Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, May 21, 2013

Nhận định về bài viết :“ TÔI CHỐNG ĐỘC TÀI KHÔNG CHỐNG CỘNG”


 

Tôi rất đồng ý bài của Ông Trọng Khải

 



From: Trong Khai Vu <Sent: Tuesday, May 14, 2013 10:46 AM
Subject: [ChinhNghiaViet] CHỐNG CỘNG LÀ CHỐNG CÁI KHÔNG CÓ ???

 

 

CHỐNG CỘNG LÀ CHỐNG CÁI KHÔNG CÓ ???

                                                                     Vũ Trọng Khải.

                                                                                                            14/5/2013

Nhận định về bài viết :

“ TÔI CHỐNG ĐỘC TÀI KHÔNG CHỐNG CỘNG”

Tác gỉa :Nguyễn Hưng Quốc.

 

BÀI THỨ NHẤT.

 

Quyền thực hiện một việc hay phát biểu tư tưởng về một vấn đề trong thế giới tự do là một quyền thiêng liêng, được luật pháp tôn trọng và bảo vệ, miễn sao khi thực hiện  những công việc ấy không gây thiệt hại, không ảnh hưởng  đến đời sống vật chất cũng như tinh thần và quyền tự do của người khác trong xã hội.

 Như vậy, với bài viết của Ông Nguyên Hưng Quốc có tựa đề :

“ TÔI CHỐNG ĐỘC TÀI KHÔNG CHỐNG CỘNG ”

Với bài viết nêu trên, và nội dung của nó đã có đôi chút ảnh hưởng đến không chỉ riêng cá nhân tôi, mà tôi nghĩ, còn ảnh hưởng đến nhiều người khác :

“ Những người đã và đang chống Đảng Cộng Sản Việt Nam”

 Do vậy, tôi tự cho phép mình quyền lên tiếng.

Việc Ông Nguyễn Hưng Quốc chọn lựa cho mình một mục đích hay một phương thức đấu tranh là quyền của Ông, tôi không phê phán.

Nhưng khi Ông Nguyễn Hưng Quốc ( NHQ )viết :

“Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói  chống cộng là chống cái khôngcó, hay đúng hơn , cái không còn hiện hữu nữa.”( hết trích).

Với chỉ hai dòng ngắn ngủi như trên, Ông NHQ đã cố tình cho rằng những người đang dấn thân đấu tranh chống lại đảng CSVN hầu mang lại cho một nước Việt Nam thực sự Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền đã dồn sức lực đánh những đòn chí mạng vào khoảng không ( …chống cái không có …) ???

Vậy liệu những người đang dấn thân vì tương lai Tổ Quốc và Dân Tộc đó có phải là những người u mê, thiển cận đến độ dồn cả nhân vật, tài lực, thâm chí cả sinh mạng của chính mình để đi triệt tiêu cái không có đó hay không ?

Quả thực với những lời lẽ như trên, tuy không minh thị, nhưng người ta không thể nghĩ khác hơn rằng Ông NHQ đang cười vào mũi những người chống cộng.

Ông NHQ không chịu hiểu rằng, khi Ông nói  “Tôi chống độc tài không chống cộng” , nghĩa là Ông đưa ra trước tòa án dư luận một TỘI DANH nhưng không hiểu vô tình hay cố ý đã dấu đi  TỘI PHẠM.

Nếu chỉ đả phá tội danh ĐỘC TÀI thì hiện nay nào phải chỉ có ở Việt Nam, Ông NHQ cũng không thể kể lể dài dòng trước dư luận tên của những kẻ tôi phạm độc tài từ thời Hồ Chí Minh cho đến tận hôm nay, như vậy sẽ dài lắm kể không hết đâu …

Tất cả nhóm TỘI PHẠM này họp lại thành một băng đảng và tự xưng danh là  “ Đảng Cộng Sản Việt Nam” , chính cái đảng này bị kết tội ĐỘC TÀI, vậy việc nêu đích danh nó có gì là không đúng ?

Do vậy khi những người cũng chống độc tài, chống tham nhũng, kết tội buôn dân bán nước..v..v..như Ông NHQ , người ta nêu đích danh TỘI PHẠM một cách ngắn gọn là Đảng CSVN, đảng CSVN đang hiện hữu thống trị Dân Tộc, không phải là  người ta “ chống cái không có ” như Ông nghĩ, như Ông chê bai …

Trong một đọan khác,  Ông NHQ viết :

“ …Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là cộng sản, nhưng…” ( hết trích )

 

Cũng chính Ông NHQ xác nhận như trên, vậy khi những người đang đấu tranh cho một xã hội nhân bản và công bằng, người ta gọi nhóm thống trị đó là cộng sản (… vì theo NHQ  :  Nền chính trị Việt Nam hiện nay,trên danh nghĩa, vẫn là cộng sản …) thì  Ông NHQ không thể  nhận định người ta “ chống cái không có”  hay cho rằng người ta “ chống cái không hiện hữu ” .

Trong cùng một bài viết, Ông NHQ đã có qúa nhiều những mâu thuẫn trong trình bầy suy nghĩ của chính mình, sẽ được chứng minh.

Cho dù đảng CSVN có đổi tên là gì đi nữa, nguồn gốc của nó vẫn là cộng sản, không thể chỉ nói đến TỘI DANH mà không đề cập đến TỘI PHẠM.

Xin đơn cử thí dụ:

“ Có một người tên Nguyễn Ái Quốc, xin tòa án cho đổi tên thành Nguyễn Nhược Quốc, Ông Chánh Án thấy những lý do nêu ra của đương đơn có thể chấp nhận được, Ông Chánh Án ra phán quyết, từ nay Nguyễn Ái Quốc  chính thức được mang tên  Nguyễn Nhược Quốc.

Bản án lưu tại tòa ghi rõ lý lịch Nguyễn Ái quốc và Nguyễn Nhược Quốc chỉ là một người và cho đăng vào Công Báo.

Văn khố an ninh Quốc Gia cũng lưu rõ như thế.

Sau này người ta truy tìm ra tên Nguyễn Ái Quốc là tôi phạm của một vụ án ĐỘC TÀI, cơ quan an ninh vẫn bắt giữ và dẫn độ tên Nguyễn Nhược Quốc ra tòa án để truy tố tội danh này.

Như vậy khi Ông NHQ tuyên bố :

“ Tôi chống độc tài không chống cộng ”

chẳng khác gì Ông NHQ CHÉM GIÓ trên ngọn mà không phạt gốc của tội danh ĐỘC TÀI, như vậy, xin lập lại, Ông NHQ đã tha tào cho TỘI PHẠM là đảng CSVN.

Sao vậy ???

Viết đến đây đã dài, làm mỏi mắt người đọc, dù muốn trình bầy thêm những điều bất cập trong bài viết này của Ông Nguyễn Hưng Quốc.

Nếu có dịp xin hẹn quý vị bài thứ hai.

Vũ Trọng Khải /Sydney.

       14/5/2013

  

 

 



From: Tuan Le <Subject: Re: [PhoNang] RE: [ChinhNghiaViet] NGUYEN HUNG QUOC :Tôi chống độc tài không chống Cộng

 

 

Thưa Quý Vị,

 

Ít nhất 1 lần TL nghe được câu nói đại ý đó, không riêng gì ông Nguyễn Hưng Quốc từng nói " không chống cộng mà chống độc tài" hay " tôi chống cộng không vì thù hận mà chống cộng vì tranh đấu cho tự do dân chủ, đời sống ấm no của người dân".

 

Với tôi, mất tự do, mất dân chủ, nhân phẩm bị chà đạp, nhân quyền tồi tệ, đất nước lạc hậu người dân nghèo đói, đạo đức ,vân vân...tất cả là do chế độ cộng sản gây ra.

 

Vì vậy, nói là chống độc tài tức là chống cộng, đấu tranh đòi tự do dân chủ - theo tôi- cũng là chống cộng.

 

Trước kia, khi đọc qua 2 bản tin ông Nguyễn Hưng Quốc bị từ chối nhập cảnh VN là tôi không thích ông này, tôi từng nói:"đáng đời đã biết không cho lần đầu mà con vác mặt về lần thứ 2".

 

Tôi ghét ông ta là vì dẫn học sinh Úc về VN học gì đó, cộng đồng đang phản đối giao du với CSVN mà sao còn tiếp tay đưa người nước ngoài đến VN.

 

Nhưng từ khi tôi tiếp xúc nhiều với người Úc, tôi mới hiểu rằng người dân Úc (nhất là những người sanh sau năm 1975 hay dù trước năm 1975 cũng không quan tâm đến VN nhiều) không biết gì nhiều về Boat People, họ không biết tại sao cá nhân tôi đến Úc, họ nhìn thấy VN là điểm du lịch hấp dẫn rẻ tiền cho họ để thực hiện 1 chuyến du lịch.

 

Từ đó tôi có cái nhìn khác về ông Nguyễn hưng Quốc, mặc dù ghét ông ta dẫn học sinh Úc về VN, nhưng nghĩ lại thì nếu ông ta không dẫn về thì làm sao học sinh Úc đó biết thực trạng VN như thế nào? làm sao họ có thể hiểu được đời sống của người dân VN dưới gầm cầu, làm sao biết được sinh viên VN bị nhồi sọ, bưng bít thông tin?

 

Quan trọng là nếu không có những "con thiêu thân" như ông Quốc  thì làm sao biết CSVN ngăn sông cấm chợ với những thành phần trí thức như ông Quốc?

 

Đôi khi tôi nhận thấy tôi "chết nhát" chẳng dám làm con thiêu thân để tố cáo chế độ CSVN. Bây giờ thêm một bản tính xấu nữa là ích kỷ, chỉ dám hô hào "lật đổ chế độ:" chứ chưa dám tham biểu tình đòi tự do dân chủ, chống Tàu cộng, tuần hành cùng các bạn trẻ ngay tại lòng Hà Nội.

 

Nếu không có những người liều mình xuống đường như bà Bùi Hằng, Nguyễn  Đức Chí, Thúy Nga, Nguyễn Hoàng Vi,Tống Vy, Huỳnh trọng Hiếu... ngay trong lòng Sài Gòn thì làm sao thế giới biết được công an csvn đàn áp những người biểu tình chống Tàu xâm chiếm VN. Xin mọi người đừng nghĩ họ là cò mồi cho chế độ.

 

Họ không dám công khai chống chế độ (chống cộng) vì họ không như chúng ta đang ngồi ở hải ngoại.

Còn nhiều đảng viên thất vọng, chán đảng như cụ bà Lê Hiền Đức, ông Nguyễn Hồng Hà... vân vân...nhưng họ không thể công khai chống đảng vì sẽ bị thanh trừng ngay tức khác. Họ chỉ có thể "đấu tranh đòi tự do dân chủ nhân quyền" mà chế độ Hà Nội từng tuyên truyền.

 

Phải chăng ông Nguyễn Hưng Quốc đang muốn "đồng ca" với họ, những người đang trong nước sẽ là thành phần nồng cốt lãnh đạo đất nước hậu cộng sản?


Hay ít ra, mọi người nên đọc hết xem ông ta nói cái gì? vì sao ông ta không chống cộng?

Trích từ bài của ông Quốc:
 theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

hết trích.

 

Hình như tôi từng nghe vài lần trên Diễn Đàn, việt Cộng không còn là cộng sản nữa, nó là tư bản đỏ.

 

Kính

Tuan Le

 



From: San Le D. <Sent: Monday, 13 May 2013 1:42 AM
Subject: [PhoNang] RE: [ChinhNghiaViet] NGUYEN HUNG QUOC :Tôi chống độc tài không chống Cộng

 

 



KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TÀU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)
Không chống Cộng thì về Việt Nam mà ở
LDS


--- On Sun, 5/12/13, Tich Tran > wrote:

From: Tich Tran <>
Subject: RE: [ NGUYEN HUNG QUOC :Tôi chống độc tài không c
hng Cộng
To: "Date: Sunday, May 12, 2013, 8:16 AM
 
Ông Nguyễn Hưng Quốc "không chống cộng" bằng cách trình bày một số lý luận.
Tôi rất tôn trọng các kiến giải của Ông.
Người Đức có vẻ không khôn ngoan bằng ông Quốc. Họ dại dột tiếp tục "chống cộng".
Nước Đức tuy thống nhất trong dân chủ tự do đa nguyên đa đảng nhưng vẫn có nhiều
người cứ tiếp tục "chống cộng". Nếu người Việt chúng ta có những gì gì "chống cộng cực đoan",
"chống cộng quá khích" v.v..thì người Đức có từ Antikommunismus pur, chống cộng
thuần túy.
Cơ quan Bảo vệ Hiến pháp của CHLB Đức (Verfassungsschutz) được phép theo dõi các
chính trị gia tả phái.
Ngày 28.11.2011, Ông Roland Jahn nguyên là một nhà đấu tranh "chống cộng" gốc Đông Đức
được Quốc hội Liên bang Đức đề cử giữ chức Bundesbeauftragter für die Unterlagen des Staatssicherheitsdienstes der ehemaligen Deutschen Demokratischen Republik (BStU)
(Đặc ủy Liên bang phụ trách quản lý hồ sơ Cơ quan Mật vụ Đông Đức cũ). Nhân vật tiền nhiệm
của ông Roland Jahn chính là đương kim Tổng thống Đức Joachim Gauck.
Jürgen Rüttgers, từng năm năm liền giữ chức Thủ hiến Tiểu bang Nordrhein-Westphalen,
tiểu bang đông dân nhất nước Đức, đã có lần bảo "Vor einem Kommunisten habe ich keinen Respekt." (Trước một người cộng sản tôi không có chút kính trọng nào hết).    
Báo chí các đảng có xu hướng dân chủ như CDU, CSU, FDP vẫn tiếp tục "chống cộng" qua
giải thích rằng Đảng Tả hiện nay thực chất vốn là Đảng xây cất Bức tường, là Đảng của các tên
chỉ điểm và Đảng của những tên cộng sản bất trị. (Die Partei Die Linke ist in Wahrheit die
Partei des Mauerbaus, die Partei der Spitzel und der unbelehrbaren Betonkommunisten.
)
Tư bản đã toàn thắng ở nước Đức mà dân Đức vẫn còn suy nghĩ như thế. Ông Nguyễn Hưng Quốc
suy nghĩ theo cách khác với dân Đức trong khi cuộc chiến quốc-cộng, chính-tà, thiện-ác
đang ở thế một mất một còn thì e rằng Ông suy nghĩ hơi sớm sủa, hơi khác người; cho dẫu
rằng suy nghĩ của Ông chủ yếu có vẻ như dựa vào cung cách chơi chữ, lợi dụng hiện tượng
biểu thị ẩn ý dưới nghĩa đen của từ ngữ nhằm gây tác dụng nhất định.
Trần Văn Tích

To: Date: Sun, 12 May 2013 10:43:33 +0200
Subject: [svhdqy] TR: Tôi không chống Cộng (Nguyễn Hưng Quốc)

Kính chuyển.
Đặng.
 
 

De :À : Ngoc Dang Nguyen
Objet : Fw: Tôi không chống Cộng (Nguyễn Hưng Quốc)
   
 
Tôi không chống Cộng
Nguyễn Hưng Quốc
Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, 
theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Lý do thứ hai này cần được giải thích nhiều hơn:

Cái gọi là “chống Cộng” bao gồm hai nội dung chính: một, chống lại chủ thuyết Cộng sản (chủ yếu là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin); và hai, chống lại chế độ Cộng sản. 
Với cả hai nội dung ấy, trước năm 1975, nói chống Cộng: Được; trước năm 1990, nói chống Cộng: Được. Nhưng sau năm 1991, nói chống Cộng là nói một điều thừa thãi, thậm chí, vô duyên. Và có hại.

Trong việc chống Cộng, trước năm 1991, hai khía cạnh chống chủ thuyết (hoặc ý thức hệ) và chống chế độ (hoặc một guồng máy) là một. Chế độ, vốn cụ thể, gắn liền với hệ thống chính trị, tức là hệ thống quyền lực, là mục tiêu chống đối trước mắt. Nhưng sức mạnh của chế độ Cộng sản không phải chỉ ở đảng viên, cán bộ, quân đội, công an, súng đạn và các nhà tù. Sức mạnh của chế độ Cộng sản còn ở các lý tưởng tự do, bình đẳng cũng như cái thiên đường Cộng sản chủ nghĩa vốn có sức mê hoặc to lớn đối với mọi người, đặc biệt với giới trí thức vốn khao khát những điều cao cả, có tầm nhân loại. Hơn nữa, nó còn nằm ở các ảo tưởng về tính khoa học của chủ nghĩa Cộng sản hay ở cái gọi là tính tất yếu trong quy luật phát triển của lịch sử. Bởi vậy, người ta không thể chống lại chế độ Cộng sản chỉ bằng các phương tiện vật chất. Người ta phải chống lại chế độ Cộng sản ngay cả trong phạm trù tư tưởng, trong lãnh vực nhận thức, nghĩa là bằng các phương tiện tuyên truyền và giáo dục, nhắm thẳng vào những tên tuổi như Marx, Engels, Lenin và Stalin, những người đã chết; hơn nữa, bằng một bảng giá trị khác, cao hơn, hiện hữu ngay trong đời sống xã hội để mọi người có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nghĩa là bằng một nỗ lực không ngừng tự do hoá, dân chủ hoá và nhân quyền hoá, như những điều chủ nghĩa tư bản, ở các quốc gia phát triển nhất, từng làm trong suốt thế kỷ 20.

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Cộng sản, với tư cách một chế độ, hoàn toàn sụp đổ; và cùng với nó, chủ nghĩa Cộng sản, với tư cách một ý thức hệ chính trị, cũng bị phá sản theo. Trật tự này, thật ra, theo một số học giả, cũng có thể đảo ngược hẳn lại: Vì sự phá sản của ý thức hệ Cộng sản, chế độ Cộng sản, với tư cách một bộ máy chính quyền, đã sụp đổ. Nhưng dù mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, thực chất của vấn đề vẫn là một: phá sản và sụp đổ.

Về phương diện lý thuyết, hầu như ai cũng thấy chủ nghĩa Cộng sản sai. Những người thiên tả, ít nhiều lưu luyến với chủ nghĩa Cộng sản, cố vớt vát khi cho cái sai ấy không xuất phát từ Karl Marx mà từ Lenin, đặc biệt từ
Stalin và Mao Trạch Đông; nghĩa là, nó không sai hẳn, nhưng một, nó không được cập nhật để theo kịp những thay đổi và tiến bộ của chủ nghĩa tư bản; và hai, nó chỉ sai trong cách ứng dụng và vận dụng lý thuyết Marx vào thực tế. Tuy nhiên, nói theo Richard Pipes, trong cuốnCommunism, a History (2), chủ nghĩa Cộng sản, ngay trong tư tưởng của Karl Marx, không phải là một ý tưởng hay nhưng bị thực hiện sai mà, tự bản chất, nó là một ý tưởng dở; hay nói theo Kolakowski, do Pipes trích dẫn, chủ nghĩa Marx – nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản – là một huyễn tưởng lớn nhất của thế kỷ 20 (3).

Trong vô số những cái sai của chủ nghĩa Marx-Lenin, 
cái sai này là đáng kể nhất: Họ cho chế độ tư hữu là cội rễ của bất bình đẳng và tin là họ có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ấy để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, không ai bóc lột ai và cũng không ai thống trị ai. Trên thực tế, khi công hữu hóa mọi tài sản và mọi phương tiện sản xuất, thứ nhất, họ triệt tiêu hầu như mọi động cơ lao động và sản xuất của người dân; thứ hai, họ tạo nên một giai cấp đặc quyền và đặc lợi để nắm toàn bộ việc lãnh đạo và quản lý các tài sản và công cụ sản xuất đã được công hữu hóa ấy. Những người ấy, một mặt, kém khả năng quản lý nên dẫn đến hết thất bại này sang thất bại khác; mặt khác, quan trọng hơn, trở thành một thành phần thống trị vừa ngu dốt vừa độc đoán, vừa tham nhũng vừa tàn bạo. Tất cả các yếu tố ấy không những dẫn đến những sự thất bại nặng nề về phương diện kinh tế mà còn phá hủy toàn bộ nền tảng lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản vốn nhắm đến tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Một cái sai khác của chủ nghĩa Marx-Lenin là họ đơn giản hóa lịch sử nhân loại vào lịch sử đấu tranh giai cấp.Sự phát triển của lịch sử, thật ra, còn tùy thuộc, thậm chí, tùy thuộc chủ yếu vào sự hợp tác của con người trong việc khám phá các quy luật của tự nhiên, từ đó, đẩy mạnh các khám phá về kỹ thuật để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người. Chủ nghĩa tư bản, trong thế kỷ 20, đã chứng minh điều đó: Giới chủ nhân biết san sẻ trách nhiệm và quyền lợi với giới công nhân, nhờ đó, so với thế kỷ 19, công nhân càng ngày càng được hưởng lương cao và càng ngày càng được hưởng chế độ lao động hợp lý hơn. Hơn nữa, chính quyền cũng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân và, qua chính sách thuế khóa, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Nhiều quốc gia mang tiếng là tư bản nhưng về các chính sách lao động và an sinh xã hội lại không khác gì với cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Marx mơ ước. Chưa hết. Yếu tố then chốt trong sản xuất không phải chỉ là công cụ sản xuất mà còn có cả tri thức. Mà tri thức thì không ai độc quyền được.

Một người tị nạn, như người Việt Nam sau năm 1975, chẳng hạn, khi sang nước ngoài, với hai bàn tay trắng, không thể sở hữu các công cụ sản xuất để làm chủ nhân bất cứ thứ gì được. Nhưng bù lại, chỉ cần chịu khó học hành, sau một thời gian nhất định, người đó có thể sở hữu một vốn tri thức khá cao đủ để bước vào thế giới trung lưu, thậm chí trung lưu cao, dễ dàng. Chính trong lãnh vực tri thức, vốn gắn liền với giáo dục, xã hội tư bản đã tạo nên sự bình đẳng thực sự và tối đa: Nếu mọi người không được và không thể bình đẳng khi ra đời (vốn gắn liền với gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc và những đặc điểm về trí tuệ riêng – những điều không ai có thể lựa chọn được), họ lại được bình đẳng trong cơ hội để phát triển và tiến bộ. Ai cũng được quyền đi học; bất cứ ai có trí và có nghị lực cũng đều đi học được, và từ đó, có thể thay đổi cuộc đời mình được. Với những đặc điểm ấy, chủ nghĩa tư bản không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả mà còn tạo nên sự bình đẳng và dân chủ, tuy không hẳn đã hoàn hảo, nhưng cũng hơn hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa đủ để mọi người, kể cả những người đang sống dưới chế độ Cộng sản, cũng nhận thấy không phải kẻ thù mà chính mình mới là những kẻ đang đứng trước vực thẳm. Sự so sánh ấy cũng làm cho người ta nhận thấy những hứa hẹn về một thiên đường Cộng sản chủ nghĩa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, chỉ là một ảo tưởng, hơn nữa, một không tưởng. Cái không tưởng ấy lại bị trả giá bằng máu. Không phải máu của một hai người. Mà là của cả một tập thể, có khi cực kỳ đông đảo. Cả hàng triệu hay chục triệu người.

Về phương diện thực tiễn, với tư cách một chế độ, chủ nghĩa Cộng sản có năm đặc điểm chính trên bình diện tổ chức. Một, đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo; hai, đảng ấy được tổ chức một cách chặt chẽ với một thứ kỷ luật thép từ trên xuống dưới; ba, kinh tế hoàn toàn tập trung, mọi quyết định, kể cả về giá cả thị trường, đều do cấp trên quyết định; bốn, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước; và năm, mỗi quốc gia đều liên kết và, với những mức độ khác nhau, lệ thuộc vào cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế nói chung. Với cách tổ chức như thế, chế độ Cộng sản vấp phải vô số sai lầm.Và những sai lầm ấy rất dễ thấy.

Thứ nhất, các chế độ Cộng sản không những không công bằng hơn các chế độ tư bản, mà thậm chí, còn tệ hại hơn cả các chế độ phong kiến ngày xưa. Xưa, chỉ có vua, nay có cả nguyên một đảng đứng trên pháp luật. Xưa, chỉ có vua là được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi; nay, 
có cả hàng triệu người nhân danh đảng thi nhau vơ vét lợi và thao túng quyền.

Thứ hai, ngoài chuyện bất bình đẳng, 
chế độ Cộng sản, qua hơn 70 năm tồn tại, đã chứng tỏ sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu. Những nhà lãnh đạo Cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… không phải giống vua mà là giống các bạo chúa. Vua, còn đỡ. Trong đám vua còn có các minh quân. Trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản, được xây dựng quyền lực trên nguyên tắc “chuyên chính”, ngay cả những người có tiềm năng là minh quân cũng trở thành bạo chúa. Hậu quả là chế độ Cộng sản trở thành một chế độ đứng đầu trong danh sách giết người trong suốt cả thế kỷ 20. Họ giết người còn nhiều hơn cả chế độ phát xít và Nazi. Bàn tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhuộm nhiều máu hơn cả bàn tay của Hitler. Trong cuốn The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression do Stéphane Courtois và nhiều người khác biên tập (4), các tác giả ước tính tổng số nạn nhân bị giết chết dưới các chế độ Cộng sản trên thế giới kể từ năm 1917 đến năm 1991 là khoảng 100 triệu người, bao gồm khoảng 20 triệu ở Nga, 65 triệu ở Trung Quốc, hai triệu ở Campuchia, hai triệu ở Bắc Triều Tiên, một triệu ở Đông Âu, v.v..

Thứ ba, chế độ Cộng sản hoàn toàn thất bại về phương diện lãnh đạo và quản lý kinh tế đất nước. 
Không có nước Cộng sản nào giàu có và dân chúng được no ấm.Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, kinh tế của các nước Cộng sản bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Đến thập niên 1980, chỉ số phát triển của nó hầu như chỉ là một con số không to tướng. Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa thời ấy, rất nhiều cửa tiệm trống rỗng không có hàng hóa để bán (5). Dân chúng ngất ngư vì đói khát. Nhưng dễ thấy nhất là khi chúng ta nhìn vào các quốc gia bị chia đôi, trong đó, một nửa theo chế độ Cộng sản và một nửa theo chế độ tư bản. Như Đông Đức và Tây Đức. Hay như Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Cái nửa theo chế độ Cộng sản bao giờ cũng có chỉ số phát triển thấp hơn hẳn cái nửa theo chế độ tư bản. Thấp một cách toàn diện. Riêng ở Triều Tiên, thu nhập tính trên đầu người ở miền Nam (32.400 đô la/người/năm) gấp 18 lần ở miền Bắc (1.800 đô la). Cùng một dân tộc. Cùng một lịch sử. Chỉ khác ở chế độ. Mà hai nơi khác nhau đến vậy.

Cuối cùng, nói theo Stéphane Courtois (6), Cộng sản phạm vô số tội ác không phải đối với con người với tư cách cá nhân mà còn đối với cả văn minh nhân loại và văn hóa quốc gia. 
Ở đâu, các chế độ Cộng sản cũng phá tan tành rất nhiều di tích và di sản lịch sử cũng như các nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự. Họ trấn áp các tôn giáo, xóa bỏ nhiều truyền thống tốt đẹp với lý do, theo họ, đó là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Với những thất bại hiển nhiên về cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành như vậy, chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn toàn bị sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thoạt đầu, vào năm 1989, với việc đảng Cộng sản Hungary chấp nhận một hệ thống chính trị đa đảng vào tháng 2; việc Công đoàn Đoàn kết thắng phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội Ba Lan vào tháng 6, sau đó, lên nắm chính quyền vào tháng 9; việc Bức tường Berlin bị sụp đổ vào tháng 11 (sau đó nước Đức được thống nhất vào tháng 10/ 1990); kết thúc bằng việc Mikhail Gorbachev tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng vào ngày 7/2/1990; và sau đó, sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào tháng 12/1991 (trước, trong và sau sự tan ra ấy, có 16 quốc gia – vốn bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết - tuyên bố độc lập, bao gồm: Lithuania, Estonia, Latvia, Georgia, Ukraine, Belarus, Moldova, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Turkmenistan, và Kazakhstan).

Nếu sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản là biến cố lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, sự tan rã của nó ở Nga và Đông Âu là một biến cố trọng đại nhất trong sau thế kỷ 20. Cả hai đều là cách mạng. Cuộc cách mạng đầu nổ ra và, sau đó, tồn tại bằng máu và nước mắt; cuộc cách mạng sau, ngược lại, diễn ra với ba đặc điểm chính: nhanh chóng, nhẹ nhàng và bất bạo động. Có vẻ như giới lãnh đạo Cộng sản (trừ ở Romania) tự ý từ bỏ quyền lực và chế độ Cộng sản tự tan rã. Không có sự kháng cự nào đáng kể cả.

Trước thập niên 1990, trên thế giới có tổng Cộng 23 quốc gia theo chế độ Cộng sản. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thập niên 1980 và 1990, có 18 quốc gia từ bỏ Cộng sản: Afghanistan, Albania, Angola, Benin, Bulgaria, Campuchia, Congo, Czechoslovakia, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Mông Cổ, Mozambique, Ba Lan, Romania, Nga, Nam Yemen và Yugoslavia. Người ta gọi những nước này (trừ Đông Đức vốn không còn là một “nước” riêng sau khi thống nhất) là “hậu Cộng sản” (postcommunism), một thuật ngữ do Zbigniew Brzezinski đưa ra vào năm 1989 (7). Do một số quốc gia, sau năm 1991, bị chia cắt (chủ yếu là do vấn đề chủng tộc), hiện nay có 28 quốc gia được xem là hậu Cộng sản (8).

“Hậu Cộng sản” nghĩa là không còn Cộng sản nữa.

Có thể nói, trên bình diện thế giới, cái gọi là “Cộng sản” đã thuộc về quá khứ. Khi “Cộng sản” thuộc về quá khứ, chuyện chống Cộng cũng không còn lý do hiện hữu nữa
.

Thật ra, trên thế giới cũng còn ít nhất năm quốc gia, trên danh nghĩa, chưa từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba. Tuy nhiên, trong năm quốc gia ấy, 
chỉ có Bắc Triều Tiên là thực sự Cộng sản, Cộng sản theo kiểu Stalin trong thập niên 1930 và 1940. Ở tất cả bốn nước còn lại, kể cả Việt Nam, chủ nghĩa Cộng sản đang dần dần biến chất và biến thể. Nó không giống chủ nghĩa Cộng sản của Stalin và Mao Trạch Đông. Nó cũng không giống chủ nghĩa Cộng sản của Lenin. Và nó cũng không giống chút nào với cái chủ nghĩa Cộng sản mà Mark và Engels quan niệm.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều chấp nhận kinh tế thị trường vốn là đặc trưng của 
chủ nghĩa tư bảnDĩ nhiên, cái gọi là “kinh tế thị trường” ở đây vẫn còn bị giới hạn bởi cái đuôi phía sau “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng cái đuôi ấy chỉ là một cố gắng níu kéo nắm giữ quyền lợi cho một số người thuộc tầng lớp thống trị qua các đại công ty và tập đoàn quốc doanh. Trên thực tế, hầu hết các hoạt động và sự điều hướng kinh tế vẫn theo quy luật thị trường, nghĩa là tư bản hóa.

Thứ hai, về phương diện chính trị, tất cả vẫn cố thủ, trên danh nghĩa, trong cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng ở đây cũng lại có vấn đề. Cái gọi là chính trị Cộng sản chủ nghĩa vốn bao gồm hai khía cạnh: một, về tổ chức, sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản; và hai, về phương diện ý thức hệ, lý thuyết của Marx và Lenin. 
Ở tất cả bốn quốc gia kể trên, Cộng sản chỉ nằm ở bình diện tổ chức, còn ở bình diện ý thức hệ, hầu như không ai còn tin, thậm chí, không mấy người muốn nhắc đến ý thức hệ Cộng sản nữa. Ngay ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thừa hiểu chủ nghĩa Marx-Lenin không còn sức thuyết phục và sự quyến rũ nữa. Họ phải thêm vào mấy chữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, cho đến nay, họ cũng không biết cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” ấy thực sự là gì. Lý do là Hồ Chí Minh vốn là người thực hành, không viết về lý thuyết, và thật ra thì cũng chẳng có lý thuyết gì ngoài một mớ giáo điều đơn giản và cũ kỹ ông học được ở Nga và Trung Quốc. Những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam sử dụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một huyền thoại chứ không như một chủ thuyết.

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một hình thái chính trị đúng nghĩa phải tương ứng với, thứ nhất, một hình thái kinh tế nhất định; và thứ hai, một ý thức hệ nhất định. 
Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là Cộng sản, nhưng kinh tế lại là tư bản hoặc ít nhất, nửa-tư bản hoặc đang trong quá trình tư bản hóa; còn ý thức hệ thì hoàn toàn trống rỗng: Nó phi-Marx và cũng phi-Lenin. Chẳng giống ai và cũng chẳng là cái gì cả. Đó là một thứ tôn giáo vừa không có thần linh vừa không có điển phạm (canon). Tên nó, ở Việt Nam, nhiều người gọi thẳng: mafia.

Bởi vậy, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, nếu chúng ta nói đến chuyện chống Cộng có lẽ ngay cả những người đang mang danh hiệu đảng viên Cộng sản trong nước – hầu hết đều rất giàu có và sống rất trưởng giả - sẽ cười khì, hỏi: “Cộng nào vậy nhỉ?” Lôi tư tưởng Marx, Engels và Lenin ra phê phán, phần lớn họ - những người chẳng bao giờ thực sự đọc Marx, Engels và Lenin – hẳn sẽ trố mắt lên hỏi: “Mấy người đó là ai vậy? Có phải mấy ông râu ria xồm xoàm gì đó không?” Nói đến đấu tranh giai cấp, đến tầng lớp công nhân và nông dân, đến chuyên chính vô sản, đến công bằng xã hội và đến lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, những vấn đề nòng cốt của ý thức hệ Cộng sản, họ - những người đang sống như giới thượng lưu và thường được gọi là “tư bản đỏ” – hẳn sẽ bịt tai lại, như nghe những chuyện cổ tích vừa xa vời vừa nhảm nhí.

Trong trường hợp ấy, chống Cộng là chống ai và chống cái gì?

Đối với riêng tôi, khi phê phán chính quyền trong nước, tôi không nghĩ là tôi chống Cộng. TÔI CHỈ CHỐNG LẠI ĐỘC TÀI.

Chế độ Việt Nam hiện nay đáng bị phê phán không phải vì nó là Cộng sản. Mà vì nó là độc tài. Cộng sản chỉ là nhãn hiệu. Độc tài mới là thực chất. Ngay cả khi chúng ta chống lại điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam, chúng ta cũng chỉ chống lại một sự độc tài. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang rục rịch muốn đổi tên nước. Có khi họ đổi cả tên đảng. Nhưng dù đổi đảng Cộng sản thành đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, cái việc nhân danh Hiến pháp để giành quyền lãnh đạo độc tôn như vậy cũng vẫn là độc tài. Tên gọi có thể thay đổi, thực chất vẫn là một. Vẫn độc tài.

Mọi sự độc tài đều đáng phê phán. 
Nhưng khi độc tài đi liền với bất tài thì càng đáng bị phê phán hơn. Và nhu cầu phê phán ấy cũng càng khẩn cấp hơn. Sự độc tài chà đạp lên dân chủ và nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp nào đó, dưới một sự độc tài sáng suốt, người ta cũng có thể sẵn sàng chấp nhận hy sinh dân chủ và nhân quyền trong một thời gian nào đó để xây dựng và phát triển đất nước (như trường hợp của Singapore)Độc tài mà bất tài thì bao giờ cũng gắn liền với sự ngu dốt và tham nhũng bởi họ sẽ không có, không thể có, bất cứ lý tưởng nào khác ngoài tiền và cũng không có một thứ trí tuệ nào khác nào thứ “trí tuệ” dùng để làm giàu cho bản thân và gia đình. Sự ngu dốt trong chính sách và tham nhũng trong bộ máy chỉ tồn tại được nhờ hai yếu tố: dối trá trong tuyên truyền và tàn bạo trong quản trị. Tập hợp của tất cả các yếu tố ấy, người ta chỉ làm được mỗi một việc duy nhất là tàn phá đất nước và hành hạ dân chúng. Tính chất độc tài, bất tài, tham nhũng, dối trá và tàn bạo ấy càng trở thành nguy hiểm hơn nữa khi đất nước đối diện với nguy cơ xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc.

Đối diện với các nguy cơ trên, chữ “chống Cộng”, theo tôi, rất dễ làm lệch vấn đề. Nó dễ gợi lên ấn tượng là, khi chống lại chế độ Việt Nam hiện nay, chúng ta nhân danh hai điều vốn bị xem là đối lập với Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam: Một, chủ nghĩa tư bản và hai, Việt Nam Cộng Hoà lúc trước. 
Nhưng chúng ta chống Cộng không phải vì chủ nghĩa tư bản và cũng không phải vì để trả thù hay để phục hồi miền Nam. Việc chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam cần xuất phát từ những lý tưởng hiện đại, cao cả và phổ quát hơn: quyền tự do, dân chủ và quyền làm người. Hơn nữa, nó còn xuất phát từ cả sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tiền đồ của đất nước nữa. Trong chiến tranh có tính dân tộc chủ nghĩa, người ta có thể huy động lịch sử, hay nói như Tố Hữu, trước năm 1975, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”; trong cuộc chiến chống độc tài, nguồn sức mạnh không phải chỉ nằm ở quá khứ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu còn, nằm ở tương lai.

Chúng ta chống lại chế độ Việt Nam hiện nay không phải vì việc họ chọn lựa hệ thống xã hội chủ nghĩa, việc họ gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, việc họ cưỡng chiếm miền Nam, việc họ trả thù những người miền Nam: Tất cả đều đã thuộc quá khứ.

Người ta cần lưu giữ quá khứ, cần thường xuyên đào xới lại quá khứ và cần viết lại quá khứ, một cách chính thức, bằng lịch sử; hoặc một cách không chính thức, bằng ký ức, từ ký ức cá nhân đến ký ức tập thể. Nhưng không ai thay đổi được quá khứ. Càng không cần phải chống lại quá khứ. Những điều ấy khác nhau.

Chúng ta chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam vì nó ĐANG chà đạp lên quần chúng, ĐANG làm cho đất nước bị phá sản trên mọi phương diện, từ kinh tế đến giáo dục, từ ý thức đạo đức đến cả lòng tự hào dân tộc, từ các giá trị truyền thống đến tinh thần hiện đại với những giá trị về dân chủ và nhân quyền vốn đang, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, càng ngày càng trở thành phổ quát, ĐANG kiềm hãm sự phát triển của đất nước khiến Việt Nam, một dân tộc vốn rất nhiều năng lực, bị thua kém không những các nước được xem là những con rồng của châu Á mà còn có nguy cơ thua cả một quốc gia vốn bị rất nhiều tai tiếng, như Miến Điện.

Và chúng ta cũng chống lại chế độ ấy vì, với sự nhu nhược của nó, Việt Nam có nguy cơ bị biến thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc.

Cuối cùng, có một điểm cần được nói thêm: 
Ở Tây phương, ngay trong thời Chiến tranh lạnh, nghĩa là lúc chế độ Cộng sản vẫn còn rất mạnh, nhiều chiến lược gia và trí thức, đặc biệt ở châu Âu, đã chuyển khẩu hiệu “chống Cộng” (anti-communism) thành “chống toàn trị” (anti-totalitarianism). Dưới khẩu hiệu chống toàn trị, người ta không những chống lại chế độ Cộng sản mà còn chống lại cả chế độ phát xít, đồng thời người ta cũng khẳng định được lập trường của họ một cách rõ ràng: Việc chống đối ấy, thứ nhất, không nhắm vào một lý thuyết mà nhắm vào một chế độ với những guồng máy và chính sách cụ thể; và thứ hai, không nhằm bảo vệ hay bênh vực cho chủ nghĩa tư bản mà là để bảo vệ dân chủ và nhân quyền, những lý tưởng vừa có tính phổ quát vừa dễ được mọi người đồng thuận.

Cả tính phổ quát và sự đồng thuận ấy tạo nên sức mạnh cho cuộc tranh đấu, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa như một hệ thống độc tài đáng kinh tởm (9).

***

Chú thích:
  1. Trên một số bản kiến nghị lưu hành trên internet, tôi thấy có tên “Nguyễn Hưng Quốc” ở Úc. Đó không phải là tôi. Có thể chỉ là trùng tên hoặc là một sự giả mạo. Bản thân tôi thì chưa từng ký vào bất cứ một kiến nghị nào cả.
  2. Richard Pipes (2003), Communism, a History, New York: Random House, tr. 147.
  3. Như trên.
  4. Do Jonathan Murphy và Mark Kramer dịch sang tiếng Anh, Harvard University Press, 1999.
  5. Xem Stathis N. Kalyvas (1999), “The decay and breakdown of communist one-party systems”,Annu, 1999, tr. 329.
  6. Stéphane Courtois và nhiều người khác (biên tập) (1999), The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Cambridge: Havcard University Press, tr. 7.
  7. Leslie Holmes (1997), Post-Communism, an Introduction, Cambridge: Polity Press, tr. 13.
  8. Ghia Nodia (2000), “Chasing the meaning of ‘post-communsm’: a transitional phenomenon or something to stay?”, Contemporary European History, 9 (2000), tr. 278.
  9. Xem bài “From anti-communism to anti-totalitarianism: the radical potential of democray” của Dick Howard trên Government and Oppositionsố 37, 2002, tr. 551-572.

 




 
 

To: Date: Sun, 12 May 2013 05:22:26 -0700
Subject: [ChinhNghiaViet] NGUYEN HUNG QUOC :Tôi chống độc tài không c
hng Cộng

 
 
 
----- Forwarded Message -----
From: truc nguyen <>
To:
Sent: Saturday, 11 May 2013 11:28 PM
Subject:  NGUYEN HUNG QUOC :Tôi chống độc tài  không chống Cộng
 
 
 
 
Tôi chống độc tài không chống Cộng
Nguyễn Hưng Quốc
 

 
Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ,
theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.

Lý do thứ hai này cần được giải thích nhiều hơn:

Cái gọi là “chống Cộng” bao gồm hai nội dung chính: một, chống lại chủ thuyết Cộng sản (chủ yếu là chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin); và hai, chống lại chế độ Cộng sản.
Với cả hai nội dung ấy, trước năm 1975, nói chống Cộng: Được; trước năm 1990, nói chống Cộng: Được. Nhưng sau năm 1991, nói chống Cộng là nói một điều thừa thãi, thậm chí, vô duyên. Và có hại.

Trong việc chống Cộng, trước năm 1991, hai khía cạnh chống chủ thuyết (hoặc ý thức hệ) và chống chế độ (hoặc một guồng máy) là một. Chế độ, vốn cụ thể, gắn liền với hệ thống chính trị, tức là hệ thống quyền lực, là mục tiêu chống đối trước mắt. Nhưng sức mạnh của chế độ Cộng sản không phải chỉ ở đảng viên, cán bộ, quân đội, công an, súng đạn và các nhà tù. Sức mạnh của chế độ Cộng sản còn ở các lý tưởng tự do, bình đẳng cũng như cái thiên đường Cộng sản chủ nghĩa vốn có sức mê hoặc to lớn đối với mọi người, đặc biệt với giới trí thức vốn khao khát những điều cao cả, có tầm nhân loại. Hơn nữa, nó còn nằm ở các ảo tưởng về tính khoa học của chủ nghĩa Cộng sản hay ở cái gọi là tính tất yếu trong quy luật phát triển của lịch sử. Bởi vậy, người ta không thể chống lại chế độ Cộng sản chỉ bằng các phương tiện vật chất. Người ta phải chống lại chế độ Cộng sản ngay cả trong phạm trù tư tưởng, trong lãnh vực nhận thức, nghĩa là bằng các phương tiện tuyên truyền và giáo dục, nhắm thẳng vào những tên tuổi như Marx, Engels, Lenin và Stalin, những người đã chết; hơn nữa, bằng một bảng giá trị khác, cao hơn, hiện hữu ngay trong đời sống xã hội để mọi người có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, nghĩa là bằng một nỗ lực không ngừng tự do hoá, dân chủ hoá và nhân quyền hoá, như những điều chủ nghĩa tư bản, ở các quốc gia phát triển nhất, từng làm trong suốt thế kỷ 20.

Tuy nhiên, kể từ năm 1991, với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Cộng sản, với tư cách một chế độ, hoàn toàn sụp đổ; và cùng với nó, chủ nghĩa Cộng sản, với tư cách một ý thức hệ chính trị, cũng bị phá sản theo. Trật tự này, thật ra, theo một số học giả, cũng có thể đảo ngược hẳn lại: Vì sự phá sản của ý thức hệ Cộng sản, chế độ Cộng sản, với tư cách một bộ máy chính quyền, đã sụp đổ. Nhưng dù mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, thực chất của vấn đề vẫn là một: phá sản và sụp đổ.

Về phương diện lý thuyết, hầu như ai cũng thấy chủ nghĩa Cộng sản sai. Những người thiên tả, ít nhiều lưu luyến với chủ nghĩa Cộng sản, cố vớt vát khi cho cái sai ấy không xuất phát từ Karl Marx mà từ Lenin, đặc biệt từ
Stalin và Mao Trạch Đông; nghĩa là, nó không sai hẳn, nhưng một, nó không được cập nhật để theo kịp những thay đổi và tiến bộ của chủ nghĩa tư bản; và hai, nó chỉ sai trong cách ứng dụng và vận dụng lý thuyết Marx vào thực tế. Tuy nhiên, nói theo Richard Pipes, trong cuốn Communism, a History (2), chủ nghĩa Cộng sản, ngay trong tư tưởng của Karl Marx, không phải là một ý tưởng hay nhưng bị thực hiện sai mà, tự bản chất, nó là một ý tưởng dở; hay nói theo Kolakowski, do Pipes trích dẫn, chủ nghĩa Marx – nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản – là một huyễn tưởng lớn nhất của thế kỷ 20 (3).

Trong vô số những cái sai của chủ nghĩa Marx-Lenin,
cái sai này là đáng kể nhất: Họ cho chế độ tư hữu là cội rễ của bất bình đẳng và tin là họ có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ấy để xây dựng một xã hội thực sự bình đẳng, không ai bóc lột ai và cũng không ai thống trị ai. Trên thực tế, khi công hữu hóa mọi tài sản và mọi phương tiện sản xuất, thứ nhất, họ triệt tiêu hầu như mọi động cơ lao động và sản xuất của người dân; thứ hai, họ tạo nên một giai cấp đặc quyền và đặc lợi để nắm toàn bộ việc lãnh đạo và quản lý các tài sản và công cụ sản xuất đã được công hữu hóa ấy. Những người ấy, một mặt, kém khả năng quản lý nên dẫn đến hết thất bại này sang thất bại khác; mặt khác, quan trọng hơn, trở thành một thành phần thống trị vừa ngu dốt vừa độc đoán, vừa tham nhũng vừa tàn bạo. Tất cả các yếu tố ấy không những dẫn đến những sự thất bại nặng nề về phương diện kinh tế mà còn phá hủy toàn bộ nền tảng lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản vốn nhắm đến tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Một cái sai khác của chủ nghĩa Marx-Lenin là họ đơn giản hóa lịch sử nhân loại vào lịch sử đấu tranh giai cấp. Sự phát triển của lịch sử, thật ra, còn tùy thuộc, thậm chí, tùy thuộc chủ yếu vào sự hợp tác của con người trong việc khám phá các quy luật của tự nhiên, từ đó, đẩy mạnh các khám phá về kỹ thuật để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người. Chủ nghĩa tư bản, trong thế kỷ 20, đã chứng minh điều đó: Giới chủ nhân biết san sẻ trách nhiệm và quyền lợi với giới công nhân, nhờ đó, so với thế kỷ 19, công nhân càng ngày càng được hưởng lương cao và càng ngày càng được hưởng chế độ lao động hợp lý hơn. Hơn nữa, chính quyền cũng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân và, qua chính sách thuế khóa, bảo đảm sự công bằng trong xã hội. Nhiều quốc gia mang tiếng là tư bản nhưng về các chính sách lao động và an sinh xã hội lại không khác gì với cái lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Marx mơ ước. Chưa hết. Yếu tố then chốt trong sản xuất không phải chỉ là công cụ sản xuất mà còn có cả tri thức. Mà tri thức thì không ai độc quyền được.

Một người tị nạn, như người Việt Nam sau năm 1975, chẳng hạn, khi sang nước ngoài, với hai bàn tay trắng, không thể sở hữu các công cụ sản xuất để làm chủ nhân bất cứ thứ gì được. Nhưng bù lại, chỉ cần chịu khó học hành, sau một thời gian nhất định, người đó có thể sở hữu một vốn tri thức khá cao đủ để bước vào thế giới trung lưu, thậm chí trung lưu cao, dễ dàng. Chính trong lãnh vực tri thức, vốn gắn liền với giáo dục, xã hội tư bản đã tạo nên sự bình đẳng thực sự và tối đa: Nếu mọi người không được và không thể bình đẳng khi ra đời (vốn gắn liền với gia đình, thành phần xã hội, chủng tộc và những đặc điểm về trí tuệ riêng – những điều không ai có thể lựa chọn được), họ lại được bình đẳng trong cơ hội để phát triển và tiến bộ. Ai cũng được quyền đi học; bất cứ ai có trí và có nghị lực cũng đều đi học được, và từ đó, có thể thay đổi cuộc đời mình được. Với những đặc điểm ấy, chủ nghĩa tư bản không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả mà còn tạo nên sự bình đẳng và dân chủ, tuy không hẳn đã hoàn hảo, nhưng cũng hơn hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa đủ để mọi người, kể cả những người đang sống dưới chế độ Cộng sản, cũng nhận thấy không phải kẻ thù mà chính mình mới là những kẻ đang đứng trước vực thẳm. Sự so sánh ấy cũng làm cho người ta nhận thấy những hứa hẹn về một thiên đường Cộng sản chủ nghĩa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, chỉ là một ảo tưởng, hơn nữa, một không tưởng. Cái không tưởng ấy lại bị trả giá bằng máu. Không phải máu của một hai người. Mà là của cả một tập thể, có khi cực kỳ đông đảo. Cả hàng triệu hay chục triệu người.

Về phương diện thực tiễn, với tư cách một chế độ, chủ nghĩa Cộng sản có năm đặc điểm chính trên bình diện tổ chức. Một, đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo; hai, đảng ấy được tổ chức một cách chặt chẽ với một thứ kỷ luật thép từ trên xuống dưới; ba, kinh tế hoàn toàn tập trung, mọi quyết định, kể cả về giá cả thị trường, đều do cấp trên quyết định; bốn, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước; và năm, mỗi quốc gia đều liên kết và, với những mức độ khác nhau, lệ thuộc vào cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế nói chung. Với cách tổ chức như thế, chế độ Cộng sản vấp phải vô số sai lầm. Và những sai lầm ấy rất dễ thấy.

Thứ nhất, các chế độ Cộng sản không những không công bằng hơn các chế độ tư bản, mà thậm chí, còn tệ hại hơn cả các chế độ phong kiến ngày xưa. Xưa, chỉ có vua, nay có cả nguyên một đảng đứng trên pháp luật. Xưa, chỉ có vua là được hưởng mọi đặc quyền và đặc lợi; nay,
có cả hàng triệu người nhân danh đảng thi nhau vơ vét lợi và thao túng quyền.

Thứ hai, ngoài chuyện bất bình đẳng,
chế độ Cộng sản, qua hơn 70 năm tồn tại, đã chứng tỏ sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu. Những nhà lãnh đạo Cộng sản như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… không phải giống vua mà là giống các bạo chúa. Vua, còn đỡ. Trong đám vua còn có các minh quân. Trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản, được xây dựng quyền lực trên nguyên tắc “chuyên chính”, ngay cả những người có tiềm năng là minh quân cũng trở thành bạo chúa. Hậu quả là chế độ Cộng sản trở thành một chế độ đứng đầu trong danh sách giết người trong suốt cả thế kỷ 20. Họ giết người còn nhiều hơn cả chế độ phát xít và Nazi. Bàn tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhuộm nhiều máu hơn cả bàn tay của Hitler. Trong cuốn The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression do Stéphane Courtois và nhiều người khác biên tập (4), các tác giả ước tính tổng số nạn nhân bị giết chết dưới các chế độ Cộng sản trên thế giới kể từ năm 1917 đến năm 1991 là khoảng 100 triệu người, bao gồm khoảng 20 triệu ở Nga, 65 triệu ở Trung Quốc, hai triệu ở Campuchia, hai triệu ở Bắc Triều Tiên, một triệu ở Đông Âu, v.v..

Thứ ba, chế độ Cộng sản hoàn toàn thất bại về phương diện lãnh đạo và quản lý kinh tế đất nước.
Không có nước Cộng sản nào giàu có và dân chúng được no ấm. Từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970, kinh tế của các nước Cộng sản bị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Đến thập niên 1980, chỉ số phát triển của nó hầu như chỉ là một con số không to tướng. Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa thời ấy, rất nhiều cửa tiệm trống rỗng không có hàng hóa để bán (5). Dân chúng ngất ngư vì đói khát. Nhưng dễ thấy nhất là khi chúng ta nhìn vào các quốc gia bị chia đôi, trong đó, một nửa theo chế độ Cộng sản và một nửa theo chế độ tư bản. Như Đông Đức và Tây Đức. Hay như Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên. Cái nửa theo chế độ Cộng sản bao giờ cũng có chỉ số phát triển thấp hơn hẳn cái nửa theo chế độ tư bản. Thấp một cách toàn diện. Riêng ở Triều Tiên, thu nhập tính trên đầu người ở miền Nam (32.400 đô la/người/năm) gấp 18 lần ở miền Bắc (1.800 đô la). Cùng một dân tộc. Cùng một lịch sử. Chỉ khác ở chế độ. Mà hai nơi khác nhau đến vậy.

Cuối cùng, nói theo Stéphane Courtois (6), Cộng sản phạm vô số tội ác không phải đối với con người với tư cách cá nhân mà còn đối với cả văn minh nhân loại và văn hóa quốc gia.
Ở đâu, các chế độ Cộng sản cũng phá tan tành rất nhiều di tích và di sản lịch sử cũng như các nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự. Họ trấn áp các tôn giáo, xóa bỏ nhiều truyền thống tốt đẹp với lý do, theo họ, đó là những tàn tích của chế độ phong kiến.

Với những thất bại hiển nhiên về cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành như vậy, chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn toàn bị sụp đổ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thoạt đầu, vào năm 1989, với việc đảng Cộng sản Hungary chấp nhận một hệ thống chính trị đa đảng vào tháng 2; việc Công đoàn Đoàn kết thắng phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội Ba Lan vào tháng 6, sau đó, lên nắm chính quyền vào tháng 9; việc Bức tường Berlin bị sụp đổ vào tháng 11 (sau đó nước Đức được thống nhất vào tháng 10/ 1990); kết thúc bằng việc Mikhail Gorbachev tuyên bố từ bỏ chế độ độc đảng vào ngày 7/2/1990; và sau đó, sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào tháng 12/1991 (trước, trong và sau sự tan ra ấy, có 16 quốc gia – vốn bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết - tuyên bố độc lập, bao gồm: Lithuania, Estonia, Latvia, Georgia, Ukraine, Belarus, Moldova, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan, Armenia, Turkmenistan, và Kazakhstan).

Nếu sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản là biến cố lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ 20, sự tan rã của nó ở Nga và Đông Âu là một biến cố trọng đại nhất trong sau thế kỷ 20. Cả hai đều là cách mạng. Cuộc cách mạng đầu nổ ra và, sau đó, tồn tại bằng máu và nước mắt; cuộc cách mạng sau, ngược lại, diễn ra với ba đặc điểm chính: nhanh chóng, nhẹ nhàng và bất bạo động. Có vẻ như giới lãnh đạo Cộng sản (trừ ở Romania) tự ý từ bỏ quyền lực và chế độ Cộng sản tự tan rã. Không có sự kháng cự nào đáng kể cả.

Trước thập niên 1990, trên thế giới có tổng Cộng 23 quốc gia theo chế độ Cộng sản. Trong thời điểm giao thừa giữa hai thập niên 1980 và 1990, có 18 quốc gia từ bỏ Cộng sản: Afghanistan, Albania, Angola, Benin, Bulgaria, Campuchia, Congo, Czechoslovakia, Đông Đức, Ethiopia, Hungary, Mông Cổ, Mozambique, Ba Lan, Romania, Nga, Nam Yemen và Yugoslavia. Người ta gọi những nước này (trừ Đông Đức vốn không còn là một “nước” riêng sau khi thống nhất) là “hậu Cộng sản” (postcommunism), một thuật ngữ do Zbigniew Brzezinski đưa ra vào năm 1989 (7). Do một số quốc gia, sau năm 1991, bị chia cắt (chủ yếu là do vấn đề chủng tộc), hiện nay có 28 quốc gia được xem là hậu Cộng sản (8).

“Hậu Cộng sản” nghĩa là không còn Cộng sản nữa.

Có thể nói, trên bình diện thế giới, cái gọi là “Cộng sản” đã thuộc về quá khứ. Khi “Cộng sản” thuộc về quá khứ, chuyện chống Cộng cũng không còn lý do hiện hữu nữa
.

Thật ra, trên thế giới cũng còn ít nhất năm quốc gia, trên danh nghĩa, chưa từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Bắc Triều Tiên và Cuba. Tuy nhiên, trong năm quốc gia ấy,
chỉ có Bắc Triều Tiên là thực sự Cộng sản, Cộng sản theo kiểu Stalin trong thập niên 1930 và 1940. Ở tất cả bốn nước còn lại, kể cả Việt Nam, chủ nghĩa Cộng sản đang dần dần biến chất và biến thể. Nó không giống chủ nghĩa Cộng sản của Stalin và Mao Trạch Đông. Nó cũng không giống chủ nghĩa Cộng sản của Lenin. Và nó cũng không giống chút nào với cái chủ nghĩa Cộng sản mà Mark và Engels quan niệm.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều chấp nhận kinh tế thị trường vốn là đặc trưng của
chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, cái gọi là “kinh tế thị trường” ở đây vẫn còn bị giới hạn bởi cái đuôi phía sau “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng cái đuôi ấy chỉ là một cố gắng níu kéo nắm giữ quyền lợi cho một số người thuộc tầng lớp thống trị qua các đại công ty và tập đoàn quốc doanh. Trên thực tế, hầu hết các hoạt động và sự điều hướng kinh tế vẫn theo quy luật thị trường, nghĩa là tư bản hóa.

Thứ hai, về phương diện chính trị, tất cả vẫn cố thủ, trên danh nghĩa, trong cái gọi là chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng ở đây cũng lại có vấn đề. Cái gọi là chính trị Cộng sản chủ nghĩa vốn bao gồm hai khía cạnh: một, về tổ chức, sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản; và hai, về phương diện ý thức hệ, lý thuyết của Marx và Lenin. Ở tất cả bốn quốc gia kể trên, Cộng sản chỉ nằm ở bình diện tổ chức, còn ở bình diện ý thức hệ, hầu như không ai còn tin, thậm chí, không mấy người muốn nhắc đến ý thức hệ Cộng sản nữa. Ngay ở Việt Nam, giới lãnh đạo cũng thừa hiểu chủ nghĩa Marx-Lenin không còn sức thuyết phục và sự quyến rũ nữa. Họ phải thêm vào mấy chữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên, cho đến nay, họ cũng không biết cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” ấy thực sự là gì. Lý do là Hồ Chí Minh vốn là người thực hành, không viết về lý thuyết, và thật ra thì cũng chẳng có lý thuyết gì ngoài một mớ giáo điều đơn giản và cũ kỹ ông học được ở Nga và Trung Quốc. Những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam sử dụng cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như một huyền thoại chứ không như một chủ thuyết.

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, một hình thái chính trị đúng nghĩa phải tương ứng với, thứ nhất, một hình thái kinh tế nhất định; và thứ hai, một ý thức hệ nhất định.
Nền chính trị Việt Nam hiện nay, trên danh nghĩa, vẫn là Cộng sản, nhưng kinh tế lại là tư bản hoặc ít nhất, nửa-tư bản hoặc đang trong quá trình tư bản hóa; còn ý thức hệ thì hoàn toàn trống rỗng: Nó phi-Marx và cũng phi-Lenin. Chẳng giống ai và cũng chẳng là cái gì cả. Đó là một thứ tôn giáo vừa không có thần linh vừa không có điển phạm (canon). Tên nó, ở Việt Nam, nhiều người gọi thẳng: mafia.

Bởi vậy, trong trường hợp của Việt Nam hiện nay, nếu chúng ta nói đến chuyện chống Cộng có lẽ ngay cả những người đang mang danh hiệu đảng viên Cộng sản trong nước – hầu hết đều rất giàu có và sống rất trưởng giả - sẽ cười khì, hỏi: “Cộng nào vậy nhỉ?”
Lôi tư tưởng Marx, Engels và Lenin ra phê phán, phần lớn họ - những người chẳng bao giờ thực sự đọc Marx, Engels và Lenin – hẳn sẽ trố mắt lên hỏi: “Mấy người đó là ai vậy? Có phải mấy ông râu ria xồm xoàm gì đó không?” Nói đến đấu tranh giai cấp, đến tầng lớp công nhân và nông dân, đến chuyên chính vô sản, đến công bằng xã hội và đến lý tưởng làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, những vấn đề nòng cốt của ý thức hệ Cộng sản, họ - những người đang sống như giới thượng lưu và thường được gọi là “tư bản đỏ” – hẳn sẽ bịt tai lại, như nghe những chuyện cổ tích vừa xa vời vừa nhảm nhí.

Trong trường hợp ấy, chống Cộng là chống ai và chống cái gì?

Đối với riêng tôi, khi phê phán chính quyền trong nước, tôi không nghĩ là tôi chống Cộng. TÔI CHỈ CHỐNG LẠI ĐỘC TÀI.

Chế độ Việt Nam hiện nay đáng bị phê phán không phải vì nó là Cộng sản. Mà vì nó là độc tài. Cộng sản chỉ là nhãn hiệu. Độc tài mới là thực chất. Ngay cả khi chúng ta chống lại điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam, chúng ta cũng chỉ chống lại một sự độc tài. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang rục rịch muốn đổi tên nước. Có khi họ đổi cả tên đảng. Nhưng dù đổi đảng Cộng sản thành đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, cái việc nhân danh Hiến pháp để giành quyền lãnh đạo độc tôn như vậy cũng vẫn là độc tài. Tên gọi có thể thay đổi, thực chất vẫn là một. Vẫn độc tài.

Mọi sự độc tài đều đáng phê phán.
Nhưng khi độc tài đi liền với bất tài thì càng đáng bị phê phán hơn. Và nhu cầu phê phán ấy cũng càng khẩn cấp hơn. Sự độc tài chà đạp lên dân chủ và nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp nào đó, dưới một sự độc tài sáng suốt, người ta cũng có thể sẵn sàng chấp nhận hy sinh dân chủ và nhân quyền trong một thời gian nào đó để xây dựng và phát triển đất nước (như trường hợp của Singapore). Độc tài mà bất tài thì bao giờ cũng gắn liền với sự ngu dốt và tham nhũng bởi họ sẽ không có, không thể có, bất cứ lý tưởng nào khác ngoài tiền và cũng không có một thứ trí tuệ nào khác nào thứ “trí tuệ” dùng để làm giàu cho bản thân và gia đình. Sự ngu dốt trong chính sách và tham nhũng trong bộ máy chỉ tồn tại được nhờ hai yếu tố: dối trá trong tuyên truyền và tàn bạo trong quản trị. Tập hợp của tất cả các yếu tố ấy, người ta chỉ làm được mỗi một việc duy nhất là tàn phá đất nước và hành hạ dân chúng. Tính chất độc tài, bất tài, tham nhũng, dối trá và tàn bạo ấy càng trở thành nguy hiểm hơn nữa khi đất nước đối diện với nguy cơ xâm lấn chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc.

Đối diện với các nguy cơ trên, chữ “chống Cộng”, theo tôi, rất dễ làm lệch vấn đề. Nó dễ gợi lên ấn tượng là, khi chống lại chế độ Việt Nam hiện nay, chúng ta nhân danh hai điều vốn bị xem là đối lập với Cộng sản, nhất là Cộng sản Việt Nam: Một, chủ nghĩa tư bản và hai, Việt Nam Cộng Hoà lúc trước.
Nhưng chúng ta chống Cộng không phải vì chủ nghĩa tư bản và cũng không phải vì để trả thù hay để phục hồi miền Nam. Việc chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam cần xuất phát từ những lý tưởng hiện đại, cao cả và phổ quát hơn: quyền tự do, dân chủ và quyền làm người. Hơn nữa, nó còn xuất phát từ cả sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tiền đồ của đất nước nữa. Trong chiến tranh có tính dân tộc chủ nghĩa, người ta có thể huy động lịch sử, hay nói như Tố Hữu, trước năm 1975, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”; trong cuộc chiến chống độc tài, nguồn sức mạnh không phải chỉ nằm ở quá khứ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu còn, nằm ở tương lai.

Chúng ta chống lại chế độ Việt Nam hiện nay không phải vì việc họ chọn lựa hệ thống xã hội chủ nghĩa, việc họ gây ra cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam, việc họ cưỡng chiếm miền Nam, việc họ trả thù những người miền Nam: Tất cả đều đã thuộc quá khứ.

Người ta cần lưu giữ quá khứ, cần thường xuyên đào xới lại quá khứ và cần viết lại quá khứ, một cách chính thức, bằng lịch sử; hoặc một cách không chính thức, bằng ký ức, từ ký ức cá nhân đến ký ức tập thể. Nhưng không ai thay đổi được quá khứ. Càng không cần phải chống lại quá khứ. Những điều ấy khác nhau.

Chúng ta chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam vì nó ĐANG chà đạp lên quần chúng, ĐANG làm cho đất nước bị phá sản trên mọi phương diện, từ kinh tế đến giáo dục, từ ý thức đạo đức đến cả lòng tự hào dân tộc, từ các giá trị truyền thống đến tinh thần hiện đại với những giá trị về dân chủ và nhân quyền vốn đang, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, càng ngày càng trở thành phổ quát, ĐANG kiềm hãm sự phát triển của đất nước khiến Việt Nam, một dân tộc vốn rất nhiều năng lực, bị thua kém không những các nước được xem là những con rồng của châu Á mà còn có nguy cơ thua cả một quốc gia vốn bị rất nhiều tai tiếng, như Miến Điện.

Và chúng ta cũng chống lại chế độ ấy vì, với sự nhu nhược của nó, Việt Nam có nguy cơ bị biến thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc.

Cuối cùng, có một điểm cần được nói thêm:
Ở Tây phương, ngay trong thời Chiến tranh lạnh, nghĩa là lúc chế độ Cộng sản vẫn còn rất mạnh, nhiều chiến lược gia và trí thức, đặc biệt ở châu Âu, đã chuyển khẩu hiệu “chống Cộng” (anti-communism) thành “chống toàn trị” (anti-totalitarianism). Dưới khẩu hiệu chống toàn trị, người ta không những chống lại chế độ Cộng sản mà còn chống lại cả chế độ phát xít, đồng thời người ta cũng khẳng định được lập trường của họ một cách rõ ràng: Việc chống đối ấy, thứ nhất, không nhắm vào một lý thuyết mà nhắm vào một chế độ với những guồng máy và chính sách cụ thể; và thứ hai, không nhằm bảo vệ hay bênh vực cho chủ nghĩa tư bản mà là để bảo vệ dân chủ và nhân quyền, những lý tưởng vừa có tính phổ quát vừa dễ được mọi người đồng thuận.

Cả tính phổ quát và sự đồng thuận ấy tạo nên sức mạnh cho cuộc tranh đấu, cuối cùng, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa như một hệ thống độc tài đáng kinh tởm (9).

***

Chú thích:
  1. Trên một số bản kiến nghị lưu hành trên internet, tôi thấy có tên “Nguyễn Hưng Quốc” ở Úc. Đó không phải là tôi. Có thể chỉ là trùng tên hoặc là một sự giả mạo. Bản thân tôi thì chưa từng ký vào bất cứ một kiến nghị nào cả.
  2. Richard Pipes (2003), Communism, a History, New York: Random House, tr. 147.
  3. Như trên.
  4. Do Jonathan Murphy và Mark Kramer dịch sang tiếng Anh, Harvard University Press, 1999.
  5. Xem Stathis N. Kalyvas (1999), “The decay and breakdown of communist one-party systems”, Annu, 1999, tr. 329.
  6. Stéphane Courtois và nhiều người khác (biên tập) (1999), The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Cambridge: Havcard University Press, tr. 7.
  7. Leslie Holmes (1997), Post-Communism, an Introduction, Cambridge: Polity Press, tr. 13.
  8. Ghia Nodia (2000), “Chasing the meaning of ‘post-communsm’: a transitional phenomenon or something to stay?”, Contemporary European History, 9 (2000), tr. 278.
  9. Xem bài “From anti-communism to anti-totalitarianism: the radical potential of democray” của Dick Howard trên Government and Opposition số 37, 2002, tr. 551-572.
 
 
 
 
 

Xã Hội Đen Nuôi Côn Đồ Đỏ


 

http://thongtinberlin.de/thoisu/photo/2415463370043093582S425x425Q85.jpg

Xã Hội Đen Nuôi Côn Đồ Đỏ

Đinh Tấn Lực
DienDanCTM

Người giúp người bi nhiêu cũng thiếu 
 Người hại người chút xíu cũng dư
 (Lê Nan – tiên sư Lê Nin)
Mững này, theo lời gã hoàng thân quốc thích của LêNin vừa dẫn, thì xứ mình… dư bạo. Bởi vì, còn hơn đinh đóng cột, cái quyền hại người ở đây nó được treo chắc cú bằng lòi tói ngay trên hiến pháp 1992, đánh số 4. Rồi nó được “nâng cấp” (ngược đời) thành luật thòng lọng, đánh số 79, 84, 88…
 
Đừng tưởng rằng đó chỉ là những con chữ số vô tình/vô tội. Nó là khiên, là thuẫn cho giới lãnh đạo ưa bạo lực, chuộng đấm đá, khoái máu đổ, thích chia lìa, ưng bóp nghẹt, kêu bằng thực thi sứ mệnh lịch sử “làm Kách Mệnh”. Nó còn là mộc che, là áo giáp cho dàn âm binh (đồng phục ngũ sắc) khoác vai “người thi hành công vụ”, tức là thực hiện nhiệm vụ được giao phó (bằng ấn tín dùi cui/roi điện/AK) để bảo vệ đám phù thủy kách mệnh vừa nói.
*
Đồng dao hiện đại cứ nhẫn nha/tha thẩn/ngân nga:
Du thủ là chủ lưu manh
Lưu manh là anh côn đồ
Côn đồ là bồ cảnh sát
Cảnh sát là bác dân phòng
Dân phòng là chồng gái điếm
Gái điếm là thím bố già
Bố già là cha đầu gấu
Đầu gấu là cậu công an
Công an là bạn du thủ
 
Thế là chúng chằng chịt quyện quấn vào nhau, thành một lực lượng âm binh vũ trang tận răng, được lãnh đạo ưu ái tặng không cho phần bảo hiểm có ghi trên điều 4 hiến pháp… rồi lại thêm cái đề xuất “trực tiếp bắn vào dân” để giải quyết nhanh gọn mọi tình huống!
 
Thế là, Google cũng vò đầu gãi tai: Trước đây, chỉ cần truy tìm cụm từ Công An Đánh Dân, Google sẽ cho ngay 108 triệu kết quả trong vòng 1/3 giây. Nay, Google không thể gộp hết được tình hình “phối hợp tác chiến cực đẹp” của lực lượng du thủ + lưu manh + côn đồ + cảnh sát + dân phòng + bố già + đầu gấu + công an chính chủ.
 
Thế là, một khi đảng chính thức thờ giặc như thần thánh, coi dân như kẻ thù, thì đương nhiên, lực lượng phối hợp tác chiến cực đẹp này phải coi dân là “đối tượng xử lý”.
 
Chỉ khi lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, người ta mới rùng mình về khả năng giới hạn chỉ có thể ghi lại một số vụ việc nổi cộm (mà giả sử nếu đo được theo kiểu địa chấn kế thì chí ít cũng phải cỡ 8 chấm trên thang Richter), chẳng hạn như vụt gãy cổ, đập bể sọ, đánh gãy răng, đạp dẹt mặt, bắn xuyên đùi, nổ thủng bụng, đập máy ảnh, giật ống kính, quăng lên xe, cướp iPhone, thu iPad, xiết cổ , quặt tay, kẹp hông, khiêng ngửa, xốc ngược,… hoặc ghi vội những phát ngôn bất tử (“tự do kái kủ kặc”/”nhà báo hả đánh chết mẹ mày luôn”/”cho mày mất khả năng đàn ông luôn” v.v…), bất kể nạn nhân là Việt bản xứ hay phóng viên nước ngoài.
 
Chỉ khi lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, người ta mới khó lòng nhớ hết chi tiết, nhưng vẫn nghẹn lời/nghẹt thở mỗi khi nghe nhắc đến những địa danh Cồn Dầu-Đà Nẵng, Thuận Thành-Bắc Ninh, Ngã Năm-Sóc Trăng, Diên Khánh- Khánh Hòa, Điện Bàn-Quảng Nam, Vụ Bản-Nam Định, Nghi Sơn&Hoằng Hóa-Thanh Hóa, Ngọc Lý&Tân Yên-Bắc Giang, Châu Thành-Hậu Giang, Trảng Bom-Đồng Nai, Lâm Hà-Lâm Đồng, Đại Từ&Phú Bình-Thái Nguyên, Mỹ Bình-Long Xuyên, Quán Trữ&Thủy Nguyên&Tiên Lãng-Hải Phòng, Uông Bí-Quảng Ninh, Hoài Đức-Hà Tây, Cửa Lò&Vinh-Nghệ An, Hà Tĩnh-Hà Tĩnh, Nha Trang-Khánh Hòa, Tân An&Thủ Thừa-Long An, Mỹ Tho-Tiền Giang, Bến Cát&Tân Uyên-Bình Dương, Phan Thiết-Bình Thuận, Thủy Xuân&Phú Vang- Huế, Năm Căn-Cà Mau, Làng Mai-Lâm Đồng, Tam Tòa-Quảng Bình, Khoái Châu&Văn Giang/Hưng Yên, Quận 2&Quận 6&Quận 9-Sài Gòn, và cả Chương Mỹ&Hai Bà Trưng&Thịnh Liệt&Long Biên&Cầu Giấy&Thái Hà&Dương Nội&Đồng Chiêm… trực thuộc Thủ Đô Vì Hòa Bình của VN.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, các loại vũ khí hủy diệt/sát thương hàng loạt made-in Vietnam mới từ nay được viết tắt là CAVN. Công an VN không còn là nhân viên công lực, hay người đại diện luật pháp, hay người thi hành công vụ. Công an VN chính là công lực; bản thân họ chính là luật pháp; còn hành động tùy ý làm giàu, tùy thích thu giữ tài sản, và tùy tiện đánh/giết đồng bào của họ, bằng dùi cui, bằng roi điện, thậm chí bằng thắt lưng và dây cột giày… thì được các chánh án long trọng định nghĩa là công vụ.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, CAVN mới có toàn quyền khủng bố nhân dân, bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu trên đất nước này. Theo TS Nguyễn Ngọc Điện, trên báo Sài Gòn Tiếp Thị: “Hoàn cảnh diễn ra các câu chuyện về quan chức hống hách, nghênh ngang, ỷ thế, cậy quyền và lộng hành có thể rất đa dạng”;… “Hiện tượng người có chức, quyền có thái độ coi thường luật pháp không hề cá biệt.
 
Nơi này, quan chức ngang nhiên xây dựng nhà cao cửa rộng mà không cần quy chuẩn, quy hoạch; nơi kia cán bộ móc súng chĩa vào đầu dân thường dọa giết chỉ vì hơn thua trong đôi co sau một vụ va quẹt xe. Gần đây các phương tiện truyền thông nói nhiều về một sĩ quan công an ở Hà Nội cùng dân phòng đánh một thường dân dẫn đến tử vong, chỉ vì nạn nhân đã can ngăn việc sử dụng vũ lực của nhân viên công lực đối với một ‘đối tượng xử lý’… ”.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, CAVN mới tùy nghi xử lý mọi công dân mà nó cần đích thân trả thù hay được lệnh trả thù, trước khi bắt giam, trong khi bắt giam, và cả sau khi bắt giam. Trung tá CA Hoàng Trọng Dũng từng tuyên bố sẽ đánh Blogger Điếu Cày để: “Bác sĩ nhìn không ra, luật sư tìm không thấy; đánh cho mày mất khả năng đàn ông; chích cho lây nhiễm AIDS, làm cho suy kiệt mà chết”, về tội báo động hiểm họa bắc triều. Rồi khủng bố thân nhân Điếu Cày bằng cách triệt đường thăm nuôi và tung tin Điếu Cày bị mất tay.
 
Rồi tự ý buộc Điếu Cày chuyển trại đi đày về chỗ sơn lam chướng khí, không đúng nơi đã ghi trong án tù, cho suy kiệt mà chết, mà không hề thông báo gia đình nạn nhân…
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, CAVN mới tự tiện khóa trái bên ngoài cửa nhà để nhốt Blogger Tạ Phong Tần bên trong, nhiều lần, trước lần sau cùng bắt giam/truy tố/kết án, cũng về tội báo động hiểm họa bắc triều (mà đương sự không hề biết tin thân mẫu tự thiêu để phản đối việc bắt giam); rồi tùy nghi chuyển trại, tự tiện đổi án tù giam thành án khổ sai biệt xứ và chờ chết: “Công an chuyển ra Thanh Hóa để tôi chết sớm”.
 
 Công an cũng từng khóa bên ngoài cửa nhà để nhốt gia đình chị Dương Thị Tân bên trong, chính xác là vào những ngày 8/3/2010, 11/3/2010, 13/3/2010 và 22/10/2010, không cần biết và cũng không màng trường hợp hỏa hoạn thì cả gia đình chị Tân không ngả thoát thân. Tức là CAVN đã cầu chứng với thế giới tấm bằng phát minh ra cách xử án vợ/con/em nạn nhân chịu tội chết cháy vì chồng/cha/anh họ đã dám báo động hiểm họa bắc thuộc lần cuối.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, CAVN mới hăng hái tạt dầu nhớt vào chân tượng Đức Mẹ ở Thái Hà và xịt hơi cay vào giáo dân trước khi dàn cảnh cho “cựu chiến binh” cởi áo/tháo huy chương ra trả lời phỏng vấn báo môn bài; ném phân tươi vào cửa nhà văn Trần Khải Thanh Thủy trước khi dàn cảnh cho dân phòng gây sự ẩu đả đổ máu; ném mắm tôm/máu cá, nói chung là mọi loại “bom bẩn”, dọc từ Hà Nội, ngang qua nhà Blogger Huỳnh Thục Vi ở Quảng Nam, vào tới cổng nhà Facebooker Bùi Minh Hằng ở Vũng Tàu… và dàn cảnh cho “cựu chiến binh” đến gây sự phá rối thư viện Viện Hán Nôm cho các nhà báo có thẻ viết phóng sự.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, CAVN mới hồ hởi bắt giam anh Nguyễn Công Nhựt ở Bình Dương, rồi gạ tình vợ anh Nhựt, rủ vào khách sạn để …tìm đường cứu giúp. Hay điềm nhiên dàn cảnh bắt giữ Blogger An Đổ Nguyễn rồi khám xét toàn thân nạn nhân như một nhục hình để trả thù/gây sốc để giải trí.
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, các chuyến Dã ngoại Nói chuyện Nhân quyền đã có cơ hội bắt tay với hung thần triều Sản. Lực lượng an ninh ở đây đã thành công vượt chỉ tiêu với đầy đủ hình ảnh thương tích của gia đình Blogger Nguyễn Hoàng Vi.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, đội bóng No-U (Hà Nội) cũng đã có dịp chạm trán với một băng đảng nổi tiếng hung hãn, thiện chiến, có uy nhất nhì của Thủ đô vì Hòa bình của VN.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, tội phạm đầu gấu Nguyễn Khắc Tú, biệt danh Tú Khỉ, từng bị tòa án kết án 1 năm tù, nhưng chỉ bị tạm giam 5 ngày rồi được tại ngoại để tiếp tục khủng bố doanh nhân trong vùng.
 
Cụ Nguyễn Văn Nhương, thôn Chi Lăng, xã Đại Tập dè dặt nhận định: “Công an huyện có khi cũng bảo kê cho bọn nó, nên nhiều sự việc trắng đổi thành đen và đen lại đổi thành trắng. Đội 5 chúng tôi mọi người rất bất bình, người ta bảo bây giờ còn biết tin vào ai nữa”.
 
Công an huyện không huỡn để bảo kê miễn phí. Nhiệm vụ hàng đầu của mọi đầu gấu là… chung chi, bắt đầu từ trước cả thời Năm Cam và chưa biết bao giờ dứt. Nói cách khác, đầu gấu cung phụng cho công an để được công an bảo kê cho hoạt động trong địa bàn trách nhiệm. Cả hai đều có nhiều xác suất trở thành trọc phú đen hay đại gia đỏ. Chỉ riêng nhân dân là nạn nhân duy nhất của mọi nhiễu nhương. Thiếu tướng CA Phan Anh Minh đã thành khẩn khai báo và thống thiết than van trong bài phân tích sâu sắc “Nhiều băng nhóm xã hội đen chi phối cán bộ” trên VietnamNet.
Tác giả bài báo “Nhiều băng nhóm xã hội đen chi phối cán bộ”
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến, vụ việc Trần Văn Lâm (công an viên thôn 2A, xã Ea Mnang, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắc Lắc) ăn trộm xe máy Honda Air Blade đem bán… hay vụ việc Nguyễn Văn Kính (công an viên xã Phú Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) hiếp dâm thiếu nữ trong xã, bị phát giác, bèn nổ mìn giết người bịt miệng…  hay chuyện “cháu chú Nhanh” ở Hà Nội… đều trở thành chuyện muỗi.
 
Nhờ lãnh đạo và côn đồ phối hợp tác chiến ở tầm chiến lược/chính sách cấp quốc gia, lực lượng an ninh toàn quốc đã lần lượt nâng cấp hoạt động lên hàng côn đồ đại gia ở bậc tỷ phú đô-la:
 
1)     Công an  thuê đầu gấu làm “công vụ” khủng bố dân lành;
2)     Công an dùng đầu gấu phe phẩy kiếm ăn lẻ trên giới tư thương, buôn lậu và gái điếm;
3)     Đầu gấu và tội phạm mãn án mua đường đăng ký vào đại học an ninh;
4)     Công an và đầu gấu ăn chia đồng đều trong mọi phi vụ, tính cả hệ thống dọc của công an;
5)     Guồng máy công an vận hành theo phong thái và kỷ luật giang hồ, với kỳ vọng trấn áp được dân;
6)     Đầu gấu vượt mặt công an, tự phát triển thành mafia xã hội đen theo chiều rộng và cả chiều sâu;
7)     Đầu gấu lệnh ngược cho công an địa phương chạy việc cho chúng;
8)     Đầu gấu thuê công an trung ương trừng trị những công an địa phương dám cãi lệnh các “bố già”.
 
Nguyễn Văn Mười Hai, Đường Sơn, Minh Phụng, Năm Cam… đều thuộc dạng đầu gấu thăng ngạch quá tầm thứ trưởng/cận trung ương nhưng chưa đủ sức làm hài lòng mọi phe cánh trong BCT. Đại tá An ninh Lương Ngọc Anh, dù có công thực hiện nam nhân kế trong phi vụ in tiền polimer, cũng tạm gọi là một dạng đầu gấu cao cấp, song vẫn chưa đáng được xếp vào hạng côn đồ thượng tầng đảng.
 
Thượng tướng CA Nguyễn Văn Hưởng, cho dẫu từng bị Đại sứ Mỹ Michael Michalak đánh giá thấp về trình hiểu biết, cũng không giỏi lý thuyết chủ nghĩa bên đảng, nhưng đích thực là một dạng côn đồ quyền quý bên chính phủ.
 
Ở hàng đỉnh điểm đó, các đầu gấu thượng thặng trong phủ tể tướng đều có những danh thiếp thuộc phân cục “siêu nhân”, cỡ Bầu Kiên, Dương Chí Dũng, Trầm Bê, Tư Thắng… Chí ít cũng phải ở tầm cỡ như Hội (Bitexco), Tiền (An Bình Bank), Bắc Hà (Đầu Tư Bank), Mười Rua (Sài Gòn Bank), Hùng (Lilama), Ngọc Minh (Tổng Cty Hàng Không VN), Don Lâm (Vinacapital), Hùng (Savico), Trương Gia Bình (FPT), Bầu Đức (HAGL), Ms.Lâm (Cty Hoa Lâm), Ms.Hiền (Cty Bình An Cần Thơ), Ms.Nga (Vincom), Ms.Phượng (Bản Việt)…
*
Tựu chung, hệ thống dư luận dân gian có ít nhất hai luồng ý kiến ngược chiều nhau về hướng phát triển đại trà và bền vững của dàn côn đồ cấp quốc gia:
 
Một là, nhẹ nhàng báo động hoặc nặng nề lên án nhà cầm quyền hồn nhiên dung túng đám cán bộ móc ngoặc và dung dưỡng cho côn đồ sống hùng sống mạnh ở mức chi phối toàn bộ sinh hoạt xã hội bằng luật giang hồ.
 
Hai là, khuyến khích nhà cầm quyền đẩy mạnh nỗ lực “phối hợp tác chiến” với xã hội đen để tiến đến sự hợp nhất toàn bích của độc tài với lưu manh.
 
Xem ra hướng thứ nhì có vẻ thắng thế, bởi nhờ vậy, từ thấp tới cao, người ta có thể nhận diện rõ nét với độ phân giải cao hầu hết những chân dung ngạ quỷ và vị thế vỡ trận chuột chạy cùng sào.
 
Cấp địa phương như cỡ Công an viên Trần Văn Lâm/Nguyễn Văn Kính, hoặc trung tá CA Nguyễn Văn Ninh/Hoàng Trọng Dũng… Cấp trung ương như đám gia nô bầy đàn của tể tướng phá nát nền kinh tế nước nhà.
 
Từ đó, tầm hoạt động của dàn côn đồ cấp quốc gia đã, đang và còn sẽ rộng đường “vươn ra biển lớn”:
 
Ngày 13/5/2013, hai công ty của Việt Nam là Hoàng Anh-Gia Lai và Tập đoàn Công Nghiệp Cao Su Việt Nam đã bị tổ chức bảo vệ môi trường Global Witness tố cáo đích danh là thủ phạm tàn phá thiên nhiên ở Lào và Campuchia, hối lộ cho các quan chức địa phương để cướp đất của những sắc tộc thiểu số ở các vùng này nhằm khai thác cao su cung cấp cho Tàu Cộng.
 
Ở chiều ngược lại, nhưng đi trước nhiều bước, Hội nghị Thành Đô từ cuối thế kỷ 20 đã long trọng đánh dấu sự kết hợp của băng đảng Côn đồ Quốc tế giữa hai bộ phận: Phía VN là bọn Côn đồ Bán nước, và phía đối tác ở “bên kia biên giới” là bọn Côn đồ Cướp nước.
 
Cũng từ đó, giới quý tộc Côn Đồ Đại Gia đã chính thức và công khai đặt tên cho lực lượng An Ninh cùng quẫn toàn phương vị và đang quẫy đạp tứ bề là: CÔN AN.
Âm Binh Vật Phù Thủy nào phải đâu là chuyện thần thoại/hoang đường!
 


http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2012/07/3IN1.jpg

Trung Quốc "lạnh gáy" trước viễn cảnh bị bao vây bởi vũ khí hạt nhân


 

Trung Quốc "lạnh gáy" trước viễn cảnh bị bao vây bởi vũ khí hạt nhân

 

Mỹ đang có kế hoạch đầu tư khoảng 10 tỷ USD nâng cấp độ chính xác và tính tin cậy của các loại bom hạt nhân chiến thuật dự trữ trong các kho ở châu Âu và có thể trang bị chúng trên các máy bay F-35 bán cho một số quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ...


Hiện nay Mỹ đang dự trữ khoảng 200 quả bom hạt nhân chiến thuật không điều khiển loại B-61-12 tại các kho chứa ở Hà Lan, Bỉ, Đức, Italia và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi lắp đặt các cánh mới ở đuôi, biến chúng thành các loại bom điều khiển chính xác (dẫn đường bằng GPS), đến năm 2019 số bom hạt nhân chiến thuật này sẽ được tái triển khai trở lại.

Vũ khí hạt nhân chiến thuật chủ yếu dùng để tấn công các mục tiêu chiến thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động quân sự. Tuy thể tích và sức công phá tương đối nhỏ nhưng chúng có khả năng linh hoạt, cơ động và độ chính xác cao, khả năng tấn công trên chiến trường cao hơn các vũ khí hạt nhân chiến lược. Trong tư duy tác chiến tương lai của quân đội Mỹ, ranh giới phân biệt giữa vũ khí hạt nhân chiến thuật và chiến lược đang dần bị xóa nhòa.

Cho đến trước năm 2020, vũ khí hạt nhân chiến thuật chủ yếu trong quân đội Mỹ sẽ được thay thế bằng bom hạt nhân có cánh B-61-12 và tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân W-80. Trong số các phương tiện mang chủ yếu của các loại vũ khí này, sẽ có thêm máy bay chiến đấu F-35. Khoang vũ khí trong thân máy bay có thể được lắp đặt 2 quả bom hạt nhân có cánh B-61-12.

Tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân LGM-30 Minuteman của Mỹ
Tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân LGM-30 Minuteman của Mỹ

Theo phân tích của các nhà chuyên môn, sau khi nâng cấp số bom hạt nhân ở châu Âu, cho phép chúng được lắp đặt và phóng từ các máy bay F-35, Mỹ sẽ đẩy mạnh tiêu thụ F-35 tại thị trường màu mỡ này.

Hiện nay, các loại bom hạt nhân Mỹ triển khai tại châu Âu chủ yếu phân làm 2 loại: 1 loại bố trí trong các căn cứ quân sự Mỹ ở châu Âu, bao gồm khoảng 100 đầu đạn triển khai tại căn cứ không quân Aviano, Italia và căn cứ không quân Incirlik ở Thổ Nhĩ Kỳ, số đầu đạn này do máy bay Mỹ phụ trách.

Loại thứ 2 cũng có số lượng 100 quả, bố trí tại các căn cứ của các nước đồng minh của Mỹ ở châu Âu, do máy bay của không quân các nước Hà Lan, Bỉ, Đức, Italia và Thổ Nhĩ Kỳ phụ trách. Phương tiện mang thả bom hạt nhân chủ yếu là máy bay chiến đấu F-15E của Mỹ, máy bay chiến đấu F-16 A/B, F-16 C/D của Mỹ và đồng minh, cùng với máy bay chiến đấu Tornado của các nước châu Âu.

Có thể nhận thấy, toàn bộ số vũ khí hạt nhân chiến thuật Hoa Kỳ triển khai tại châu Âu đều được chế tạo để lắp đặt trên các máy bay của họ, hiện F-15 và F-16 đều đã ngừng sản xuất và sẽ bị thay thế toàn bộ bởi F-35, do đó các đồng minh của Mỹ tại châu Âu không thể không mua F-35. Hiện nay, giá cả của F-35 không ngừng tăng cao làm nản lòng nhiều đồng minh của Mỹ.

Bom hạt nhân chiến thuật B-61-12 của Mỹ
Bom hạt nhân chiến thuật B-61-12 của Mỹ

Các nhà phân tích cho rằng, Mỹ bố trí các vũ khí hạt nhân ở các căn cứ quân sự nước ngoài là một xu thế tất yếu nhằm thực hiện chiến lược “Đông tiến”. Nó vừa phù hợp với trọng điểm chiến lược quay trở lại châu Á của Mỹ vừa tạo lên sức ép cực lớn lên Nga, Trung Quốc.

Ngoài ra, F-35 còn được Mỹ đẩy mạnh tiêu thụ trong số các đồng minh tại châu Á. Đối với các nước không có vũ khí hạt nhân như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, thậm chí là cả nước đã có vũ khí hạt nhân như Ấn Độ, sở hữu máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 F-35 có khả năng mang theo vũ khí hạt nhân là một "cám dỗ" cực lớn, hơn nữa, các nước này đều có điều kiện kinh tế mạnh.

“Bắc Kinh nhật báo” nhận xét, hiện nay, cả Nhật, Hàn, Australia đều đã xác nhận muốn mua F-35, Mỹ cũng đang gạ gẫm Ấn Độ tham gia vào dự án này, mà với tư tưởng “sùng ngoại” của New Dehli, điều này hoàn toàn có thể xảy ra. Trong tương lai không xa, toàn bộ các đối thủ đáng gờm xung quanh Trung Quốc đều có khả năng tấn công hạt nhân.

Đây là một viễn cảnh làm người Trung Quốc thấy “lạnh gáy”.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link