Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, May 26, 2013

BẢN CÁO TRẠNG TỘI ÁC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


 

Date: Tue, 21 May 2013 22:33:00 -0700
From:
Subject: BẢN CÁO TRẠNG TỘI ÁC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM




BẢN CÁO TRẠNG TỘI ÁC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Đặng Chí Hùng  - Để tiếp nối Phần 1 của Bản cáo trạng đã đăng tạiDanlambaotôi xin gửi đến bạn đọc bài số 2 này để bạn đọc tiếp tục tìm hiểu và góp ý về những sự thật cần phải cho thế giới thấy được tội ác cũng như bản chất tàn độc và dối trá của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đối với dân tộc Việt Nam.
Giai đoạn 02/09/1945-02/09/1969: 

I. Gây chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa là một nước có chủ quyền được Liên Hiệp Quốc công nhận 

Kính thưa quý vị!

Do bối cảnh lịch sử diễn ra sau thế chiến lần thứ 2 và sự trỗi dậy bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nên tại Việt Nam chúng tôi tồn tại hai nước theo hiệp định Geneve 1954. Đó là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc) và Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam). 

 


Việt Nam Cộng Hòa một quốc gia đã được thành lập và đó là một quốc gia độc lập được quốc tế công nhận. Điều này được minh chứng qua các bằng chứng lịch sử và tài liệu hết sức rõ nét và cụ thể sau đây: 

 

a. Theo như tuyên bố của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) về sự độc lập và dân chủ của mình thì thực tế VNCH đã được 56 quốc gia trên thế giới công nhận trong khi đó thì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) lúc đó chỉ được có 10 nước cộng sản công nhận. Hãy đọc đoạn sau: 

 

“Những tổ chức dân chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.” - (Tuyên Bố Của VNCH Về V/Đ Thống Nhất Đất Nước, Nguyễn Hội

 

b. Trong cuốn sách “Chỉ dẫn lịch sử” của nhà xuất bản quốc gia Liên Xô do nhóm tác giả tại viện nghiên cứu lịch sư Liên Bang Xô Viết tại trang 42 có viết:

 


“Việt Nam Cộng Hòa là một Quốc Gia Hợp Pháp được công nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới qua Hiệp Định Genève 1954, đã từng có quy chế là một quốc gia quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Từ năm 1954 cho đến năm 1975.” 

 

Như vậy ta có thể thấy được rằng ngay người đàn anh cộng sản Liên Xô của cộng sản Việt Nam cũng phải công nhận tính chính danh và hợp pháp của nước Việt Nam Cộng Hòa mà bất cứ nước nào cũng không có quyền xâm phạm. 

 

c. Trong tài liệu của Liên Hiệp Quốc lưu chiểu tháng 2/1998 có ghi tại danh sách thành viên mục 3 trang 236 về Việt Nam Cộng Hòa có đoạn: “84 quốc gia trên thế giới đã từng đặt nền tảng bang giao với Nước Việt Nam Cộng Hòa từ 1954-1975.” 

 

d. Tác giả J. Leroy - một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp - Trong cuốn sách của mình mang tên “Đối nghịch” ở trang 236 còn viết: 

 

“Về cơ bản chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa là một chính quyền hợp hiến được Liên hợp quốc và đa phần các nước công nhận, tuy nhiên những nước thân Liên Xô và Trung Hoa không công nhận điều đó vì họ không muốn Việt Nam có bàn chân của Mỹ và đống minh...” 

 

Thưa quý vị, đây chỉ là 4 trong vô vàn tài liệu mà chúng tôi cũng có thể cung cấp thêm để chứng minh Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia hợp hiến và đã được quốc tế công nhận. 

 

Tuy nhiên đảng cộng sản Việt Nam và ông Hồ Chí Minh đã mượn vũ khí của Trung cộng và Liên Xô để tiến đánh xâm chiếm một quốc gia độc lập khác nhằm áp dụng tư tưởng cộng sản độc tài cho cả đất nước Việt Nam chúng tôi.

 

Điều này minh chứng bằng các luận chứng mà chúng tôi xin gửi tới quý vị ngay sau đây. Việc xâm chiếm một quốc gia độc lập có chủ quyền khác là vi phạm hiến chương Liên Hiệp Quốc và quy tắc ứng xử quốc tế. Đề nghị quý vị xem xét các luận chứng tôi nêu ra để có được sự công bình nhất cho nhân dân Việt Nam nói chung và trả lại sự thật cho lịch sử Việt Nam chúng tôi.

 

Kính thưa quý vị!

 


Ngoài việc VNCH được quốc tế công nhận là một quốc gia độc lập ra thì bản thân VNCH cũng không chủ trương tấn công VNDCCH mà tập trung vào việc xây dựng kinh tế và đời sống cho nhân dân.

 

Bằng chứng là đời sống nhân dân được nâng cao và cải thiện một cách đáng kể, mọi mặt từ chính trị, kinh tế, chính trị... được phát triển đáp ứng nhu cầu dân sinh trong nước. Quý vị có thể tham khảo những con số trích dẫn cụ thể về mọi mặt qua sự so sánh và liệt kê tại Danlambao: “Những sự thật cần phải biết - Bài 2 - VNCH nạn nhân của một chính sách ngậm máu phun người” 

 

Kính thưa quý vị! 

 

VNDCCH dưới sự chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản không chấp nhận một thực tế là nhân dân Việt Nam cần phải được tự do lựa chọn thể chế chính trị cho mình. Chính vì muốn áp đặt chế độ cộng sản độc tài nên ông Hồ và đảng cộng sản đã theo lệnh và nhận sự chi viện của Trung cộng để gây chiến phi nghĩa nhằm xâm lược một quốc gia khác đó là VNCH. 

 

1. Trong “Những sự thật không thể chối bỏ - Bài 9 - Hồ Chí Minh và âm mưu Hán hóa VN” khi tôi đã giới thiệu về tác giả Trung cộng - Hà Cẩn (Viện Văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi NXB Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang có đoạn trang 198 nói về chiến Tranh Việt Nam. Đoạn đó tạm dịch như sau: 

 


“Với sự chỉ đạo và giúp đỡ của Trung Hoa mà đứng đầu là Mao chủ tịch thì nhân dân miền Bắc đủ sức chi viện và lãnh đạo các cuộc đánh bom, gài mìn, nổi dậy tại Miền Nam của ông Diệm.” 

 

Như vậy trên thực tế Trung cộng đã chỉ đạo và tài trợ cho VNDCCH vũ khí để họ tiếp tục “lãnh đạo” nhân dân Miền Nam “khủng bố” và nổi dậy thông qua các hành động đặt bom, cài mìn mà chính Hà Cẩn nêu đích danh. 

 

Những hành động đó được gọi là gì? Là khủng bố chứ không thể khác. Một nhà nước đi kích động việc khủng bố và xâm lăng nước khác là hoàn toàn phi pháp. Đảng cộng sản Việt Nam biện hộ bằng luận điệu “Chống Mỹ cứu nước” nhưng điều này hoàn toàn không đúng. Vì bằng các tài liệu ngay sau đây của chính phía cộng sản đã cho thấy điều này là mâu thuẫn. 

 

2. Trên trang chính dư địa chí của tỉnh ủy Thừa Thiên Huế tại links: 


 

“Tháng 11/1957, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp tại bản Ấp Rùng, xã Thượng Long miền Tây Thừa Thiên Huế. Hội nghị đã quyết định xây dựng miền núi Thừa Thiên Huế thành căn cứ cách mạng. Tỉnh ủy bố trí cán bộ từ đồng bằng lên, cùng với một số cán bộ đã cắm bản từ trước kiên trì bám trụ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào nhanh chóng giác ngộ, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tự vệ bằng vũ khí thô sơ đã nảy sinh trong phong trào quần chúng. 

 

Giữa lúc phong trào cách mạng miền núi Thừa Thiên Huế đang có bước chuyển biến quan trọng thì ánh sáng Nghị quyết 15 (1/1959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) về đường lối cách mạng miền Nam được truyền đến Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà. Tỉnh ủy khẩn trương tổ chức học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương. Một trong những nhiệm vụ chiến lược của Nghị quyết Trung ương 15 là việc mở đường 559 - đường Hồ Chí Minh. Miền núi Thừa Thiên Huế với con đường 559 nối liền mạch máu với cả nước từng bước trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc làm chỗ dựa cho đồng bằng.” 

 

Cũng trên trang này ở bài viết khác có những đoạn: 

 

“Sau năm 1963, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế tích cực, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt nhằm đưa phong trào lên một thời kỳ mới, thời kỳ phá kìm, giành dân, đưa phong trào đồng bằng lên thế đấu tranh chính trị, quân sự, tiến công địch bằng cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận. 

 

Đầu năm 1964, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế chủ trương: “Phát huy sức mạnh của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, lợi dụng sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn mà tổ chức lực lượng, tiến công mạnh mẽ, đều khắp, làm tan rã, tê liệt chính trị, tư tưởng và tổ chức, phá ấp chiến lược, chuẩn bị thiết thực cho việc phá thế kìm kẹp của địch”. Thực hiện chủ trương trên, nhân dân Thừa Thiên Huế bước vào phong trào đồng khởi đồng bằng năm 1964. 

 

Đến mồng 5 rạng ngày 6/7/1964, phong trào đồng khởi diễn ra khắp vùng đồng bằng trong tỉnh. Ở phía Bắc tỉnh, nhân dân nhiều xã nổi dậy phối hợp với bộ đội và đội công tác võ trang tiến hành tấn công địch, phá ấp chiến lược, xóa bỏ ngụy quyền, tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở cơ sở và chính quyền tự quản của nhân dân. Phong trào Đồng Khởi đã mở ra một vùng giải phóng rộng lớn gồm nhiều xã: Phong Sơn, Phong An, Phong Thái, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương (Phong Điền), Phong Nhiêu, Quảng Thái (Quảng Điền) và Hương Vân, Hương Thọ, Hương Hồ, Hương Mai, Hương Thái, Hương Bình, Hương Thạnh (Hương Trà). Ở phía Nam, lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân tấn công và nổi dậy giải phóng các xã Phú Đa, Phú Hồ và một số thôn của Vinh Phú, Vinh Thái, Phú Xuân, Phú Lương (Phú Vang); Lộc An, Lộc Tụ (Phú Lộc); nhiều thôn xã của xã Thủy Bằng, Thủy Thanh, Thủy Phương (Hương Thủy)...” 

 


 

Qua hai đoạn trích trên đây cho thấy xuyên suốt quá trình trước năm 1965 mặc dù chưa hề có quân Mỹ tại VNCH và đặc biệt là những chính sách của nền Đệ nhất Cộng hòa như “Người cày có ruộng” hay “Cải cách kinh tế” đã làm cho đời sống nhân dân đi dần vào ổn định thì hành động của đảng cộng sản chỉ đạo hoàn toàn là dùng bạo lực khủng bố nhân dân, chính quyền và xâm phạm quyền tụ chủ của đất nước khác. Những kích động bạo lực đó minh chứng cho chủ trương sắt máu của đảng cộng sản. 

 

3. Cuốn sách “Lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tái bản năm 2000 có những đoạn

 

“Trong giai đoạn 1957-1959, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn. Hàng loạt cơ sở của ta bị chính quyền Ngô Đình Diệm phát hiện và bắt giữ. Tháng 1/1959, diễn ra hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam, đã quyết định cho phép lực lượng miền Nam sử dụng bạo lực để đánh đổ chính quyền Mỹ-Diệm. 

 

Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để lật đổ chính quyền Mỹ-Diệm, cao trào diễn ra ở các địa phương: Bắc Ái (02/1959), Trà Bồng (08/1959)... phong trào lan nhanh ra khắp miền Nam, đặc biệt là phong trào Đồng khởi ở tỉnh Bến Tre. 

 

Điều này cũng được chính quyền cộng sản hiện nay công nhận qua đoạn trích trên báo của chính quyền tỉnh Bến Tre:

“Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào. Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tĩnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960. Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).” 

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=301&Itemid=47

 

Nhưng trên thực tế thì vào thời điểm đó, trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chưa hề có bóng dáng người lính Mỹ tham chiến nào mà chỉ là những cố vấn quân sự để xây dựng quân đội một quốc gia mới thành lập cũng như các nhân viên của Liên Hiệp Quốc hỗ trợ phát triển hạ tầng cơ sở, y tê và giáo dục... Vậy mà người cộng sản đã có hành động là kích động khủng bố nhân dân nước Việt Nam Cộng Hòa và âm mưu gây chiến để có thể nhuộm đỏ đất nước. Để thực hiện âm mưu này người cộng sản thú nhận.

 

Để kết hợp với sự kiện “Đồng Khởi” được kích động bởi Trung ương đảng cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì đảng cộng sản cũng tiến hành công cuộc xâm chiếm chủ quyền một nước khác một cách bất hợp pháp một cách có hệ thống. Họ cho thành lập đoàn 559 khi chưa có bóng dáng quân Mỹ tại Việt Nam Cộng Hòa với khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước”

 

Đây là nguyên văn bài viết trên trang của ban tuyên giáo trung ương VNDCCH tại nguồn dẫn:
http://www.tuyengiao.vn/Home/Viet-Lao/Tu-lieu-lich-su/46657/Duong-Ho-Chi-Minh-bieu-tuong-sinh-dong-cua-tinh-doan-ket-dac-biet-viet-lao

 

“Ngày 19-5-1959, “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” - Đoàn 559 ra đời, với nhiệm vụ mở đường, đưa đón cán bộ, bộ đội, vũ khí, đạn được, lương thực… từ miền Bắc vào miền Nam và vận chuyển vật chất giúp nước bạn Lào. Được khai sinh vào ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5), đường mang tên "Đường Hồ Chí Minh".” 

 

Như vậy đảng cộng sản đã chủ trương “đồng khởi” kết hợp với xâm chiếm VNCH - một quốc gia hợp pháp ngay từ khi quân Mỹ còn ở tận đâu đó bên nhà của họ. Trên thực tế người Mỹ trước năm 1965 chỉ vào VNCH dưới dạng cố vấn xây dựng quân đội cũng như hoạt động nhân đạo. (Xem “Những sự thật cần phải biết” – Bài 2 - VNCH - Nạn nhân của chính sách ngậm máu phun người). 

 

Sự gây chiến xuất phát từ âm mưu nắm quyền cai trị nhân dân Việt Nam hết sức độc tài của đảng cộng sản Việt Nam là có âm mưu và hệ thống được sắp đặt tình vi. Bằng các biện pháp tuyên truyền mị dân mà nhân dân Việt Nam cho đến nay chúng tôi mới thấu hiểu hết được các âm mưu đó. Chính vì vậy chúng tôi tha thiết mong mỏi quý vị xem xét các bằng chứng tội ác cho thấy những gì đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh đã làm là hết sức độc ác, vô nhân đạo và vi phạm hiến chương quốc tế.

 


Cuộc chiến xuất phát từ những người cộng sản đem lại nhiều hậu quả tang thương cho nhân dân Việt Nam đến ngày nay. Những điều đó xin quý vị đọc lại những gì chúng tôi tổng hợp sơ bộ về các cuộc khủng bố nhằm vào nhân dân Việt Nam Cộng Hòa tại bài viết: Những sự thật cần phải biết - Nổi dậy hay khủng bố?

Bên cạnh đó, những con số về hậu quả của cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược một quốc gia có chủ quyền khác còn nghiêm trọng hơn rất nhiều. Chính đảng cộng sản Việt Nam cũng đã thừa nhận việc Mỹ hoàn toàn không có khả năng can thiệp trực tiếp vào Việt Nam sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tại sao VNDCCH lại phải bán HS-TS cho Trung cộng (1958) để gây chiến? Vì đó thực chất là một cuộc chiến phi nghĩa gây đau thương cho dân tộc Việt Nam. Bằng chứng cho thấy đảng cộng sản công nhận trước 1965 thì Mỹ không có khả năng trực tiếp can thiệp quân sự vào Việt Nam được thể hiện trong cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua” (NXb Sự thật - Cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) có viết: 

 

“Sự thật là sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ không có khả năng can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương” 


 

Kính thưa quý vị! 

 

Thực chất người Mỹ chỉ vào Việt Nam sau khi cộng sản đã khai chiến và họ vào với mục đích bảo vệ quyền độc lập của VNCH đang tiến hành dân chủ hóa. Và chúng tôi cũng thấy rằng dù đảng cộng sản rêu rao “Mỹ xâm lược” Việt Nam nhưng chúng tôi không thấy Mỹ lấy một tấc đất, một hòn đảo, hay một cái mỏ Boxit nào như Trung cộng đang làm? Đó là minh chứng cho sự ngụy biện của đảng cộng sản cho sự hiếu chiến của họ. 

 


Thứ nhất, trong bài “Những sự thật không thể chối bỏ - Phần 6 có đề cập đến 2 bức thư mà Hồ Chí Minh gửi Stalin để xin chỉ thị về Cải Cách Ruộng Đất và xin vũ khí. Hai bức thư được viết năm 1952 (đã post bản in và link kiểm chứng). Vấn đề được đặt ra khi là năm 1952 không có cuộc chiến nào lớn với Pháp và tại sao tôi khẳng định việc xin vũ khí này lại liên quan đến cuộc chiến sau này với VNCH thì xin được trình bày như sau: 

 

Đầu tiên chúng ta đều biết rằng thời điểm 1952, Việt Minh chỉ đối đầu với Pháp tuy nhiên không có những cuộc chiến lớn xảy ra nhưng việc yêu cầu Liên Xô cấp vũ khí đơn thuần chỉ là để phục vụ cuộc chiến Việt-Pháp. 

 

Nhưng phát hiện từ một tài liệu của Liên Xô đã chứng minh sự kiện xin vũ khí của ông Hồ không đơn giản chỉ là để đánh nhau với Pháp mà còn là chuẩn bị cho tình huống đánh nhau với Mỹ. Như chúng ta đã biết việc Trung cộng mong muốn có cuộc chiến Việt-Pháp nhằm triệt tiêu nội lực dân tộc (Những sự thật không thể chối bỏ - Bài 10 - Triệt tiêu nội lực dân tộc) và lấy lại đất người Pháp dành cho Việt Nam (xem mục A). Nhưng ở bài 10 đã cho thấy Trung cộng không dám chắc về một cuộc chiến mà chiến thắng hoàn toàn thuộc về Việt Minh nên họ đã chuẩn bị cho một cuộc chiến khác nếu Mỹ nhảy vào Việt Nam. Tài liệu của Liên Xô đăng trong cuốn sách có tên “Một bước đi lớn” - xuất bản năm 1999 bởi nhóm tác giả đã từng hoạt động tại KGB bởi nhà xuất bản quân đội Liên Bang Nga nói về hoạt động tình báo của Liên Xô có đoạn trang 126: 

 

“Khả năng rất lớn là Mỹ sẽ có vai trò quan trọng trong việc thiết lập hòa bình ở Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Trung quốc cũng hiểu điều này. Chính vì thế Liên Xô phải chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là chủ nghĩa tư bản ngự trị tại nơi mà Liên Xô đang mong muốn xây dựng chủ nghĩa Xã hội...” 

 

Như vậy thời điểm mà ông Hồ viết thư xin vũ khí 1952 thì Liên Xô đã tiên đoán Mỹ có khả năng phải can thiệp vào Việt Nam. 

 

Và cuốn sách cũng nói lên sự kiện liên quan đến hai bức thư xin vũ khí của ông Hồ: 

 

“Đồng Chí Stalin đã thông tin cho Việt Minh thông qua bộ ngoại giao Liên Xô để Việt Minh có đề xuất trong việc chuẩn bị tinh thần chiến đấu lâu dài và công việc chuẩn bị cho Cải cách ruộng đất...” (Trích trang 129). 

 

Như vậy qua hai dẫn chứng cho thấy Liên Xô đã chỉ đạo cho ông Hồ phải chuẩn bị ngăn cản Mỹ bằng mọi cách nếu sau này xảy ra, và việc ông Hồ xin vũ khí cũng nằm trong kế hoạch đó. Và qua đây cho thấy sự hiếu chiến của phe cộng sản thông qua sự thể hiện của ông Hồ và đảng cộng sản để triệt tiêu ý thức hệ đối lập mà ý thức hệ đó lại là ý thức hệ tự do, dân chủ và nhân bản. 

 

Thứ hai, thật ra, sau Hiệp ước Genève ngày 20-07-54, Việt Nam Cộng Hòa đã được hưởng vài năm thanh bình thịnh trị. Cuộc chiến chỉ bắt đầu tái phát với một quy mô khá rộng lớn vào ngày tỉnh Phước Thành (cũ) bị quân đội cộng sản tấn công với sự hy sinh của vị Thiếu tá Tỉnh trưởng và căn cứ Trảng Sụp của Trung đoàn 32, thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh bị VC tấn công vào đêm 25-01-60 với sự hy sinh của hơn 20 quân nhân VNCH và sự thất thoát trên 1,000 vũ khí (trích Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi (Hồi ký I), Văn Hóa, Houston, Texas 2002, tr. 349, 351.) (“Năm 1959, sư đoàn (SD) khinh chiến 13, đóng tại Bến Kéo, Tây Ninh và SĐ 11 đóng ở Hậu Giang được sáp nhập thành SĐ 21 dã chiến. Trung đoàn (TrĐ) 39 của SĐ 13 cũ sáp nhập vào TrĐ 32 của SĐ 11 thành TrĐ 32 của SĐ 21 tân lập”). 

 

Chính vì vậy có thể tạm gọi cuộc nội chiến đó là “Cuộc Chiến 1955-1975” mà không là “Cuộc Chiến 1960-1975”? Sau Hiệp ước Genève, Việt Minh tiếp tục cuộc chiến một cách âm thầm bằng cách chôn dấu vũ khí, đạn dược và gài cán bộ, cán binh lại Miền Nam VNCH để tiếp tục cuộc chiến. Theo ước tính của Hoa Kỳ và Chính phủ Quốc gia, có khoảng từ 5000 đến 10000 người được huấn luyện và cài lại Miền Nam với tư cách cán bộ (trích trong cuốn sách của CIA và chính phủ Mỹ thuộc loại mật: The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, “Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960”, Beacon Press, Boston, 1971, tr. 242-269). 

 

Nhưng theo một tài liệu do đảng cộng sản ấn hành, Việt Minh đã để lại Miền Nam 60,000 đảng viên (trích trong Tổng Kết Cuộc Kháng Chống Thực Dân Pháp, Thắng Lợi và Bài Học, Hà Nội, 1996): 

 

“Cán bộ và đảng viên được đặt dưới quyền lãnh đạo của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ Ủy Nam Bộ. Vào ngày cuối cùng của thời hạn tập kết ở Cà Mau, sau khi chúng ta đánh lừa địch bằng cách giả bộ lên tàu tập kết, đồng chí Lê Duẩn đã tìm cách rời khỏi tàu vào lúc nửa đêm để ở lại”. 

 

Như vậy, rõ ràng Miền Bắc đã chuẩn bị tấn công Miền Nam ngay khi Hiệp ước Genève chưa kịp ráo mực, chứ không phải vì Miền Nam không chấp nhận tổng tuyển cử vào năm 1956 hoặc vì có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Miền Nam mà đang cộng sản luôn tìm cách tuyên truyền mị dân. 

 

Thứ ba, trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, đảng cộng sản Việt Nam tuyên truyền:


“Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. 

Nhưng thực chất thì sao? Năm 1961 khi ông Ngô Đình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc đó chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường sá... 

 

Người Mỹ chỉ bắt đầu đưa quân vào miền Nam từ năm 1965, sau khi ông Ngô Đình Diệm qua đời do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Điều này ai cũng biết cả. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964 và để giúp VNCH chống lại cuộc chiến đang ngày càng leo thang của cộng sản ở miền Nam. Cho đến năm 1964 cả về quân số và trang bị quân sự của VNCH không thể bằng VNDCCH (xin xem lại Những sự thật không thể chối bỏ - Bài 3 - Bác, đảng đã bán những gì và để làm gì?). Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống? Đảng cộng sản phải chống ai, chống cái gì vào năm 1960? Chính sự mâu thuẫn trong lời nói của cộng sản cũng cho thấy bản chất nói dối, lật lọng trong việc kích động chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam. 

 

Thứ tư, những dữ kiện trong cuốn sách “MAO: The Unknown Story” được phát hành năm 2005 do hai nhà xuất bản Anchor Books và Random House của tác giả Jung Chang và Jon Halliday. Jung Chang là một hồng vệ binh của Trung cộng, (xem lại bài viết của tác giả Truyền Tấn tại links: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/07/ong-gop-them-su-that-cho-bai-viet-nhung. html#.UCICfYRZNWs). Xin phép được trích lại đoạn trong cuốn sách trang 470 trích: 

 

“Có một nơi gần Trung Quốc, nơi đã có người Mỹ, đó là Việt Nam. Cuối năm 1963, miền Nam Việt Nam có khoảng 15000 cố vấn quân sự Mỹ. Kế hoạch của Mao là tạo tình huống làm cho Mỹ phải gởi thêm quân đội vào miền Nam, ngay cả có thể xâm chiếm miền Bắc giáp giới với Trung quốc. Được như vậy, nếu Mỹ oanh kích những căn cứ nguyên tử của ông ta, bộ binh Trung quốc sẽ tràn vào Việt Nam và bao trùm quân Mỹ như đã xảy ra ở chiến tranh Triều Tiên. Để thực hiện kế hoạch nầy, năm 1964 Mao thúc ép CSVN đẩy mạnh chiến tranh Đông Dương. Mao huấn thị Bắc Việt tránh đụng độ lớn, và cào xới khắp diện địa... biến thành cuộc chiến rộng lớn là tốt nhất. Mao bảo Bắc Việt phải đưa thêm Bộ Đội vào miền Nam, và đừng sợ sự can thiệp của Mỹ. Ông ta nói, cùng lắm là như chiến tranh Triều Tiên. Bộ đội Trung Cộng đã sẵn sàng. Nếu Mỹ tấn công Bắc Việt, Bộ Đội Trung Cộng sẽ tràn qua ngay, họ đang muốn có chiến tranh.” 

 

Như vậy những phần trích dẫn quý vị sẽ thấy 2 điều chính Mao chỉ huy ông Hồ đưa quân gây chiến với Miền Nam và trên thực tế dẫn chứng thứ 4 của tôi ở trên đã chứng minh Mao đã đưa quân vào Việt Nam chiến đấu cho thấy: Hồ Chí Minh đã được lệnh của Mao đem quân gây chiến với miền Nam. 

 

Kính thưa quý vị! 

 

Chính vì theo đuổi chính sách khủng bố và chiến tranh leo thang nhiều năm nên con số thương vong cũng như tổn hại sau cuộc chiến xâm lược phi nghĩa của VNDCCH đối với VNCH là những con số khủng khiếp mà tôi xin gửi tới quý vị sau đây.

 

1. Quân đội VNDCCH dưới sự chỉ đạo của ông Hồ và đảng cộng sản đã gây ra các cuộc khủng bố, pháo kích gây thương vong cho dân thường mà hậu quả của nó là hết sức tàn khốc đối với nhân dân VNCH. Xin quý vị xem phần tổng kết trong bài viết “Những sự thật cần phải biết - Bài 3 - Nổi dậy hay khủng bố”.

 

2. Ngoài ra còn có cuộc tắm máu nhân dân vô tội trong cuộc chiến phi nghĩa mà VNDCCH gây ra đối với nhân dân VNCH trong tết Mậu Thân 1968 mà ở phần II sau đây tôi xin gửi tới quý vị tội ác của ông Hồ và đảng cộng sản Việt Nam.

 

3. Tổng kết cuộc chiến phi nghĩa mà ông Hồ và đảng cộng sản đã gây ra cho chúng ta những con số khủng khiếp mà tôi xin gửi tới để quý vị tham khảo sau đây.

 


 

Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể... 

Số liệu chính thức về thương vong của phía Việt Nam được chính thức công bố gần đây nhất là: 1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân vẫn mất tích (chưa tìm được xác) 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.

Theo tư liệu giải mã của Chính phủ Việt Nam năm 1995 cũng như sự xác nhận của các viên chức chính phủ từng tham gia vào cuộc chiến. Trong một phim tài liệu trình chiếu trên kênh truyền hình The History Channel, có rất nhiều viên chức của Việt Nam trong các cuộc phỏng vấn đã xác nhận con số gần đây từ tài liệu giải mã, và số chiến binh tử trận của Quân đội Nhân dân Việt Nam (hay còn gọi là quân Giải phóng Miền Nam) vào khoảng 1,1 triệu, bao gồm 300.000 mất tích. Cần lưu ý, số thiệt mạng không chỉ bao gồm số thiệt mạng trong chiến đấu, mà còn bao gồm số thiệt mạng do bệnh tật, tai nạn, kiệt sức..., và cũng không chỉ gồm lính chiến đấu mà còn gồm bộ phận không tham gia chiến đấu như cán bộ dân chính, cơ sở chính trị ngầm, tổ chức dân vận...

Quân đội Mỹ trước đây ước đoán hành động quân sự của họ đã giết chết khoảng 500.000 quân đối phương, trong lúc 400.000 bị tiêu diệt bởi các lực lượng đồng minh (900.000 tổng số)...


Quân lực VNCH cũng tổn thất 250.000-316.000 tử trận hoặc mất tích và 1.170.000 bị thương.

Con số 220.357 tử trận được Lewy dẫn từ tài liệu lưu trữ của Bộ quốc phòng Mỹ, tính từ năm 1965 đến năm 1974. Cộng thêm con số tử trận trong giai đoạn 1974-1975 và trước đó cho ra ước tính khoảng hơn 250.000 tử trận. Nhà sử học R.J. Rummel đưa ra con số ước tính cao nhất có thể lên tới 316.000 tử trận.

Về dân sự 900.000 đến 4.000.000 chết: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam đưa ra con số này vào ngày 3 tháng 4 năm 1995, hai triệu thường dân tại miền Bắc và hai triệu tại miền Nam đã chết khoảng giữa năm 1954 và 1975. Con số tổn thất dân sự của miền Bắc có thể là hậu quả của các chiến dịch không quân của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Hơn 2 triệu thường dân mang thương tật suốt đời.”

 


Thứ hai, theo tác giả Marc Leepsoned, Webster's New World Dictionary of the Vietnam War. New York: Simon and Schuster, 1999. - thì cũng có khoảng 4,5 triệu người Việt cả hai miền bị chết cho thấy tính chất phi nghĩa của cuộc chiến mà VNDCCH đã gây ra tổn hại như thế nào với nhân dân chúng tôi.

Thứ ba“Một bước đi lớn” - bởi nhóm tác giả đã từng hoạt động tại KGB và do NXB Quân đội Liên bang Nga xuất bản năm 1999 nói về hoạt động tình báo của Liên Xô ở trang 400 có viết:

“Hơn 4 triệu sinh mạng người Việt đã đổ xuống vì sự tranh giành cho địa vị của đảng cộng sản và chế độ do người Mỹ giúp sức...” 

 

Thứ tư, trong bản tổng kết của đảng cộng sản Việt Nam sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam được thông qua bộ chính trị trung ương đảng cộng sản Việt Nam ngày 23/09/1978 đã cho biết có khoảng 4,7 triệu người dân Việt chúng tôi nằm xuống trong cuộc chiến 10.000 ngày.

 


 

 

 

 

Ý NGHĨA SÂU SẮC TRONG THƯ GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN


 

 
Ý NGHĨA SÂU SẮC TRONG THƯ GÓP Ý
CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN
 
Tiến sĩ NGUYỄN QUANG HIỆP, Triết học
Oxnard, California, 25.05.2013
 
‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam‘’.
Câu  nói này  là NÉT SON của bức thư góp ý.Câu nói này đã nói lên sự đòan kết, sự thông minh sâu săc của HĐ Giám Mục Việt-Nam.
 
 
THƯ  CỦA  HỘI  ĐỒNG  GIÁM  MỤC  VIỆTNAM
GỬI  ỦY  BAN  DỰ  THẢO  SỬA  ĐỔI  HIẾN-PHÁP  NĂM  1992
NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP  Ý  SỬA  ĐỔI  HIẾN-PHÁP.
 
     Trừ đọan mở đầu và đọan kết  luận rất ngắn gọn:- đọan  mở đầu nói đến lý do nhận định và góp ý trong việc sửa   đổi   hiến pháp; đọan  kết luận ước mong mọi người  tích  cực   góp phần  vào việc điều chỉnh hiến pháp - bức thư gồm ba đọạn chính:
     Đọan  1:  nói về quyền con người. ‘’Quyền   con   người   là những quyền gắn liền với phẩm giá, do đó là những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm  và   bất  khả   nhượng‘’. ‘’Quyền  con người đã được chính thức nhìn nhận trong Tuyên  Ngôn   Quốc Tế vế quyền con người  (10.12.1948).‘’
     Đọan  2:  nói về quyền làm chủ của nhân dân. ‘’Quyền bính chính trị cần thiết để điều hành  xã   hội, nhưng   chủ   thể   của quyền bính chính trị phải là chính nhân dân xét như  một   tòan thể trong đất nước‘’.
     Đọan  3:  đề cập tới việc thi hành quyền  bính   chính   trị. ‘’ Quyền bính chính trị mà nhân dân  trao  cho  nhà   cầm   quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và   tư   pháp. Để những quyền bính này được thi hành cách đúng đắn vàhiệu qủa, cần có sự đôc lập chính đáng của mỗi bên và  vì  công  ích của tòan xã hội‘’.
     Đọc qua thư của HĐ Giám Mục nêu trên,người ta thấy rằng những nhận định và góp ý của HĐ rất tích  cực  trong  việc  tạo lập một hiến pháp dân chủ pháp trị thông thường hiện nay.  
    Hiểu thư của HĐ Giám Mục theo cách hiểu như trên  dường như chưa đầy đủ, bởi vì người ta còn chưa đi vào được ý nghĩa sâu sắc của bức thư nhận  định  và  góp  ý  này. Vậy  đâu   là  ý nghĩa sâu sắc đó?
 
     Chúng tôi cho rằng ý nghĩa sâu sắc đó nằm trong  số (2) của đọan 1:  ‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm   nền   tảng  tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành  xã  hội  Việt-Nam‘’.  Câu nói này có một sức mạnh vô địch vì nó hàm chứa trong đó một chân lý nền tảng của  triết học  và  thần học. Chân lý này  1)ĐÁNH BẠI VÀ TUYỆT DIỆT CHỦ NGHĨA  MÁC-LÊ-NIN VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆTNAM;  hệ  luận   của  chânlý này là: 2)lọai  bỏ mọi ý thức hệ  trong việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam;3)không chấp nhận bất cứ hình thức hòa hợp  hòa  giải   nào với chủ nghĩa Mác-Lê và cộng sản Viêt-Nam.
 
I-       TUYỆT DIỆT CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT-NAM KHÔNG KHOAN NHƯỢNG.
 
     Để hiểu chân lý nền tảng  này,  người  ta  không  thể  không trở về thời kỳ Giáo Hội Thiên-Chúa  đưa   ra  những  sắc   lệnh  kết án chủ nghĩa cộng sản vô thần Mác.
     Giáo Hội La-Mã, rất sớm, đã đưa ra những lời  kết  án   chủ nghĩa Mác-xít.Đức Giáo Hòang Lêon XIII (1878-1903) đã đưa ra những lời kết án đầu tiên và tổng quát đối với chủ  nghĩa  xã hội và chủ nghĩa cộng sản trong sắc lệnh ‘’Quod apostolici mu -neris‘’ (28  decembre 1878).  (Acta  Apostolicae  Sedis,  Lêon 13, vol. I, tr. 46).
     Đức Giáo Hòang Pie XI (1922-1939) công bố một  lọat  các sắc lệnh lên án chủ nghĩa Mác-xít; một trong những   sắc   lệnh quan trọng là sắc lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’ ngày 19 tháng  3 năm 1937. (Traduction française publiée  aux   Editions   Spes,  Paris, 1937).
     Năm 1949, Đức Giáo Hòang Pie XII ban hành săc lệnh  của Tòa Thánh thi hành kỷ luật đối với những giáo dân  có   những  hành động nào đó liên hệ với chủ nghĩa cộng sản.
     Phần lớn các văn kiện của Giáo Hội và nhất là sắc lệnh ‘’Di –vini Redemptoris‘’ liên hệ đến chủ nghĩa cộng sản đang  bành  trướng hiện thời. Những sắc lệnh này đương nhiên  nhắm   vào chủ nghĩa cộng sản của Lê-nin.Nhưng săc lệnh ‘’Divini Redem –ptoris cũng nhắm vào chính lý thuyết của  Mác,  bởi   vì   chủ nghĩa cộng sản của Lê-nin chỉ là con đẻ của  chủ   nghĩa   Mác. Những quy luật của DUY VẬT SỬ QUAN do Mác để   lại   đã được cộng sản Nga duy trì và giải thích một cách   trung   thực. (Divini Redemptoris, tr. 17).
     Giáo Hội giải thích rằng lý thuyết của Mác  xác   nhận  CHỈ CÓ MỘT THỰC TẠI tồn tại, đó là VẬT CHẤT với những sức mạnh MÙ QUÁNG của nó: cây cỏ, động vật, và con người chỉ là kết quả của sự TIẾN HÓA của vật chất (Ibid., tr. 17).Những giải thích của Giáo Hội rất chính xác,bởi vì duy vật biện chứng của Mác cuối cùng thích hợp với  một  biện   chứng   về   thiên nhiên mà những nét chính đã được nêu rõ ở trên; mặt khác,duy vật biện chứng đích thực nhất không thể nào  thóat  tránh  khỏi duy nhiên và rồi không ngần ngại tuyên  bố  là   duy   vật  biện chứng này đồng nhất với nhân bản chủ nghĩa.
     Người ta cũng dễ dàng nhận ra ‘’Divini Redemptoris‘’ cũng đang đề cập đến quan niệm của chủ nghĩa Mác-xít  về  xã   hội. Sắc Lệnh cho rằng chủ nghĩa Mác-xít đang chủ trương  xã  hội không là gì khác hơn là một hình thức của VẬT  CHẤT  TIẾN HÓA theo những định luật của  nó;  và  xã   hội   đó   thiết  yếu hướng về tổng hợp cuối cùng, đó là một xã  hội  vô   giai   cấp, xuyên qua những cuộc đấu tranh không  ngừng   của   các   lực lượng khác nhau (Ibid., tr. 17-18.). Bản văn ‘’Divini Redempto –ris‘’ cũng nói về chủ trương của chủ nghĩa  Mác-xít  coi   XÃ HỘI như là một hiện tượng PHỤ THUỘC CỦA  VẬT  CHẤT; chủ trương này phù hợp với một ĐỊNH MỆNH  THUYẾT  VỀ LỊCH SỬ, tuân theo những định luật của thiên nhiên.
     Với Giáo Hội, đó là một vô thần chủ nghĩa: đã   không   còn chỗ đứng cho ‘’Ý tưởng về Thiên-Chúa‘’ (Idée de Dieu).(Ibid., tr. 19). Duy vật lịch sử đối nghịch với quan niệm của Giáo Hội về tinh thần: nó không chấp nhận sự khác biệt giữa vật chất  và tinh thần, giữa thân xác và linh hồn. (n’admet pas de  different-ce spécifique entre matière et l’esprit, entre le corps  et  l’âme).(Ibid., tr. 19). Giáo Hội cũng cho thấy chủ nghĩa  Mác-xít  chối bỏ sự khác biệt giữa vật chất và tinh thần, bởi vì  thực   sự  chủ nghĩa ấy đã không thấy được sự khác biệt nào  nơi   vận   động biện chứng của thiên nhiên. Cuối cùng thì chủ  nghĩa   Mác-xít đã không chấp nhận sự hiện hữu của linh hồn và chối bỏ  niềm hy vọng vào đời sống khác.
     Qua những phê phán và kết án  chủ  nghĩa  Mác-Lê-nin  của Giáo Hội La-Mã trong các Sắc Lệnh, nhất là  săc  lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’, người ta thấy Giáo Hội muốn  dậy  cho   những người Mác-xít biết rằng: nơi con người chúng  ta  có  hai   thực thể khác biệt nhau: một thực thể là vật chất và   một   thực   thể khác là tinh thần.  Đây chính là chân lý nền tảng mà  chúng  tôi  muốn nói tới ở trên.
     Đúng thế, người ta không thể chối bỏ sự khác biệt  giữa  vật chất và tinh thần, giữa thân xác và  linh   hồn.  Chính   vì   Mác không chấp nhận thực thể tinh thấn, trái lại chỉ  đề  cao  vai  trò của thực thể  vật chất  nơi con người,  nên hệ  thống  triết   học của Mác sụp đổ.
     Những giáo huấn của Giáo Hội rất phù hợp   với   bản   chất của con người, nên đã được lý trí  con  người   chấp   nhận.  Sự phân biệt hai thực thể vật chất và tinh  thần  nơi  con  người  đã là nền tảng cho những suy tư của triết học của các triết gia.
     Lịch sử triết học Tây Phương đã là những minh  chứng  cho chân lý nền tảng này của Giáo Hội. Mới hơn cả với hiện tượng học của Husserl và Heidegger chẳng hạn, thì vấn đề  phân  biệt thực thể tinh thần và thực thể vật chất nơi con  người  càng  trở nên rõ rệt. Con người, nếu chỉ với thân xác của mình (thực  thể vật chất), không thể có tri thức về  thế giới, về sự vật;  cái  làm cho con người tri thức được vật thể, đó là cái  thuộc   thực   thể tinh thần:  đó là lý trí, đó là hữu thể của triết học  Tây  Phương. Ngày nay, cái làm cho con người tri thức sự vật chính là  Hữu-Thể như  Heidegger đã chứng tỏ.
     Vấn đề phân biệt thực thể vật chất và thực thể tinh thần  nơi  con người không phải chỉ ở Tây Phương, mà ngay  cả  ở  Đông Phương chúng ta cũng có sự phân biệt đó. Cái mà Tây Phương gọi là Hữu-Thể, thì Đông Phương chúng ta gọi là  ĐẠO.  Điều này chính Heidegger đã xác nhận khi ông so sánh Hữu-Thể với từ ngữ Tạo của Lão-Tử. Thực ra từ ngữ TAO  và  ĐẠO  chỉ  là một, bởi vì chúng nói lên cùng một ý  nghĩa   là  Hữu-Thể   của Tây Phương.Người Tầu dùng tiếng TAO, còn Việt-Nam chúng ta dùng tiếng ĐẠO để nói về Hữu-Thể.
     Với quan niệm của Tây Phương, con người tri thức  sự   vật là nhờ sự soi sáng của Hữu-Thể. Với Đông Phương  chúng   ta, con người biết sự vật là nhờ ánh sáng của ĐẠO.
     Dân tộc Việt-Nam gọi ĐẠO đó là thế giới sống của họ. Thế giới này là thế giới vô cùng rộng lớn  bao gồm Trời, Đất, Thần Thánh và Con Người. Dân tộc ta là dân tộc thông  minh  không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Dân tộc  ta  đặc  biệt có tinh thần TỰ DO và TỰ CHỦ rất cao.
     Với thế giới sống tự do, cởi mở, với tinh thần tự do, tự  chủ, cộng với những trí tuệ thông minh của dân tộc, cha ông  chúng ta đã lập một quốc gia riêng biệt hơn 4000 năm.Cha ông chúng ta sống hài hòa với nhau, nuôi dậy con cháu bảo vệ tổ tiên, bảo vệ giang sơn để bảo đảm tự do và độc lập dân tộc.
     Với trí thông minh và tinh thần tự do truyền thống, dân tộc ta đã tạo ra một lịch sử vẻ vang cho dân tộc. Cha ông chúng ta cũng đã tạo được một nền văn học, nghệ thuật riêng biệt,  đồng thời có một ngôn ngữ riêng theo cách suy tư riêng của dân  tộc.
     Nhưng điểm độc đáo riêng của dân tộc là chúng  ta  có  một thế giới sống cởi mở, sẵn sang đón nhận những cái hay cái đẹp của người khác. Chúng ta biết đón  nhận  những  tư  tưởng  cao đẹp, phong phú của Khổng Mạnh, Lão; chúng ta cũng tiếp  thu  lòng từ bi hỉ xả của Đạo Phật.Khi Thiên Chúa Giáo được giảng dậy ở Việt Nam, tâm tình Đạo của người dân Việt  như  những mảnh đất phì nhiêu đón nhận những hạt giống  tin   mừng   của Thiên Chúa.
     Cho nên HĐ Giám Mục Việt-Nam đồng lòng tuyên bố  như sau: ‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam‘’. Câu  nói này  là NÉT SON của bức thư góp ý.Câu nói này đã nói lên sự đòan kết, sự thông minh sâu săc của HĐ Giám Mục Việt-Nam.
     Câu nói này là một bạt tai vào mặt đảng cộng sản Việt-Nam hiện hành. Cái tát tai này giống như cái  tát  tai  của   cố   Giám Mục đáng kính Lê-Hữu-Từ thẳng thắn chống lại Hồ-Chí-Minh Đúng vậy, họ Hô là tên đồ tể bán nước, hại  dân, đã   du   nhập một ý thức hệ ác độc và rât sai lầm vào Việt-Nam. Thực ra ông đâu có đủ trình độ để hiểu triết học Mác.  Do đó làm gì  có  cái gọi là tư tưởng Hồ-Chi-Minh. Bọn cộng sản đàn em họ Hồ như  Trường-Chinh, Phạm-Văn-Đồng cũng chỉ lấy tài liệu sai lầm ở Nga đem về học: duy vật biện chứng của Mác đã  bị   hiểu   sai lạc từ Engels, rồi Lê-nin, Stalin. Ngay bọn cộng  sản Việt-Nam hiện thời cũng chẳng còn hiểu lý thuyết công sản là gì.
     Theo Mác, kinh tế là nền tảng, là hạ tầng kiến trúc, khi kinh tế thay đổi thì thượng tấng kiến trúc tất yếu phải thay đổi. Nay kinh tế cộng sản trở thành kinh tế tư bản, nhưng cộng sản  Việt Nam vẫn duy trì cơ chế thương tầng của cộng sản. Bất kỳ cộng sản lấy lý do gì để bào chữa,thì chúng cũng không gột rửa sạch được cái lý do ngu dốt không hiểu cộng sản.
     Đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra chiến  tranh   huynh   đệ tương tàn, tiêu hao hàng triệu thanh niên ưu  tú  của  đất  nước. Độc ác nhất là cộng sản gây thù địch, thù hận trong   lòng   dân tộc. Chúng thà đi khúm núm với bọn Tầu   nhưng   lại   để  cho chính người Việt bị hải tặc hãm hiếp, giết chết ngòai biển khơi. Hàng triệu người vượt biên chết trên  rừng, ngòai  biển,  chúng im hơi lặng tiếng như không nhìn thấy.
     Cái giỏi cái hay của bọn cộng  sản  Việt-Nam   từ   Hồ-Chí-Minh đến nay là bán nước là đi vay nợ. Vay nợ càng nhiều  mà không trả được thì khó tránh một cuộc chiến mất nước vớiTầu.
     Nhìn thấy quốc gia bị điều hành bởi một ý thức hệ  sai   lầm là một việc vô cùng nguy hiểm.Kinh nghiệm về ý thức hệ cộng sản và nhìn thấy sự thất bại của các quốc gia bi thống trị bởi  ý thức hệ trong lịch sử nhân loại, HĐ Giám Mục  nhắc  nhở   dân tộc của mình là: hãy ‘’Lấy truyền thống văn hóa  dân  tộc   làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều  hành  xã  hội  Việt-Nam‘’. Điều nhắc nhở này rất đúng,  rất  khôn   ngoan,  bởi   vì đứng về mặt tư tưởng để nói, thì bất cứ ý thức hệ nào  hay  chủ nghĩa nào cũng đều bất tòan  hay   chỉ   nói  lên   MỘT   KHÍA CẠNH CỦA THỰC TẠI MÀ THÔI.
     Chính con đường ĐẠO học của dân tộc  mới   là   cao   siêu vượt trên mọi ý thức hệ. Tại sao? Con người, nhât là con người Việt-Nam luôn luôn yêu chuộng tự do,bởi vì đó là bản chất của con người. Với Heidegger thì tự do là  nền  tảng  của  siêu  việt tính nơi con người. Với siêu việt tính, con người mở   thông  lộ đi vào Hữu-Thể, nghĩa là đi vào ĐẠO, nghe tiếng gọi của Hữu –Thể, trả lời cho Hữu-Thể, cư ngụ trong vùng tự  do của  Hữu-Thể  và rồi canh giữ chân lý Hữu-Thể.  Như  vậy  tìm   về   bản chất của con người là tìm về chân lý Hữu-Thể. Đó cũng là  con đường ĐẠO HỌC của dân tộc. Nơi ĐẠO  đó   chúng   ta   thấy được chân lý, thấy được tự do, sự công chính, sự   yêu   thương nơi ta và nơi tha nhân, chúng ta cũng thấy được lòng  từ   bi  hỉ xả của con người, chúng ta hiểu được cái gì là nhân, lễ,  nghĩa, trí, tín, và cảm được sự huyền bí, an vui của ĐẠO.
     Nói tóm lại, đời sống đạo là đời sống tốt đẹp cho mỗi người và cho mọi người trong dân tộc Việt-Nam. Đời sống  ĐẠO  đó  cao siêu và vượt qua mọi ý thức hệ,  dù  ý  thức  hệ  được  hiểu theo nghĩa xấu hay nghĩa tốt. Ý thức hệ cộng sản   thực   sự  đã tan rã, dù cộng sản Việt-Nam cố bám víu  lấy  những   cơ   chế rỗng tuếch của chúng không còn nội dung.
 
II-     NẾU ĐỜI SỐNG  ĐẠO  LÀ  NỀN  TẢNG  CỦA  NỀN  VĂN    HÓA DÂN TỘC, THÌ NÓ CŨNG PHẢI LÀ NỀN TẢNG  CHO VIỆC TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH XÃ HỘI VIỆT-NAM.
 
     Từ khi cách mạng cộng sản của Lê-nin thành công tại Liên-Sô và ý thức hệ Mác-xít được áp dụng  tại  nước  này,  thì   các quốc gia theo thể chế dân chủ hay quân chủ cũng bị bó  buộc ở  vào thế phòng bị, bởi vì Lê-nin đã nhanh  chóng  bành   trướng chủ nghĩa Mác-xít qua các nước lân bang.  Cách cai   trị   quốc gia bằng một học thuyết rõ rệt có hệ thống xuyên qua các cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt đẫm máu quả là một chiêu thức  mới trong chính trị. Các nhà chính trị hay các đảng  phái  chính   trị trong các quốc gia bối rối không biết làm sao  đối  phó   những họat động chính trị được lý thuyết triết học, kinh tế…,chính trị, khoa học hậu thuẫn.
     Trường hợp Việt Nam là một thí dụ điển hình.Sau khi Thực   dân Pháp chiếm trọn Việt-Nam 1884, đặt bộ máy  cai   trị   của Pháp trên tòan lãnh thổ, thì từ lúc đó, các lãnh tụ của các  đảng phái chỉ có chung một đối tượng là thực dân Pháp và có  chung một mục đích là giải phóng quê hương khỏi tay ngọai bang  cai trị. Nhưng cho tới năm 1927 thì tình hình chính  trị   các   đảng phái ở Việt-Nam bất đầu biến chuyển.
     Năm1927 Nguyễn-Ái-Quốc cầm đầu cuộc nổi dậy tại Nghệ An, nhưng thất bại. Sau đó ông ta thành lập  Đảng Lao   Động, cũng gọi là đảng cộng sản, lấy   chủ   thuyết   Mác-Lê-nin  làm nguyên tắc tổ chức xã hội. Đảng cộng sản bắt đầu  họat   động, sau khi đã được tổ chức thực chặt chẽ và sắt máu.
     Sau khi Pháp đầu hang Nhật tại Đông Dương, Nhật trao chủ quyền quốc gia lại cho Việt-Nam.Bảo Đại giao cho TrầnTrọng -Kim thành lập chính phủ đầu tiên của nước Việt-Nam độc  lập theo chính thể quân chủ lập hiến.
     Nhưng không bao lâu, Nhật đầu hang Đồng Minh  vô   điều kiện, Việt-Nam Cách Mệnh Đồng-Minh-Hội, gọi   tắt  là  Việt-Minh đảo chính: Hồ-Chí-Minh nắm quyền  hành. Trong  chính phủ Việt-Minh lúc đó có Nguyễn-Hải-Thần tham dự  với  chức phó chủ tich; Hùynh-Thúc-Kháng làm Bộ Trưởng Bộ Nội  Vụ; Nguyễn-Tường-Tam làm Bộ Trưởng Bộ Ngọai Giao.
     Nhưng không bao lâu Nguyễn-Hải-Thần sang Trung-Hoa vì thấy các lãnh tụ quốc gia chống  lại  Việt-Minh.  Hùynh-Thúc-Kháng tham dự chính phủ Việt-Minh được một năm  thì   chết. Nguyễn-Tường-Tam thì bỏ trốn sang Trung  Hoa   không   bao lâu.
     Vào những năm 1946-1949, có nhiều những  cuộc  ám   sát, thủ tiêu. Những người bị ám sát thủ tiêu hay mất tích là  những lãnh tụ của các đảng phái quốc gia. Nói như  vậy  người  ta  rất dễ hiểu thủ phạm là ai. Nhượng-Tống bị ám sát chính  trị   năm 1949.Trương-Tử-Anh bị mất tích ở Hà-Đông năm 1946. Phạm –Qùynh bị thủ tiêu tại Huế năm 1945. Tạ-Thu-Thâu bị giết  tại Quảng-Ngãi năm 1946.
     Trước tình hình chính trị còn lại độc đảng như vậy, các lãnh tụ của các đảng phái còn lại hay các lãnh tụ của các  đảng  phái mới thường xuyên bị ám ảnh bởi chiêu thức chính trị của  cộng sản. Người ta thường nghĩ rằng nếu muốn chống lại  cộng  sản, cần phải nghĩ ra được một chiêu thức chính trị mới có  thể  phá giải chiêu thức chính trị của cộng  sản. Muốn   có   chiêu   thức chính trị mới này, người ta cần đưa ra một lý   thuyết   kinh   tế chính trị mới, một học thuyết triết học mới.., nghĩa là phải nghĩ ra một ý thức hệ mới.
     Thời kỳ chia đôi đất nước sau 1954,  chính   phủ   của Tổng Thống Diệm cũng đã xử dụng học thuyết Nhân Vị để chống lại chủ nghĩa vô thần và vô nhân của cộng sản. Ngày nay, ngay cả các đảng phái người Việt chống cộng tại hải ngọai cũng còn ấp ủ trong lòng ý tưởng thiết lập một ý thức hệ chống cộng.
     Chúng ta chỉ cần theo con đường ĐẠO HỌC của dân tộc  là đầy đủ, mà không cần phải theo bất cứ ý thức hệ hay chủ nghĩa nào, vì tất cả mọi chủ nghĩa hay ý thức hệ đều bất  tòan, bởi  vì chúng chỉ là một cái nhìn thiếu sót về thế giới, về thực tại.
     Chúng ta biết rằng tự do xuất hữu ra đó hướng  về   chân  lý ĐẠO đó là bản chất của con người. Làm chính  trị  là  vì  BẢN CHẤT TỰ DO của con người chứ không phải vì ý thức hệ hay vì chủ nghĩa nào. Làm chính trị là làm sao tạo  môi  trường  tốt nhất cho tự do con người xuất lộ và nẩy nở. Tự do là lý  tưởng, siêu việt trên mọi ý thức hệ và mọi chủ  nghĩa.  Xin   hãy  bỏ  ý định nghĩ ra hay tìm kiếm cho ra một ý thức  hệ  hay   một  chủ nghĩa nào khác thay thế cho chủ nghĩa Mác-xít đã tan rã.
     Có lẽ giải pháp tốt đẹp nhất chính là đề  nghị của HĐ  Giám Mục Việt-Nam: ‘’LẤY TRUYỀN THỐNG  VĂN  HÓA DÂN TỘC LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CHO VIỆC TỔ  CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH XÃ HỘI VIỆT-NAM‘’.
     Một hệ luận khác được rút ra từ chân lý nền tảng  trên   đây của HĐ Giám Mục Việt-Nam là chúng ta không thể chấp nhận vấn đề hòa hợp hay hòa giải với chủ nghĩa cộng sản.
 
III-    KHÔNG   CÓ   HÒA   HỢP  HAY  HÒA  GIẢI 
VỚI  CHỦ NGHĨA  CỘNG SẢN.
 
     Chúng tôi đương nhiên có những lý do vững chắc để có  thể quả quyết rằng chúng ta không nên hòa hợp hay  hòa  giải   với cộng sản.
     Trước khi nói đến những lý do khiến không nên hòa giải và hòa hợp với cộng sản, chúng tôi chỉ muốn nhắc  nhở  một  điều mà binh thư thường nói: ‘’tri bỉ tri kỷ bách chiến bách  thắng‘’. Nếu muốn trăm trận trăm thắng thì phải biết  người   biết  mình trước đã.
     Nếu người ta điểm mặt một số những người  trong  một  vài đảng phái chống cộng hải ngọai và một số  những ông  tiến  sĩ, luật sư, bác sĩ, tự đứng ra giao du với Việt Cộng  để  hòa   hợp, hòa giải với chúng, thì chúng ta phải nghi ngờ ngay  là   những người này có thực sự am hiểu lý thuyết và tổ chức  xã  hội  của cộng sản hay không? Chúng tôi dùng từ ngữ am hiểu ở đây với ý nghĩa là sự hiểu biết ấy đã được thử thách qua đời sống  thực tiễn bao gồm lý thuyết và thực hành. Các ông  muốn  hòa   hợp hòa giải, nhưng các ông đã từng học triết học của Mác, kinh  tế chính trị, triết lý chính trị… của Mác chưa và   học   được   bao nhiêu năm? Ở quốc nội, người ta không hòa hợp  hòa  giải  với cộng sản, các ông ở hải ngọai, với tư cách gì mà dám  đứng  ra giao du hòa hợp với hòa giải với cộng sản.
     Những triết gia lớn như Hegel, Marx, Huserl…họ là  những thiên tài. Những người dậy triết học  Hegel,  Marx  hàng   mấy chục năm cũng chưa dám nói là mình hiểu  Hegel, Marx.  Như vậy có phải các ông là những thiên tài  không   cần   học   cũng   hiểu các thiên tài như Hegel, Marx.
     Xin các ngài chủ trương hòa hợp hòa giải  hãy  trở   về   với môn học chuyên môn của mình, đừng tự  đứng   ra   múa   may quay cuồng nhằm kiếm chút canh cặn cơm thừa của  cộng  sản. Các ngài tưởng có thể kiếm chút địa vị sau này. Xin   lỗi   cộng sản chúng chỉ coi các ngài như những con chó ghẻ   ngồi  dưới  chân bàn ăn của chúng. Xin đừng chơi với lửa. Trotski và Stal-ine  là hai đệ tử mà Lê-nin ưa thích. Trotski là  người  sáng  lập và chỉ huy 18 đạo Hồng Quân Liên-Sô cũng bị Staline   đưa  đi đầy bằng cách dẫn độ đẩy ra khỏi biên giới Liên-Sô,  chỉ  vì  bị  cái tội không hiểu biện chứng duy vật. Trotski sang trú ngụ  tại  Mexico, Staline cho người qua Mexico giết chết Trotski   bằng búa.
     Chúng tôi muốn đưa ra những lý do tại sao chúng ta  không thể hòa hợp và hòa giải với cộng sản Việt-Nam bao  lâu  chúng còn duy trì lý thuyết Mác-Lê-nin và bám chặt lấy các cơ chế tỏ chức xã hội của chúng. Những lý do này là những lý do  chúng tôi đã học được từ những sắc lệnh của Giáo Hội LaMã và cũng  học được từ Bức Thư góp ý của HĐ Giám Mục Việt-Nam.
     Chúng tôi tin tưởng vào  Giáo Hội  của  Chúa,  trong  đó  có HĐ Giám Mục Việt-Nam. Trong Giáo Hội của  Chúa  có   biết bao Thiên Tài luôn bảo vệ Giáo Hội. Chúa  Thánh   Linh   luôn họat động trong Giáo Hội, soi sang và hướng   dẫn   Giáo  Hội. Karl Marx chỉ là hạt cát đem so với các thiên tài của Giáo Hội.
Cộng Sản Việt-Nam chỉ giỏi liếm gót giầy Tầu  Cộng  và   giết hại đồng bào của mình.
     Chúng tôi chỉ nhắc lại đây những lý do chính tại sao  chúng  ta không hòa giải và hòa hợp với cộng sản.
     Theo Sắc Lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’ 1937  do  Đức  Giáo Hòang Pie XI, thì sai lầm to lớn nhât  là  Duy Vật   thuyết   của Mác. Duy vật sử quan của Mác chỉ công nhận thực thể vật chất và chối bỏ thực thể tinh thần. Con người và xã hội  con   người chỉ là kết quả của sự tiến hóa của vật chất. Đây là vô  thần  chủ nghĩa,vì nó không có chỗ đứng cho‘’Ý tưởng về Thiên Chúa‘’. Nó không chấp nhận sự khác biệt giữa vật chất  và   tinh   thần, giữa thân xác và linh hồn. Như vậy, tự bản chất, cộng   sản chủ
nghĩa là phản tôn giáo.
     ‘’Divini Redemptoris‘’ cũng lên án chủ thuyết ‘’cách  mạng bạo tàn‘’ (révolution violente) là cái phát sinh  từ  ‘’khía   cạnh biện chứng của duy vật chủ nghĩa‘’ của những người cộng  sản (l’aspect dialectique du matérialisme); đồng thời những  người cộng sản đã biến việc đấu tranh giai câp thành một nguyên  tắc hành động (un principe d’action).
     Sắc lệnh cũng xác nhận rằng chủ nghĩa cộng  sản  ‘’đã  tước đọat mất quyền tự do nơi con   người,  nguyên   tắc   tinh   thần hướng dẫn luân lý‘’ (dépouille l’homme de sa liberté,  principe spirituelle de la conduite morale).
     Chủ nghĩa cộng sản không nhìn nhận nơi cá   nhân   bất   cứ quyền tự nhiên nào thuộc về con người, khi đem  cá  nhân   đặt trước tập thể; con người trong chủ nghĩa cộng sản ‘’chỉ  là một cơ quan của hệ thống‘’ (n’est plus qu’un rouage du system).
     Chủ nghĩa cộng sản không thừa nhận   ở  cá   nhân  ‘’bất kỳ quyền tư hữu nào‘’(aucun droit de propriété) về các tài nguyên thiên nhiên hay về các phương tiện sản xuất‘’.
      Cuối cùng Sắc lệnh lên án ‘’CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN‘’ (DICTATURE  DU PROLÉTARIAT): một  chế   độ   bạo   lực được biện giải bởi chỉ mục đích của mình, khiến  cho  QUYỀN LỰC CHÍNH  TRỊ  CỦA  CHẾ  ĐỘ   KHÔNG  THỂ   ĐƯỢC  THỪA NHẬN.
     Lá thư góp ý của HĐ Giám Mục Việt-Nam là một  bản  văn cực lực lên án chế độ bạo tàn vô luân lý đạo đức. Bản văn  triệt để chống chủ nghĩa vô thần cộng sản. Bản văn   cũng   triệt  để chống chủ nghĩa phi nhân cộng sản bởi vì nó tước  đọat  những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng đã được nhìn nhận trongTuyên ngôn quốc tế về quyền con người.Chính vì duy vật, nên cộng sản coi con người chỉ là một thứ sinh  vật.
     Chủ nghĩa vô thần và phi nhân là một hình thức chối bỏ bản chất con người, bởi vì con người chỉ là con người  thực  sự  khi nó tự do vượt quá bản thân để tiếp thông với Đấng cao cả,đứng trong chân lý. Bản văn cũng đòi quyền làm chủ   đất   nước của nhân dân và quyền thi hành quyền bính chính trị.
     Tóm lại Sắc Lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’ và  lá  thư  góp  ý của HĐ Giám Mục Việt-Nam cùng một chủ trương  hòan  tòan chối bỏ sự hiện hữu của chủ nghĩa Mác-Lê-nin   trong   xã  hội con người. Điều đó có nghĩa là chủ nghĩa  cộng   sản   Mác-Lê-nin phải bị giải thể. Lý thuyết và cơ chế tổ chức của đảng cộng sản này phải bị hủy bỏ, chứ không phải chỉ thay đổi   tên  đảng là đủ. Các nước như cộng sản Đông Âu chẳng hạn  nay  không  còn theo lý thuyết hay tổ chức cộng sản.
     Có thể có những vị không theo Thiên Chúa Giáo   cho  rằng chúng tôi chủ quan khi chúng tôi   dùng   những   bằng   chứng được rút ra từ  Giáo quyền La-Mã, bởi vì Giáo   Quyền  La-Mã Không bao gồm mọi người trên thế giới trong đó.
     Thực ra chúng tôi không chủ quan trong vấn đề  này   là   vì các bản Sắc Lênh ‘’Divini Redemptoris‘’ và thư ‘’Góp Ý‘’ của HĐ Giám Mục Việt-Nam không chỉ bảo vệ đức tin của các  tín hữu Ki-Tô Giáo mà còn bảo vệ bản chất  của   con   người   nói chung. Chẳng hạn thư ‘’Góp Ý‘’ của HĐ Giám Mục Việt-Nam đòi quyền con người là đòi hỏi cho mọi người  Việt-Nam   chứ không phải chỉ cho giáo dân công giáo Việt Nam.Thí dụ: tự do tôn giáo cho mọi người, tự do báo chí cho mọi người…
     Một trong những điểm ưu tư của những người  chống  cộng sản ở Việt Nam, nhất là các nhà chính trị và những lãnh tụ  của các đảng phái chính trị không cộng sản yêu nước, là sau khi đã hủy trừ đảng cộng sản người ta phải theo  đường  lối  lý  thuyết nào để xây dựng đất nước? Chúng tôi cho rằng  đề  nghị  gợi  ý của HĐ Giám Mục: ‘’Lấy truyền thống văn hóa   dân   tộc  làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành   xã  hội  Việt-Nam‘’ là tốt nhất.
     Chúng tôi cho rằng câu trả lời này là một câu trả lời  hợp  lý nhất, sâu sắc nhất, cao siêu nhất phù hợp với   bản   chất   sống ĐẠO của người Việt-Nam. Truyền thống ĐẠO HỌC  của  dân tộc Việt-Nam siêu việt trên các ý thức hệ hiện tại và có  thể  có sau này.
     Chúng ta đã đứng trong quan điểm của những người  chống cộng sản để nói về những người chủ trương hòa  hợp   và   hòa giải với cộng sản, nhưng chúng ta chưa đứng trong  quan  điểm của những người cộng sản để nhìn những kẻ muốn hòa  hợp và  hòa giải với chúng.
     Muốn hiểu cách đối xử của cộng sản đối  với  những  người muốn hợp tác với chúng, có lẽ cách hay nhất là xem lại ý niệm về vong thân và thâu hồi vong thân trong biện chứng pháp duy vật của chúng.
     Một cách tổng quát, Mác hiểu ý niệm vong thân (Ẻntfremd-ung) như sau: vong thân là trạng thái của một hữu-thể đã ngọai phóng sự hữu riêng tư của mình thành một hữu thể khác, và  bị ảo tưởng coi hữu thể đó như hòan tòan  khác  với  mình, tức  là vừa xa lạ, vừa đối địch với mình. Thí dụ: người thợ làm  ra sản phẩm (ngọai phóng mình vào sản phẩm), nhưng chủ lấy  nó  đi làm của riêng, người thợ bị vong thân vì  sản  phẩm  của  y  trở thành xa lạ và đối địch với y. Mác nói rằng cộng sản  phải  giải phóng con người khỏi vong thân.
     Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, Mác khác với Hegel khi Mác quan niệm rằng vong thân là cái không thể  thu   hồi   được   và triệt để phá bỏ hay hủy diệt. Thí dụ: vong thân tôn  giáo không thể thu hồi mà phải hủy diệt; vì vậy mọi tôn giáo  đều   phải  bị hủy diệt.
     Thế rồi bằng con đường biện chứng duy vậtMác giải phóng con người khỏi các vong thân để tiến lên đạt được  chính  mình trong sự hòa hợp với nhiên giới và nhân giới. Con   người   đạt được chính mình là con người đạt thân hay con người cộngsản.
     Trong tiến trình biện chứng đi lên hòa hợp với nhiên giới và nhân giới, những gì đứng ngòai con người, cản trở việc  đi  lên tổng hợp của con người đều bị thanh tóan hay hủy diệt.
     Như vậy mấy người múa mỏ quay cuồng muốn hòa hợp  và hòa giải với cộng sản, có hai trường hợp  xẩy   ra   cho   những người này: một là các anh phải trở thành cộng  sản,  hai  là  các anh phải bị thanh tóan, vì các anh chỉ là kỳ đà cản mũi.
 
Tiến sĩ NGUYỄN QUANG HIỆP, Triết học
Oxnard, California, 25.05.2013
 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link