Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, May 6, 2013

Chưa được giải phóng sau ngày "giải phóng"


 


Chưa được giải phóng sau ngày "giải phóng"


 

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-05-05

 

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này


05052013-blogs-tq.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

image.jpg

Công nhân kết hoa mừng ngày 30/4/2013 tại Hà Nội

AFP photo

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dù ngày 30 tháng Tư hôm thứ Ba tuần rồi – đánh dấu một biến cố lịch sử của VN – đã qua, nhưng những “dư âm” của thời điểm ấy xem chừng như hãy còn đậm nét trên nhiều trang blog, nhất là liên quan đến hậu quả mà dân tộc và quê hương VN phải gánh chịu – tới nay đã là 38 năm rồi – kể từ sau cái ngày gọi là “giải phóng” ấy.

Vị đắng tháng Tư


Qua bài “Tháng tư và Hòa Giải”, blogger Trần Khải nêu lên “câu hỏi mà “bên thắng cuộc” chưa bao giờ trả lời – hay không thể trả lời – là tại sao từ ngày gọi là “giải phóng” cho tới giờ đã 38 năm, người dân Việt vẫn chưa thực sự có tự do, dân chủ, nhân quyền ? GS Trần Khải nhận xét:

Cuộc chiến ý thức hệ tại Việt Nam đã kết thúc 38 năm. Trang sử chiến tranh trôi qua, trang sử trả thù và trấn áp khởi đầu. Tháng tư đã trở thành một dấu mốc để ghi dấu về một chuyển biến lớn, khi đất nước thống nhất xong, là một bức màn sắt buông phủ trên cả nước. Đó là những gì đã làm cho tháng tư trở thành một vị đắng, không chỉ đối với hàng trăm ngàn người bị đẩy vào các trại tù cải tạo nhiều năm, đối với hàng triệu người bị đẩy lên vùng kinh tế mới hiu hắt với chục ký gạo và cuốc xẻng, đối với nhiều thế hệ trẻ em Miền Nam bị kỳ thị giáo dục, đối với hàng trăm ngàn người thoát được qua những chuyến vượt biên đường biển và đường bộ…và bây giờ, ngay cả khi căm thù đã lắng xuống đối với nhiều người, câu hỏi chưa trả lời được từ phía người thắng cuộc là tại sao cuộc chiến này không đem lại tự do, dân chủ và nhân quyền sau gần 4 thập niên hòa bình ?

Blogger Ngô Minh nghĩ đến đất nước từ sau biến cố 30 tháng Tư 1975 đến nay đã 38 năm “thống nhất” nhưng thực tế cho thấy lòng người “chưa về một mối”, mà vẫn tồn tại hai thành phần là người “phe của cách mạng”, tức “phe thắng cuộc” và người mà bên thắng cuộc gọi là “phe nguỵ quân nguỵ quyền”. Sự phân biệt, kỳ thị như vậy, theo blogger Ngô Minh, khiến người dân không khỏi cho rằng nhà nước này là nhà nước của những người cách mạng, không phải là nhà nước của dân, nghĩa là “Nhà nước của một nửa”. Blogger Ngô Minh dẫn chứng:

Từ sau năm 1975 đến nay, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau đó là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã thi hành chính sách bắt những người có chức vụ trong chính quyền Sài Gòn và sĩ quan quân lực Sài Gòn, sĩ quan an ninh, tâm lý chiến đi “cải tạo” ở các trại tập trung. Thực chất là đi tù. Cải tạo lâu đến nỗi nhiều người vợ ở nhà lấy chồng khác. Khi ra khỏi trại thành kẻ lạc loài. Rồi chính sách cải tạo công thương nghiệp làm cho nhiều người điêu đứng phải vượt biên…Giả sử có một chính sách nhân đạo, hòa giải từ đầu thì đã không có chuyện hành trăm ngàn người vượt biên bỏ xác trên đại đương, gây nên một mối hận lớn trong xã hội, vì thế Nhà nước không phải của họ, mà nhà nước là của những người cách mạng.

Qua bài “38 năm – Nhà nước của một nửa”, blogger Ngô Minh “ phải nới thẳng rằng, 38 năm qua, Nhà nước cầm quyền đã không có được một chính sách xã hội thích đáng để hàn gắn vết thương lòng của dân tộc, tạo nên sự hòa họp, hòa giải dân tộc, mà nhiều khi còn làm cho tình trạng bất hòa tăng lên”.

Theo blogger Phương Bích thì “Thực ra sau chiến tranh, không phải tất cả người Việt ở 2 phía đều căm thù nhau. Nếu không có chuyện phân biệt kẻ thắng người thua, không có chuyện “trừng phạt” dẫn đến thảm cảnh hàng triệu người Việt Nam phải rời bỏ quê hương, gây nên oán thù suốt mấy chục năm qua làm chia rẽ lòng người, thì nước Việt ta biết đâu sẽ lớn mạnh chả kém gì nước Nhật, hay Mỹ?”. Blogger Phương Bích tin tưởng mạnh mẽ rằng “chả có thế lực thù địch nào bên ngoài nguy hiểm bằng chính sự tha hoá ở bên trong đang làm mục ruỗng đất nước VN”.

Liệu có thể hàn gắn?


Buu-dien-SG-01-250.jpg

Bưu điện Sài Gòn. RFA photo

Blogger Quách Hoàng Lân đã trỗi lên một “Đoản khúc buồn 30/4”, nêu lên nghi vấn rằng “Liệu chúng ta có thể hàn gắn được vết thương chiến tranh đã hằn sâu trong tâm hồn của người dân ở hai bên chiến tuyến ?”.

Theo blogger Quách Hoàng Lân thì sau cái ngày thống nhất đất nước - ngày mà “Bên thắng cuộc” gọi là “giải phóng” - đến nay đã 38 năm, “vết thương tâm hồn đó làm mưng mủ và làm đau nhói tim ta !”. Giữa lúc “bên thắng cuộc” tiếp tục “chè chén linh đình” để kỷ niệm cái ngày “giải phóng” ấy trong nỗi “quốc hạn” của “bên thua cuộc”, tác giả Quách Hoàng Lân của “Đoản khúc buồn 30/4” thắc mắc rằng liệu “ có thể hàn gắn được vết thương đó không khi mà cứ đến ngày này, bên chiến tuyến này vẫn linh đình kỷ niệm ‘chiến thắng’ một cách ngạo mạn, còn bên chiến tuyến kia lại ôm sầu của một ngày ‘quốc hận’ ?”.

Vẫn theo tác giả thì để hoà giải dân tộc, cần một sự “dũng cảm và quyết đoán của cả hai phía”, mà nhất là từ phía CS đang cầm quyền; họ “cần phải dũng cảm thừa nhận một cách thành thực rằng họ đã thắng trong chiến tranh nhưng đã thất bại trong hòa bình, trong điều hành đất nước. Và họ cần phải hòa giải chân thành bằng cách chia sẻ hay nhường lại quyền điều hành đất nước cho những người có tài năng và tâm huyết, bất kể đó là người thuộc chiến tuyến hay đảng phái nào”.

Lên tiếng với Đài ACTD, blogger Bùi Tín, cựu Đại tá quân đội Nhân dân VN cụ ngụ tại Paris, Pháp Quốc, bày tỏ thất vọng “ngay sau những ngày đầu vì không có được những hòa giải và hòa hợp”. Và ông “không tin Bộ Chính trị hiện nay nghĩ đến hòa giải và hòa hợp”.  Nhà báo Bùi Tín cho biết:

Phải thay đổi, có khi phải thay lãnh đạo thì mới có thể có tư duy mới để mà thực hiện hòa giải hòa hợp đã lỡ mất đến 38 năm…Hiện nay còn có những người bị tù 38 năm rồi vẫn còn trong tù, tôi nghĩ phải thả họ ra và nhân đó phải trả lại tự do cho tất cả anh chị em đấu tranh cho dân chủ. Từ anh Cù Huy Hà Vũ cho đến nhà báo Điếu Cày và một số anh em gần đây bị tuyên án. Phải trả tự do cho tất cả. Đó là biểu hiện của hòa hợp hòa giải. Thế nhưng tôi thấy lãnh đạo hiện nay đã quá sức của họ. Bây giờ họ tham nhũng quá rồi cho nên họ không muốn nhả ra nữa. Họ không muốn trả lại những gì họ đã lấy của nhân dân. Họ đã ăn cắp, ăn cướp đất đai tiền bạc của nhân dân cho nên họ không nghĩ tới hòa hợp hòa giải được nữa, đã quá muộn rồi.

Theo blogger Hahien thì sau gần 4 thập niên gọi là “giải phóng miền Nam”, chuyện hoà giải và hoà hợp thực sự vẫn chưa đến với dân tộc VN. Qua bài “ Nhân bàn về hoà giải dân tộc- Xin đừng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược!”, blogger Hahien nêu lên câu hỏi thẳng thừng rằng “ Bên chịu trách nhiệm chính ấy là ai nếu không phải là bên nắm được chính quyền trong phạm vi cả nước trong suốt 38 năm qua ?”.

Tác giả khẳng định “một điều không thể bàn cãi là một khi bên nào được đặt vào vị thế lãnh đạo nhà nước, tạm gọi là ‘bên thắng trận’, thì mọi điều hay dở, mọi thành công hay thất bại của quốc gia đều phải được quy trước hết vào trách nhiệm điều hành quốc gia của bên đó”. Blogger Hahien lưu ý:

Có thể nói rằng Nhà nước Việt Nam hiện tại vẫn chưa hoàn thành trách nhiệm chính của mình trước dân tộc khi hòa giải thực sự vẫn còn chưa đến với người Việt Nam, khi mà “38 năm nay mình vẫn nói là thống nhất đất nước” mà vẫn “chưa thống nhất được lòng người”, như chính lời của ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn thừa nhận.

Blogger Trần Khải nhận xét rằng “hoà giải, đối thoại…là ước mơ đẹp nhất có thể có trên đời này”, nhưng “than ôi, ngay với những người chết trong cuộc chiến đang nằm lặng lẽ ở Nghĩa Trang Biên Hoà cũng không được bình yên” thì nói chi đến chuyện “bên thắng cuộc” có thiện chí hoà hợp, hoà giải với người sống – là những người, theo lời GS Trần Khải, “có thể có ý kiến, có suy nghĩ và có khả năng tranh biện”. GS Trần Khải không quên nhắc tới những tấm bia đá được Văn Khố Thuyền Nhân VN trụ sở tại Úc thuyết phục chính quyền Indonesia và Malaysia cho thiết lập trên đảo Galang và Pulau Bidong chỉ để tưởng niệm hằng trăm ngàn thuyền nhân VN trên đường vượt biển tìm tự do đã không may nằm lại vĩnh viễn ở biển cả, rừng sâu hay tại ngay bến bờ tự do mà họ vừa đặt chấn đến; cũng như để bày tỏ lòng tri ân đối với hai chính quyền sở tại này đã cho thuyền nhân tá túc một thời gian trước khi họ đi định cư ở nước thứ ba, thì Hà Nội lại áp lực Indonesia và Malaysia “đập vỡ tan tành…thì nói làm gì tới hoà giải thật tâm”. GS Trần Khải khẳng định:

Hòa giải, đối thoại... đơn giản nhất là, chính phủ Hà Nội phải trả tự do cho những người tù bất đồng chính kiến. Và khi muốn đối thoại thực sự, cũng phải là đối thoại với đồng bào, trong đó, những người bất đồng chính kiến là một thành phần bất phân ly của dân tộc.

Tin, bài liên quan



SBTN và nhân quyền cho VN


 

FIDH kêu gọi EU ngưng thương thuyết tự do mậu dịch với Việt Nam


 

Tin tức / Việt Nam


FIDH kêu gọi EU ngưng thương thuyết tự do mậu dịch với Việt Nam




  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ



Hình ảnh/Video



Video

FIDH kêu gọi Châu Âu áp lực VN cải thiện nhân quyền



Video

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 2/5/2013


CỠ CHỮ 

02.05.2013

Liên đoàn quốc tế vì nhân quyền kêu gọi EU ngưng thương thuyết tự do mậu dịch với Việt Nam

Báo Bangkok Post, số ra hôm nay, tường thuật rằng Liên đoàn Quốc tế vì Nhân Quyền đưa ra lời kêu gọi vừa kể, nói rằng Liên hiệp Châu Âu (EU) nên ngưng thương thuyết một thỏa thuận mậu dịch tự do với Việt Nam để đánh giá tác động đối với giới lao động trong nước, và đối với nguy cơ về các vụ vi phạm nhân quyền.

Liên hiệp Châu Âu đã tìm cách thương thuyết một thỏa thuận mậu dịch tự do với ASEAN hồi năm 2007, nhưng các cuộc thương thuyết đã bị khưng lại vào năm 2009, đưa đến quyết định của EU bắt đầu thương thuyết với Việt Nam hồi năm ngoái.

Trong một thư ngỏ gửi đến các giới chức ở Bruxelles, liên đoàn này cảnh báo rằng “Liên hiệp Châu Âu có trách nhiệm bảo đảm các thỏa thuận mậu dịch của khối không tác động xấu đến nhân quyền ở nước ngoài.”

Liên đoàn Quốc tế tranh đấu cho Nhân quyền lập luận rằng “nhà chức trách Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền, đặc biệt là trong các lĩnh vực tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp và các vụ vi phạm liên quan tới các vụ tịch thu đất đai.”

Liên đoàn này nói những vụ vi phạm ấy chỉ có thể gia tăng trừ phi Liên hiệp Châu Âu đề ra những bước để đánh giá toàn diện tác động của các thỏa thuận mậu dịch đối với người dân không những chỉ ở Việt Nam mà trong toàn khối ASEAN.

Trong tháng Tư, Liên đoàn Lao Động Việt Tự do, một liên minh các tổ chức lao động trong và ngoài nước, đề cập tới các trường hợp phụ nữ Việt Nam bị lừa sang Mã Lai, đưa vào động mãi dâm, đã được tổ chức này giải cứu.

Bản tin của liên minh này trích báo chí trong nước, tường trình về nhiều vụ đình công của công nhân Việt Nam, như vụ đình công của hơn 2000 công nhân nhà máy Giầy Liên Dinh, ở Hải Phòng hôm 16 tháng Tư.

Theo Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền, EU phải hối thúc Việt Nam cải cách luật nội địa để bảo vệ những người dễ bị tổn thương, gồm những người lao động nghèo khổ nhất và nông dân, trước khi hoàn tất bất cứ thỏa thuận thương mại nào.

 

SBTN và nhân quyền cho VN


__._,_.___

NGU QÚA !!!!TỰ NHIÊN NHẬN MÌNH LÀ NGƯỜI « THIỂU SỐ » .THÊM 1 CÁI NGU NỮA


 

NGU QÚA !!!!TỰ NHIÊN NHẬN MÌNH LÀ NGƯỜI «   THIỂU SỐ » .

 


THÊM 1 CÁI NGU NỮA
ĐẠI HỘI DÂN TỘC THIỂU SỐ TC MÀ MÌNH GỞI NGƯỜI ĐI  DỰ THI....VẬY MÌNH LÀ AI ....?
 CÁI THẰNG NÀO PHỤ TRÁCH THỂ THAO PHIÁ VN, CHẮC NÓ KHÔNG ĐI HỌC,hoac <MUA BẰNG TIẾN SĨ ....DỔM >

ĐàNGU RỒI THÌ LÀM CÁI GÌ CŨNG NGU ! 1 LŨ VC NGU HƠN CON BÒ BỊ RƠI VÀO BẪY CỦA TC !!!

 

 

Khi nào VN tự nhận là Dân tộc Thiểu số cuả tầu?  Tai sao lai nhan minh la dan toc thieu so.?!!!...Dung la NGU

  Khai mạc Đại hội Thể thao Truyền thống Dân tộc Thiểu số Trung Quốc lần thứ 9; có cả VN tham dự!

Ai đã gởi đại diện VN tham dự Đại hội này cuả Tầu? Nguoi con gai mac ao dai khan dong la dan toc thieu so VN....?!!!!




Đại hội Thể thao Truyền thống Dân tộc Thiểu số Trung Quốc lần này đã thu hút được 6771 vận động viên của 55 dân tộc thiểu số Trung Côngc tuyển thủ sẽ tiến hành đua tranh trong 16 môn thi và 188 nội dung biểu diễn.

http://vietnamese.cri.cn/421/2011/09/11/1s161271_1.htm
Sự hiện diện của một người mặc ÁO DÀI KHĂN ĐÓNG trong số những dân tộc thiểu số đã nói lên được điều gì?!?!?!
Nước Việt Nam sẽ (đã) mất, Dân Tộc Việt Nam sẽ bị Hán hoá và sẽ trở thành một trong những dân tộc thiểu số của Trung Cộng!
 

Sự thật nằm sau "Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958"


From: Thập Ngv <
Date: 2013/5/4
Subject: Sự thật nằm sau "Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958"
To:



                            Sự thật nằm sau "Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958"

 

 

Mời quý vị đọc bài phân tích của Lê Quốc Trinh liên quan đến bức công hàm bán nước 1958 của Phạm Văn Đồng.

 


 

 

30/4: Sự thật nằm sau "Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958"

 

Lê Quốc Trinh (Danlambao) - "... Một vấn đề trọng đại như bức công hàm PVĐ 1958, đưa đến chiến tranh tương tàn, dân tộc ly tán, hơn 6 triệu người dân VN bị chia lìa, mất trắng cơ nghiệp, anh chị em, gia đình phân cách trong suốt 60 năm ròng, thì ngày 30/04 không thể nào được xem như là "một chiến thắng vinh quang", ngược lại đó chính là một dấu tích ô nhục cho tiền đồ một dân tộc..."

A - Lời mở đầu 

 

Bài viết này không có chủ ý biện hộ hay kết án cố thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự kiện "bức công hàm 14/09/1958 liên quan đến HS-TS", và cũng không muốn bàn tán thêm về chủ đề chủ quyền VN trên hai quần đảo này vì đã có quá nhiều luật gia và học giả khắp nơi ra sức tranh luận từ hơn 5 năm qua trong các trang mạng Internet. 

 

Bài viết xin phép được trình bày một cách nhìn khác trung thực và sâu xa hơn về vấn đề Biển Đông nói riêng và lịch sử cận đại VN nói chung, trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam nam giữ một vai trò chủ chốt vô cùng quan trọng.

 

B- Dẫn chứng lịch sử VN xung quanh bức công hàm PVĐ 1958

 

Những dẫn chứng lịch sử xung quanh sự kiện HS-TS không có nhiều, thật ra chỉ có hai văn kiện chính thức mà mọi người có thể truy tìm trên Google một cách dễ dàng, tôi xin phép được trích dẫn ra đây hai bản văn kiện tối quan trọng, đó là:

 

1) Văn kiện 1: Bức công hàm do cố thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 lên tiếng ủng hộ tuyên bố của chính phủ Trung Quốc liên quan đến giới hạn và khu vực hải phận của TQ. Văn kiện này chính ông PVĐ đích thân ký tên, mang quốc huy, quốc hiệu VCDCCH, con dấu chính phủ, và do chính tay cố ngoại trưởng VN Ưng Văn Khiêm trao tay cho người đồng nhiệm phía TQ. Sau do công hàm PVĐ được nhật báo Nhân Dân chụp ảnh, in ấn nguyên bản và đăng công khai để người dân miền Bắc biết. Tuy nhiên không hề thấy báo Nhân Dân chụp ảnh và đăng "bản tuyên bố chủ quyền đất đai và vùng hải phận của TQ" mà công hàm PVĐ đã ghi nhận.

 



2) Văn kiện 2:
 Bản tuyên bố chủ quyền quần đảo của TQ, giới hạn hải phận 12 hải lý (khoảng 22km) bao bọc bờ biển của đất liền (TQ), hải phận rộng 12 hải lý bao quanh các quần đảo trong vùng Biển Đông (trong đó TQ xác định HS-TS là thuộc chủ quyền của họ). Đi xa hơn nữa TQ còn xác định rõ ràng vùng hải phận xác định bởi những đường thẳng căn bản nối từ đất liền TQ đến các hòn đảo ngoài khơi (trong đó có HS-TS của VN). Bản tuyên bố này không mang quốc huy, quốc hiệu TQ, không mang chữ ký người gửi, không con dấu, không để tên người nhận và cũng không biết cơ quan truyền thông nào chịu trách nhiệm phát hành.

____________________________

 

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

 

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) 

 

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố: 

 

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa,quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 

 

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc. 

 

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc.

 

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 

 

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc 

 

(Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)

 

* Chú thích: 

 

Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands

Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

_____________________________

 

Tôi đã kiên nhẫn theo dõi suốt 6 năm qua, từ khi có cuộc biểu tình đầu tiên của người dân SaiGon tháng 11/2007 đòi hỏi chủ quyền HS-TS cho VN, đến nay rất nhiều học giả TSGS, luật gia VN hay ngoại quốc, trí thức Việt kiều hải ngoại thay phiên nhau tranh luận, chủ yếu chỉ dựa trên "Bức công hàm PVĐ 1958" để biện hộ cho ông và ra sức tranh cãi pháp lý quốc tế để giành lại chủ quyền VN trên hai quần đảo này. Tôi chưa thấy ai đề cập gì đến "Bản tuyên bố chủ quyền và hải phận của TQ 04/09/1958" và cũng không cung cấp gì thêm dẫn chứng lịch sử nào khác ngoài hai văn kiện đó. Do đó tôi có thể đặt giả thuyết rằng "Bản tuyên bố TQ 04/09/1958" có thật, tuy rằng hình thức không rõ ràng, nhưng nội dung yêu cầu thì rất ư chi tiết. Nếu chỉ bàn luận trên "Bức công hàm PVĐ 1958" mà không nhắc gì đến "Bản tuyên bố TQ 1958" thì theo tôi, quả là một thiếu sót rất lớn hoặc có thể là một mánh khoé đánh lạc hướng công luận nhằm che dấu một sự thật hệ trọng. Đó là lý do khiến tôi phải đọc đi đọc lại hai văn bản này hàng chục lần, hy vọng tìm ra manh mối dẫn dắt đến tình thế phức tạp của VN hiện nay trong vùng Biển Đông.

 

Sau đây là những phân tích của tôi, dựa trên nội dung và hình thức của hai bản văn kiện ngoại giao quan trọng đó.

 

1) Sai lầm nghiêm trọng

 

Bức công hàm PVĐ 1958 đã để lộ ra nhiều sơ hở chết người, quan sát kỹ chúng ta sẽ thấy:

 

a) Sơ hở về thời gian: Từ khi nhận được "Bản tuyên bố chủ quyền và hải phận TQ ngày 04/09/1958" cho đến khi PVĐ đặt bút ký "Bức công hàm ngày 14/09/1958" chỉ vỏn vẹn có mười ngày (10) ngắn ngủi, để quyết định một sự kiện lịch sử tối hệ trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia, đến vận mệnh dân tộc VN. Nên nhớ rằng thời kỳ đó miền Bắc VN và TQ kết thân nhau như anh em, cùng chung ý thức hệ CS, cùng chung giới tuyến chống đế quốc Mỹ, thế thì tại sao chính quyền Hà Nội chỉ được có 10 ngày để bàn bạc thảo luận? Phải chăng TQ đã ra một đòn cân não, áp lực chính trị nặng nề đến mức Đảng Cộng Sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh cầm đầu không còn biện pháp nào khác hơn ngoài sự ngoan ngoãn cúi đầu tuân lệnh? Phải chăng tình hình chính trị kinh tế xã hội bết bát của miền Bắc thời đó quá tồi tệ, lòng dân ly tán sau chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tàn sát hàng trăm ngàn người dân vô tội, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm tiêu diệt trí thức, sau khi hàng triệu nguời di cư vào Nam đi tìm tự do, chính sách Hợp Tác Xã bị phá sản hoàn toàn, miền Bắc VN túng quẫn, nạn đói đe doạ trầm trọng ép buộc chính quyền Hà Nội và ĐCS VN phải cúi đầu tuân lệnh ĐCS TQ để tiếp nhận viện trợ thực phẩm và nhu yếu phẩm? Thời gian trả lời chỉ có 10 ngày vỏn vẹn, không khác gì một kiểu "tối hậu thư" thúc ép Hà Nội phải trả lời nhanh cấp tốc. Buồn thay cho vận mệnh dân tộc VN!

 

b) Sơ hở về hình thức: Tại sao chính phủ VNDCCH phải sử dụng đến hình thức ngoại giao công khai chính thức rất ư nghiêm túc chỉ để trả lời một “bản tuyên bố vu vơ, một lá thư nặc danh không tên tuổi" đáng vứt vào sọt rác? Phải chăng đây là một mánh khoé chính trị, một cạm bẫy do ĐCS TQ giăng ra để ép buộc Hà Nội rơi vào vòng kiềm toả của họ? Tôi nghĩ thầm đến hai giả thuyết, như sau:

 

- Một là lãnh đạo TQ không muốn bị bẽ mặt nếu chẳng may chính quyền CS Hà Nội tỏ vẻ cứng đầu phản đối, hoặc cù cưa không trả lời;

 

- Hai là lãnh đạo TQ sử dụng đòn ngầm cưỡng ép miền Bắc phải trả lời công khai chính thức bằng văn bản ngoại giao, để sau này họ nắm trong tay đầy đủ chứng từ trưng ra trước công luận thế giới. Giả thuyết này ngày nay đã thành hiện thực, bản thân thế hệ trẻ sau này đành phải đưa đầu chịu báng, ngư dân VN tiếp tục bị tàu TQ xua đuổi, bị phá phách, bị cướp bóc ngay trong vùng hải phận VN.

 

c) Sơ hở về nội dung: Bức công hàm PVĐ 1958 không đề cập gì đến "yêu cầu chủ quyền của TQ trên hai quần đảo HS-TS". Đúng thế, đọc kỹ công hàm vắn tắt chúng ta không thể tìm ra được câu chữ nào dính líu đến "chủ quyền TQ trên HS-TS". Tôi thầm nghĩ ông Hồ và toàn thể BCT thời đó hãy còn trẻ, uy tín lẫy lừng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, họ không dại dột gì lấy trách nhiệm với dân tộc về vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên họ đã bị rơi vào cạm bẫy TQ khi công khai chấp nhận chủ quyền TQ trong vùng hải phận 12 hải lý (22km). Sơ hở này nghiêm trọng hơn vấn đề HS-TS vì lẽ bức công hàm mặc nhiên cho phép TQ độc quyền tung hoành trong Biển Đông bao la:

 

- Một: Công hàm cho phép TQ được quyền bao vây các hòn đảo thuộc chủ quyền VNCH (HS-TS, miền Nam ). TQ được quyền sử dụng mọi phương tiện quân sự để đánh phá những tàu bè VN đi vào các vùng hải phận này. Ai cũng biết rằng HS-TS có rất nhiều đảo nhỏ không lớn hơn 1km vuông, rất thấp, không có nguồn lợi kinh tế gì cả. Tuy nhiên hải phận 12 hải lý (22km) bao bọc mỗi đảo nhỏ chính là một vùng đặc sản kinh tế rộng lớn (hơn 1500 km vuông/mỗi đảo), chứa hải sản, hay mỏ dầu hoả chất lượng tốt. Đó chính là lý do tại sao hàng chục ngàn ngư thuyền TQ đang tranh nhau khai thác vùng biển trời cho này. Ngược lại ngư dân VN thì lại bị đánh đuổi, thậm chí muốn vào tránh bão cũng không được.

 


 

- Hai: Công hàm PVĐ 1958 đã mặc nhiên công nhận một vùng hải phận bao la (hơn 700,000 km2) ấn định bởi những đường thẳng căn bản nối liền từ bờ biển TQ đến tận các hải đảo ngoài khơi (trong đó có HS-TS). Mỗi đường thẳng căn bản này được TQ đòi hỏi có một hành lang rộng 12 hải lý (22km). Trân trọng mời quý vị độc giả quan sát bản đồ Biển Đông (đính kèm) để hiểu rõ thêm vùng hải phận bao la ấn định bởi những đường thẳng nối liền từ bờ biển TQ tới hàng chục đảo nhỏ của Trường Sa, nơi xa nhất (khoảng 1700km, chiều rộng ngắn nhất 400km, theo tỷ lệ của bản đồ). Chấp nhận vùng hải phận này do TQ yêu cầu, chính là chấp nhận thế bị bao vây, mọi con đường hàng hải từ VN đến Nhật Bản, Phi, Đài Loan hay Đại Hàn về hướng Đông đều bị ngăn cản. Đó chính là hàng rào chiến lược vĩ đại mà TQ hiện nay đang cố gắng nâng cấp lực lượng hải quân hùng hậu đứng thứ 2 thế giới, nhằm bao vây Việt Nam. Trong tương lai VN không còn đất đứng, đành phải chịu thân phận "một vùng tự trị giống như Tây Tạng".

 

- Ba: Đừng thắc mắc tại sao TQ ngang nhiên đem tàu chiến xâm phạm HS-TS đánh chìm tàu hải quân VNCH (miền Nam) năm 1974, đừng trách cứ Hoa Kỳ tại sao bỏ rơi miền Nam, vì nhân dân Mỹ đã quá chán ngán với chiến cuộc VN, mà hãy trách cứ tại sao ĐCS VN đã cúi đầu công nhận chủ quyền TQ trong một vùng hải phận bao la (hơn 700,000 km2) rộng hơn gấp hai lần lãnh thổ VN. Tình thế khó khăn của dân tộc VN hiện nay trong Biển Đông chính là hệ luỵ từ bức công hàm PVĐ 1958. Công pháp quốc tế có ba đầu sáu tay cũng không thể nào cãi lại với chính quyền TQ khi họ chìa "bức công hàm PVĐ 1958" ra làm bằng chứng.

 

c) Sơ hở về chiến lược: Lý do gì ĐCS VN không cho phép nhật báo Nhân Dân trích dẫn"Bản tuyên bố TQ 04/09/1958" mà công hàm PVĐ đã nhắc đến ? Đây là một thiếu sót vô cùng hệ trọng. Ngày nay có ai dám đứng ra cãi rằng "Bản tuyên bố TQ" tìm thấy trên Google là giả tạo ? Có ai dám lục hồ sơ chính phủ VNDCCH năm 1958 để đem "Bản tuyên bố TQ thật" ra đối chất ? Bức công hàm PVĐ 1958 đã hiện rõ bộ mặt thật của lãnh đạo ĐCS VN: đó là bản chất lừa dối, dấu diếm sự thật, lập lờ đánh lận con đen để lừa phỉnh quần chúng. Hành vi mập mờ này chứng tỏ toàn thể Bộ Chính Trị ĐCS VN bị dồn vào thế thụ động phải tuân thủ mệnh lệnh Bắc Kinh, nhưng để trốn tránh trách nhiệm họ đã nhắm mắt ngậm miệng để cho cố thủ tướng PVĐ đứng ra chịu tội, sau này búa rìu công luận sẽ nhắm vào cá nhân ông PVĐ mà quên đi rằng toàn thể lãnh đạo ĐCS VN chính là thủ phạm. Những ai từng sống dưới chế độ vô sản chuyên chính hiểu rõ nguyên tắc bất di bất dịch "Đảng lãnh đạo / Nhà Nước quản lý / Nhân Dân làm chủ". Do đó trách cứ đổ lỗi cho ông PVĐ là sai hoàn toàn. Tôi chỉ buồn là vào thời kỳ đó, toàn bộ lãnh đạo ĐCS VN hãy còn sung sức và uy tín rất cao, và đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu rồi, sao không thấy lên tiếng về quyết định trọng đại này? Lòng yêu nước của những người lãnh đạo VN đã bị chủ nghĩa giáo điều CS bào mòn, trở nên khiếp nhược trước áp lực của quân xâm lược Bắc Kinh. 

 

C- Kết luận:

 

Thật không dễ chút nào cho một kiều bào hải ngoại như tôi muốn tìm hiểu lịch sử cận đại VN, khi mà có quá nhiều dấu diếm, tuyên truyền dối trá nhằm che đậy sự thật do ĐCS VN cố tình gieo rắc gây hoang mang nghi kỵ. Nói theo lời anh Nguyễn Ngọc Giao (báo Diễn Đàn) rằng "ba thế hệ dân tộc VN đã bị ĐCS VN cho ăn cháo lú suốt hơn 60 năm ròng", sách giáo khoa đã bị bóp méo nhằm mục đích đào tạo một thế hệ "nô dịch" phục vụ cho mưu đồ Hán hoá, làm hao mòn tinh thần yêu nước bất khuất của nòi giống Lạc Việt mà tiền nhân đã đổ biết bao xương máu để kiến tạo nên một đất nước oai hùng chống xâm lược không mỏi mệt. 

 

Không thể nào nói chuyện "hoà hợp hoà giải dân tộc" khi mà chủ nghĩa giáo điều CS là kim chỉ nam cho mọi hành động, khi mà tất cả mọi danh từ nhằm vu khống cho cả triệu người dân miền Nam vô tội vẫn tiếp tục được sử dụng trên báo chí truyền thông "lề đảng", nào là: nguỵ quân, nguỵ quyền, nào là chi'nh phủ bù nhìn, nào là phản động, nào là phản quốc, Việt gian. Đến bây giờ nếu ai công tâm ngồi suy nghĩ kỹ và phân tích lịch sử nhân loại sẽ thấy ngay "kẻ phản quốc, phản động, bù nhìn, tay sai ngoại bang, nguỵ quyền" chính xác là tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam . Kẻ nào gieo Nhân thì phải hái Quả, kẻ nào gây Nghiệp ác thì phải lãnh nhận quả Báo, giáo pháp Nhà Phật không sai chút nào. 

 

Bài viết này mới chỉ nhằm phân tích tìm kiếm sự thật nằm sau "Bức công hàm PVD 1958". Những hệ luỵ do bức công hàm PVĐ 1958 gây ra cho dân tộc VN suốt nửa thế kỷ dẫn dắt đến cuộc chiến tranh tương tàn sẽ được phân tích ở bài viết sau. Một vấn đề trọng đại như bức công hàm PVĐ 1958, đưa đến chiến tranh tương tàn, dân tộc ly tán, hơn 6 triệu người dân VN bị chia lìa, mất trắng cơ nghiệp, anh chị em, gia đình phân cách trong suốt 60 năm ròng, thì ngày 30/04 không thể nào được xem như là "một chiến thắng vinh quang", ngược lại đó chính là một dấu tích ô nhục cho tiền đồ một dân tộc. 

 

Rất mong nhận được những phản hồi góp ý của quý vị độc giả bốn phương, trong và ngoài nước nhằm làm sáng tỏ vấn đề Biển Đông cho tương lai dân tộc Việt Nam .

 

Thành thật cám ơn,

 

30/04/2013

 

 



 

                                                                

                                                              

Xin khởi động cái "LINK" liền bên dưới để đọc các "Comments", nếu muốn

 


 

 

 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-20/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link