Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, May 6, 2013

Họa sĩ Ớt, tên hung thần của văn nghệ sĩ miền Nam




 

Họa sĩ Ớt, tên hung thần của văn nghệ sĩ miền Nam

 Trúc Giang


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng thống Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng

 



1* Mở bài

Sau ngày 30-4-1975, bọn Việt Cộng nằm vùng đều lòi mặt ra hết, trong đó, người hung hản nhất, gây kinh hoàng trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, là họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành. Tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, bí danh là Ba Trung, làm trưởng ban “chống tình báo CIA” của Sở Công An Thành Phố Sài Gòn.

2* Khủng bố văn nghệ sĩ

Chính họa sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành, chỉ huy những cuộc theo dõi, bố ráp, bắt giữ, thẩm vấn và giam cầm những văn nghệ sĩ nạn nhân, bị cho là gián điệp của CIA Hoa Kỳ. Đồng thời bỏ tù những tu sĩ Phật Giáo bị gán tội phản cách mạng.

Hai vụ điển hình là, “vụ án Thập nhị tăng ni Già Lam” và “vụ án Hồ Con Rùa” hay là “Những tên biệt kích cầm bút”.

ni cô Thích Trí Hải

2.1. Vụ án “Thập nhị tăng ni Già Lam”

Ngày 30-3-1984, vào buổi sáng, Hoà thượng Thích Trí Thủ chùa Già Lam, Phú Nhuận, được mời lên văn phòng Mặt Trận Tổ Quốc, Hòa thượng được cho nghe cuộn băng ghi tiếng nói của một tăng sinh bị bắt về “tội phản động”. Tăng sinh đó khai Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ, Thượng toạ Thích Trí Siêu và ni cô Thích Trí Hải là những người trong ban lãnh đạo của một tổ chức phản động, mưu đồ lập chiến khu gây bạo động.

Thượng toạ Tuệ Sỹ

Trong khi Hòa thượng Trí Thủ ở văn phòng Mặt Trận Tổ Quốc, thì tại chùa Già Lam, hai Thượng tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị bắt. Đồng thời, ni cô Trí Hải cũng bị bắt từ Hố Nai đưa về trung tâm thẩm vấn và tạm giam ở số 4 đường Phan Đăng Lưu.

Vài ngày sau đó, Hòa thượng Trí Thủ bị chết bất đắc kỳ tử, và thông tin nước ngoài cho rằng ông bị ám sát.

Trong đợt hành quân lớn, 19 tăng, ni, cư sĩ khác cũng bị bắt, giam đến ngày 30-9-1988, (4 năm) mới đưa ra tòa xét xử.

Hai Thuợng tọa Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu bị tòa kết án tử hình.

Hai án chung thân dành cho hai cư sĩ Phan Văn Ty và Tôn Thất Kỳ.

Hoà thượng Thích Đức Nhuận lãnh án 10 năm. Các vị khác bị từ 4 đến 15 năm.

Ngày hôm sau, 1-10-1988, báo Sài Gòn Giải Phóng loan tin, hai vị Tuệ Sĩ và Trí Siêu ngoan cố, không chịu nhận tội. Đó là “tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng Sản”.

Gs Trí Siêu Lê Mạnh Thát

Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật Giáo Việt Nam.

Thích Tuệ Sĩ, tục danh là Phạm Văn Thương, một học giả uyên bác về Phật Giáo. Là Giáo sư thực thụ của Đại học Vạn Hạnh, thông thạo tiếng Anh, Pháp, Trung Hoa, Nhật, Pali, Phạn và tiếng Đức.

Thích Trí Siêu là giáo sư, tiến sĩ, sử gia, thiền sư Lê Mạnh Thát.

Do áp lực quốc tế và sự vận động của người Việt ở nước ngoài, ngày 15-11-1988, Hà Nội phải mở phiên xử phúc thẩm để giảm hai án tử hình xuống còn 20 năm tù. Hai án chung thân giảm xuống còn 18 và 16 năm. Hoà thuợng Thích Đức Nhuận giảm xuống còn 9 năm tù.

Những cuộc bố ráp, bắt giam, thẩn vấn và kết tội là do họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành trực tiếp chỉ huy.

2.2. Vụ án “Hồ Con Rùa” hay “Biệt Kích Cầm Bút”

Vụ án “Hồ Con Rùa” đưa đến việc bắt bớ văn nghệ sĩ Sài Gòn.

“Biệt kích cầm bút” là cái tên do 2 đại tá VC, Tổng và Phó Ban biên tập tuần báo Công An Saì Gòn ghép tội cho các văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30-4-1975 để bắt bỏ tù họ.

Ngày 2-4-1984, một vụ nổ lớn dữ dội tại tháp Hồ Con Rùa ở ngã tư Duy Tân - Trần Quý Cáp thuộc khu vực nhà thờ Đức Bà quận 1 Sài Gòn. Báo nhà nước quy kết tội phá hoại, một người trong số chủ mưu thiệt mạng và những người khác bị bắt.

Sau vụ nổ, hơn 200 văn nghệ sĩ, nhà văn, giáo sư bị bắt đi tù. Người chỉ huy, điều động bắt bớ cũng chính là họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung. Những nhân vật nổi tiếng như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Sĩ Tế… Đặc biệt, Nhã Ca là nhà văn nữ duy nhất có tên trong danh sách “Mười Biệt Kích Cầm Bút”(BKCB) bị cầm tù trong cuộc hành quân lớn của công an Sài Gòn.

Mười “BKCB” gồm có: Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Khuất Duy Trác, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tư và Lý Thụy Ý.

Ban đầu, những văn nghệ sĩ miền Nam bị ghép vào tội “Gián điệp”, nhưng đến năm 1988, đổi lại thành tội “Tuyên truyền phản cách mạng”.

Vụ án văn nghệ sĩ Sài Gòn được công an in thành sách, dựng thành phim mang tên “Vụ Án Hồ Con Rùa”.

Tháng 9 năm 1988, nữ sĩ Nhã Ca, chồng là nhà văn Trần Dạ Từ cùng gia đình rời VN sang Thụy Điển, nhờ sự can thiệp của Văn Bút Quốc Tế (PEN International, PEN=Poets, Essayists &Novelists) phối hợp với Ân Xá Quốc Tế và sự bảo lãnh của thủ tướng Thụy Điển Ingvar Karlsson. Từ năm 1992, bà Nhã Ca định cư ở Cali, tiếp tục viết văn, làm báo, chủ nhiệm hệ thống Việt Báo Daily News tại Hoa Kỳ.

Thật ra, có một số bài viết được gởi ra nước ngoài. Luật sư Triệu Quốc Mạnh, một tên VC nằm vùng tại Nha Cảnh Sát Đô Thành, với cấp bậc đại úy, được chỉ định là luật sư biện hộ cho các văn nghệ sĩ, Mạnh nói với các nạn nhân: “Các anh viết bài gởi ra nước ngoài, dù chỉ than thở nghèo đói cũng là bôi bác chế độ. Các anh làm cho họ đau lắm. Các anh làm cho họ đau, họ bỏ tù các anh, như vậy là huề”. Luật sư biện hộ mà nói với thân chủ của mình như thế, thì biện hộ theo cái kiểu gì đây?

3* Ớt bị thất sủng và cái chết bất đắc kỳ tử

Sau thời gian gây kinh hoàng cho giới văn nghệ sĩ, khi thiếu tướng Trần Bạch Đằng, bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý, người đở đầu cho họa sĩ Ớt bị điều ra Bắc, và Hà Nội đưa người cài vào các cơ quan miền Nam, thì Huỳnh Bá Thành mất chỗ dựa, không còn tung hoành như trước nữa. Ớt đã từng tống tiền, bắt địa những người Hoa xin xuất cảnh ra nước ngoài, anh ta được xem như tay tổ tham nhũng, cũng giống như Năm Thạch, đại tá VC Nguyễn Văn Năm, làm giám đốc Sở công tác về người nước ngoài, số 161 đường Nguyễn Du, cấp giấy xuất cảnh cho các diện con lai, đi nước ngoài chữa bịnh và chương trình ODP, sum họp gia đình do thân nhân bảo lãnh. Năm Thạch vốn là VC nằm vùng, làm quản lý của đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga. Thạch là tay ăn hối lộ trắng trợn, nên bị Hà Nội cho người vào bắt ép phải tự tử tại nhà ở đường Công Lý, và công an mở cửa cho công chúng vào xem xác chết. Ngay sau đó, vợ con bị trục xuất ra khỏi nhà để đào bới tìm vàng chôn dấu.

Huỳnh Bá Thành bị thất sủng ngay sau khi người em đã vượt biên qua Mỹ. Anh ta đến nhậu tại nhà bạn bè và tâm sự như thế, cho biết anh muốn xin qua làm việc ở Công ty Du lịch, là nơi béo bở, có thể thu hoạch được nhiều tiền trong thời kỳ đó.

Anh ta tiết lộ về cuộc đấu trí với ông Doãn Quốc Sĩ. Ông Sĩ thấy bị động, nên làm đơn xin xuất cảnh “sang Úc”. Công an lờ đi, cho cấp xuất cảnh, cho phép được gặp phái đoàn Úc để phỏng vấn, mọi việc trơn tru. Ông Doãn Quốc Sĩ chỉ còn chờ được lên danh sách chuyến bay, xem như được thoát nạn 90%, nhưng bị Ớt vây bắt trên đường ra phi trường. Chính miệng hắn kể lại trong lúc nhậu nhẹt như thế.

Sau chuyến đi công tác qua Pháp, lý do là tổ chức màn lưới gián điệp, nhưng dư luận cho rằng có mục đích về tài chánh, như chuyển tiền ra ngoại quốc chẳng hạn. Khi về VN thì bị chết bất đắc kỳ tử, và tên đàn em thân tín, chuyên thu tiền cho sếp, là trung úy Sơn, người Quảng Nam, cũng chết với lý do mờ ám. Dư luận cho rằng Ớt bị thanh toán.

4* Họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành nằm vùng

Họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành là một “cơ sở” (1 người) trụ cột của cụm điệp báo A10, mục đích chính là tác động vào thành phần thứ ba do tướng Dương Văn Minh lãnh đạo.

4.1. Việc thành lập cụm điệp báo A10

Trong Hiệp định Paris năm 1973 có vai trò của Thành Phần Thứ Ba, nên CSBV muốn nắm thành phần nầy để tác động, gây ảnh hưởng, lèo lái, đó là lý do thành lập cụm điệp báo A10. Ngoài ra, cụm A10 còn thâm nhập vào các tổ chức đối lập như Phong Trào Chống Tham Nhũng của Linh Mục Trần Hữu Thanh và Hội Ký giả, cũng như các dân biểu đối lập.

Tại căn cứ Cây Dầu ở Campuchia, Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), và trùm tình báo VC Trần Quốc Hương (Mười Hương) quyết định cử Mười Thắng làm cụm trưởng cụm A10. Cái tên “A 10” lấy từ chữ An ninh (A) và 10 là Mười Thắng. A10 trực thuộc Ban An Ninh T4 (Sài Gòn-Gia Định) do Mai Chí Thọ phụ trách.

Trần Quốc Hương (Mười Hương) cho biết: “Trong căn cứ, tôi thường xuyên theo dõi và nghiên cứu báo chí đối lập, nhất là tờ Điện Tín, nên biết họa sĩ Ớt có tên là Hùnh Bá Thành là một họa sĩ có tài, thông qua các biếm hoạ mà dựng lên bản chất của nhân vật. Sau khi chỉ đạo, kiểm tra, xác minh, tôi chấp nhận đề xuất của Mười Thắng, đưa cậu Thành vào cụm A10.”

Huỳnh Bá Thành có mối quan hệ và ảnh hưởng trong giới trí thức, ký giả và các dân biểu đối lập.

Tháng 7 năm 1973, Huỳnh Bá Thành được móc nối lại trong cụm A10. Thành được kết nạp vào đảng năm 1968, nhưng do người chỉ huy bị bắt, nên mất liên lạc.

Cụm A10 gồm những người trẻ, đặc biệt là cùng gốc Quảng Nam- Đà Nẳng:

Cụm trưởng: Mười Thắng, 21 tuổi

Họa sĩ Ớt: 30 tuổi, làm việc tại báo Điện Tín, do cụu đại tá, nghị sĩ Hồng Sơn Đông làm chủ nhiệm, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận là chủ bút.

Ngô Văn Dũng, 22 tuổi, kỹ sư nông lâm súc, nằm vùng, là phụ tá của TS Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách kinh tế.

Võ Văn, 20 tuổi, hoạt động trong lõm chính trị Bảy Hiền.

Sau khi báo Điện Tín bị đóng cửa, Họa sĩ Ớt làm việc và ở ngay trong dinh Hoa Lan, nhà của Dương Văn Minh, số 58 đường Hồng Thập Tự, quận 1 Sài Gòn.

Những tên nằm vùng tại những cơ quan: Đài phát thanh Mẹ Việt Nam thuộc Tổng cục CTCT. Luật sư Triệu Quốc Mạnh, đại úy cảnh sát tại Nha Cảnh Sát Đô Thành (CSĐT), Mạnh được Dương Văn Minh (DVM) cử làm giám đốc Nha CSĐT. Trung úy VC Huỳnh Ngọc Thắng nằm vùng trong văn phòng Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục Tiếp Vận. 3 kỹ sư đện và điện tử tốt nghiệp Đại học Kỹ Thuật Phú Thọ, gồm Lương Mạnh Dũng, Bùi Sáu và Lê Ngọc Báu nằm vùng trong Phòng 7 TTM, thực chất là cơ quan tình báo kỹ thuật của Mỹ CDEC (Combine Document Exploitation Center). Họ đã cung cấp những tin tức vô cùng quan trọng.

4.2. Công tác của Huỳnh Bá Thành

1). Báo cáo tình hình và những nhân vật chính trị Sài Gòn

Từ ngày 14-3-1974 đến 2-1-1975, họa sĩ Ớt đã có 108 nhân vật được vẽ và bài viết trên báo, được xem như những báo cáo công khai cho cấp trên ở Cục R.

2). Kế hoạch sao chổi và Ngày Ký giả đi ăn mày

Ngày 22-9-1974, Tổng thống Thiệu thông qua một kế hoạch mang tên Sao Chổi, mục đích quét sạch VC nằm vùng và đối lập thân cộng. Đại úy Triệu Quốc Mạnh đánh cắp bản văn, chuyển qua cho Huỳnh Bá Thành (HBT). HBT đưa nguyên văn bản kế hoạch cho các báo đối lập đăng tải phổ biến ngày 1-10-1974. Làn sóng “căm phẩn” nổi lên, ngày 10-10-1974, hàng trăm ký giả xuống đường phản đối chính quyền, lấy tên là “Ngày ký giả đi ăn mày”.

3). Tác động chống “Chính phủ Thiệu mà không có Thiệu”

Mục đích là ngăn cản Trần Văn Hương làm Tổng thống. Trong kế hoạch đưa Dương Văn Minh (DVM) lên làm tổng thống, HBT “tác động” các dân biểu đối lập, đưa ra Bản tuyên bố, chống “chính phủ Thiệu mà không có Thiệu”. Bản tuyên bố được nhóm của HBT dịch ra tiếng Anh và Pháp, trao cho ký giả ngoại quốc, trong nước, và đại diện 40 đoàn thể tham dự buổi họp báo

ở Hạ Viện để tấn phong chức vụ tổng thống cho Trần Văn Hương. Cuộc biểu quyết bất thành. Trần Văn Hương từ chức, giao quyền lại cho Quốc hội.

4). Huỳnh Bá Thành ra mật khu nhận chỉ thị

Tháng 3 năm 1975, HBT đóng vai một người đi mua đất, vì sắp có hòa bình. Ăn mặc bảnh bao, áo kaki 4 túi, thuê xe máy cày đi vào mật khu Long Khánh để báo cáo và nhận chỉ thị của Mai Chí Thọ.

Huỳnh Bá Thành tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, sinh năm 1942 tại làng Khái Đông, huyện Hòa Vang nay là Hòa Hải quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẳng. Chết bất đắc kỳ tử năm 1993.

5* Ba ngày làm tổng thống của Dương Văn Minh

5.1. Ngày 28-4-1974

Lúc 15 giờ ngày 28-4-1975.

Tướng Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống. Nguyễn Văn Huyền được cử Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm phụ tá Tổng Tham Mưu trưởng cho Trung tướng Vĩnh Lộc. Sau khi Vĩnh Lộc bỏ nhiệm sở, Tướng Hạnh lên làm Quyền Tổng TMT. GS Bùi Tường Huân làm bộ trưởng Quốc phòng, Lý Quý Chung làm Bộ trưởng Thông Tin và Huỳnh Bá Thành (hoạ sĩ Ớt) làm Thứ trưởng bộ Thông tin. Triệu Quốc Mạnh giữ chức Giám Đốc Nha Cảnh sát Đô Thành.

Giáo sư Bùi Tường Huân là giáo sư Đại học Huế, không phải là quân nhân, nắm giữ Bộ Quốc Phòng, chứng tỏ không phải là một chính phủ chiến tranh.

Lúc 17 giờ ngày 28-4-1975

Phi đội với 5 chiếc A-37 do Nguyễn Thành Trung chỉ huy, ném bom phi tường Tân Sơn Nhất.

Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận cho biết, Tổng thống Dương Văn Minh giao cho ông nhiệm vụ đưa quân đến chiếm đài phát thanh Sài Gòn, để phòng ngừa tướng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chánh.

Đêm 28-4-1975

Hai đại tá phi công lái hai trực thăng phục vụ cho tổng thống, đậu trên nóc Dinh Độc Lập, đến gặp Tướng Minh, đề nghị đưa tổng thống, gia đình và ban tham mưu ra Đệ Thất Hạm Đội. Tương Minh trả lời: “Hai em có thể an lòng bay ra hạm đội. Bất cứ ai có mặt ở đây, muốn đi theo thì có thể đi. Tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy”.

Dương Văn Minh đưa gia đình đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân đường Phùng Khắc Khoan, vì sợ Nguyễn Cao Kỳ dội bom dinh Hoa Lan.

5.2. Ngày 29-4-1975

Thả tù binh Việt Cộng

Tổng thống DVM ra lịnh cho giám đốc cảnh sát đô thành Triệu quốc Mạnh, thả tù binh và tù chính trị VC, trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm.

Yêu cầu Hoa Kỳ rời khỏi VN trong 24 giờ.

Dương Văn Minh gởi văn thư cho đại sứ Graham Martin, yêu cầu cơ quan viện trợ HK DAO rời khỏi VN trong 24 giờ.

Lúc 16 giờ, chỉ huy cảnh sát các quận ở Đô thành tan rả, do lịnh của Triệu Quốc Mạnh cho phép họ về thu xếp việc gia đình.

Một phái đoàn do LS Trần Ngọc Liễng dẫn đầu, có Linh Mục Chân Tín và GS Châu Tâm Luân, vào trại David, thông báo cho Võ Đông Giang về chủ trương “không chống cự” của chính phủ Dương Văn Minh.

LS Trần Ngọc Liễng cho biết, Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ trưa ngày 29-4-1975.

Chiều ngày 29-4-1975, một nhóm người, trong đó có họa sĩ Ớt, Lý Quý Chung, Phan Xuân Huy và Đoàn Mai “tác động” DVM hướng về một thành phố bỏ ngõ.

Thích Trí Quang điện thoại trực tiếp với DVM: “Còn chờ gì mà không đầu hàng”.

5.3. Ngày 30-4-1975

6 giờ sáng ngày 30-4-1975

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên nắm quyền Tổng TMT, vì tướng Vĩnh Lộc bỏ ngủ.

Tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với TT/DVM về tòan bộ tình hình quân sự. Sau đó, TT/DVM, Nguyễn Hữu Hạnh và Nguyễn Hữu Có, đến phủ thủ tướng số 7 đường Thống Nhất.

Chính phủ Dương Văn Minh họp và quyết định “Không nổ súng và giao chính quyền lại cho chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Vũ Văn Mẫu soạn lời tuyên bố nầy.

9 giờ sáng ngày 30-4-1975

DVM đọc vào máy ghi âm.

Nguyễn Hữu Hạnh ban Nhật Lịnh cho quân đội. Tướng Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lịnh Quân Khu 4, yêu cầu thi hành lịnh của tổng thống trên đài phát thanh.

9 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975

Đài phát thanh Sài Gòn phát lời tuyên bố của TT DVM: “Đường lối của chúng tôi là hoà giải hòa hợp dân tộc. Yêu cầu tất cả anh em binh sĩ ngừng nổ súng. Ở đâu thì ở đó. Chúng tôi chờ gặp Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam VN để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Sau đó, từ dinh thủ tướng, Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh và Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập chờ bàn giao chính quyền.

11 giờ 30 ngày 30-4-1975

Xe tăng CSBV vào DĐL. Duơng Văn Minh và Vũ Văn Mẫu bị đưa tới đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, do trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203, Bùi Văn Tùng viết ra.


Xe tăng cộng quân tiến vào Dinh Độc Lập



Phạm Xuân Thệ (phải) đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh


Thư đầu hàng và chấp nhận đầu hàng, do Phạm Xuân Thệ và Bùi Văn Tùng soạn


Bức ảnh lịch sử do nhà báo Kỳ Nhân chụp tại thời điểm Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài phát thanh Sài Gòn


Thượng tá Quân đội Nhân dân Bùi Tín, bên phải, đang nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh. Người đứng cạnh ông Minh là Bộ trưởng Thông tin Lý Quí Chung, rồi đến Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.

6* Lời tường thuật của sĩ quan cận vệ thủ tướng Vũ Văn Mẫu

Lời tường thuật của sĩ quan Nhan Hữu Hậu, cận vệ của thủ tướng Vũ Văn Mẫu về ngày 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập.

Ngày 30-4-1975.

- “Tại phòng khách lầu 2 của Dinh Độc Lập (DĐL).

Tôi thấy GS Bùi Tường Huân, (Bộ trưởng Quốc Phòng), Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng), Lý Quý Chung (Bộ trưởng Thông tin) và một số người khác”

- Tại phòng làm việc của Tướng DVM

Bên ngoài có chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (Quyền Tổng TMT thay thế trung tướng Vĩnh Lộc bỏ nhiệm sở), đại tá Vũ Quang Chiêu (Chánh Võ phòng phủ tổng thống), đại tá Lê Thuần Trí (Chánh sở quân vụ), trung tá Võ Ngọc Lân.

Khoảng 12 giờ trưa ngày 30-4-1975.

Xe tăng Cộng sản vào DĐL mà không gặp sự kháng cự nào, vì 2 cửa cổng đã mở rộng từ trước. Trên tầng 2, đại tướng Minh, chuẩn tướng Hạnh (mặc quân phục), trung tá Võ Ngọc Lân và tôi (Nhan Hữu Hậu, sĩ quan cận vệ của thủ tướng Vũ Văn Mẫu) đứng chờ chuyện kế tiếp sẽ xảy ra.

Một cán binh mặc áo thun trắng, chạy thẳng lên lầu, hỏi trỏng: “Thằng Minh đâu rồi?”. Hắn hỏi như vậy 3 lần. Nhưng tướng Minh vẫn chắp tay sau đít, đi tới đi lui không trả lời.

Tôi chỉ vào ông và nói với hắn: “Tổng thống Minh đây nè”.

Tên cán binh ngó qua xong, rồi chỉ tay vào chuẩn tướng Hạnh, bảo cởi quân phục ra.

Tôi lấy áo sơ mi của tôi trao cho tướng Hạnh mặc tạm.

Sau đó…

Chúng tôi, gồm cả thành phần nội các chưa được tấn phong, bị gom lại trong phòng khách có lính canh bên ngoài. Ngoại trừ phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền dùng phương tiện riêng ra về trước khi bộ đội Cộng sản đến.

Bị nhốt một thời gian lâu, dân biểu Lý Quý Chung đến trước mặt tên bộ đội, tự giới thiệu, “tôi là thành phần thứ ba”, nhưng tên bộ đội hét lên: “Không có thành phần nào hết!. Ngồi lại kia!”

Trời đã xế chiều, bổng nhiên có tiếng súng nổ trong DĐL, liền tức thời, chúng tôi bị di chuyển xuống tầng hầm, nơi có đặt máy truyền tin, kế bên là một sân bắn, và một nhà kho trữ lương thực.

Một hồi sau, chúng tôi được lịnh trở lên phòng khách ở tầng hai, tên bộ đội giải thích: “Nhân dân vui quá nên đốt pháo ăn mừng”.

Chúng tôi bị giam cho mãi tới trưa ngày 2-5-1975. Một phái đoàn báo chí, có cả hảng truyền hình Đông Âu vào DĐL.

Suốt 2 ngày bị giam không cho súc miệng rửa mặt. Sau đó, chúng tôi được lịnh đi rửa mặt, chải đầu, vuốt sửa quần áo lại cho ngay ngắn, cho ngồi vào ghế, và được lịnh phải tươi cười để hoàn thành cuốn phim thời sự.”

Sĩ quan Nhan Hữu Hậu nhấn mạnh, khi xe tăng CSBV vào, thì 2 cửa cổng Dinh Độc Lập mở rộng. “Cộng sản đã lợi dụng đêm tối, cho đóng 2 cửa lại, rồi sau đó dàn cảnh cho xe tăng ủi sập để quay phim tuyên truyền, là hang ổ cuối cùng của ngụy quyền đã bị thanh toán”.

Họa sĩ Ớt và cụm A10 được cho là thành công trong nhiệm vụ vì không bị khám phá, nhưng thành tích thì không được biết đến một cách rộng rãi, và cũng không có ai được thưởng huy chương hay thăng chức cả. Họa sĩ Ớt mang cấp bậc đại úy sau ngày 30-4-1975.

8* Kết

Họa sĩ Ớt, một tên Việt Cộng nằm vùng, là một hung thần gây kinh hoàng cho văn nghệ sĩ miền Nam.

Có lẻ cựu đại tá, Nghị sĩ Hồng Sơn Đông, chủ nhiệm báo Điện Tín, Linh mục Trần Hữu Thanh, hội ký giả VN, và ngay cả tướng Dương Văn Minh cũng không biết được rằng mình đã bị Việt Cộng xỏ mũi, giật dây và bị lợi dụng, vô tình góp một phần lớn vào việc sụp đổ miền Nam nhanh chóng, sớm đưa dân tộc vào một chế độ độc tài tàn bạo Cộng Sản. Quý vị đã tiếp tay cho Việt Cộng.

Họa sĩ Ớt tác động vào Dương Văn Minh, nhưng có lẻ vai trò không quan trọng bằng chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh.

Về tướng Hạnh, Ban Binh vận và Địch vận của Trung Ương Cục miền Nam, đã cử người bác ruột của tướng Hạnh là Nguyễn Tấn Thành, một cán bộ VC có bí danh là Tám Vô Tư, “tiếp cận, bồi dưỡng” và giật dây, để Hạnh thuyết phục Dương Văn Minh, nếu lên làm tổng thống thì tìm cách kết thúc chiến tranh “có lợi cho nhân dân”. Vai trò của tướng Nguyễn Hữu Hạnh chỉ bắt đầu từ khi tướng Minh lên làm tổng thống, ngày 28-4-1975, ngày mà tướng Hạnh từ Cần Thơ tìm mọi cách lên Sài Gòn để gặp DVM.

Nhưng dù sao thì số phận của Việt Nam Cộng Hoà cũng đã định trước rồi, kể từ khi không còn súng đạn để bảo vệ đất nước.

Trúc Giang

NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI PHẢI LÀM GÌ TRƯỚC ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC :


 

NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI PHẢI LÀM GÌ TRƯỚC ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC : BÀI NÓI CHUYỆN CỦA ĐLT NHÂN NGÀY QUỐC HẬN 30.4. TẠI ODENWALD (ĐỨC)

 

Kính thưa Qúy Vị,

‘Người Việt Hải Ngoại Phải Làm Gì Trước Đại Họa Mất Nước’ là đề tài của chương trình hội thảo nhân ngày Quốc Hận năm nay tại Odenwald (Cộng Hòa Liên Bang Đức) dịp nầy, tôi hân hạnh đóng góp một vài thiển ý theo nội dung yêu cầu của Ban Tổ Chức.

Đã là người Việt Nam thì bất cứ ai cũng xem Tàu là kẻ thù của dân tộc với hơn một ngàn năm đô hộ trước đây, và ngày nay, bọn Tàu cộng đã thực sự quay trở lại cai trị nước ta do chủ trương của đảng Việt gian cộng sản.

 

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, dù bị một ngàn năm đô hộ, nhưng Tàu vẫn chưa làm chủ được hoàn toàn đất nước, nghĩa là chúng không thể đồng hóa dân tộc và biến đất nước chúng ta thành một chư hầu. Các vị anh hùng Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ, Hai Bà Trưng…và ông cha chúng ta đã vùng dậy đánh đánh đuổi quân Tàu Ô ra khỏi bờ cỏi, đem lại thái bình cho toàn dân và toàn vẹn lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.

 

Nhưng khốn nạn thay, ngày nay chính tập đoàn cầm quyền Việt gian cộng sản lại công khai bán đất nhượng biển và cúi đầu trải thảm rước bọn Chệt đỏ quay trở lại đô hộ. Lý do chính là đảng cộng sản muốn được Tàu bảo vệ ngôi báu để cai trị Việt Nam suốt đời, do đó chúng đã tình nguyện dâng biển bán đất và mưu đồ sát nhập đất nước của chúng ta thành một tỉnh nhỏ của Tàu cộng. Đúng vậy, nếu tất cả người Việt Nam, trong nước cũng như ngoài hải ngoại đều hèn nhác, chấp nhận nhục nhã và khoanh tay trước hành động bán nước của đảng cộng sản thì việc hợp thức hóa dân tộc và đất nước Việt Nam để trở thành một tỉnh nhỏ của Tàu sẽ công khai vào năm 2020 theo thỏa ước ngầm giữa băng đảng cộng sản Việt gian và quan thầy của chúng.  

 

Để đi vào phần chính đề tài thảo luận hôm nay, trước tiên, xin Quý Vị ghi nhận một điều, việc chống Tàu là bổn phận và trách nhiệm của tất cả mọi người Việt Nam. Nhưng nếu chỉ nói suông, thiếu thực tế thì hành động chống Tàu không đạt được mục đích và có thể vi phạm các điều khoảng qui định bởi luật pháp quốc tế. Vậy, nói riêng về người Việt Quốc Gia hải ngoại, chúng ta cần nhìn rõ vấn đề để tìm phương thức chống Tàu thế nào cho hữu hiệu, hợp với môi trường, hoàn cảnh, vị trí và khả năng hiện tại của mình. Nếu không, thì việc chống Tàu của người Việt hải ngoại chỉ là một trò ‘nước đổ đầu vịt’ mà chính đảng cộng sản tung ra để xáo trộn cộng đồng. Như vậy, chẳng khác gì người Việt hải ngoại chnúg ta đã dùng vũ khí của Việt gian cộng sản để tự mình đâm chém lẫn nhau !  

 

Khi nói đến việc chống Tàu thì mọi người đều tích cực tham gia. Nhưng cần phải biết là chống ở điểm nào để có thể đem lại thắng lợi so với tình trạng và hoàn cảnh cũng như vị trí của người Việt hải ngoại ? Việc chống Tàu là một sách lược chính trị thì cần phải suy nghĩ và hành động thực tế, hợp lý, hợp pháp, chứ không phải là một hình thức nói suông chạy theo thời sự. Điều quan trọng là những người có trách nhiệm phải nghiên cứu sự việc thật chính xác và cần nhất là đoán biết được những gì có thể xảy ra trong tương lai. Có thể nói rằng, người Việt hải ngoại có nhiều phương cách chống Tàu, nhưng hiện giờ, hằng ngày Quý Vị đều nghe hai thành phần nhỏ, nhưng lại lớn tiếng hô hào chống Tàu trên các diễn đàn. Một bên kêu gọi chống Tàu một cách mông lung, không có một kế hoạch hay chương trình hành động cụ thể nào. Và một bên khác thì đòi cầm cờ Vàng về Việt Nam để hợp tác với đảng cộng sản đi chống Tàu, trong đó phải nói đến một tổ chức chính trị lớn tạì hải ngoại mà hai Vị chủ tịch cũng như Phó đã công khai lên tiếng phải hợp tác và hòa giải hòa hợp với cộng sản để chống Tàu !

 

Thưa Quý Vị, tôi xin phép được đóng góp vài thiển ý với Quý Vị qua đề tài ‘Người Việt Hải Ngoại Phải Làm Gì Trước Đại Họa Mất Nước’. Dĩ nhiên, có thể ý nghĩ của tôi  không thích hợp với quan niệm của một vài người, nhưng mong Quý Vị lắng nghe để rồi bổ túc và chỉ dạy thêm để giúp tôi hoàn hảo hơn trong những lần nói chuyện trong tương lai.

 

Trước hết xin Quý Vị xác nhận một cách rõ ràng và dứt khoát rằng, chống Tàu cộng là việc tối cần thiết mà bất cứ một người Việt Nam nào cũng phải có bổn phận. Nhưng muốn chống phải Tàu bằng những hành động cụ thể thì người trong nước cũng như hải ngoại phải biết hành xử đúng vị trí và vai trò của mình :

 

Nói đến vị trí của người Việt hải ngoại, thành thật xin lỗi Quý Vị, là một điều đáng buồn khi nhìn vào thực tế : Việt Nam Cộng Hòa còn sống mãi trong lòng người Việt cũng như những Quốc Gia trong khối Tự Do, nhưng đối với dư luận quốc tế thì nước Việt Nam Cộng Hòa không còn tồn tại sau khi đầu hàng vô điều kiện, hơn nữa, chúng ta không chấp nhận chế độ cộng sản, bỏ nước ra đi tìm tự do như những người vô tổ quốc. Bây giờ người Việt hải ngoại mang nhiều quốc tịch khác, thì về mặt pháp lý, chúng ta không còn tư cách pháp nhân để nhân danh công dân của Việt Nam Cộng Hòa trước kia đứng lên chống Tàu một cách chính thức theo công pháp quốc tế. Nói một cách tổng quát, chúng ta là người Mỹ, người Pháp, người Đức, người Anh, người Úc…gốc Việt, không có vũ khí, không có quyền, không có khả năng tài chánh cũng như không đủ nhân lực để trở thành một lực lượng chống Tàu một cách hữu hiệu. Tóm lại người Việt hải ngoại chỉ là diện mà người trong nước mới chính là điểm trong vai trò chính của việc chống Tàu cộng. Nhưng người trong nước thì có đủ tư cách pháp nhân để công khai đứng lên chống giặc Tàu xâm lược một cách hợp pháp và hợp lý mặc dù chế độ cộng sản đang xử dụng kẽm gai nhà tù súng đạn để triệt hạ lòng yêu nước của người dân. Xin ghi nhận điều nầy, đảng cướp Việt gian cộng sản không phát sinh từ lòng dân, không ai bầu mà có, chúng là một bọn ô hợp cướp chính quyền và liên tục thay phiên cai trị đất nước, thì theo quy ước quốc tế, đảng cộng sản không có bất cứ một cái quyền gì đối với dân tộc và đất nước Việt Nam. Vậy chúng ta, người Việt hải ngoại, muốn chống Tàu thì phải hợp tác chặt chẽ với người trong nước, trước tiên giải thể toàn bộ đảng Việt gian cộng sản, sau đó mới tính đến chuyện chống Tàu. Đừng bao giờ tuyên truyền hoặc ngây thơ kêu gọi người Việt hải ngoại hợp tác với đảng Việt gian cộng sản để chống Tàu !

 

Theo quan niệm của tôi, người Việt Quốc Gia hải ngoại có thể chống Tàu một cách hữu hiệu và hợp pháp bằng bốn hình thức :

 

1. Hội thảo và biểu tình : Hội thảo để đóng góp ý kiến, hướng dẫn cho anh chị em trẻ cũng như là một hình thức làm sáng tỏ con đường chúng ta đang đi và biểu tình là một hình thức phản đối hợp pháp dưới chế độ tự do. Người Việt hải ngoại cần tận dụng hai phương tiện nầy để trình bày trước dư luận quốc tế về âm mưu đầu độc thế giới bằng hàng hóa và thực phẩm giết người. Ngoài ra cần tận dụng mọi phương tiện truyền thông để tố cáo trước công luận thế giới về mưu đồ xâm lược của Tàu cộng cũng như đảng Việt gian cộng sản đã bán nước có văn tự và có trả tiền. Riêng đối với các Vị dân cử cũng người người dân Mỹ, phải nói rõ cho họ biết, chính nhà cầm quyền Mỹ đã phản bội lại đồng minh VNCH và cũng chính quyền Mỹ đã thỏa hiệp bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Tàu cộng 1971 cũng như với Việt cộng qua Điều 22 Chương VIII của hiệp định Paris về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình Việt Nam sau ngày 27.01.1973 (*). Người Việt hải ngoại cần thông tin và vận động để họ phải biết rằng chính Mỹ trước kia đã thất hứa với dân tộc Việt Nam, thì bây giờ phải có trách nhiệm ủng hộ và yểm trợ chúng ta chống lại Việt cộng cũng như Tàu cộng…xem như một món nợ mà dân Mỹ cần phải trả.  

 

2. Tẩy chay các hàng hóa và thực phẩm do Tàu cộng sản xuất tại bản xứ hay mạo danh dưới tên của những quốc gia khác (Việt Nam, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Pháp, Nam Phi, Úc…)

 

3. Tuyệt đối không đi du lịch qua Tàu, không tổ chức ăn uống và nhảy nhót trong các nhà hàng hoặc xem phim bộ cũng như quảng cáo cho Tàu dưới bất cứ hình thức nào.

 

4. Yểm trợ người trong nước từ tinh thần đến vật chất để giúp đồng bào vững tâm và có khả năng đứng dậy, không còn sợ hải xuống đường chống Tàu cộng, đồng thời vận động chống luôn bọn bán nước là đảng Việt gian cộng sản. Đây là điểm quan trọng !

 

Vậy, tuyệt đối đừng tin và đừng nghe lời của thành phần nằm vùng, cò mồi, bọn hòa giải hòa hợp để chĩa mũi dùi độc nhất chống bọn Tàu đỏ mà không đá động gì đến đảng Việt gian cộng sản. Người Việt hiểu biết phải chọn đúng đối tượng để chống, nghĩa là phải ưu tiên chống ngay và chống trước bọn bán đất nhượng biển. Xin nhắc lại âm mưu phải hợp tác với đảng cộng sản để chống Tàu xâm lăng là chủ trương do thành phần nằm vùng, hòa giải hòa hợp và cò mồi Việt gian cộng sản đưa ra kêu gọi nhằm chạy tội cho việc chúng đã nhượng biển bán đất đồng thời trải thảm mời kẻ thù truyền kiếp là Chệt trở lại đô hộ và đồng hóa dân tộc cũng như đất nước. Chính Việt gian cộng sản là thành phần ăn trộm, ăn cướp đồ đạc của cải trong nhà đem dâng đem bán cho kẻ thù thì tại sao chúng ta lại để chúng yên thân ? Phải nọc những tên nội gian (cộng sản) ra chém đầu chúng nó trước thì mới công bằng và hợp với lẽ phải.

 

Ngoài ra còn một điều cũng cần ghi nhận rằng, Việt gian cộng sản chỉ là một đảng cướp, không phát sinh ra từ thành phần dân tộc, chúng đã trắng trợn xé hiệp định, xua quân chiếm Việt Nam Cộng Hòa và tự nhiên cai trị đất nước không qua lá phiếu của người dân. Nhưng vì quyền lợi, trong đó một số lớn quốc gia thuộc khối tự do đã công nhận cái ngụy quyền của chúng và đặt quan hệ ngoại giao, thương mãi…Như vậy bọn ăn cướp Việt gian cộng sản mặc nhiên được công nhận có tư cách pháp nhân và có tiếng nói trên chính trường quốc tế, thì việc bán đất nhượng biển của bọn chúng là việc nội bộ, quốc tế căn cứ vào đâu và lấy lý do gì để can thiệp ? Đừng quên rằng Tàu cộng có trong tay công hàm chính thức dâng hiến Hoàng Sa Trường Sa và vùng biển cận đông của Việt Nam (HCM và Phạm Văn Đồng ký) cũng như việc mua đất có trả tiền đàng hoàng (Lê Khả Phiêu nhận 2 tỷ Dollars để bán các phần đất giáp ranh giới Việt-Tàu). Vậy, yêu cầu quốc tế can thiệp thì chỉ có người dân hiện giờ trong nước mới có tư cách đứng lên làm việc nầy chứ không phải là người Việt hải ngoại.

 

Cuối cùng, tôi xin đưa ra câu hỏi để chấm dứt phần nói chuyện hôm nay là ‘Giữa nội gian cộng sản và Tàu cộng xâm lược, người Việt Nam phải ưu tiên chống ai trước’ ?  Việt gian cộng sản có thật sự chống Tàu hay không là việc cần phải minh định rõ ràng trước khi nói đến chuyện bắt tay hợp tác với bọn chúng để chống bọn Chệt. Nếu không hiểu rõ vấn đế nầy thì việc làm chúng ta chỉ là một trò hề cho Việt gian cộng sản, Tàu đỏ cũng như cả thế giới.

 

Kết luận, ngày trước chính Vua Quan nước ta đã đứng lên lãnh đạo toàn dân chống ngoại xâm Tàu và đánh đâu thì thắng đó. Nhưng ngày hôm nay thì ngược lại, đảng cộng sản (Vua quan) đã bán đất nhượng biển và trải thảm mời kẻ thù truyền kiếp là bọn Tàu cộng vào đô hộ thì lấy ai để lãnh đạo chống Tàu ? Hơn nữa chính đảng Việt gian cộng sản đã ngăn cấm người dân yêu nước, chúng xét xử tù tội những ai kêu gọi chống Tàu, thì dù yêu nước thương nòi đến đâu, cũng khó khăn đứng lên chống ngoại xâm trước kẽm gai, họng súng và nhà tù của tập đoàn bán nước ! Vậy chúng ta, người Việt hải ngoại, phải đồng loạt đứng lên chĩa mũi súng vào kẻ nội gian trước khi nói đến việc chống ngoại xâm Tàu cộng !

 

Xin chân thành cám ơn Quý Vị.

 

Đinh Lâm Thanh

Odenwald, Tháng Tư Buồn, 2013

 

(*) Chương VIII điều 22 của Hiệp Đinh Paris ngày 27.01.1973 : Việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việ Nam và việc thực hiện triệt để Hiệp Định nầy sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt cộng), trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào nội bộ của nhau. Đồng thời những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở VN và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á.

 

NỖI BẤT AN CỦA LỊCH SỬ



 

NỖI BẤT AN CỦA LỊCH SỬ


Hà Văn Thùy

 02_hungvuong

Những ai quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt đều biết rằng, khi nhà Tần diệt nước Thục, giết vua và thái tử Thục ở núi Bách Lộc năm 316 TCN, Thục Chế cùng di duệ nhà Thục chạy xuống tá túc trên đất của vua Hùng. Nhiều lần Chế tấn công Hùng Duệ Vương nhưng không thành, tới đời con ông là Thục Phán đã diệt vua Hùng, lập nước Âu Lạc.
Năm 257 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Quốc sử của ta, từ đời Nguyễn về trước, đều ghi nhận Âu Lạc và Nam Việt là nhà nước chính thống của người Việt. An Dương Vương và Triệu Vũ Đế đều được ghi công lớn. Không những thế, Triệu Đà còn được suy tôn là vị vua mở đầu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, đến thời Dân chủ công hòa, vào thập niên 1960, giới sử gia miền Bắc, dựa theo quan điểm duy vật lịch sử, phán quyết rằng Triệu Đà là ngoại xâm nên bỏ Kỷ nhà Triệu khỏi chính sử.


Từ đó tới nay, trong dư luận xã hội cũng như học giới có nhiều ý kiến không đồng tình với việc làm trên, đưa ra nhiều bằng chứng cùng luận cứ cho thấy nhà Triệu là nhà nước của người Việt. Bản thân người viết cũng hơn một lần lên tiếng về việc này*. Nay xin trình bày những di hại của việc trục xuất nhà Triệu khỏi chính sử.
*
Truyền thuyết cũng như chính sử Việt Nam ghi rằng, Xích Quỷ là nhà nước đầu tiên tiên của người Việt được thành lập năm 2879 TCN. Sau này, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng hình thành trên cương vực của nước Xích Quỷ. Vào thời Chiến Quốc, nhà nước Văn Lang tan rã, một số thủ lĩnh khu vực thành lập những nhà nước của người Việt như Ngô, Việt, Sở… Tần Thủy Hoàng diệt nước Sở, sáp nhập đất đai cùng dân cư nước Văn Lang cũ vào đế chế Tần. Khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà, một viên huyện lệnh người Việt đã lãnh đạo dân Việt phía nam Dương Tử lập nước Nam Việt. Việc Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào mình, về bản chất lịch sử không khác gì việc Quang Trung diệt nhà Lê Trịnh lập Đại Việt. Dù gì đi nữa, cũng không thể bác bỏ sự thật là, trong một thế kỷ tồn tại, Nam Việt là cái cầu, là sợi dây nhau cuối cùng kết nối Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt.

Vì vậy, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng sau:
1. Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của toàn bộ đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ. Nam Việt nhà Triệu chính là cái cuống nhau nối lịch sử xa xăm của đại tộc Việt với Việt Nam.

2. Tước bỏ vai trò chủ nhân Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 15.000 năm trước.

3. Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm trước. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.

4. Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam.

Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt – tộc đa số trong dân cư- họ bị thiểu số hóa. Những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch.

Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư ) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.

5. Mất quyền thừa kế với truyền thống và văn hóa Nam Việt.
Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế mà bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ tìm thấy trong lăng mộ. Sau khi phát hiện lăng mộ Triệu Văn Đế, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2500 hiện vật đặc sắc, trong đó đại đa số là thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ quan trọng này.

Để mất những mối liên hệ trên, không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, dòng cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ!



Từng có cuộc tranh biện giữa học giả hai nước Trung Việt về trống đồng Vạn Gia Bá và Đông Sơn, cái nào có trước? Do từ chối Nam Việt nên học giả Việt Nam bỏ mặt trận, thúc thủ lui về biên giới Việt Nam hiện tại, để rồi cố sức một cách vô vọng cho rằng trống Đông Sơn có trước! Nếu không tự từ bỏ Nam Việt, học giả Việt Nam có thể dõng dạc tuyên bố: “Với công nghệ định tuổi đồ đồng hiện nay cùng tình trạng cổ vật khi thu hồi, không thể định tuổi chính xác hai loại trống đồng trên.

Tuy nhiên điều này không thật có ý nghĩa vì trống Đông Sơn cũng như Vạn Gia Bá đều là sản phẩm sáng tạo của người Lạc Việt, tổ tiên chúng tôi trên đất đai mênh mông của người Lạc Việt từ nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên!”

Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sự luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường.

Hàn Dũ, nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường có nói: “Bất bình tắc minh”: Vì bất bình nên phải kêu lên! Việc nhận định sai về cội nguồn tổ tiên dẫn chúng ta lâm vào bi kịch của kẻ bỏ mồ cha khóc đống mối. Một dân tộc còn ngộ nhận về gốc gác chưa thể là dân tộc trưởng thành!



Mùa giỗ Tổ năm Quý Tỵ

Muốn Đoàn Kết Phải Đâu Lưng Lại!


 

Muốn Đoàn Kết Phải Đâu Lưng Lại!


Huỳnh Quốc Bình

LTG: Đây là những ý chính của bài thuyết trình 30 phút mà tôi hân hạnh được trình bày trong buổi lễ Tưởng Niệm “30-4 Ngày Quốc Hận” được diễn ra tại thành phố Wichita, thuộc Tiểu Bang Kansas lúc 6 giờ chiều ngày Thứ Bảy, 27-4-2013; do Hội Cựu Quân Nhân và Chiến Sĩ Quốc Gia Việt Nam Wichita trách nhiệm tổ chức.

 

Có nhiều điều thuộc loại "chạm nọc" những người "thiêng liêng" đã được nêu ra, nhưng không có trong bài tóm lược này, mà có trong phần âm thanh. Quý độc giả có thể nghe trọn phần âm thanh tại: http://huynhquocbinh.com/?q=node/68

 

 

Download âm thanh:


 

 

Như đã nói, những gì quý độc giả đọc trực tiếp trong bài này, chỉ là những ý chính tôi xin ghi lại để hầu bạn đọc.

Theo lời tường tình của nhóm thu thập hình ảnh thì đã có 287 thân hào, nhân sĩ và đồng hương trong vùng đến tham dự. Giới trẻ chỉ chiếm khoảng 10% số tham dự viên. Sau phần thuyết trình, tôi cũng có dịp trao đổi và trả lời những thắc mắc của đồng hương, liên quan đến đề tài thuyết trình và những điều tế nhị khác từng xảy ra tại các địa phương. Có thể nói, đối với một cộng đồng người Việt, không quá mười ngàn người, hoàn cảnh sống rải rác, mà lại có một buổi tập hợp đông đảo như thế, không phải là dễ thấy. Tôi tin tưởng rằng một khi Ban Tổ Chức mời gọi một cách trân trọng, tha thiết, và buổi tổ chức có ý nghĩa, thì sự tham dự đông đảo của mọi người là chuyện đương nhiên phải xảy ra.

 


Ông Huỳnh Quốc Bình trong giờ thuyết trình



Quan khách tưởng niệm Quốc Hận 30-4 tại Wichita***

Không ít người than phiền là người Việt Nam không đoàn kết. Vậy thì câu hỏi cần được đặt ra là người Việt Nam có đoàn kết hay không? Hay, người Việt Quốc Gia, tỵ nạn VC tại hải ngoại có đoàn kết không? Câu trả lời của tôi, hay đối với tôi thì người Việt Nam hay người Việt Quốc Gia có đoàn kết. Chưa ai hài lòng về tình đoàn kết của người Việt tỵ nạn VC tại hải ngoại. Điều này có thể hiểu được và thông cảm được, bởi chắc chắn sự đoàn kết của người Việt Quốc Gia sẽ là điều mà VC rất ngại và không bao giờ muốn nhìn thấy. Chính vì thế, VC luôn tìm cách quậy phá, ly gián để chúng ta mất tình đoàn kết. Tôi cũng chưa hài lòng về tình đoàn kết của người Việt tại hải ngoại, nhưng tôi không dành thì giờ mà ngồi một chỗ để ta thán sự thiếu sót đó.

VC quậy phá thế nào?: VC và bọn tay sai luôn tạo ấn tượng là “người Quốc Gia không đoàn kết” để mọi người hoang mang và nản lòng. VC tạo ra những xáo trộn trong các sinh hoạt để mọi người nhìn đâu cũng thấy “VC”, nhìn đâu cũng có “kẻ gian”.

Ngay cả những thành phần không bao giờ làm gì cả, ai chết mặc ai, họ không tốn một xu hay nhỏ một giọt mồ hôi cho sinh hoạt cộng đồng hay chống cộng. Ngoài cộng đồng ai có treo cờ Vàng họ cũng không để ý; hoặc cờ đỏ của VC có xuất hiện, họ cũng không bận tâm hay cảm thấy bị xúc phạm. Vậy mà thành phần này cứ luôn miệng than phiền là “Người Việt không đoàn kết”. Nếu người Việt Quốc Gia chống cộng không ý thức điều này thì lập tức chúng ta đã trúng kế VC.

Phải đâu lưng lại: Thiết nghĩ, muốn đoàn kết để chống cộng, trước hết người Quốc Gia chân chính, cần phải đâu lưng lại. Hai chữ “đâu lưng” mang hơn một ý nghĩa, vừa nghĩa bóng và nghĩa đen. Nghĩa đen là động từ cho việc làm có tính cách đoàn kết một lòng theo kiểu nói của người Việt là “chung lưng đấu cật”.

Nghĩa bóng của hai chữ “đâu lưng” còn để ám chỉ sự xa cách dần về mặt tình cảm giữa hai vợ chồng. Tuy nhiên, cũng trong đời sống vợ chồng, khi họ gặp những khó khăn cần vượt qua thì sự “đâu lưng” lại, đã trở nên tích cực trong việc giải quyết những nan đề chung. Do đó, trong tình vợ chồng, muốn xây dựng hạnh phúc gia đình, luôn cần hai người, còn muốn đạp đổ hạnh phúc, chỉ cần một người.

Trong mặt trận đấu tranh chống kẻ thù chung, ý nghĩ của hai chữ “đâu lưng” là biểu hiện “thế thủ” của tình đồng đội hay chiến hữu, trước kẻ thù. Khi nhắm đến hướng có đối phương, tức là ở “thế công”, và trước khi phản công hay tấn công kẻ thù, người chiến sĩ phải luôn “đâu lưng” lại để chiến đấu. Có “đâu lưng” thì mới nhìn rõ lực lượng của kẻ thù trên nhiều kía cạnh khác nhau. Trong đấu tranh, có đâu lưng lại, mới nhận dạng được kẻ thù chung một cách thấu đáo trên nhiều mặt trận. Trong mặt trận đấu tranh chính trị, có đâu lưng lại, mới có sự cảm thông và tránh được tình trạng “đâm sau lưng chiến sĩ”, hoặc “quân ta bắn quân mình”.

Không đoàn kết: Nếu Người Quốc Gia tại hải ngoại không đoàn kết thì cờ đỏ của VC đã lấn áp cờ Vàng từ lâu. Nếu ai cho rằng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại không đoàn kết thì tại sao bọn VC ra hải ngoại, xuất hiện tại các hội trường bằng cửa hong, mà rút lui bằng cửa hậu? Nếu người Việt hải ngoại không đoàn kết, thì tại sao đã 38 năm rồi, họ vẫn không quên đồng bào bên quê nhà? Nhiều người đã thành công trong cuộc sống, hoặc hài lòng với những gì mình có, nhưng tại sao họ không lo hưởng thụ mà lại tham gia tranh đấu? Nếu không đoàn kết, làm sao có được buổi tổ chức tưởng niệm Quốc Hận 30-4 tại Wichita này, hay những thành phố khác? Chúng ta không thể đòi hỏi, mong đợi cả cộng đồng đến đây tham dự thì mới gọi là đoàn kết.

Cần chia rẽ trong các việc làm tiêu cực: Nếu chúng ta ý thức rằng, mọi người cần đoàn kết trong mục tiêu tích cực, thì cũng cần phải mạnh dạn “chia rẽ” trong những hành động tiêu cực, hoặc những âm mưu phá hoại tình đoàn kết trong cộng đồng và đấu tranh. Mục Sư A. W. Tozer, một nhà truyền giáo trứ danh của Hoa Kỳ: “Thiên Đàng và địa ngục không thể có cuộc hôn phối.”. VC là đám côn đồ, chúng hành hạ người sống và đào mồ, cuốc mả người chết. Chúng không phải chính quyền, mà là tà quyền,hay ngụy quyền là đồ ăn cướp. Vậy thì, con dân Chúa, hoặc Phật tử, hay người có đạo, người tử tế… không thể ngồi chung bàn, ăn chung mâm với bọn ma quỷ hay kẻ cướp hay phường vô đạo để chứng mình sự hài hòa hay đoàn kết. Nếu chúng ta thề chống cộng đến giọt máu cuối cùng hay hơi thở cuối cùng, thì cũng nên đổ vài giọt mồ hôi trước khi thề “sẵn sàng đổ máu”.

Tổ chức và tham dự ngày Quốc Hận 30-4: Để tố cáo tội ác VC, để nhớ ơn đồng bào, chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình vì lý tưởng bảo vệ Tổ Quốc, giải phóng đất nước Việt Nam ra khỏi ách cai trị độc tài, tàn bạo của VC. Tổ chức và tham dự ngày Quốc Hận 30-4 là việc làm của những người tự trọng và có liêm sỉ, chứ không phải là làm chính trị.

Hòa hợp hòa giải dân tộc?: Đó là chiêu bài của đảng cướp VC, kêu gọi giúp nước. Có kẻ cho rằng: “Kẻ thù của dân tộc VN là nghèo đói và lạc hậu”. Không, đảng cướp VC mới là kẻ thù của dân tộc VN, vì chúng tạo ra nạn nghèo đói và lạc hậu tại Việt Nam.

Khuyết điểm và tội ác: Dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, chính quyền cũng có những khuyết điểm, nhưng những tên vô liêm sỉ đã đồng hoá những khuyết điểm này với tội ác tày trời của đảng cướp VC để lấy điểm, để được yên thân. Người Quốc Gia chân chính cần nhận dạng và lên án, cô lập đám người vô liêm sỉ làm lợi cho VC thay vì xa lánh những người chống cộng quyết liệt.

Chống cộng hay chống người chống cộng?: Trước 30-4-75, không ít người khoa bảng chống cộng thì ít mà chống chính quyền Quốc Gia thì nhiều. Ngày nay ra hải ngoại, cũng có những kẻ nhân danh là người chống cộng, nhưng chống VC thì ít, mà tấn công người Việt Quốc Gia thì nhiều. Tôi không tin rằng người Quốc Gia chân chính có thể làm việc đó. Thành phần này nhân danh chống cộng để chửi rủa người chống cộng một cách tàn độc. Chắc chắn người Quốc Gia hay người tử thế sẽ không làm như vậy.

Có người đã than thở rằng: "Điều đáng buồn là người ta thấy không ít kẻ đã tự đâm đui hai mắt của mình, để không còn nhận ra những hiện tượng quá đáng do kẻ gian bày ra trong các sinh hoạt tại hải ngoại và những nghịch lý do đảng CSVN tạo ra tại Việt Nam ngày nay”. Lời nói ấy tuy chua chát thật, nhưng rất chính xác. Nhiều người từng hưởng bổng lộc của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhưng nay đã quay mặt với đất nước và dân tộc của mình. Đám người đó, cần phải bị vạch mặt, chỉ tên để người khác không bị lầm.

Kết luận: Người Quốc Gia chân chính cần phải đâu lưng lại để chống cộng. Người Quốc Gia chân chính không thể hòa hợp hòa giải với bọn côn đồ VC. Không thể ngồi chung bàn, ăn chung mâm với đảng cướp VC. Không thể đoàn kết với kẻ chửi rủa một cách tàn độc những người thật sự chống cộng. Chúng ta cần phải biết chia rẽ trước những âm mưu, làm lu mờ ngày Quốc Hận 30-4. Mọi người cần phải xa lánh những kẻ nói và làm lợi cho VC. Chúng ta cần phải cô lập, tẩy chay kẻ gian đội lốt các tu sĩ các tôn giáo để phá hoại các tôn giáo.

Nhà truyền giáo trứ danh của Hoa Kỳ, A.W. Tozer đã nói về “tình đoàn kết” như sau: “Khi một đàn cừu đang bối rối đi đến bờ vực thẳm, thì một con cừu chỉ có thể bảo tồn sự sống của nó bằng cách tách ra khỏi bầy. Sự đoàn kết trong thời điểm đó, đồng nghĩa với sự hủy diệt hoàn toàn…”. Chúng ta cần đoàn kết đúng chỗ, đúng nơi, và cũng cần biết chia rẽ đúng lúc, để không mắc mưu kẻ thù VC gian ác và bọn tay sai hiểm độc của chúng, đang trà trộn trong các sinh hoạt tại hải ngoại.

Huỳnh Quốc Bình

P.O. Box 20361

Salem, OR 97307. USA

(503) 949-8752



 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link