Trạm nạp ắc - quy. Công suất: 800w
- Trạm thu - phát tín hiệu truyền hình qua vệ tinh. Công suất: 600w

b) Các xã Miền Trung.
- Trụ sở các UBND xã Công suất: 400w
- Trạm Y tế xã Công suất: 300w
- Tủ bảo quản Vaccine. Công suất: 200w
- Nhà văn hóa xã (hoặc thôn, bản…). Công suất: 300w
- Trạm nạp ắc - quy. Công suất: 800w
- Trạm thu - phát tín hiệu truyền hình qua vệ tinh. Công suất: 400w
Thiết bị được nhập khẩu đồng bộ từ nước Cộng hòa Phần Lan và xây dựng cơ sở hạ tầng kèm theo để vận hành dự án (có phụ lục I tổng hợp khối lượng kèm theo).


7. Địa điểm xây dựng:
Dự án được xây dựng trên địa bàn 70 xã đặc biệt khó khăn thuộc 20 huyện trong 8 tỉnh khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam gồm miền Bắc: tỉnh Nghệ An 17 xã; Lai Châu 8 xã; Điện Biên 7 xã; Sơn La 5 xã; Cao Bằng 7 xã; miền Trung: tỉnh Quảng Ngãi 5 xã; Quảng Nam 19 xã; Quảng Bình 2 xã (có phụ lục II danh sách các xã kèm theo).

8. Diện tích sử dụng đất:
Diện tích sử dụng đất của 70 xã thuộc dự án vào khoảng 111.440 m2.
Mỗi xã yêu cầu diện tích sử dụng đất gồm khoảng 1.592 m2.

Trong đó:
- 12 m2 x 6 hệ điện mặt trời.
- 1.520 m2 cho vị trí cột ăng ten.


9. Các giải pháp kỹ thuật: Theo Báo cáo nghiên cứu khả thi kèm theo.
10. Loại, cấp công trình: Nhóm B.
11. Thiết bị công nghệ:

Hệ thống thiết bị năng lượng mặt trời và các phụ kiện lắp đặt kèm do Tập đoàn FORTUM NAPS cung cấp đồng bộ và thiết kế phù hợp theo điều kiện khí hậu miền Bắc và miền Trung của Việt Nam.

12. Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư:
UBND các huyện chỉ đạo các xã tham gia dự án có trách nhiệm bố trí kinh phí và kế hoạch giải phóng mặt bằng cho một số hạng mục phải sử dụng đất để thi công, đảm bảo không có tranh chấp đất đai, nhà cửa công trình trong quá trình lắp đặt các hệ pin mặt trời.

13. Tổng mức đầu tư: 197.273.931.255 đ (Tính trên cơ sở định mức, đơn giá, tỷ giá EURO tại thời điểm lập dự án tháng 6/2010 là: 24.906 VNĐ/1EURO).
Khoản mục chi phí VNĐ EUR
Tổng số 197.273.931.255 7.920.739
Trong đó:
- Chi phí thiết bị, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật: 144.505.558.428 5.802.038
- Chi phí xây dựng, lắp đặt: 27.838.085.872 1.117.726
- Chi phí quản lý dự án: 4.579.170.657 183.858
- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng: 6.429.785.615 258.162
- Chi phí khác: 6.357.280.008 255.251
- Chi phí dự phòng: 7.564.045.781 303.704


14. Nguồn vốn đầu tư: Tổng số: 197.273.931.255 VNĐ (7.920.739 EUR)
Trong đó:

* Vốn vay: 134.133.255.480 VNĐ (5.385.580 EUR)
* Vốn đối ứng: 63.140.670.880 VNĐ (2.535.159 EUR)


15. Hình thức quản lý dự án:
- Chủ đầu tư quản lý và điều hành dự án thông qua Ban quản lý dự án điện mặt trời ở Trung ương.

- Quản lý, vận hành sau đầu tư: Ủy ban nhân dân các xã dự án nhận bàn giao công trình từ Ban QLDA điện mặt trời và các đơn vị thi công sau khi đã hoàn thiện công tác thi công lắp đặt. Tại các xã thành lập tổ quản lý để quản lý, vận hành, bảo trì, sửa chữa, khai thác công trình một cách hiệu quả.

- Trong tương lai nếu các xã có điện lưới quốc gia ổn định thì các hạng mục công trình của dự án được chuyển về lắp đặt tại các thôn bản theo quyết định của địa phương, nhưng không làm thay đổi mục tiêu và nội dung của dự án.

16. Thời gian thực hiện dự án:
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2010.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định 164/2004/UBDT-QĐ ngày 17/6/2004 của Ủy ban Dân tộc.
Điều 3. Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Trưởng Ban quản lý dự án điện mặt trời, Vụ trưởng các Vụ thuộc Ủy ban Dân tộc, Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng dự án và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

_______________________________________________
Tóm lại thì đây là một dự án của Ủy ban dân tộc miền núi xây dựng trạm phát điện năng lượng mặt trời để phục vụ:
- Trụ sở UBND xã Công suất: 600w
- Trạm Y tế xã Công suất: 400w
- Tủ bảo quản Vaccine. Công suất: 200w
- Nhà văn hóa xã (hoặc thôn, bản…). Công suất: 400w
- Trạm nạp ắc – quy. Công suất: 800w
- Trạm thu – phát tín hiệu truyền hình qua vệ tinh. Công suất: 600w

Tổng giá trị của dự án là 197.273.931.255 đồng cho 70 xã đặc biệt khó khăn thuộc 20 huyện trong 8 tỉnh khu vực miền núi và dân tộc ở Việt Nam gồm miền Bắc: tỉnh Nghệ An 17 xã; Lai Châu 8 xã; Điện Biên 7 xã; Sơn La 5 xã; Cao Bằng 7 xã; miền Trung: tỉnh Quảng Ngãi 5 xã; Quảng Nam 19 xã; Quảng Bình 2 xã. Như vậy, chi phí cho 1 xã là 2.818.200.000 đồng (Hai tỷ tám trăm mười tám triệu hai trăm nghìn đồng)

Như vậy nghĩa là, cái đống thùng gỗ rêu phong mục nát vứt ở đây từ năm 2009 tới giờ (mới 4 năm) có trị giá là Hai tỷ tám trăm mười tám triệu hai trăm nghìn đồng.
Số tiền lớn như vậy sẽ đủ mua bao nhiêu bộ quần áo ấm, giầy dép, xây dựng được bao nhiêu lớp học, nhà ở cho lũ trẻ Háng Đồng này? Tại sao VTV1 chỉ lên quay phim lũ trẻ phải bắt chuột để có thịt ăn cơm, nồi cơm không có vung.. để mọi người đi quyên góp từng đồng một mang lên đây ủng hộ trong khi người ta đang vứt đi hàng tỷ đồng ở đây?
Nhìn các ký hiệu ghi trên vỏ thùng thì đây đều là hàng dễ vỡ và phải được đặt trong nhà, tránh mưa hoặc nước.

Thùng đựng trạm vệ tinh, công suất 600W

Tem nhãn của thùng được ghi đầy đủ thông tin.

Đây là đống cột ăng ten của trạm vệ tinh bằng thép không rỉ rất xịn được nhập khẩu từ Phần Lan của hãng NAPS mặc dù những thứ này thừa sức chế tạo ở trong nước.

Móng cột được làm dạng vít khoan giống kết cấu móng nhà chống lũ của Đồng Bằng sông Cửu Long chúng tôi vẫn làm xưa kia. Kiểu vít khoan này chỉ phù hợp với vùng đất sét chứ với địa hình núi đá thì có mà khoan vào mắt, không hiểu các vị khoa học kiểu gì mà lại cho thiết kế sử dụng cái này.

Nguồn: Blog Bát Trảm Đao
 

Đổi tiền, tin đồn hay sự thật?


 

 

Đổi tiền, tin đồn hay sự thật?


Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2013-05-01

 



Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

RFA


Trong vài tuần lễ vừa qua tin đồn trong dân chúng cho rằng sẽ có cuộc đổi tiền sắp tới đã buộc Ngân hàng Nhà Nước phải chính thức lên tiếng xác nhận không bao giờ có chuyện đổi tiền ít nhất trong lúc này. Bên cạnh đó Bộ công an cũng chỉ thị điều tra chú ý nguồn tin đồn này để xử lý. Mặc Lâm tìm hiểu thêm chi tiết.

Đổi tiền theo kiểu CHXHCNVN

Tính cho tới nay Việt Nam đã có tổng cộng 5 lần đổi tiền, hai lần tại miền Bắc và ba lần tại miền Nam. Tại miền Bắc qua hai lần đổi tiền hầu như không có một cú sốc mạnh mẽ nào trong xã hội vì tình trạng phôi thai của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dẫn tới việc thành lập Ngân hàng Nhà nước năm 1951. Đồng tiền mới này thay thế cho giấy bạc tài chánh trước đó với tỷ giá 1 đồng năm 1951 bằng 100 đồng của năm 1946.

Lần đổi tiền thứ hai xảy ra vào năm 1959, lần này tỷ giá tăng gấp 10 lần. 1 đồng của năm 1959 bằng 1.000 của năm 1951. Hai cuộc đổi tiền này cho thấy sự xuống giá của đồng bạc năm 1946 chỉ trong vòng 13 năm đã bị NHNN làm mất giá trị hoán đổi 1.000 lần.

Cho tới năm 1975 thì cuộc đổi tiền theo một mục đích khác: Thủ tiêu đồng tiền miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên đồng tiền mới lại có tình trạng phân chia vị trí địa lý rất khó hiểu. Khi Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất nhưng từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào, tờ 500 đồng miền Nam có tỷ giá bằng 1 đồng tiền giải phóng trong khi đó từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở ra Bắc thì 1.000 đồng tiền miền Nam lại chỉ bằng 3 đồng tiền giải phóng.

Rất nhiều gia đình không còn nhiều tiền để mà đổi vì hai lần trước hạn mức số tiền được đổi đã cào bằng tài sản tiền mặt của mọi người gần như bằng nhau. Kinh nghiệm đã buộc người dân mua vàng để dành khi cần đến. Đồng tiền do vậy không còn lưu hành nhiều trong nền kinh tế

Có lẽ mục đích phân chia địa lý này nhằm mở đường cho lần đổi tiền thứ 3 vào ba năm sau nhằm mục tiêu tấn công tư sản mà danh xưng chính thức là “cải tạo công thương nghiệp” ở miền Nam. Lần đổi tiền thứ hai đã đảo lộn toàn xã hội, không biết bao nhiêu gia đình tan nát bởi lần đổi tiền này để đến khi cuộc đổi tiền lần thứ ba xảy ra vào năm 1985 thì mọi sự không còn lạ lùng với người dân nữa.



Tiền thời Việt Nam Cộng Hòa (1966). RFA file

Rất nhiều gia đình không còn nhiều tiền để mà đổi vì hai lần trước hạn mức số tiền được đổi đã cào bằng tài sản tiền mặt của mọi người gần như bằng nhau. Kinh nghiệm đã buộc người dân mua vàng để dành khi cần đến. Đồng tiền do vậy không còn lưu hành nhiều trong nền kinh tế để nhiều năm sau đó cả nước chìm vào khủng hoảng kinh tế dẫn đến việc đổi mới để sống còn.

Bây giờ là năm 2013, hai mươi tám năm sau lần đồi tiền thứ ba tại Miền Nam lại rộ lên tin đổi tiền và tin đồn ấy râm ran lúc mạnh lúc yếu nhưng không hề tắt.

 

Bà Phạm Chi Lan một chuyên gia kinh tế từng làm cố vấn cho văn phòng Thủ tướng Phan Văn Khải cho biết nhận xét của bà qua những tin đồn đổi tiền lần này:

Riêng về tin đồn đổi tiền thì tôi cho rằng nó xảy ra trong bối cảnh trước hết là từ ý kiến cho là Việt Nam nên đổi tên nước, lấy lại tên cũ ban đầu là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa riêng điều đó có thể bật lên trong đầu người ta cho rằng phải đổi rất nhiều thứ kèm theo trong đó có đồng tiền. Thứ hai nữa quan trọng hơn là về kinh tế, người ta cảm nhận được khó khăn của kinh tế hiện nay đặc biệt các vấn đề của hệ thống ngân hàng đang còn có rất nhiều vấn đề nghiêm trọng cộng với ý kiến đổi tên nước khiến người ta suy nghĩ đến tin đồn có thể có cơ sở.

người ta cảm nhận được khó khăn của kinh tế hiện nay đặc biệt các vấn đề của hệ thống ngân hàng đang còn có rất nhiều vấn đề nghiêm trọng cộng với ý kiến đổi tên nước khiến người ta suy nghĩ đến tin đồn có thể có cơ sở

 

Đổi tiền hay không thì chỉ có dân là thiệt

Ngân hàng Nhà nước đã vội vã lên tiếng. Ông Nguyễn Chí Thành – Cục trưởng Cục Phát hành và Kho quỹ Ngân hàng Nhà nước xác định với báo chí rằng sẽ không có việc đổi tiền vì nhiều nguyên do, trong đó theo ông Thành cho biết Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ tiền mặt trong lưu thông rất cao, để in được lượng tiền mặt như thế thì phải mất vài năm. Chi phí cho thực hiện kế hoạch đổi tiền như thế là vô cùng lớn. Do đó không thực hiện dễ như nhiều người suy diễn.



Tiền đồng của Việt Nam thời nay

Câu trả lời này khiến cho người dân thêm nghi ngờ. Đồng tiền Việt Nam đang lưu hành dù có nhiều bao nhiêu đi nữa nhưng nếu nhà nước lại hạn mức như những lần đổi tiền trước thì số tiền đổi cho dân chúng sẽ không phải là vấn đề quá lớn như ông Thành đưa ra. Nếu 1 đồng ăn 1.000 thậm chí 10.000 như thời gian đổi tiền năm 1959 thì NHNN sẽ dư sức có tiền mới để chuyển đổi.

Chính sách bán vàng đồng loạt hiện nay nhằm bình ổn thị trường vàng như NHNN trấn an dư luận thật ra đang gặp nhiều ý kiến chống đối của các chuyên gia kinh tế cũng góp phần vào sự nghi ngờ của người dân. Thị trường bất động sản đóng băng, nợ xấu tràn ngập các ngân hàng là những tiền đề khác làm người dân bất an, và tâm lý bất an này dẫn đến tin đồn tràn ngập việc đổi tiền là điều dễ hiểu.

 

TS Nguyễn Minh Phong trưởng phòng Nghiên Cứu viện Nghiên cứu khoa học xã hội Hà Nội cho biết nhận xét của ông:

Không phải vấn đề vàng mà phải đổi tiền và cũng không bao giờ có chuyện đổi tiền cả. Đó chỉ là tin đồn mang tính chất thất thiệt, một cái hàm ý nào đó nó không có thiện chí. Về mặt kinh tế cũng như về mặt các nguyên nhân khác thì không có cơ sở nào cho vấn đề đó cả. Ở Việt Nam thỉnh thoảng có những tin đồn thì cũng bình thường thôi nhưng không có sự liên hệ giữa hai việc quản lý vàng và tin đồn đổi tiền.

Dưới mắt các nhà kinh tế, nhìn các nguyên tắc điều hành kinh tế vĩ mô hiện nay thì việc đổi tiền là hoàn toàn không thể. Bà Phạm Chi Lan nhận xét:

 

Tôi không tin là nhà nước Việt Nam sẽ tiến hành đổi tiền bởi vì lần đổi tiền cuối cùng ở Việt Nam xảy ra trong cơ chế cũ kinh tế tập trung vào giữa thập kỷ 80 trong bối cảnh kinh tế hết sức khó khan, theo cách điều hành cũ dẫn tới điều hành giá lương tiền nó làm cho kinh tế thực sự rơi vào khủng hoảng.

Một lượng lớn vàng đang còn nằm kín đáo trong tư gia của các nhân vật cộm cán nhà nước. Vàng tỏ ra an toàn để cất vì không ai dại dột cất tài sản hối lộ do tham nhũng bằng tiền đồng VN. Nếu tiền được đổi một lần nữa thì vẫn không chạm được tới gia sản khổng lồ của họ

...một lượng lớn vàng đang còn nằm kín đáo trong tư gia của các nhân vật cộm cán nhà nước. Vàng tỏ ra an toàn để cất vì không ai dại dột cất tài sản hối lộ do tham nhũng bằng tiền đồng VN. Nếu tiền được đổi một lần nữa thì vẫn không chạm được tới gia sản khổng lồ của họ khi đã chuyển thành vàng khối.

Bài học đổi tiền lúc đó gây ra họa lớn cho kinh tế như thế nào đến bây giờ vẫn còn nhiều người chưa quên và đối với những người lãnh đạo hiện nay thì tôi tin là họ cũng hiểu những bài học cũ vẫn còn đó và đặc biệt là trong cơ chế kinh tế thị trường đã hình thành ở Việt Nam không thể thay đổi được thì không thể dùng biện pháp đổi tiền.

Trong khi NHNN tiếp tục tiến hành đấu giá vàng cho các ngân hàng thương mại thì nhiều người nhận xét rằng, một lượng lớn vàng đang còn nằm kín đáo trong tư gia của các nhân vật cộm cán nhà nước. Vàng tỏ ra an toàn để cất vì không ai dại dột cất tài sản hối lộ do tham nhũng bằng tiền đồng VN. Nếu tiền được đổi một lần nữa thì vẫn không chạm được tới gia sản khổng lồ của họ khi đã chuyển thành vàng khối.

Kinh tế Việt Nam đang trượt dài trong nhiều quý và điều này dù muốn hay không cũng tấn công lòng tin của người có tiền. Những đồng tiền lương thiện sẽ được đem ra mua vàng là điều hiển nhiên trong lúc này. Người dân cho rằng nhà nước có nói gì thì cũng không cản được sự mất tin tưởng của họ vì họ nhớ rất rõ, những lần đổi tiền sau năm 1975 không lần nào mà nhà nước không tuyên bố đó là tin đồn thất thiệt nhằm gây hoang mang trong dân chúng.

Những lời trấn an đè bẹp sự thật ấy đã làm mất niềm tin của dân chúng vì vậy không thể nói tại sao họ không tin lần này sẽ không có đổi tiền.

 



 

 

Kính Gửi Quí Vị.

 

Thưa các Bạn.

 

 Xin một phút lắng lòng cùng nhau tưởng niệm ngày cộng sản cướp Miền Nam tự do 30/4/1975:

 


 

The Soviet Story_ThuyetMinhViet_1/6



 

The Soviet Story_ThuyetMinhViet_2/6



 

The Soviet Story_ThuyetMinhViet_3/6



 

The Soviet Story_ThuyetMinhViet_4/6



 

The Soviet Story_ThuyetMinhViet_5/6



 

The Soviet Story_ThuyetMinhViet_6End



__._,_.___



Clip vui: Đổi tiền


Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link