Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, July 7, 2013

NHỮNG NGƯỜI ĐI HÁI PHÙ DUNG


 

NHỮNG NGƯỜI ĐI HÁI PHÙ DUNG
 
        *NGUYỄN THIẾU NHẪN
 
          “Đời tôi để lịch sử xử. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia sẽ là một tội nặng, sẽ làm mất nước trong tay Cộng Sản…”
 
          Thoắt mà đã 50 năm, kể từ ngày văn hào Nhất Linh, người đã dùng thuốc độc hủy mình “để cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do”. Đất nước đã thực sự lọt vào tay Cộng Sản 12 năm sau di chúc lịch sử của văn hào Nhất Linh được công bố
 
          Nhà văn Nhật Tiến, giải thưởng văn chương toàn quốc với truyện dài “Thềm Hoang”, cách đây 50 năm, đã đại diện một nhóm nhà văn độc lập, đọc trước linh cữu Nhất Linh khi hạ huyệt những lời vĩnh biệt:
 
“Kính thưa anh hồn văn hào Nhất Linh,
Thật vô cùng đau đớn và xót xa cho chúng tôi khi chúng tôi nhận được tin văn hào đã quyết tâm từ bỏ hoàn cảnh sống nhỏ nhen và tăm tối này để đi về chốn thanh cao.
Đại diện cho một nhóm nhà văn độc lập, không phụ thuộc một màu sắc chính trị, không gia nhập một đảng phái, hôm nay trước anh hồn của văn hào, chúng tôi xin được bày tỏ lòng tiếc xót của chúng tôi.
Trọn một đời gian khổ, không ngại khó khăn, không màng danh vọng, văn hào đã tận tụy hy sinh, từ bỏ mọi quyền lợi riêng để tranh đấu cho lý tưởng tự do, cho cuộc sống hạnh phúc của dân tộc.
Văn hào đã hoàn thành sứ mạng của người cầm bút.
Văn hào đã nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính.
Cái chết của văn hào sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường tăm tối của chúng tôi đang đi, là niềm khích lệ lớn lao cho những khó nhọc mà chúng tôi sẽ gặp gỡ, là một tấm gương sáng láng mà mãi mãi những kẻ cầm bút đi sau như chúng tôi phải soi vào để suy gẫm.
Chúng tôi xin nguyện trước anh hồn của văn hào là chúng tôi sẽ nhất quyết theo đuổi con đường cao đẹp mà văn hào đã vạch ra.
Đó là sự hoàn thành sứ mạng cao quý của các nhà văn.
Đó là sự chống đối mãi mãi bạo quyền và bạo lực.
Đó là sự đòi hỏi đến kỳ cùng quyền tự do được sống làm người của toàn thể dân tộc, như ý muốn của văn hào trước khi nhắm mắt.
Ôi! Nói làm sao cho xiết nỗi lòng thống thiết của chúng tôi trong những giờ phút đau đớn này.
Chúng tôi chỉ xin cầu nguyện cho anh hồn của văn hào sớm tiêu diêu miền Cực Lạc, cũng như xin văn hào linh thiêng chứng nhận những lời nói chân thành của chúng tôi trong giây phút vĩnh biệt này”.
 
          Tôi tin, cũng như nhiều người khác tin, những lời vĩnh biệt rất văn hoa và đầy xúc động của nhà văn Nhật Tiến khi ông đọc trước linh cữu của văn hào Nhất Linh - con người mang tên hai chữ Nhất Linh trong suốt cuộc đời đã không làm điều gì vô ích, kể cả điều thông thường con người không có quyền làm là sự chết - nói theo cách nói của luật sư Dương Kiền.
 
          Sau năm 1975, nhà văn Nhật Tiến đã ở lại Việt Nam, đã biết thế nào là Cộng Sản, và sau đó đã vượt biển để biết thế nào là cái tâm trạng:
 
          Ta thương ta kiếp thuyền nhân
          Một lần vượt biển muôn phần đớn đau!
 
          Có điều tôi không hiểu, tôi cũng nghĩ rằng nhiều người khác không hiểu, về những việc làm của nhà văn Nhật Tiến trong vài ba năm trở lại đây. Ông tuyên bố rùm beng trên báo chí trước khi trở về Việt Nam “để tìm chất liệu sáng tác”. Ông đã mang sách “Trăm hoa vẫn nở trên quê hương” về Việt Nam. Sau đó, trở ra hải ngoại chỉ thấy ông im hơi, lặng tiếng. Có điều gì sai chạy chăng? Nhà văn vẫn theo đuổi những điều đã hứa trước linh cữu của văn hào Nhất Linh là “hoàn thành sứ mạng cao quý của các nhà văn… chống đối mãi mãi bạo quyền và bạo lực” với tư cách một nhà văn độc lập hay giờ đây ông đã “phụ thuộc một màu sắc chính trị”?
*
          Hoàng Phủ Ngọc Tường, là người đã cùng Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân“những người đã làm vỡ mộng bao cô gái Huế sau Tết Mậu Thân” - nói theo cách nói của nhà thơ Cao Mỵ Nhân. 
 
          Trong tạp ghi “Không Chung Một Bầu Trời”, nhà thơ Cao Mỵ Nhân viết về buổi lễ kỷ niệm 20 năm Tết Mậu Thân được tổ chức vào mùa Xuân 1988 tại Nhà Văn Hoá Thanh Niên thành phố Hồ Chí Minh như sau:
 
“… Hội trường chật cứng những người, ai cũng muốn biết cái gì là quan điểm của bên kia về Tết Mậu Thân Huế. Có lẽ cái đinh của buổi “20 Năm Tết Mậu Thân Huế” hôm đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường, hay nói cách khác, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói gần như hụt hơi, Phan không lên máy vi âm “cứu bồ” chỉ đứng tại chỗ phía dưới khi ban tổ chức giới thiệu, Nguyễn Đắc Xuân cũng vậy, nay Xuân tóc bạc trắng, dung nhan phờ phạc, mơ hồ, không còn nét đấu tranh kiểu “tâm ca” xa xưa, trước thuở vô bưng.
Vì cả ba người Tường, Phan, Xuân đều hoạt động văn nghệ Cộng Sản với bút pháp Nguyễn Tuân, nhưng Tường vốn làm thơ, nên buổi nói chuyện đã chuyển qua không khí một đêm… thơ, hơn là đặc công du kích, chắc muốn cho vơi bớt hận thù.
Phàm là một người làm thơ, nếu lỡ có tàn ác, gian xảo, tồi tệ, xấu xa… đến đâu, hình như cũng có lúc “thật mình” như thế, mới đúng là thi sĩ chăng? Hoàng Phủ Ngọc Tường làm thơ không nhiều, nhưng riêng về mặt thơ thôi, thì lại có vẻ thi phong, thi cốt:
 
          Thôi em, cảm tạ chờ mong,
          Ngày anh đi hái phù dung chưa về.
          Đêm qua, hương đã tàn mê,
          Mày ai còn dấu trăng thề như in…
 
Rõ ràng những chờ mong tuổi trẻ đã tàn phai, lầm lỡ, như sắc hoa phù dung: sáng đỏ, trưa hồng, tối trắng hay là phù dung thì sớm nở, tối tàn. Và khi đã tàn cơn mê, thì nét vẽ chân mày cong lên như dấu trăng thề in rõ rành rành tức là nhướng mắt nhìn sự bất lực của mình:
 
          Bây giờ đã hết trò chơi,
          Đã tàn cuộc rượu, để người ra đi.
          Đêm qua, không biết làm gì,
          Muốn tìm về gã Trương Chi nghe đàn.
 
Và hai câu kết bài thơ “Đêm qua” tức là qua rồi giấc mơ chẳng đẹp đẽ gì, chỉ toàn là ác mộng:
 
          Đêm qua nhớ lũ đười ươi,
          Lang thang rũ một trận cười trong mây.
 
Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một người Việt Nam, một người Huế sinh ra và trưởng thành ở Huế, quá đà mộng dữ, đã phản bội lại Huế hoa niên của Tường, rồi cũng làm thơ, đến khi bắt gặp sự thật phũ phàng, mới thu hình về sống cô đơn với chính mình, gã đã thấy cuộc chơi nguy hiểm, không còn hứng thú, đành đi tìm nghe một tiếng đàn Trương Chi. Ai Việt Nam chẳng biết chàng Trương Chi xấu xí nên thà là mờ mờ nhân ảnh, kính nhi viễn chi, cho “kim cương” biến thành nước mắt:
 
          Thôi em, cảm tạ con người,
          Đã thương, đã ghét giữa trời mênh mông.
          Đêm qua rơi xuống cội lòng,
          Vàng in chiếc lá ngô đồng thiên thu…
   
Chao ôi, sắc “vàng” trừu tượng đã giấu vào thiên thu ký ức, Hoàng Phủ Ngọc Tường với dư âm, dư ảnh Tết Mậu Thân Huế, sẽ mãi mãi ám ảnh người dân Huế, không sao xóa nổi hận thù, gã sẽ như một thứ Trương Chi cụ thể, mà Huế như hàng vạn công nương, gã có tương tư Huế đến đâu, Huế cũng không thể sống chung bởi con người Hoàng Phủ Ngọc Tuờng đã lỡ phát sinh một khối uất hờn vô lý nhất là khi “đánh Huế”. Nên thôi, suốt đời nhân dân Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ cùng uống nước sông Hương mà không thể chung bầu trời tâm sự (có thể hiểu là không đội trời chung đấy)”.
 
          Hai mươi năm sau biến cố Tết Mậu Thân, người cầm bút miền Nam, nhà thơ Cao Mỵ Nhân nghĩ về “người đi hái phù dung” (*) Hoàng Phủ Ngọc Tường như thế, không biết có đúng không?
 
          Thời “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc”, nhà thơ Quang Dũng chỉ vì:
 
          Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
          Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm!
 
mà đã bị nhà cầm quyền Cộng sản “đì” suốt bao nhiêu năm trời. Những người cầm bút chân chính chắc chắn có những xúc động thực lòng khi nghĩ về quê hương, đất nước, con người trước khi viết ra. Nhưng sau đó, có thể vì những suy nghĩ sai lầm, vì tham vọng cá nhân, vì ngộ nhận của dư luận… mà mọi chuyện, sau đó, đã khác đi.
 
          Người cầm bút cũng như bao nhiêu con người khác, họ cũng có quyền sai lầm, vấp ngã. Điều quan trọng là sau khi vấp ngã có còn can đảm đứng lên và bước tới?
 
          Trong thập niên 40, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam giã từ con đường văn học, bước vào chính trị. Năm 1948, sau khi Bảo Đại ký kết với Pháp thoả hiệp 5 tháng 6, Nhất Linh quyết định giã từ chính trường. Sau đó ông vào miền Nam hoạt động văn hóa. Ông không tin ở chính trị mà ông tin ở lòng người, ở một cái đạo ông tìm ra trong hương thơm của hoa phong lan. Và ông đã chọn cái chết để giữ mình lương thiện:
 
          Người đi, đi mãi không về
          Nhớ người dòng suối Đa Mê gợi buồn!
 
          Năm 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường tham gia đánh Huế trong biến cố Tết Mậu Thân. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chít giải khăn sô cho hàng vạn công nương Huế! Sau đó, Hoàng Phủ Ngọc Tuờng đã tự nhận mình là “người đi hái phù dung”. Phù dung là một loài hoa tam sắc túy: mới trổ màu trắng, rồi hường, gần tàn biến đỏ:
 
          Phù dung sớm nở, tối tàn
          Tiếng đồn rực rỡ, hỏi nàng có không?
 
          Khi đưa tay hái đoá phù dung, Hoàng Phủ Ngọc Tường có biết đâu đã sẵn đau thương đợi chờ!
 
          Cách đây 50 năm, nhà văn Nhật Tiến đã đọc bài điếu văn làm xúc động lòng người trước linh cữu văn hào Nhất Linh. Cách đây vài năm, Nhật Tiến bị dư luận “lên án” vì có tác phẩm “hoà giải” hoặc “trung lập”. Nhà văn này đã nói rằng tuy sống ở xã hội tự do nhưng: “Tôi thấy rõ người cầm bút ở đây chưa thực sự có tự do cầm bút”.
          Câu tuyên bố của nhà văn Nhật Tiến quả có điều khó hiểu.
 
          Cho đến năm 1987, vào hai ngày 6 và 7 tháng 10, trong một cuộc nói chuyện với hơn 100 văn nghệ sĩ ở trong nước, Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, xác nhận 2 điều:
 
-         Đảng đã đánh giá thấp vai trò, vị trí của văn học, nghệ thuật;
-         Đảng thiếu dân chủ, trói buộc văn nghệ sĩ, nhiều khi độc đoán, sát phạt.
 
          Lời xác nhận như những hồi trống giáo đầu của vở kịch “Cao trào Văn nghệ Phản kháng” từ bấy đến nay với màn vĩ thanh như thế nào chắc nhà văn Nhật Tiến đã rõ.  
 
          Không biết nhà văn Nhật Tiến thích loại hoa nào: hoa phong lan hay hoa phù dung?!
  
          Bài viết này lẽ ra đã được kết luận với câu kết như trên nếu tôi không tình cờ đọc được bài phỏng vấn của báo Thanh Niên của Cộng sản Việt Nam được tạp chí Cuộc Đời số 19, tháng 1-1995, đăng lại. Bài phỏng vấn nhan đề “Nhật Tiến - Quê Hương: Chiếc nôi nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tạo”.
 
          Nhà văn Nhật Tiến tuyên bố với phóng viên báo Thanh Niên là “quê hương đã có nhiều thay đổi, nhất là về chính sách kinh tế và ngoại giao”, Nhà văn cho biết là ông và Nhật Tuấn (em ruột của ông) sẽ in chung tập truyện ngắn “Quê Hương - Quê Người”. Sách sẽ do nhà xuất bản Văn Hóa ở trong nước xuất bản.
 
          Trong cuộc phỏng vấn, Nhật Tiến cũng cho biết là “trong 15 năm xa quê, tôi chỉ in được vài ba tập truyện ngắn, một truyện dài và một tập bút ký viết chung với hai ký giả khác”.
 
          Được hỏi: “Lựa chọn quê hương là nơi đầu tiên ra mắt cho tác phẩm, điều đó với ông mang ý nghĩa gì?”
 
          Nhật Tiến đã trả lời như sau: “Đó là sự lựa chọn có ý thức và với tôi mang nhiều ý nghĩa. Trước hết là tôi luôn mong mỏi những sáng tác của mình tới được tay độc giả trong nước, bởi vì dẫu sao quê hương, đồng bào, dân tộc vẫn là cái nôi nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tạo cho tất cả văn nghệ sĩ. Sau nữa, việc in chung tác phẩm với một nhà văn trong nước ngay tại quê nhà cũng là một bước cụ thể trong tiến trình hòa hợp trên tinh thần dân tộc để xây dựng một đất nước phồn thịnh mà tôi vẫn hằng suy nghĩ từ gần hơn 10 năm qua”.
 
Ở hải ngoại, cũng một vấn đế người ta có thể có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau và đôi khi hơi ồn ào. Trong giai đoạn đầu, khoảng 1991-1992, tôi cùng một số bạn bè văn nghệ hết sức tán thành và hỗ trợ cho bất cứ tờ báo nào thực hiện được chủ trương hòa hợp dân tộc như tôi đã nói trên. “Hợp Lưu” là một trường hợp cụ thể. Riêng tôi, vì báo chí không phải là ngành chuyên môn, lại không có thời gian dành cho lãnh vực văn nghệ nên chỉ hỗ trợ cho “Hợp Lưu” trên phương diện tinh thần là chính. Sau này, cảm thấy tự ngượng, vì thực tế, nhất là những năm 1993-1994, mình chẳng đóng góp được điều gì thiết thực, cụ thể cho tờ báo mà vẫn được để tên trong ban chủ trương nên tôi tự động rút tên. Đây hoàn toàn chỉ là vấn đề tự trọng và sự lương thiện trí thức đối với độc giả mà thôi”.
 
          Tôi tin nhà văn Nhật Tiến đã có “vấn đề tự trọng và sự lương thiện trí thức” khi trả lời câu phỏng vấn của báo Thanh Niên của Cộng Sản Việt Nam: “Hình như tinh thần dân tộc đó đã được ông thể hiện bằng cách hành động và đã nhận lãnh nhiều “búa rìu” dư luận tại hải ngoại. Có phải ông là một trong những người chủ trương tạp chí Hợp Lưu”?
 
          Trong cuộc sống, có người đi bên này sông, có người đi bên kia sông, có người lội xuống giữa dòng mà đi. Ai cũng có quyền thương yêu thù hận trong đời.
 
“Những người cầm bút, có người coi sự hoạt động chính trị như phản lại sự độc lập  của ngòi bút và khước từ tham gia chính trị với quan điểm rằng công việc của nhà văn giản dị là chỉ có viết mà thôi; có người lại chủ trương tham gia hoạt động cộng đồng như một công dân và tham gia chính trị với ý nghĩa tích cực nhất” - như kịch tác gia Vaclav Havel, cố Tổng thống Tiệp Khắc,  đã phát biểu trong Đại hội Văn Bút vào năm 1995.
 
          Dù chọn lựa thái độ nào thì sáng tác của những người cầm bút cũng phải gắn liền với thời đại mà anh ta đang sống. Và phải chịu sự phán xét của độc giả. Và người cầm bút nào cũng phải biết rằng những cái còn lại là sau khi anh ta đã nằm xuống.
 
          Trong quyển “Godfather”, một quyển truyện găng-tơ nổi tiếng của Mario Puzo, hai nhân vật chính: “Bố Già Bố” Vitto Corleon và “Bố Già Con” Michael Corleon, không ám ảnh tôi bằng hai người vợ của hai nhân vật này.
 
          Hai người đàn bà, một người là mẹ chồng, một người là nàng dâu. Cả hai người đều là vợ của hai ông Trùm Quyền Lực giới găng-tơ trong tiểu thuyết của Mario Puzo, mỗi cuối tuần đều đến nhà thờ cầu nguyện cho linh hồn của chồng mình.
 
          Cách đây nhiều năm, trên một nhật báo, tôi có đọc được tin là bà Phương Khanh, vợ của nhà văn Nhật Tiến mỗi tối đều lên chùa để cầu nguyện khi nhà văn này về Việt Nam. Tôi không nhớ rõ lý do bài báo viết vì sao bà Phương Khanh phải lên chùa cầu nguyện. Mãi cho tới bây giờ, tôi cũng không biết rõ lý do. Bà Phương Khanh cầu nguyện - như bà Vitto Corleon và bà Michael Corleon cầu nguyện cho linh hồn của chồng mình vì biết chồng mình làm chuyện gian ác mà không thể ngăn cản được? Hay là vì lý do bà chỉ là một Phật tử?   
 
          Có điều tôi biết chắc chắn rằng hoa phong lan thanh tao, cao quý hơn hoa phù dung tam sắc túy!
 
          Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đã chít giải khăn sô cho hàng vạn công nương Huế tự nhận mình là người đi hái phù dung không có gì khó hiểu.
 
          Chỉ tiếc cho nhà văn Nhật Tiến!
 
          NGUYỄN THIẾU NHẪN
          (*) tựa một tập thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
 
 

NGHỊ QUYẾT 36 VÀ CHỦ TRƯƠNG “CHÍNH QUYỀN VẬN” CỦA CSVN


 

NGHỊ QUYẾT 36 VÀ CHỦ TRƯƠNG “CHÍNH QUYỀN VẬN” CỦA CSVN
 
                LÃO MÓC
 
          Không phải tới bây giờ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) mới nghĩ tới chuyện “giải phóng” hay “nhuộm đỏ” cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Cũng không phải tới bây giờ CSVN mới nghĩ đến chuyện đưa người của chúng vào sinh hoạt dòng chính của guồng máy chính quyền Hoa Kỳ. Cũng không phải tới bây giờ CSVN mới dùng các tổ chức, đảng phái mà chúng đã gài người lũng đoạn, mua chuộc để sai khiến. Cũng không phải tới bây giờ bọn chúng mới dùng các cơ quan truyền thông “dùng chiêu bài chống Cộng để mưu sinh” để đánh phá cộng đồng để bảo vệ cho người của chúng nó.
 
          - Ngay từ năm 1990, bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, một tay sai VC tại Pháp, đã xuất bản quyển “Về Người Việt Nam Định Cư Ở Nước Ngoài”. Trong “Lời tác giả” tên bác sĩ “Việt kiều yêu nước” này đã viết:
 
“Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề nghị với lãnh đạo Đảng và Nhà nước một phương hướng chiến lược, một số chính sách và chủ trương cấp thiết nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài ổn định được cuộc sống, thân ái, đoàn kết hướng về quê hương, dân tộc, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
 
          Tên bác sĩ “bồi thần” (chữ dùng của sử gia Tư Mã Thiên, tác giả bộ Sử Ký lừng danh để gọi “những kẻ tay sai của lũ tay sai”, “lũ đầy tớ của bọn đầy tớ”) này còn tỏ ra xum xoe, bợ đỡ các “đồng chí” của hắn như sau: “Cuốn sách này cũng nhằm phục vụ các đồng chí Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí Trưởng Ban, Ngành, Sở, Mặt Trận Tổ quốc các tỉnh, thành ở trong nước, để có thể kịp thời có những quyết định, giải pháp thích hợp và cụ thể nhằm đưa công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tiến lên một bước.”
 
          -Vào năm1992, tạp chí Cộng Sản số 435 đã đăng tải bài “Làm Tốt Công Tác Vận Động Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” đã viết như sau:
 
“Tăng cường thông tin giữa trong và ngoài nước, mở rộng giao lưu trao đổi văn hóa phẩm, xuất bản phẩm, nâng cao công suất các phương tiện thông tin đại chúng đến tận vùng xa trên thế giới. Tạo điều kiện cho nhiều đoàn nghệ thuật, các tổ chức triển lãm văn hóa Việt Nam, các nhà khoa học trong và ngoài nước gặp gỡ, đối thoại để góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.
Bên cạnh việc biểu dương các hoạt động yêu nước tích cực của Việt kiều, cần phê phán các nhận thức mơ hồ, các quan điểm lệch lạc; đấu tranh chống các hoạt động thù nghịch, các âm mưu chống phá đất nước của bọn phản động lưu vong ở nước ngoài.”  
 
          - Mười lăm năm trước, chúng tôi đã báo động tình trạng CSVN xâm nhập cộng đồng người Việt Quốc gia tỵ nạn cộng sản tai hải ngoại qua bài thuyết trình “Từ du kích chiến tới vận động chiến trong mặt trận tuyên vận của CSVN” tại Khu Hội cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California vào ngày 15-3-1998. Sau đó, bài viết đã được cập nhật hóa và phổ biến trên tuần báo Quê Hương (đã đình bản), đài phát thanh Quê Hương (lúc đài này chưa lộ rõ bộ mặt “dùng chiêu bài chống Cộng để mưu sinh” - như hiện nay). Phần kết luận của bài thuyết trình như sau:
 
“Trong tương lai rồi sẽ có những cán bộ cao cấp của Hà Nội ra nước ngoài tiếp tục kêu gọi ngoại quốc đầu tư; rồi sẽ có những đoàn văn công được gửi ra nước ngoài trình diễn; rồi sẽ có những phim ảnh từ trong nước đem ra nước ngoài chiếu; rồi sẽ có những cuộc triển lãm tranh ảnh để giao lưu văn hóa; rồi sẽ có những cuộc hội thảo về khoa học, kỹ thuật.
 
          Và rồi sẽ có:
 
Một hệ thống truyền thông của CSVN với một nhật báo, một tuần báo, một nguyệt san, một nhà in, một nhà sách với hệ thống phát hành rộng lớn, một đài phát thanh, một đài truyền hình… xuất hiện tại Bắc Mỹ (biết đâu chẳng là ngay tại San Jose) trong tương lai nếu chúng ta không đoàn kết và tranh đấu quyết liệt với những kẻ tự nguyện xé bỏ căn cước tỵ nạn, vỗ ngực xưng danh là ‘người Quốc Gia công chính’, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tiếp tay CSVN đánh phá cộng đồng.”
 
          Nghị quyết 36 chẳng có điều gì mới lạ so với các tài liệu của CSVN đã phổ biến trước đây, ngoài việc xác nhận chính đảng CSVN đã phải khuất phục trước sức mạnh của cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản  nên đã phải tìm mọi cách ve vãn để hòa hợp hòa giải với cộng đồng người Việt Quốc gia hải ngoại để lợi dụng sức người, sức của của những kẻ mà chúng đã từng gọi là “bọn trộm cướp, đĩ điếm, bọn đánh giặc mướn, bọn ôm chân đế quốc” để củng cố quyền lực hầu tiếp tục đè đầu, cưỡi cổ trên 87 triệu người dân trong nước.
 
          Theo nghị quyết 36, trong lãnh vực thông tin, tuyên truyền và văn hóa, văn nghệ, cựu Thủ tướng Phan Văn Khải đã ra lệnh cho Ban Tư Tưởng – Văn Hóa Trung Ương và Bộ Văn Hóa – Thông Tin nhiệm vụ: “Nghiên cứu, xây dựng quy chế khuyến khích các đoàn nghệ thuật, các ca sĩ, nghệ sĩ trong nước tổ chức các chuyến biểu diễn phục vụ kiều bào; các ca sĩ, nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài về biểu diễn ở trong nước; xuất bản, phát hành ở trong nước một số sản phẩm văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phù hợp các quy định về xuất bản…”
 
          Lời tiên đoán của chúng tôi cách đây 15 năm đã trở thành sự thật ngay khi xảy ra “sự biến” Little Saigon tại San José.
 
          Vấn đề chính xin được đề cập đến trong bài viết này là chuyện CSVN đưa người của chúng vào các tổ chức chính quyền của Hoa Kỳ, hoặc móc ngoặc những vị dân cử người Mỹ gốc Việt để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn có lợi cho chúng.
*
          Không phải tới tháng 3 năm 2005 mới có nghị viên Madison Nguyễn trong Hội Đồng Thành Phố (HĐTP) San Jose là người đã làm những chuyện có lợi cho VC mà ngay từ năm 1993 đã có nghị viên Tony Lâm trong HĐTP Westminster đã ra mặt công khai ủng hộ CSVN.
 
          Tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật số 28-93, xuất bản tại thành Hồ ngày 19-7-1993 đã giới thiệu Tony Lâm - người Việt Nam đầu tiên là Phó Thị Trưởng tại Mỹ - nguyên văn như sau:
 
Lịch sử guồng máy cai trị Mỹ bắt đầu mở ra một trang mới khi chức Phó Thị Trưởng Westminster thuộc tiểu bang California về tay nghị viên Tony Lâm vào ngày 11-11-1993.
Ông Lâm định cư tại Mỹ từ năm 1975 đã trở thành người Việt đầu tiên đi vào bộ máy chính quyền Mỹ qua bầu cử. Thị xã Westminster được thành lập năm 1957 và nghị viên Tony Lâm mới làm việc trong hội đồng thành phố thị xã này khoảng 1 năm thì được toàn thể nghị viên nhất trí bầu vào chức vụ trên. Sau khi thắng cử, ông Lâm đã tuyên bố với phóng viên báo Newsweek: “ TÔI MUỐN CHÍNH QUYỀN MỸ BÃI BỎ NGAY LỆNH CẤM VẬN vì 70 triệu người Việt trong nước đang là nạn nhân của lệnh cấm vận này.”
 
          Và, như mọi người đều biết, chính ông “nghị viên người Việt duy nhất tại Mỹ này” đã thách thức cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản bằng cách đăng tải quảng cáo nhà hàng bún ốc của ông ta trên trang DINING của tờ The Orange County Register với hình cờ đỏ, sao vàng 5 cánh của VC cả tháng trời mặc những lời phản đối của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Bolsa. Cũng chính nghị viên Tony Lâm là người đã bắt tay “ôm hôn thắm thiết” Vũ Đức Vượng, Lệ Lý Hayslip trong cuộc hội thảo “Bắc một nhịp cầu cũ, mới” dành cho Phó Đại sứ CSVN Hà Huy Thông tại trường đại học ở San Diego do ông “Thẩm phán di trú” Phan Quang Tuệ thuyết trình. Và cũng chính Tony Lâm là “vị dân cử người Việt duy nhất” đã “thủ khẩu như bình” trong suốt 53 ngày đêm cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản biểu tình phản đối tên “người đuôi chó” Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ tặc trong tiệm cho thuê băng video của anh ta.
 
          Vì những việc làm có lợi cho VC, Tony Lâm đã bị cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tẩy chay và hiện nay nghe nói đang bán  bánh mì thịt nguội Lee’s Sandwiches ở Nam California.
 
          Trong “sự biến” thách thức cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn bằng cách treo cờ máu và ảnh Hồ tặc trong tiệm cho thuê mướn video, tên “người đuôi chó” Trần Trường được 2 tờ báo là tờ Sàigòn Nhỏ ở Nam California và tờ Thời Báo ở Bắc California viết bài ủng hộ. Tên “đặc công truyền thông” Tú Gàn đã viết bài “khuyên” đồng bào không nên biểu tình chống Trần Trường vì hắn đã được Tu chính án số 1 của luật pháp Hoa Kỳ bảo vệ. Tại Bắc California, tên vô lại Đỗ Quyên (Phạm Ngọc Châu) của tờ Thời Báo cũng cùng một giọng điệu “khuyên” Ban Đại diện Cộng đồng nên “nói chuyện phải quấy” với Trần Trường. Khi tên “người đuôi chó” Trần Trường bị cảnh sát Mỹ bắt thảy lên xe cây đưa ra tòa vì tội sang băng lậu thì tên “đặc công truyền thông” Tú Gàn lại lên tiếng chữa thẹn: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại F.B.I.” Trong vụ Trần Trường thì Tổng lãnh sự VC tại San Francisco đã lên tiếng bênh vực cho tên này.
 
          -Trong “sự biến” Little Saigon tại San José, mọi người đều thấy rõ bà nghị viên “ăn cháo đái bát” Madison Nguyễn đã dựa vào thế lực của ông Thị Trưởng Chuck Reed và một số nghị viên trong HĐTP đã bị bà ta mua chuộc để chơi “trò chơi dân chủ rừng rú” là áp đặt cái tên Saigon Business District (SBD) (chỉ có 9% người lưa chọn) thay thế cái tên Little Saigon là cái tên có tới 91% cử tri khu vực 7 [là những người đã bỏ phiếu bầu bà ta vào chức vụ nghị viên] thỉnh cầu. Theo thú nhận của bà ta với nhật báo San Jose Mercury News thì bà ta không chọn “Little Saigon” để đặt tên cho khu phố trên đường Story vì mấy chữ này “mang âm hưởng chống Cộng”.
 
          Để chạy tội vi phạm luật Brown Act (BA), bà Madison Nguyễn và TT Chuck Reed đã phải vội vã hủy bỏ quyết nghị đặt tên SBD và “chơi khăm” bằng cách giao việc chọn tên cho khu phố này cho toàn thể cử tri thành phố San Jose, bất kể thành phố sẽ phải tốn kém tiền bạc do người dân đóng thuế. Tuy nhiên bà ta vẫn bị Ủy Ban Pháp Lý/ Ban Đại Diện CĐVN/BC do ông Nguyễn Ngọc Tiên làm Chủ Tịch kiện về vụ BA và vụ kiện đang trong chiều hướng thuận lợi cho Ban Đại Diện CĐVN/BC.
 
          Bằng những “thủ đoạn chính trị nhơ bẩn” (dirty politic game) bà nghị viên Madison Nguyễn đã thoát lưới bãi nhiệm và đã tái đắc cử chức nghị viên và đã được TT Chuck Reed đề cử chức Phó Thị Trưởng. Tuy nhiên uy tín của bà nghị viên “nói một đàng, làm một nẽo này” đã giảm sút và đã bị cộng đồng người Việt tỵ nạn tại San José tẩy chay.
 
          -Trong khi đó thì tại Houston, nghị viên Hoàng Duy Hùng (HDH) thuộc Khu vực F. đã lộ rõ mặt Việt tay sai VC với chủ trương: “Nếu không thắng được họ thì hãy nhập bọn với họ” (If you cannot beat them, join them) mà ông ta diễn giải: “Mới nghe qua thì tưởng như đầu hàng nhưng không phải vậy, đó là nương theo chiều gió để thắng kẻ thù”.              
 
          Nương theo chiều gió để thắng kẻ thù đâu không thấy, chỉ thấy sau “sự biến” cùng đồng bọn “ trực diện đối thoại” với Thứ Trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn tại Toà Thị Chính Houston thì HDH đã lộ rõ bản chất của một kẻ chính trị hoạt đầu. Và ông này càng lộ rõ bản chất Việt gian khi về VN nói những lời xum xoe bợ đỡ cựu Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, ra sức bênh vực VC về chuyện đàn áp giáo dân ở Cồn Dầu, láo lếu tuyên bố VN không cần đa nguyên, đa đảng, kêu gọi kết nghĩa Đà Nẵng, Houston.
 
          Khi trở lại Hoa Kỳ, HDH đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại Houston. Một “phong trào bất tín nhiệm nghị viên AL Hoàng tức Hoàng Duy Hùng” đã được phát động. Buổi cơm gây quỹ tái tranh cử của ông này đã bị biểu tình đả đảo.Và cũng được biết “ông nghị viên bợ Cộng không cần giấu mặt” này  và đồng bọn đang bị Hội Đồng Giám Sát/Houston kiện ra tòa về tội gian lận về tài chánh.
 
          Nhìn chung, tương lai chính trị của ông nghị viên HDH đang “lao trên triền sóng”
*
          Qua phần trình bày trên, mọi người đều nhìn thấy rõ CSVN quyết tâm bằng mọi cách để đưa người của chúng tham gia vào các sinh hoạt dòng chính, hoặc mua chuộc những vị dân  cử người Mỹ gốc Việt để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn có lợi cho chúng.
 
          Tuy nhiên, chủ trương “chính quyền vận” của CSVN đã thất bại vì gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của những người “không chịu vui niềm vui mới” giữa những tang thương, đau khổ của quê hương gốc của họ là đất nước VN, những người “không chịu chối bỏ căn cước tỵ nạn cộng sản” nơi quê hương mới; bởi vì họ là những người đã từng liều chết, liều sống đi tìm tự do, dân chủ, nhân quyền cho mình và tương lai cho con cái mình!
 
          LÃO MÓC
          tieng-dan-weekly.blogspot.com
 

Văn hóa LỪA HIỆN ĐẠI kiểu Ba Tàu


From: NGUYỄN VÂN TÙNG <
To:
Sent: Friday, July 5, 2013 7:23 AM
Subject: [DiendanDanToc] Re: Ai sắp đi du lịch Tàu...xin mời đọc : Văn hóa LỪA HIỆN ĐẠI kiểu Ba Tàu (Tom Nguyễn sưu tầm)

 

 

 

 

 

Ai sắp đi du lịch Tàu...xin mời đọc :

Văn hóa LỪA HIỆN ĐẠI kiểu Ba Tàu

 

Nhóm chúng tôi có 12 người đi du lịch Trung Quốc, khởi hành từ Sài Gòn, theo chương trình sẽ đi thăm Bắc Kinh, Tô Châu, Quế Lâm.  Hầu hết thành viên trong nhóm đều là cán bộ nghỉ hưu, gom góp mấy đồng tiền còm trong sổ tiết kiệm, và con cái phụ thêm cho chuyến tham quan.  Người “có máu mặt” nhất là chị Lâm, vợ một ông tướng công an đương chức.  Chị bao cho mẹ đẻ và mẹ chồng trong chuyến đi dối già. 

Đến Bắc Kinh nhóm chúng tôi nhập vào một nhóm du lịch khác cũng từ Việt Nam sang hơn hai chục người, được một hướng dẫn viên người Trung Quốc đưa đi tham quan các nơi theo chương trình.

 

Phải nói Bắc Kinh là một thành phố vĩ đại, giàu bản sắc văn hóa Trung Quốc, nhiều công trình kiến trúc đẹp, nhiều di tích lịch sử rất đáng được chiêm ngưỡng và suy nghiệm.  Thành phố này trật tự, nền nếp hơn Sài Gòn, Hà Nội, không chen chúc xe máy, không có người ăn xin, chụp giựt níu kéo du khách chặt chém từ vài quả cóc, lon nước đến bịch lạc rang như ở bờ Hồ Gươm.

 

Nói như vậy không phải người Trung Quốc thật thà, mà họ thuộc hạng siêu lừa.  Họ lừa có bài bản, lừa theo kiểu “kích dục mê tâm” – kích thích cái tham, làm cho lòng người mê mẩn thiếu sáng suốt rất dễ bị lừa.  Phải thừa nhận là họ có “văn hóa lừa” hẳn hoi, ăn sâu, ăn đậm, không ăn vặt.

 

Khi chúng tôi lên xe đi thăm Cố Cung, tay hướng dẫn viên du lịch nói nói:

- Thưa các bạn Việt Nam, Cố cung, là nơi các triều đại nhà Minh, nhà Thanh ngự trị suốt mấy trăm năm, lịch sử Trung Quốc trải qua bao thăng trầm xuất phát từ chốn cung vàng điện ngọc này… Viện bảo tàng Cố Cung. 

 

Tay hướng dẫn viên nói như hát.  Hắn mới khoảng hai nhăm tuổi, ăn mặc lịch sự, nói tiếng Việt làu làu, nhớ không ít tục ngữ ca dao Việt Nam, biết cả chửi thề, khoe rất thích ăn món thị chó rựa mận rìa đê Yên Phụ, Hà Nội và món cà pháo canh cua quán cơm bà Cả Đọi, Sài Sòn.

 

Nghe hắn nói Cố cung hấp dẫn, ai cũng háo hức, nhưng hắn không cho vào thăm ngay, mà cho xe chạy qua cổng Bắc thành.  Tôi hỏi sao lại đi vòng thế, hắn nói:

- Muốn vào thành phải được sự chấp thuận của các quan gác cổng, hôm nay tôi dẫn đoàn qua cổng Bắc, vượng khí đang ở hướng đó. 

Nghe hắn như rót mật vào tai, ai cũng gật gù.

 

Vừa tới cổng thành, đã thấy bộ tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng rực rỡ nhảy múa đón rước.  Rồi cả một ban tiếp tân, ăn mặc chỉnh tề, ân cần mời đoàn thăm quan lên lầu. Một căn phòng sang trọng, những dãy ghế đánh vec-ni bóng nhoáng.  Các du khách vừa an vị, tay hướng dẫn viên trịnh trọng giới thiệu vị giáo sư lịch sử ra nói chuyện với đoàn.  Nhìn vị giáo sư, thấy nghi nghi, hình như đây là một diễn viên đóng thế, bởi gương mặt non choẹt.  Nhưng anh ta tỏ ra một diễn viên có tài, từ điệu bộ đến lời nói rất đĩnh đạc, nghiêm trang.  Hắn nói một mạch về lịch sừ Cố cung, về các triều vua, rất uyển chuyển không hề vấp váp, rồi chốt lại bằng câu chuyện con Tủy Hưu thật hấp dẫn.  Hắn nói:

 

- Thưa quý vị, đời vua Minh Thái Tổ, giữa lúc quốc khố bị rỗng, một đêm ngài nằm mơ thấy một con vật mình rồng, đầu to, ngực to, mông to, có sừng nhọn, lông dày, đứng hút nhanh từng thỏi vàng sáng chói vào bụng.  Sau giấc mơ đêm ấy, nhà Minh hưng thịnh, quốc khố đấy vàng, nhà vua cho làm con đường vào thành theo trục Bắc Nam, hướng tài lộc, cho xây cồng Bắc thành này và dùng ngọc phỉ thúy tạc tượng con vật trong mơ, gọi là Kỳ Hưu, nghĩa là kỳ diệu, sau gọi là Tỳ Hưu , đặt tại đây, gọi là tài môn, cổng tài lộc.  Hôm nay may mắn đoàn du khách Việt Nam được qua cổng tài lộc vào Tử Cấm thành, may mắn hơn vì quý vị sẽ được chiêm ngưỡng con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, tạc từ thời Minh Thái tổ…

 

Mọi người vỗ tay rào rào.  Vị “giáo sư” mỉm cười nhã nhặn, ra hiệu mọi người ngồi xuống, nghe nói tiếp về sự mầu nhiệm của Tỳ Hưu.

- Tỳ Hưu là một con vật cực kỳ linh thiêng, mầu nhiêm, có đầu to, ngực to, mông to, nhưng bụng nhỏ và không có hậu môn, chỉ hút vàng bạc châu báu của trời đất vào mà không nhả ra, chỉ làm giàu cho chủ mình chứ không để thất thoát đi đâu một đồng nào.  Vì thế người đời xưa gọi là con Thiên Lộc.  Từ đời nhà Minh đến đời nhà Thanh, vua ban sắc lệnh chỉ có vua và Hoàng hậu mới được thờ Tỳ Hưu, các hoàng tử, công chúa không được thờ.  Đặc biệt nghiêm cấm các quan trong triều tuyệt đối không được thờ Tỳ Hưu, vì sợ quan sẽ giàu hơn vua . 
Có một người dấu vua thờ Tỳ Hưu, là Hòa Thân, thời Mãn Thanh, đời Càn Long. Hòa Thân, tạc một con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, to hơn con Tỳ Hưu của vua, trưng trong biệt phủ của mình.  Nhờ con Tỳ Hưu ấy Hòa Thân làm quan đến tột đỉnh, chỉ dưới một người trên muôn người, vơ vét hết của cải thiên hạ.  Theo thống kê thời ấy, Hòa Thân có biệt phủ 3.000 phòng, 606 gia nhân, 600 thê thiếp, 32 km2 đất, 42 ngân hàng, 75 tiệm cầm đồ 600 cân sâm Cát Lâm, 60.000 lạng vàng, 100 thỏi vàng lớn mỗi thỏi 1.000 lạng, 56.000 thoi bạc mỗi thỏi 100 lạng, 90.000.000 lạng bạc lẻ .v..v..  Ưóc tính tài sản của Hòa Thân gấp 15 lần ngân quỹ quốc gia.

Có tiếng xuýt xoa của du khách.  Mấy người cười khúc khích, nói với nhau: “Việt Nam mình cũng có vài Hòa Thân rồi đấy!”.  Vị “giáo sư” ra hiệu mọi người im lặng rối nói:

- Không chỉ có Tỳ Hưu sinh tài, còn nhiều loại Tỳ Hưu khác mầu nhiêm không kém, như Bồ Lao, Trào Phong, Toàn Nghê, Bi Hi, Bế Ngạn, Phu Hi… Ai muốn con cháu văn hay chữ tốt thì thờ Phu Hi, muốn yên ổn bình an thì trưng Tiêu Đồ, muốn quyền cao chức trọng tiếm loát thiên hạ thì trưng Bế Ngạn…

 

Mấy vị du khách, mắt sáng lên, lấy sổ tay ghi tên loại Tỳ Hưu hợp với mình.  Bà vợ ông tướng công an, không ghi kịp hỏi tôi:

- Cái con gì giữ quyền cao chức trọng anh nhỉ?

Tôí nói:

- Tên nó là Bế Ngạn chị ạ!  Hình dáng nó như con hổ, loài chúa sơn lâm đấy.

 

Vị “giáo sư” đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi bằng một thái độ hết sức trịnh trọng, anh ta mời mọi người qua phòng bên xem con Tỳ Hưu ngọc phỉ thúy, anh ta nhắc đi nhắc lại, chỉ được đi lướt qua, liếc mắt nhìn, tuyệt đối không sờ tay vào con vật linh thiêng.  Tay hướng dẫn viên cúi rạp người xuống cám ơn vị “giáo sư”, rồi dẫn mọi người qua cái cửa hẹp vào phòng lớn.

 

Bốn người mặc quần xanh nẹp đỏ, đội mũ quan thời Minh, đứng canh cái bệ gỗ, trên bệ phủ mảnh vải đỏ.  Sau khi thắp hương vái, bốn người cầm bốn góc tấm vải hất lên, phía dưới hiện ra con Tỳ Hưu lung linh dưới ánh đèn mầu nhấp nháy.  Mọi người không được nhìn kỹ, nên chả biết con Tỳ Hưu bằng ngọc hay bằng đá?  Tay hướng dẫn viên hối sang phòng bên.

 

Căn phòng rộng thênh thang, bày la liệt đủ các loại Tỳ Hưu to nhỏ lớn bé, trên kệ gỗ, trong tủ kính.  Gần chục cô gái bán hàng sốt sắng chào mời khách.  Tay hướng dẫn viên nói, chỉ ở đây mới có các loại Tỳ Hưu thứ thiệt, mỗi con vật linh thiêng này được đưa vào Cố cung bày trước anh linh vua Minh Thái Tổ xin ban phúc lộc, rồi mới mang ra đây bán cho du khách.

 

Mọi người như bị mộng du, bước chân đi rón rén, không giám nói cười, và cứ ngoan ngoãn móc ví đếm tiền mua Tỳ Hưu.  Bà vợ tướng công an mua một lúc bốn con Bế Ngạn bằng ngọc, giá mỗi con 9.000 tệ. Bà ta nói với tôi:

- Trưng ở nhà hai con, chỗ làm việc cùa nhà em hai con bác ạ!

 

Một con Tỳ Hưu nhỏ nhất ở đây có giá 3.200 tệ, tương đương 500 đô la, tức 11.000.000 đồng Việt Nam.  Tôi nói nhỏ với ông bạn đi cùng nhóm:

- Hình như không phải bằng ngọc ông ạ? Tôi trông giống hệt mấy con Tỳ Hưu bán ở Hà Nội, Sài Gòn, giá chưa đến một triệu một con?

Ông bạn vênh mặt lên:

- Không có tiền nên nói thế !

Ông rút một nắm tiền ném lên mặt tủ kính.  Tôi vội lánh sang chỗ khác, nhìn những cô gái tíu tít đếm tiền, miệng cười tươi như hoa.

 

Khi đã bán được 26 con Tỳ Hưu, thấy không ai mua nữa, tay hướng dẫn viên du lịch mời mọi người lên xe vào Cố cung.

Đến đây mọi người chỉ được xem qua, vì kỷ luật bảo vệ di tích của Trung Quốc rất nghiêm khắc, hơn nữa theo chương trình còn đi thăm Vạn Lý Trường Thành.

Cách điểm thăm quan Vạn Lý Trường Thành không xa, tay hướng dẫn viên nói với du khách:

- Thưa quý vị, Vạn Lý Trường Thành được Hoàng đế Tần Thủy Hoàng xây dựng từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, dài 3.980 dăm, nơi đây, Mao Chủ tịch đã đến khắc bảy chữ vàng “Bất đáo trường thành phi hào hán” nghĩa là chưa đến Vạn lý trường thành thì chưa phải là một anh hùng.  Muốn lên Vạn Lý Trường thành phải có sức khỏe tốt, vì vậy cơ quan y tế Trung Quốc đã thành lập một Trung tâm khám sức khỏe miễn phí cho du khách.  Hôm nay trước khi lên Vạn Lý Trường Thành tôi xin giúp quý vị kiểm tra lại sức khỏe, cô bác nào có bệnh sẽ được điều trị ngay tại chỗ.

 

Cái trung tâm ấy là một tòa nhà bốn tầng, khang trang.  Cũng như ở cổng Cố cung, các bác sỹ ra tận cửa đón rước, mời chúng tôi lên phòng khám bệnh thênh thang, từng hàng ghế kê ngay ngắn.  Các nhân viên mang nước mời mọc ân cần.  Rồi năm, sáu người mặc blu-trắng xuất hiện, giới thiệu rất trịnh trọng, đây là giáo sư tiến sỹ Lu Zeng Ung nổi tiếng nhất Trung Quốc, đây là bác sỹ Hua Twen Xuang nổi tiếng nhất Bắc Kinh.

 

Những vị giáo sư, bác sỹ vạch miệng, vạch mắt, nghe tim phổi và bắt mạch cho từng người trong hai nhóm du khách với thái độ rất thân thiện, khi nheo mắt tỏ vẻ lo lắng, khi mím môi tỏ vẻ nghiêm trọng, rồi nhoẻn miệng cười đầy vẻ cao đạo.  Khốn nạn thân chúng tôi, ở nhà khỏe re, mà đến đây ai cũng có bệnh.  Không cao huyết áp thì phù thận, suy tim, có người bị chứng xơ gan mới khiếp chứ!?  Nhưng lại mừng vì phát hiên ra bệnh sớm và vị giáo sư, tiến sỹ nói, đã tới đây thì bách bệnh sẽ được tiêu trừ hết, bởi Trung tâm này đã từng chữa bệnh cho nhiều vị nguyên thủ quốc gia Trung Quốc và thế giới.  Chúng tôi được kê đơn thuốc, có chữ ký của vị giáo sư tiến sỹ đàng hoàng, có con dấu của Viện Đông y thế giới Bắc Kinh đỏ choét.  Ai cũng cảm thấy hả hê vì may mắn.  Ở nhà đi bác sĩ tư thì bị chặt chém, đi bệnh viện công thì bị hành, chuyến đi này, vừa được thăm quan du lịch vừa khám chữa bệnh bốc thuốc, được tiếp đón ân cần như bố người ta thì còn gì sướng bằng?

 

Nhưng ít phút sau thì mọi người hơi ngán, bởi các giáo sư, bác sỹ, chỉ khám miễn phí, còn thuốc phải mua, mà đây là một Viện y học nổi tiếng, nên thuốc rất đắt.  Mỗi bịch thuốc theo toa của “giáo sư, bác sĩ” rẻ nhất là 1.000 tệ tương đương 160 đô la Mỹ.

 

Như bị ma ám, ai cũng bỏ tiền ra, ôm một mớ thuốc nam và mấy hộp cao đơn hoàn tán.  Các vị giáo sư tiến sĩ Trung tâm y dược vẫn chưa chịu buông tha các con mồi.  Họ kéo mọi người sang phòng bên ngồi xung quang cái sân khấu hình tròn.

 

Một anh chàng nhảy lên sân khấu, hung dữ như một thằng du đãng.  Hắn hét toáng lên, rồi chạy xuống lôi một thanh niên đang ngổi lẫn trong đám du khách lên sân khấu.  Chả rõ nguyên cớ vì sao, thù hằn gì mà hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh anh thanh niên ghê thế.  Đến nỗi du khách phải la lên phản đối.  Thằng du đãng bỏ anh thanh niên nằm lăn lóc, lủi mất.  Bấy giờ một bác sỹ chạy, tới vén quần, vén áo anh thanh niên lên.  Ôí cha mẹ ơi, từ ngực trở xuống, từ đít trở lên thâm tím như những quả đa mồi.  Anh ta không ngổi dậy được, rên ư ử như sắp chết.  Bà bác sỹ lấy một viên thuốc cho anh ta uống, lấy một lọ thuốc nước đổ lên các vết thương, và, thật kỳ diệu, thuốc chảy đến đâu vết thương lành đến đấy.  Chai thuốc hết, anh thanh niên đừng dậy, khỏe re, toe toét cười.  Tiếng vỗ tay vang lên và sau đó, tiếng xuýt xoa thán phục râm ran trong nhóm du khách.

 

Tiếp theo, một phụ nữ lên sân khấu, đổ cồn vào tay, châm lửa cháy đùng đùng.  Khi lửa tắt bàn tay chị phồng rộp lên, Vị giáo sư liền mang lọ thuốc nước trong suốt ra, rưới vào tay chị, và chao ơi thuốc thần thuốc thánh cũng không hiệu nghiệm bằng, rưới đến đâu da tay chị phụ nữ hết phồng, trắng hồng trở lại đến đấy.

 

Thế là mọi người nhắm mắt, nhắm mũi, xỉa tiền mua thuốc bỏng, thuốc trị thương.  Tôi thách bạn nào đi trong nhóm du lịch ấy, trong hoàn cảnh ấy, mà không mua một thứ gì.  Mình cũng được khám bệnh như mọi người, bác sỹ nói mình có bệnh, kê đơn đàng hoàng sao mình không mua thuốc.  Nói không có tiền giữa đám khách du lịch với nhau thì mắc cỡ lắm.  Tôi đã bị người đàn ông trong nhóm khinh thường nên vội tránh đi nơi khác. 

 

Lên Vạn Lý Trường Thành, nhìn núi non trùng điệp bao la, hiểu thêm, đất nước Trung Hoa vĩ đại bao nhiêu thì ta càng thấy tham vọng của Trung Nam Hải càng dữ dội bấy nhiêu, mưu sâu kế hiểm bấy nhiêu, lừa lọc, lòng dạ rất hẹp hòi, lừa đảo như chớp, không rộng rãi như miệng lưỡi họ nói.

 

Những người đóng vai quân lính, người hầu cận vua chúa ngày xưa đứng bên những chiếc kiệu, sẵn sàng phục vụ du khách, những nhiếp ảnh viên đon đả mời chụp ảnh kỷ niệm, ân cần lắm, nhưng nhìn sâu vào mắt họ không có chút chân thành nào.  Một người ra dáng thi nhân ngồi sau cái bàn viết thi pháp bán cho du khách.
Tôi mua tờ giấy hoa văn hai mươi tệ, mượn bút viết mấy câu bằng chữ Hán: 
“Thử địa nhược đại mông. Bá đạo nhân thực nhân” - Nơi này ôm mộng lớn, toàn quân ăn thit người!.  Tôi tặng lại người viết, anh ta vái một vái, rồi gập tờ giấy lại đút vào túi.

 

Nhóm chúng tôi đến Tô Châu vào một buổi chiều.  Thành phố cồ kính nổi tiếng bởi nhà thơ Trương Kế, thời vua Đường Túc Tông, với bài Phong kiều dạ bạc:

 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cộ tô thành ngoại hàn sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Cụ Tản Đà đã dịch cực hay là :

 

Đêm tàn tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cậy ánh sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

 

Trước khi được đi thăm Hàn sơn tự, xây dựng 70 năm trước khi Trương Kế ra đời, để viết Phong kiều dạ bạc, chúng tôi được “mời” uống trà Loa Xuân, nổi tiếng Tô Châu.  Hướng dẫn viên du lịch là một cô gái trẻ, miệng lưỡi không thua kém anh chàng Bắc Kinh, lại hấp dẫn hơn bởi sự duyên dáng.  Cô nói:

- Mời các anh các chị, các chú các bác vào uống trà, tại nơi sản xuất loại trà Loa Xuân, nổi tiềng Trung Quốc .

 

Trong hoa viên lộng lẫy, ban giám đốc và nhân viên xếp hai hàng, ăn mặc chình tề đón tiếp khách du lịch như đón nguyên thủ quốc gia.  Một dãy sa lon bọc vải đỏ chót trong căn phòng mát lạnh.  Uống trà khác với uống cà phê, càng khác với cà phê đá, trà đá, ở chỗ tĩnh, mát .  Người Tô Châu hiểu như vậy, nên làm phòng trà mát lạnh.  Khách vừa ngổi ấm chỗ, nước được bưng lên, những gói trà được mang tới, và những cô gái trẻ trang phục bằng loại lụa tuyệt đẹp xứ lụa Tô Châu, nhanh nhẹn pha trà bằng các động tác chuẩn xác đến mức, một cô cầm chiếc ấm có cái vòi dài gần hai mét rót nước vào miệng cái bình trà nhỏ xíu mà không rớt ra ngoài giọt nào.  Hàng chục cặp mắt cứ trố ra nhìn, tấm tắc khen, sao họ khéo thế.

 

Từng ly trà được mời từng vị khách.  Giám đốc nhà máy cúi gập đầu chào mọi người, rồi nói xuất xứ loại trà Loa Xuân, sự kỳ công trong trồng tỉa, chế biến và tác dụng của nó.  Kết thúc câu chuyện, là mời du khách mua trà với khuyến mãi đặc biệt.

 

Được tiếp đãi như thượng khách, đã uống trà của người ta mời, chả nhẽ nhổ đít bước ra tay không?   Có mà ế mặt!  Hơn nữa lại là khách đi theo đoàn, đoàn Việt Nam hẳn hoi, chơi không đẹp ảnh hưởng quốc thể chứ đâu bỡn.  Lại sợ người cùng đi nhìn mình, khinh mình kẹt sỉn, thế là đồng loạt rút ví.  Cũng phải thừa nhận uồng tách trà họ vừa pha ngon thật, bập vào môi có vị hơi đắng , mùi thơm thoảng, uống vào có vị ngọt trong cổ họng.  Tôi nói với người giám đốc, xin mua những gói trà vừa bóc ra pha cho chúng chúng tôi uống, hắn ta “hảo hảo” rồi lánh đi , không tiếp chuyện nữa!

 

Từ Tô Châu vế Quế Lâm, ăn món tương ớt và món mỳ thịt ngựa nổi tiếng, nhưng sau mới biết bị lừa , ăn phải mỳ thịt chuột.  Nhưng rồi cũng cho qua chuyện để đi thăm công viên Thất Tinh, núi Tượng tị , đồi Trăng Khuyết…

 

Đến mả Mã Viện, thấy tượng hắn đúc bằng đồng, cưỡi trên lưng con ngựa chiến, mặt hắn vênh lên, hai con mắt trừng trừng, miệng như đang gào thét, chằng biết muốn đâm chém ai, hay đang dau đớn vì bệnh ỉa chảy, tôi vụt nhớ câu thơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tới đây gần nửa thế kỷ trước: “Trăm năm mới đến nơi này, Ngàn năm mới thấy mặt mày ở đây!”.

 

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Tân Sơn Nhất.  Hầu như các loại thuốc quý đều vứt lại khách sạn bên Trung Quốc.  Bà vợ viên tướng công an nói với tôi:

- Bác Minh Diện ơi , mấy sợi dây chuyền ngọc trai là đồ dỏm bác ạ, cái con Tỳ Hưu tử tiệt cũng dỏm.  Sao bác biết mà không bảo em?

Tôi đưa mắt nhìn ông bạn cùng nhóm, ông nhếch miệng cười như mếu:

- Nó lừa mình khéo quá anh ạ!  Mả cha cái bọn Tàu!

 

Minh Diện

Theo Bùi Văn Bồng blog

 

Bọn Trung Cộng nổi tiếng cả thế giới về hàng dỏm, hàng giả, hàng nhái; đã nhiều lần bị quốc tế lên án vì các thực phẩm độc hại...  Bị phỉ nhổ vì các hành vi ăn cắp các công trình nghiên cứu và phát minh của Hoa kỳ.


Việt nam, thật đáng thương khi không may ở gần anh Trung Cộng xấu xa, là thùng rác khổng lồ để Trung Cộng tuôn hàng dỏm, hàng độc hại có nguy cơ gây ung thư, không ngừng giết hại dân ta từ từ mỗi ngày. 
Chưa hết, chúng còn có âm mưu thâm độc và to lớn hơn khi được chính quyền Việt cộng tham lam và ngu dốt tiếp tay, đó là âm mưu sửa lại lịch sử, địa lý, văn hóa... của nước ta bằng cách in và phát hành hàng lọat các sách giáo khoa cho các trẻ thơ, trắng trợn dạy dỗ trẻ em:  VN là một phần đất của Trung Cộng!


Qua bài viết trên đây, tác giả đã lột tả những hành động lừa lọc rất tinh vi của Ngành du lịch TC nhằm móc túi của du khách.


Trước sự xâm lăng biển, đảo, đất đai của VN một cách ngang ngược, đầy hiếu chiến; tàn phá môi trường thiên nhiên, biến đất đai của chúng ta thành những "tô giới" của Trung Cộng ngay trên quê hương của chúng ta, ở đó họ tự ý đưa người của họ vào VN, xây dựng nhà cửa, đường xá, trường học, bệnh viện, phố xá, hòan toàn xử dụng tiếng Hoa, có luật pháp riêng... Không một người dân Việt nào, kể cả bộ đội, chính quyền địa phương được bén mảng tới.


Trước các âm mưu  thâm độc, hành động bỉ ổi, lừa lọc, xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải một cách trắng trợn như thế, là người Việt nam còn chút lương tri, còn nghĩ tới quê hương, dân tộc khốn khổ của mình, có ai còn lòng dạ nào để du lịch China?


Có ai còn nghĩ đến việc mang đô la về VN để tiếp tay cho kẻ thù xâm lược tàn phá quê hương?

 


NgocDoa  

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link