Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, July 9, 2013

Hỡi người VN yêu nước,


Hỡi người VN yêu nước,

Hãy nói thẳng, thằng trọc đầu nào cũng là CS cả,chúng là Giặc thầy chùa , chó săn tay sai của Tàu. Đất nước sắp mất vào tay giặc Tàu. Chỉ có Vatican và Mỹ,nghĩa là Công-Giáo và Tin-Lành hai trung tâm quyền-lực thế-giới có khả-năng giúp chúng ta giữ nước trước hiễm họa mất nước và diệt chủng mà thôi. VN là một Tiểu-Bang của Mỹ. Đólà giải-pháp duy nhất.

Trước tình thế Tàu đang đóng-chốt tại VN. Đất nước chúng ta chỉ còn khi VN là một Tiểu-Bang của Mỹ. Hãy cầu-nguyện và vận-động Vatican và Hoa-Kỳ chấp nhận chúng Ta. Mọi người VN yêu nước hãy đứng về một chiến tuyến để rõ mặt bọn phản quốc . Đừng để chúng lẫn lộn trong người yêu nước, dùng chiến thuật hoảng binh kéo người yêu nước tranh cãi cầm chân người yêu nước và chia rẻ. Hãy nhắm thẳng mục tiêu mà đi tới.

Hãy liên lạc chặc-chẻ với Vatican và tình báo Mỹ để nhận diện chúng ở đâu. Mỗi một người VN Yêu-Nước là một tình báo viên của Hoa-Kỳ. Đó là khẩu-hiệu. Mỗi tên phật-tử là một kẻ thù của dân-tộc. Cũng là một khẩu-hiệu. CSVNđang chuẩn bị bỏ chạy. Mở mắt ra nhìn lịch-sử. Không nhập nhầy .

Khẩu hiệu "Đoàn-Kết chống CS" là ngu xuẩn . Tàu là kẻ thù, phật-giáo là kẻ thù, CS là kẻ thù. Chỉ có Công-Giáo, Tin-Lành Vatican-Mỹ chống Tàu-Phật-Giáo-CS bảo vệ đất nước dân-tộc VN mà thôi. Hãy mở mắt ra nhìn lịch-sử nhìn cuộc chiến trước 75 và hiện tại. Phật giáo không bao giờ theo Mỹ. Không theo Mỹ là mất nước. Đừng cãi vả ngu-ngớ-ngẩn. Không còn thì giờ nữa. MTQDYN. (Mặt Trận Quốc Dân Yêu Nước.)

----- Forwarded Message -----
From: Can Bui <
Sent: Wednesday, July 3, 2013 7:58 AM
Subject: ] Tướng Hưng và sự thậ t ở chiến trường An Lộc

---------- Forwarded message ---------- From: hung vu <
> Date: 2013/7/3 Subject: [Thaoluan9] Tướng Hưng và sự thật ở chiến trường An Lộc To: phonang <PhoNang@yahoogroups.com>

 

----- Forwarded Message -----
From: phung huynh <
To:
Sent: Wednesday, 3 July 2013 6:24 PM
Subject: Tướng Hưng và sự thật ở chiến trường An Lộc

 

Ý VỀ TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG VÀ TRẬN AN LỘC
LESSONS FROM THE VIETNAM WAR
Lời Bạt: Kính thưa Độc giả các Diễn Đàn,
Trong ngày 30-04-2012, Tòa soạn TCDV nhận được bài viết

TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG VÀ NHỮNG SỰ THỰC Ở CHIẾN TRƯỜNG AN LỘC TRONG MÙA HÈ 1972

• Tác giả là một Huynh Trưởng của chúng tôi, Trung Tá Nguyễn Văn Dưỡng (xin xem Tiểu sử bên dưới), qua Mỹ Ông đã trở lại trường và tốt nghiệp Cao học Chính trị học về “Ngoại giao & Giao tế Quốc tế”, Hoa Kỳ.

• TT Dưỡng hay Văn Nguyên Dưỡng là người đã “tử thủ” An Lộc cùng với Chuẩn Tướng ANH HÙNG Lê Văn Hưng.

Bổn báo chủ nhiệm đã mất một người bạn đồng khoá 25SQTĐ tại trận chiến này, cố Đại úy Lê Văn Hiếu, TĐ52BĐQ, đã nằm lại nơi đây, năm ngoái, một người bạn cùng binh chủng, nguyên Đại úy Đoàn Trọng Hiếu đã lo việc “cải tang” cho hơn 60 anh em đồng đội đã hy sinh tại Bình Long An Lộc, trong đó có cố Đại úy Lê văn Hiếu.

Bài viết của HT Dưỡng rất chi tiết và tỉ mỉ, ông đã mô tả các trận tấn công của VC như thế nào và quân dân ta đã giữ vững An Lộc ra sao, xin mời qúy vị theo dõi.

Như thường lệ, vì hai bài viết rất dài nên Tòa Soạn cũng chia ra nhiều kỳ để các DĐ đăng được đầy đủ. Qúy vị nào cần ngay cả bài, liên lạc với TCDV, chúng tôi sẽ gởi đến hầu qúy vị.

Germany, ngày 01-05-2012
- Điều Hợp Viên DĐ Ngôn Ngữ Việt,
- Chủ Nhiệm TCDV.


LÝ TRUNG TÍN
(Kỷ niệm ngày GĐ chúng tôi được chiếc tàu CAP ANAMUR vớt ngoài biển đông hồi 10 giờ 47 phút NGÀY 01-05-1980)



VĂN NGUYÊN DƯỠNG
& VĨNH ĐỊNH NVD

BÚT DANH CỦA

NGUYỄN VĂN DƯỠNG
TRUNG TÁ NGÀNH QUÂN BÁO QLVNCH
KHÓA 5 – VÌ DÂN
THỦ ĐỨC


Tác phẩm*War studies:
-The Tragedy of the Vietnam War
(McFarland 2008).
-Lessons of the VietnamWar
(S.A.C.E.I.Forum # 6, 2009).
-The Death of Historian Pham van Son
(S.A.C.E.I. Forum # 7, 2010).
Thi ca:
VÙNG ĐÊM SƯƠNG MÙ.
TUYỂN TẬP THƠ VND.
TRƯỜNG CA TRÊN BÃI CHIẾN.
VĂN NGUYÊN DƯỠNG hay VĨNH ĐỊNH NGUYỄN VĂN DƯỠNG
Sinh tháng 1, năm 1934, Thị xã Cà mau, Tỉnh Bạc liêu, Nam Việt.
Động viên Khóa 5 SQTB tháng 5, năm 1954.
Tốt nghiệp Thiếu úy ngày 1 tháng 2, năm 1955
*BINH NGHIỆP
Trung đội trưởng & Đại đội Trưởng, TĐ1/43, Sư đoàn 15 Khinh Chiến, 1955-1957.
Huấn luyện viên Trường Quân Báo & CTTL/QLVNCH, 1958-1963.
Sĩ Quan Tham Mưu, Phòng II/BTTM/QLVNCH, 1964-1966.
Chỉ huy phó & Q.Chỉ huy trưởng TTQB, 1966-1968.
Trưởng Phòng 2, BTL/SĐ 22BB, 1969-1970.
Trưởng Phòng 2, BTL/SĐ5BB, 1971-1974. Tham dự Trận chiến An Lộc mùa Hè 1972.
Sĩ quan Tham mưu, Phòng II/BTTM/QLVNCH, 1974-30/4/1975.
*HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ
Tốt nghiệp:
• Khóa ANQĐ, Trường Quân Báo QLVNCH, Sài Gòn, 1958. • Khóa Tình Báo Lãnh thổ, Bộ Tư lệnh Lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông, Singapore, 1961. • Khóa An ninh & Phản tình báo, 1962. • Khóa Tình báo Chiến trường (Field Operations Intelligence),1965, Trường Tình báo Lục quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, Okinawa. • Khóa Tình báo Cao cấp, Trường Tình báo Lục quân Hoa Kỳ, Maryland, 1968
*TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN
- Cao học Chính trị học về “Ngoại giao & Giao tế Quốc tế”, Hoa Kỳ.
*TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ
Sau ngày 30, tháng 4, 1975, bị tập trung cải tạo -hay đi ở tù CSVN- cùng với hàng trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH, CSQG, Công chức Cao cấp, các lãnh tụ tôn giáo và các đảng phái chính trị Quốc Gia, ở các vùng Thượng du, Trung du Bắc Việt và miền Nam. Ra tù năm 1988. Định cư ở Hoa Kỳ tháng 9, năm 1991. -Tập thơ “VÙNG ĐÊM SƯƠNG Mù” làm từ năm 1965 và được Nhà XB Mai Lĩnh xuất bản năm 1966 ở Sài Gòn. -Tập thơ “TRƯỜNG CA TRÊN BÃI CHIẾN” và nhiều bài thơ ngắn khác làm trong 13 năm ở các Trại Tù CSVN. -Sang Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp Cao học, chuyển Luận án thành sách. Nhà XB McFarland North Carolina xuất bản tháng 9, năm 2008, tựa đề “The Tragedy of the Vietnam War”. Cung Trầm Tưởng viết bài góp ý và giới thiệu, được đăng nhiều lần trên báo chí Việt ngữ. Văn Nguyên Dưỡng viết cho vài tạp chí văn học ở Hoa Kỳ và Canada.
TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG VÀ NHỮNG SỰ THỰC Ở CHIẾN TRƯỜNG AN LỘC TRONG MÙA HÈ 1972 **!**VĂN NGUYÊN DƯỠNG


TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG VÀ NHỮNG SỰ THỰC Ở CHIẾN TRƯỜNG AN LỘC TRONG MÙA HÈ 1972
KỲ 1 | KỲ 2 | KỲ 3 | KỲ 4 | KỲ 5 | KỲ 6 | KỲ 7 | KỲ 8 | KỲ 9 | KỲ 10 | KỲ 11 | KỲ 12 | Lesson... | Phụ Lục | Đầu trang
KỲ 1
 
1. QUÂN ĐOÀN III & VÙNG 3 CHIẾN THUẬT VỚI TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ VÀ TƯỚNG NGUYỄN VĂN MINH Trung tướng Nguyễn văn Minh nhận chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến Thuật (QĐIII & V3CT) sau khi vị tướng lãnh lỗi lạc nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) Trung tướng Đỗ Cao Trí, tử nạn trực thăng trên không phận tỉnh lỵ Tây Ninh vào ngày 23 tháng 2, năm 1971.
 
Trước đó ở cả bốn Vùng Chiến Thuật, QLVNCH đã mở những cuộc hành quân sâu vào căn cứ địa của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) dọc theo biên giới Việt-Miên-Lào và truy diệt chúng xa hơn vào lãnh thổ Miên và Lào. (Về lý do vì sao QLVNCH tổ chức các cuộc hành quân vượt biên sang Cao Miên và Lào, sẽ trình bày trong một dịp khác, hoặc xin mời đọc “The Tragedy of The Vietnam War” của tác giả, ở tiểu mục “A Controversal Escalation of the War in Indochina”, do McFarland xuất bản tháng 9, 2008, từ trang 135 đến 141).
 
Lực lượng hành quân QĐIII & V3CT của Tướng Đỗ Cao Trí đạt thành quả lớn lao nhất. Từ tháng 4, 1970, đã đánh bạt Sư đoàn Công trường 7 CSBV (SĐ-7/CSBV) và Sư đoàn Công Trường 9 Cộng Sản của TWC/MN (SĐ-9/CS) ra khỏi các căn cứ địa quan trọng Lưỡi Câu, ở biên giới tây bắc Bình Long và Mỏ Vẹt ở biên giới tây nam Tây Ninh, đồng thời phá tan các căn cứ hậu cần lớn, nhỏ, của Trung Ương Cục Miền Nam (TWC/MN) cơ quan chính trị và quân sự đầu não của CSBV ở Nam Việt Nam; hạ hơn 11,000 quân CSBV, bắt hơn 2,200 tù binh và thu hoặc phá hủy hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược, trang bị và hậu cần của chúng. Sư đoàn Công trường 5 Cộng Sản của TWC/MN (SĐ-5/CS) lúc đó đã rút sang Cao Miên hoạt động bên ngoài biên giới Kiến Phong và đang là mục tiêu của QĐIV & V4CT. Ở mặt trận phía bắc, dọc Liên Quốc lộ 7, các Chiến đoàn QĐIII & V3CT vượt qua các đồn điền cao su Mimot, Krek và Chup, đến tận Tonle-Bet đông ngạn Sông Mékong ngang thành phố Kampong-Cham -nơi trú đóng Bộ Tham Mưu Quân Khu I của Tướng Fan Muong thuộc Quân lực Quốc gia Cao Miên (Forces Armées Nationales Khmères -FANK).
 
Ở mặt trận phía nam, trên Liên Quốc lộ 1, các Chiến đoàn khác của Tướng Trí cũng tiến đến bên ngoài thành phố Sway-Riêng yểm trợ cho các đơn vị của Đại tá Dap Duon, Tỉnh trưởng của tỉnh phía đông Cao Miên này, giáp với tỉnh Tây Ninh của Việt Nam. Suốt trong gần một năm hiện diện trên lãnh thổ Miên, QLVNCH đã liên lạc với chính quyền quân sự Cao Miên, đưa khoảng trên dưới vài chục nghìn đồng bào Việt Nam ở đó trở về nước. Chính Tướng Đỗ Cao Trí đã làm việc này.
 
Nỗi bận tâm của Trung tướng trong các cuộc Hành quân Toàn Thắng trên lãnh thổ Miên không chỉ nhằm tiêu diệt lực lượng CSBV và các căn cứ hậu cần quan trọng của chúng ở biên giới Miên, hay chỉ để yểm trợ cho lực lượng quân đội non yếu của Tướng Lon Nol (Ông này là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Miên, vừa làm cuộc đảo chính lật đổ Norodom Sihanouk trong tháng 3, 1970, khi Sihanouk công du nước ngoài) nhưng còn để giải thoát hàng chục nghìn Việt kiều bị chính quyền địa phương của chính phủ Lon Nol nghi ngờ là Việt Cộng, bắt giam giữ.
 
Trung tuần tháng 4, 1970, tôi được Trung tướng Trí cử sang làm Sĩ quan Liên lạc ở Tỉnh Sway-Riêng thay thế Đại tá Lê Đạt Công lúc đó là Trưởng Phòng 2 QĐIII & V3CT. Tôi nhận rõ chỉ thị và hiểu rõ mối quan tâm của Trung tướng Trí về vấn đề Việt kiều ở Miên. Vì vậy, khi biết nhu cầu cần được yểm trợ của Đại tá Đap Duon, Tỉnh trưởng Sway-Riêng, và sau khi thoả mãn được vài điều khá quan trọng, việc đầu tiên của tôi là yêu cầu Đại tá Đap Duon đưa đến thăm viếng số đồng bào chừng hai nghìn người bị chính quyền Miên tập trung giam giữ ở Trường Tiểu học tỉnh lỵ.
 
Trước cổng Trường này, tôi hứa với đại diện Việt kiều nạn nhân ở đó là sẽ trình nguyện vọng muốn về nước của đồng bào lên Tướng Trí, Tư lệnh QĐIII & V3CT. Tôi đã làm như đã hứa. Trong tháng 5, 1970, khi được Tướng Trí uỷ thác sang Kompong-Cham làm Sĩ quan Liên lạc ở Bộ Tư lệnh Quân khu I Cao Miên của Tướng Fan Muong, với một toán trên mười sĩ quan, hạ sĩ quan Phòng 2, Phòng 3, và Truyền tin của QĐIII & V3CT. Ở Komgpong-Cham, tôi cũng yều cầu Trung tá Ly Tai Sun, Tư lệnh phó của Fan Muong, nhất định phải đưa tôi đi xem nơi đồng bào Việt Nam bị họ bắt giam giữ. Hơn vài nghìn Việt kiều, kể cả đàn bà và trẻ con, chen chúc dưới các đường giao thông hào khá sâu và rộng --mà người Pháp gọi là tranchées-- trong khuôn viên chiếc sân rộng lớn của Bộ Tư lệnh Quân Khu trong thành phố.
 
Việc này chỉ diễn ra vào buổi sáng sau khi tôi đã yêu cầu Tướng Trí cho Không Quân Việt Nam (KQVN), đánh giải tỏa Bộ Tư lệnh Quân Khu I, bị Tiểu đoàn J-16 Đặc công và các đơn vị chính qui của CSVN tấn công và bao vây từ đêm trước. Khi chỉ vào nhóm Việt kiều bị giam giữ dưới các giao thông hào đó, Ly Tai Sun nói với tôi bằng tiếng Việt: -“Nếu hôm nay Ông không gọi được KQVN đánh giải cứu chúng tôi, thì số người này sẽ bị bắn hết.”
 
Đó là nguyên văn câu nói của tên Trung tá này.
 
 Từ ngày toán Liên lạc của chúng tôi đến Kompong-Cham, tôi tiếp xúc với Thiếu tá John Fernandez Tham Mưu trưởng, Ly Tai Sun Tư lệnh phó và Tướng Tư lệnh Fan Muong bằng tiếng Pháp, vì tôi không biết tiếng Miên, tôi chưa hề nghe các Sĩ quan Miên này nói một câu tiếng Việt nào.
 
Đột nhiên nghe Ly Tai Sun bật lên câu nói ghê tởm đó, tôi nói với hắn, “Thì ra Ông là người Việt Nam, họ Lý. Ông nói vậy có nghĩa là các Ông sẽ giết hết số Việt kiều này và cả toán Liên lạc của chúng tôi, đúng không? Hắn cười. Tôi nói tiếp: -“Chắc là Ông chưa lường được hậu quả lớn lao sau này.” Lý Tài Sun, hay Lý Đại Sơn --tên thật của Sun-- không nói gì thêm.
 
Tức tốc, tôi vào gặp Tướng Fan Muong nói việc Ly Tai Sun và tôi gửi mật điện trình mọi việc với Tướng Trí. Ngay buổi trưa đó, Trung tướng cho trực thăng, kèm theo quân Nhảy Dù, đón toán Liên lạc chúng tôi về Biên Hòa.
 
Có lẽ sau đó Tướng Fan Muong điện xin lỗi Trung tướng Trí. Dĩ nhiên vấn đề chính phải là chuyện giải quyết số phận của hàng chục ngàn Việt kiều bị chính quyền Miên giam giữ từ mấy tháng trước đó khi quân CSBV phối hợp với các đơn vị Cộng sản Miên tấn công các thành phố Miên và tạo vòng đai bao vây Thủ đô Phnom Penh của Chính quyền Lon Nol. Mấy ngày sau, Thiếu tá Nguyễn văn Lý của Phòng 2/BTL/ QĐIII & V3CT và một toán Liên lạc khác được đưa trở lại Kompong-Cham. Không lâu sau đó Đại tá Trần văn Tư thay thế Thiếu tá Lý.
 
Trong tháng 5 đó, vấn đề nội bộ ở cấp cao giữa Trung tướng Đỗ Cao Trí và Tổng thống Nguyễn văn Thiệu hay Chính phủ VNCH, hay vấn đề ngoại giao giữa Việt Nam và Cao Miên diễn ra thế nào tôi không được biết, nhưng các cuộc hành quân thủy, bộ, của QĐIII và QĐIV đã diễn ra, đón đưa nhiều chục nghìn Việt kiều ở Miên về nước trong các tháng 5, 6 và 7, 1970.
 
Lúc đó tôi tiếp tục phục vụ ở Phòng 2 QĐIII & V3CT, dưới quyền Đại tá Lê Đạt Công, khi ở Biên hòa, khi ở Hiếu Thiện, rồi Tây ninh, luân phiên thay thế ông về tình báo chiển trường cho đến ngày Trung Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn. Từ ngày Trung tướng Nguyễn văn Minh về thay thế nắm quyền Tư lệnh, nhất là sau tang lễ trọng thể của cố Đại tướng Đỗ Cao Trí, tình hình ngoại biên và trong nội địa Quân đoàn III & V3CT có nhiều thay đổi lớn vì hai lý do: Thứ nhất, CSBV tăng cường đáng kể lực lượng của họ ở các mặt trận Lào và Miên với những cuộc phản công dữ dội ở Tchépone và suốt dọc Đường 9 đến biên giới Khe Sanh, cũng như các cuộc phản công ở Đường 7, từ các đồn điền cao su Chup, Mimot đến biên giới Việt-Miên, vùng Lưỡi Câu và Mỏ Vẹt. Chiến đoàn 8 của Sư đoàn 5 Bộ binh (SĐ5BB) cũng tổn thất nặng và rút khỏi Thị trấn Snoul của Miên trong cuối tháng 5, 1971.
 
Địa điểm duy nhất của Quân đoàn III còn duy trì trên lãnh thổ Miên là căn cứ hỗn hợp Việt-Mỹ ở Thị trấn Krek, giao điểm giữa đường 7 và đường 22 đổ vào nội địa tỉnh Tây Ninh và cách biên giới chừng 12 km. Thứ hai, Trung tướng Nguyễn văn Minh tánh người ôn nhu, chuộng phòng thủ hơn tấn công. Ông không phải là một hổ tướng như Đại tướng Trí, nhưng là một túc tướng (tôi sẽ trình bày ở phần sau). Hơn nữa, cục diện chiến trường đã thay đổi sau cuộc Hành quân Lam sơn 719 ở Hạ Lào.
 
 Tướng Minh lâm vào tình trạng bất cập, khó khăn trong vấn đề chỉ huy. Ông xuất thân Khóa IV Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, trong khi hai vị tư lệnh Sư đoàn dưới quyền đều thuộc khóa đàn anh. Thiếu tướng Nguyễn văn Hiếu, Tư lệnh SĐ5BB và Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, Tư lệnh SĐ18BB, cùng xuất thân Khóa III. Sau trận rút lui khỏi Snoul của Chiến đoàn 8, SĐ5BB, Tướng Hiếu được trao phó trọng trách khác. Đại tá Lê văn Hưng, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Cần Thơ, được Tướng Minh đề nghị thay thế Tướng Hiếu làm Tư lệnh SĐ5BB. Ít lâu sau, Tướng Lâm Quang Thơ cũng được Đại tá Lê Minh Đảo thay thế.
 
Tuần lễ đầu tháng 6, 1971, tôi được lệnh thuyết trình tình hình các đại đơn vị địch trong lãnh thổ và ngoại biên -mà QĐIII & V3CT phải đương đầu- cho Đại tá Lê văn Hưng, tân Tư lệnh SĐ5BB. Nội dung bài thuyết trình không khác gì nhiều so với những gì tôi viết trên đây. Dĩ nhiên là không có phần nói về các vị Tướng Tư lệnh Trí, Minh, Hiếu và Thơ. Tôi nóí về tình hình của các đại đơn vị CSBV và TWC/MN đang hoạt động ở biên giới Việt-Miên sau khi QLVNCH rút ra gần hết khỏi lãnh thổ Miên, chỉ còn duy trì cứ điểm cuối cùng ở Krek. Tôi trình bày rõ về qui luật tác chiến, quân số, trang bị, vùng hoạt động của từng đại đơn vị CSBV & TWC/MN theo trận liệt và tin tức mới nhất mà chúng tôi có được.
 
Sau cùng là phần ước tính về hoạt động của các đại đơn vị này và chủ trương của TWC/MN trong thời gian tới. Tôi cho rằng nên giải tỏa áp lực địch có khuynh hướng tập trung để dứt điểm căn cứ Krek vì lúc đó chúng tôi ghi nhận TWC/MN đang hiện diện trong vùng Snoul, và các căn cứ hậu cần của chúng đang hoạt động trở lại ở vùng biên giới Bình Long và Tây Ninh. Đây là bài thuyết trình thường lệ ở cấp Vùng Chiết Thuật (là cấp Quân Khu cũ) về “tình hình địch”. Hình như Đại tá Hưng nghe rất rõ, không hỏi một câu nào. Ngược lại, khi bài thuyết trình vừa chấm dứt, Đại tá Hưng quay sang Trung tướng Minh, và nói: -“Thưa Trung tướng, Dưỡng là bạn cùng Khóa, cùng Trung đội với tôi.” Sau đó, ông đứng lên và bước thẳng đến bục thuyết trình bắt tay, ôm lấy tôi.
 
 Đó là dấu hiệu thân thiện đầu tiên khi gặp lại sau hơn 15 năm kể từ khi tốt nghiệp và rời Quân trường Thủ Đức vào tháng 1, năm 1955. Ngày ra trường, chúng tôi đều mang cấp bậc Thiếu úy. Ở buổi thuyết trình này, tôi chỉ là một Thiếu tá, nhân viên của một Phòng 2 Quân đoàn, còn ông là Đại tá, tân Tư lệnh của một Sư đoàn. Địa vị trong quân đội cách xa nhau nhiều lắm!
 
2. TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG VÀ TÔI Tổng số Sinh viên Sĩ quan Khóa V, Vì Dân, trên 1,300 người, kể cả hai Đại đội bộ binh gửi thụ huấn ở Liên trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt. Đại đa số SVSQ được gọi nhâp ngũ và đưa đến Trường SQTB Thủ Đức trong tháng 5, năm 1954.
 
Ông Hưng và tôi được xếp vào Trung đội 8 của Thiếu úy Nguyễn Hưng Chiêu, thuộc Đại đội 2 Bộ binh, cùng ở chung phòng hỗn hợp (salle mixe) với Trung đội 7 của Trung úy Lê văn Sỹ. Ở phòng chung này, Trung đội 7 có 12 sinh viên và Trung đội 8 cũng có một số sinh viên như vậy. Còn phòng chính của mỗi Trung đội gồm 24 sinh viên nằm kế cận hai bên phòng mixe này. Khóa này, tại Thủ Đức có hai Đại đội bộ binh và sáu Đại đội chuyên ngành như Pháo binh, Trọng pháo, Thiết giáp, Công binh, Truyền tin, Hành Chánh Quân Nhu v.v. Đại đội I Bộ binh gồm các Trung đội 1, 2, 3 và 4; Đại đội II Bộ binh gồm các Trung đội 5, 6, 7 và 8.
 
Trung đội 8 của chúng tôi có 36 sinh viên, mà ngày nay tôi còn nhớ tên trên hơn ba mươi bạn. Trung đội 8, Đại đội II Bộ binh của Thiếu úy Nguyễn Hưng Chiêu có thể là Trung đội SVSQ tạo được hai kỳ tích là đã cho ra trường một Thủ khoa và một sĩ quan sau đó trở thành Tướng lãnh duy nhất cho toàn khóa, danh tiếng lẫy lừng.
 
Vị tướng lãnh này là Lê văn Hưng, người Quận Hóc Môn, Tỉnh Gia Định. Ông là một trong 5 vị Tướng tuẫn tiết ngày 30, tháng 4 đen, năm 1975. SVSQ Lê văn Hưng lúc đó thỉnh thoảng đôi mắt thoáng nháy nhẹ một lần như khi đã làm tướng. Thường ngày, lúc nghỉ ngơi trong phòng, Hưng thường mặc chiếc sa-rong của người Miên, màu đỏ sọc xanh đen, ở trần không mặc áo, cổ đeo một giây chuyền vàng mang một nanh heo rừng nhỏ. Hưng rất ít nói, nhưng dễ mến vì lúc nào gặp ai cũng cười; nụ cười dễ gây thiện cảm và theo tôi nghĩ, dễ làm xiêu lòng các người đẹp.
 
Nước da ngâm, nhưng cao lớn và đẹp trai theo lối một người hùng hơn là một thư sinh. Lúc đó anh đã lập gia đình. Khi gần hết giai đoạn I, nhất là sau khi đã được mang Alpha --biểu trưng của SVSQ-- cứ mỗi hai tuần sinh viên được đi phép 24 giờ về thăm gia đình. Như vậy mỗi Trung đội 36 sinh viên, thì một nửa đi phép, một nửa khác lưu trại. Tôi thuộc toán được đi phép hay lưu trại chung với anh Hưng. Trong đời, đôi khi ta gặp những hoàn cảnh chạnh lòng. Khi bước chân vào Quân trường Thủ Đức tôi đã mang nỗi buồn riêng, tủi cho thân phận mình. Không biết nói cùng ai.
 
Lúc đó tôi là một cậu học trò, độc thân, gia đình nghèo. Tôi nhập trường vào tháng 5, đến tháng 7, 1954, sau Hiệp định Genève, đất nước chia đôi. Thị trấn Cà mau nhỏ bé thân thương của tôi biến thành nơi tập trung của các lực lượng vũ trang bộ đội và du kích Việt Minh trong nhiều tháng, trước khi họ tập kết ra miền Bắc. Cha và anh tôi là tiểu công chức phải rời Cà mau lên tỉnh lỵ Bạc liêu làm việc; gia đình ăn ở tạm bợ, nghèo khó. Với số lương tháng ít oi của một SVSQ tôi phải gởi bớt về giúp thêm cho cha mẹ, đứa em gái còn đi học, và người chị quả phụ và hai đứa cháu cô nhi.
 
 Ngày thường, nhất là khi tập ở ngoài bãi, tôi lấy thêm phần ăn sáng mà các bạn cùng bàn không đến ăn, thường là bánh mì với mấy thỏi chocolate hoặc fromage đầu bò --ở Nhà Ăn Sinh viên-- mang theo để ăn trong buổi giải lao, trong khi các bạn sinh viên khác bao quanh các gánh bán thức ăn hàng rong ở các bãi tập đó.
 
Buổi chiều, khi ăn cơm xong, tôi thường mang về một ga-men (gamelle) cơm trắng để đến tối trong khi các bạn đi ăn uống ở các Câu lạc bộ Sinh viên hay ở những gánh hàng rong đủ loại thức ăn mà vợ con binh sĩ ở trại gia binh mang đến tận hành lang ngoài phòng ngủ của sinh viên, tôi lặng lẽ đem phần cơm đó và một chai xi dầu, ra ngồi ở bậc xi-măng đầu chiếc cống xây trên lạch nước gần dãy trại của Đại đội chảy ra bãi tập thể dục quân sự, ăn dưới ánh trăng, hay trong bóng tối bao quanh.
 
Tôi đã nuốt những hạt cơm nguội lạnh đó trong nhiều đêm cùng với nỗi tủi thân của mình. Rồi một đêm nào đó, tôi không nhớ rõ, Thiếu úy Nguyễn Hưng Chiêu, Trung đội trưởng của tôi, trong buổi trực đêm của ông, bắt gặp tôi đang ngồi ăn cơm đêm trong bóng tối như vậy. Khi ông rọi đèn pile thấy rõ ga-men cơm đang ăn dang dở và chai xì-dầu, trong khi tôi đứng thẳng ở tư thế nghiêm của một sinh viên trước thượng cấp của mình.
 
Ông không nói gì, để tôi đứng đó và đi vào dãy phòng ngủ của Đại đội. Tôi âm thầm trở về phòng với nỗi lo sợ lớn lao trong lòng. Tôi sợ mình đã vi phạm một lỗi lầm quân kỷ nào đó của Trường.
 
Mấy ngày sau tôi chờ đợi nhận phần phạt. Nhưng không, ngược lại, tôi nhận được tờ giấy bạc 100 Đồng, một số tiền khá nhiều lúc đó, xếp giữa hai trang giấy trong tập bài học của tôi sau khi Thầy khám duyệt và hoàn trả các tập vở đó lại cho các sinh viên Trung đội.
 
Thầy đã kín đáo cho tôi tiền như đã hiểu rõ hoàn cảnh của tôi. Đã gần sáu mươi năm rồi, tôi mang ơn Thầy Chiêu đã đào tạo tôi trở thành một sĩ quan QLVNCH và về đức độ và lòng nhân hậu của Thầy.
 
 Tôi không mong trả được ơn Thầy trong cuộc đời này vì tôi biết không có gì quí giá xứng với tấm lòng bao dung rộng lớn của Thầy. Ngược lại, rõ ràng người đã đền đáp ơn Thầy nhiều nhất là Tướng Lê văn Hưng vì những chiến công rực rỡ và sự tuẫn tiết cao đẹp của vị Tướng này, người anh hùng mà Thầy một thời đã tạo dựng nên.
 
Lúc đó tôi rất ít xuất trại nghỉ phép. Họa hoằn có đi phép thì cũng chỉ xuất trại vào sáng ngày Chúa nhật, đi dạo vòng vòng các khu phố lớn Sài Gòn, xem chớp bóng ở các rạp chiếu bóng thường trực để đợi đến chiều ra Đường Hai Bà Trưng, sau Trụ sở Quốc hội, đợi đoàn xe GMC đưa đón SVSQ của Trường rước về. Những tuần không đi phép tôi mặc quân phục chỉnh tề, cùng các bạn trong Trung đội người miền Bắc, cũng “mồ côi” như tôi sau khi Hiệp định Genève-1954 chia đôi đất nước, đi dạo ở khu chung quanh sân cờ lớn của Trường, nơi có những hàng cây tỏa bóng mát, dù ít oi, xuống thảm cỏ dưới gốc, mà các SVSQ lưu trại thường đón tiếp và vui vầy với gia đình hay người yêu đến thăm viếng trong ngày Chúa nhật.
 
 Cảnh đầm ấm, hạnh phúc và sinh động hực hỡ màu sắc này cũng diễn ra trong Câu lạc bộ Sinh viên và trong các lều mát hay quán ăn chung quanh đó. Dĩ nhiên trong số những thân nhân đến thăm viếng sinh viên hàng tuần không thiếu những bóng hồng tươi đẹp, xinh xắn, là chị, là em, là bạn, là người yêu, hay vợ của sinh viên lưu trại.
 
Một trong những người đẹp đó là vợ của anh Hưng. Nhìn từ xa xa cũng biết chị đẹp. Dáng người cao thon thả nhưng cân đối khoẻ mạnh như một thiếu nữ phương Tây. Mặt sáng, nước da trắng.
 
Cách ăn mặc và dáng điệu tạo vẻ thuộc gia đình trung lưu, khá giả. Mỗi lần thăm anh, chị thường dẫn theo đứa con gái nhỏ chừng hơn một tuổi. Họ quây quần bên nhau rất hạnh phúc. Thế nhưng, trong đời người ta không thể ngờ được những bất cập, tan vỡ, chia ly diễn ra mà hậu quả là ưu phiền và oán hận. Chín năm sau ngày ra trường, mỗi người đi một nơi, không biết tin tức gì của nhau, bỗng nhiên vào giữa tháng 1 năm 1964, tôi được biết tin về anh Lê văn Hưng. Sau ngày đảo chánh 1 tháng 11, 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị thảm sát, Đại tá Nguyễn văn Phước Trưởng Phòng 2 Bộ Tổng Tham mưu (P2/BTTM) bị mấy ông Tướng đảo chính bắt giam giữ ở Cục An ninh Quân đội, Trung tá Hồ văn Lời, Chỉ huy trưởng Trường Quân báo Cây Mai, được đưa lên BTTM thay thế.
 
Tôi cũng được thuyên chuyển theo ông và giữ chức vụ Trưởng ban Hành chánh của P2/BTTM. Một hôm tôi đọc được trong xấp hồ sơ “Công văn Đến” lệnh thuyên chuyển của Nha Nhân viên Bộ Quốc Phòng ban hành hoàn trả Trung úy Lê văn Hưng về ngành Quân Báo và đặt thuộc quyền sử dụng của P2/BTTM. Trước cuộc đảo chính Trung úy Hưng là Quận trưởng Trà Ôn ở miền Tây. Có lẽ những năm trước nữa ông Hưng có học qua một khóa Quân Báo hay giữ chức vụ nào đó cùng ngành với tôi mà tôi không biết.
 
Sau đó ít lâu, khi hồ sơ cá nhân của Hưng gửi về P2/BTTM mới được biết là sau khi tốt nghiệp ở Thủ Đức nhờ đậu cao nên anh được chọn về Quân Khu I –lúc đó bao gồm cả lãnh địa của Vùng 3 và Vùng 4 Chiến thuật sau này- và thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 15 đóng tại Gia Định. Thiếu tá Lê Thọ Trung là Trung đoàn trưởng. Sau này, khi ông Hưng đã lên Tướng và làm Tư lệnh SĐ5BB, ông Trung, chỉ mang cấp bậc Trung tá, là Tham Mưu trưởng cho ông Hưng. Không đầy một tuần sau khi P2/BTTM nhận được lệnh thuyên chuyển của Trung úy Hưng, cũng trong tháng giêng đó, một người đàn bà đến xin gặp Trung tá Trưởng P2/BTTM.
 
 Với tư cách là người phụ trách về hành chánh và quản trị nhân viên, tôi tiếp bà khách. Bà tự xưng là người phối ngẫu chính thức và đã ly dị của ông Hưng. Tôi hình dung được ngay đó là người vợ của SVSQ Hưng của gần mười năm trước. Tuy bà đã bớt vẻ thon thả, khá người hơn, mà vẫn còn đẹp ở độ tuổi trung niên. Bà mang theo một lá đơn xin gửi lương tháng, mà bà nói là do Tòa án phán quyết khi ly dị, ̣đến thẳng địa chỉ của bà ở Gia Định. Tôi chỉ ghi nhận sự kiện, nhận đơn, mà chưa giải quyết được vì Trung úy Hưng chưa trình diện P2/BTTM.
 
Sau đó không lâu, tôi nhận tiếp một lệnh khác của Nha Nhân viên Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển Trung úy Lê văn Hưng về SĐ21BB. Như vậy đến năm đó tôi vẫn chưa gặp lại Hưng cho đến đầu tháng 6, năm 1971.
 
Vì ông Hưng trình diện thẳng SĐ21BB mà không trình diện P2/BTTM.
 
Cuối năm 1967, vào một buổi chiều, tôi vô tình gặp lại người vợ đã ly dị đó của ông Hưng trong Dancing Club Victoria ở Tân Định, gần Bộ Tổng Tham Mưu. Bà là vũ nữ ở đó. Tôi nhận ra bà nhưng bà không nhớ có lần đã gặp tôi ở P2/BTTM gần bốn năm trước.
 
 Lúc đó tôi mang cấp bậc Thiếu tá và được biết ông Hưng mang cấp Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 thuộc SĐ21BB và là một trong năm ngũ kiệt nổi tiếng ở miền Tây.
 
Ít lâu sau nghe ông Hưng thăng cấp Đại tá và làm Tỉnh trưởng Cần Thơ. Từ cuối năm 1967, sau buổi khiêu vũ “matinée” ở Victoria, tôi không gặp bà vợ đã ly dị của ông Hưng lần nào nữa.
 
Đến nay đã gần nửa thế kỷ.
 
KỲ 1 | KỲ 2 | KỲ 3 | KỲ 4 | KỲ 5 | KỲ 6 | KỲ 7 | KỲ 8 | KỲ 9 | KỲ 10 | KỲ 11 | KỲ 12 | Lesson... | Phụ Lục | Đầu trang
 
       
 
 

Điều kiện giam giữ trong các nhà tù Việt Nam


 

 
Thứ hai 08 Tháng Bẩy 2013
Điều kiện giam giữ trong các nhà tù Việt Nam
 
Trại giam Thanh Xuân. Các cựu tù chính trị chỉ trích điều kiện giam giữ trong các nhà tù Việt Nam.
Trại giam Thanh Xuân. Các cựu tù chính trị chỉ trích điều kiện giam giữ trong các nhà tù Việt Nam.
Reuters
Ngày 30/06/2013, hàng trăm phạm nhân ở phân trại I, trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai, đã nổi loạn, bắt làm con tin giám thị trại để đòi đáp ứng những yêu sách của họ về điều kiện giam giữ. Vụ nổi loạn của tù nhân trại Xuân Lộc khiến dư luận chú ý trở lại đến điều kiện giam giữ trong các nhà tù Việt Nam.
Theo tường thuật của báo chí trong nước về vụ được gọi là “ gây rối trật tự” này, hôm đó, khi đang đá bóng với nhau, hàng chục phạm nhân đã tấn công cán bộ quản giáo, kêu gọi các phạm nhân khác đập phá trại giam, khóa cổng phân trại, không cho người bên ngoài vào và bắt giám thị trại Hồ Phi Thắng làm con tin để đòi thực hiện những yêu sách của họ.
Sau khi có sự can thiệp của lực lượng do Tổng cục VIII ( Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp ) điều động đến, vụ nổi loạn chấm dứt, giám thị Hồ Phi Thắng được thả ra vào cuối ngày.
Thông tin từ các tù nhân đưa ra cho biết vụ nổi loạn ở trại giam Xuân Lộc là để phản đối việc ngược đãi, đánh đập tù nhân, cắt xén các phần ăn của tù nhân. Nhưng các lãnh đạo Tổng cục 8 đã phủ nhận thông tin nói trên và cho rằng các phạm nhân cầm đầu vụ « gây rối » trong trại giam Xuân Lộc đều là « lưu manh chuyên nghiệp, không có quyết tâm cải tạo », và những người này sẽ bị xử lý theo luật, cụ thể là sẽ bị khởi tố về tội « gây rối trật tự, phá hũy tài sản » tại trại giam Xuân Lộc.
Trại giam Xuân Lộc cũng là nơi giam giữ khoảng 10 tù chính trị, và mặc dù dường như là các tù chính trị này không hề tham gia vào vụ nổi loạn ngày 30/06, nhưng 5 người trong số họ là Nguyễn Ngọc Cường, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Phan Ngọc Tuấn, Huỳnh Ngọc Trí ngay trong đêm đó đã bị chuyển sang trại khác.
Vụ tù nhân trại Xuân Lộc nổi loạn xảy ra chỉ một tuần sau khi tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ ngưng một cuộc tuyệt thực kéo dàì ba tuần nhằm phản đối điều kiện giam giữ trong tù.
Vụ này khiến dư luận chú ý trở lại đến điều kiện giam giữ trong các nhà tù Việt Nam. Các tù nhân, nhất là tù chính trị, được đối xử như thế nào, RFI đã phỏng vấn hai cựu tù chính trị ở Việt Nam là Lê Thăng Long, người từng bị xét xử cùng với Trần Huỳnh Duy Thức vào năm 2009, vừa ra tù tháng 6 năm ngoái, hiện bị quản chế ở Sài Gòn và anh Phạm Văn Trội, bị kết án 4 năm tù tháng 10/2009 và mãn hạn tù 09/2012, hiện cũng bị quản chế 4 năm.
 

Phỏng vấn Lê Thăng Long và Phạm Văn Trội
 
05/07/2013
 
More
 
 

Thủ tướng Nhật tố cáo Trung Quốc dùng vũ lực tranh chấp biển đảo


 

NHẬT-TRUNG - 

Bài đăng : Thứ hai 08 Tháng Bẩy 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ hai 08 Tháng Bẩy 2013

Thủ tướng Nhật tố cáo Trung Quốc dùng vũ lực tranh chấp biển đảo


Tàu hải giám 66 của Trung Quốc (giữa) chạy gần các tàu tuần duyên Nhật ở vùng biển Senkaku/Điếu Ngư ngày 23/04/2013.

Tàu hải giám 66 của Trung Quốc (giữa) chạy gần các tàu tuần duyên Nhật ở vùng biển Senkaku/Điếu Ngư ngày 23/04/2013.

REUTERS/Kyodo

Đức Tâm  RFI


Hôm qua 07/07/2013, phát biểu trong một chương trình vô tuyến, khi đề cập đến những căng thẳng trong quan hệ Nhật -Trung do vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Thủ tướng Shinzo Abe tố cáo Bắc Kinh tìm cách « sử dụng vũ lực để thay đổi nguyên trạng ».

Theo Thủ tướng Nhật Bản, thì cách tiếp cận vấn đề của Trung Quốc là « sai lầm » trong hồ sơ quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông.

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn đòi Nhật Bản phải thừa nhận là có vấn đề tranh chấp song phương đối với quần đảo này. Tuy nhiên, Tokyo khẳng định không hề có tranh chấp và về mặt pháp lý cũng như lịch sử, quần đảo Senkaku là một phần lãnh thổ của Nhật Bản.

Đồng thời, Thủ tuớng Nhật Bản cũng phê phán Trung Quốc không chấp nhận tổ chức một cuộc gặp thượng đỉnh song phương nhằm giải quyết các bất đồng.

Lãnh đạo Nhật Bản đã đưa ra những tuyên bố cứng rắn như trên trong bối cảnh, đầu tháng Bẩy, Trung Quốc tiến hành xây dựng một dàn khoan thăm dò và khai thác nhiên liệu gần đường phân định tạm thời ngăn cách hai vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và Nhật Bản hiện cũng đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.

Ngày hôm qua, tuần duyên Nhật Bản cho biết ba tàu hải giám Trung Quốc số 23, 49 và 5001 lại xâm nhập vào vùng lãnh hải thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trong vòng vài tiếng đồng hồ.

 

Khi Trung Quốc luôn là cạm bẫy


 

Đảng đối dân như giặc.
http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2012/07/3IN1.jpg
Đảng đãi giặc như bố.
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgOJXOHNdbvJVYAgDH-bAxaUSp6p3adoNGlv1DFE0lS0Ca1qGWFj6Erak3gptfAjuDajT6W9kAXYFHk1rMm8bDJGJ0VLzn7GS9sGctEuOugYPKkjpxklFwSVIeLPGfRwJdArOXFEdxQzQ_n/s1600/Babui-Bao+cao+Ni+ngay+mai+co+bieu+tinh-danlambao.jpg

Khi Trung Quốc luôn là cạm bẫy

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-07-08
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg8715319-305.jpg
Chuyến viếng thăm Trung Quốc và ký kết hàng loạt văn bản của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tại Bắc Kinh vào ngày 20 tháng 6 năm 2013.
AFP photo
 
Giữa lúc TQ ngày càng công khai hành động xâm lấn lãnh hải trong khi tiếp tục âm thầm xâm nhập mọi ngõ ngách của quê hương VN, thì GS Trần Khuê từ trong nước lên tiếng với Đài ACTD:
Cái nguy cơ từ phương Bắc thì thường trực từ mấy nghìn năm nay rồi. Và bây giờ nó càng rõ hơn. Cho đến nay, từ nhân dân, trí thức, nói chung là mọi tầng lớp xã hội, đều xót ruột lắm ! Và người dân Việt thấy nguy cơ là vận mệnh đất nước bị đe doạ cùng với sự toàn vẹn lãnh thổ…

Ký một lúc 10 văn kiện

Theo cuốn Hồi ký Trần Quang Cơ, thì “Ngày 29.8.1990, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội Trương Đức Duy xin gặp Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và chủ tịch hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười, chuyển thông điệp của Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và chủ tịch Quốc vụ viện Lý Bằng mời Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên vào ngày 3.9.1990 để hội đàm bí mật về Campuchia và vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước”.
Như vậy là “biến cố Thành Đô” ấy – mà nhà báo David Thiên Ngọc gọi là “Chiếu chỉ Thành Đô” - đã diễn ra trong vòng bí mật mà Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ cho “đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại” của Hà Nội; chính cố vấn Phạm Văn Đồng lúc ấy cũng phải thốt lên rằng “…đi để rồi ký một văn bản mà ta không lường trước được hậu quả…”; Thủ tướng Võ Văn Kiệt có lần phải nhìn nhận rằng “Mình bị nó lừa nhiều cái quá…TQ luôn là cạm bẫy!”.
Lần này, khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang “bệ kiến Thiên Triều” tại Bắc Kinh, tác giả David Thiên Ngọc qua bài tựa đề “Chiếu Chỉ Thành Đô II” lưu ý rằng:
Trong lịch sử ngoại giao từ xưa nay trên toàn thế giới chưa có một ai đại diện cho một nước nào cho dù là nhỏ bé, thiếu độc lập, thiếu tự chủ cũng chưa có một lãnh tụ nào trong một cuộc tạm gọi là bang giao vừa bước chân xuống miền đất khách chưa kịp tẩy trần mà ký một lúc 10 văn kiện như ông Trương Tấn Sang và tập đoàn… theo đuôi! Ở đây xin nói thẳng ra rằng các văn kiện đó, "Họ" đã viết sẵn theo chủ ý và âm mưu của họ theo kịch bản của quân sư mà kẻ ký chỉ biết hạ bút và không được phép biết nội dung nó là gì?
Khi báo động về “Văn kiện đầu hàng”, blogger Bùi Tín khẳng định rằng “Mọi người Việt Nam yêu nước không thể không bàng hoàng và phẫn nộ khi đọc kỹ văn kiện nói trên, không thể không nhận định đây là một văn kiện tuyên bố đầu hàng bọn bành trướng và xâm lược phương Bắc”, nhất là, theo nhà báo Bùi Tín, Bản tuyên bố chung VN-TQ “Không hề có một chữ nào về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một yêu cầu nào về việc bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân VN trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái lưỡi bò phạm pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ. Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất, còn hơn anh em ruột thịt”.  Nhà báo Bùi Tín nhận xét tiếp về “Biến cố Thành Đô II” này:
Đọc thật kỹ bản Tuyên Bố Chung, có thể dễ dàng nhận ra nó được phía Trung Quốc khởi thảo và phía Việt Nam hoàn toàn không được đóng góp hay thay đổi gì hết. Bản Tuyên Bố Chung hoàn toàn phản ánh tham vọng bành trướng và xâm lược của đế quốc Cộng sản Đại Hán Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam, phục vụ dã tâm biến nhà nước Việt Nam Cộng sản thành một chư hầu của Trung Quốc, biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, với sự tiếp tay của nhóm lãnh đạo CS bất tài và tham nhũng đã thoái hóa đến cùng cực.

Ở đây xin nói thẳng ra rằng các văn kiện đó, "Họ" đã viết sẵn theo chủ ý và âm mưu của họ theo kịch bản của quân sư mà kẻ ký chỉ biết hạ bút và không được phép biết nội dung nó là gì?
- David Thiên Ngọc
Blogger Bùi Tín nêu lên câu hỏi rằng đây có phải là một cạm bẫy do nhóm lãnh đạo mới Trung Nam Hải giăng ra để “nhử ông Trương Tấn Sang chui vào tròng”, buộc ông Sang phải “nhận cả gói, không sửa đổi, du di gì được, dù một li” ? Vẫn theo nhà báo Bùi Tín, sau khi đọc Kỹ văn bản ấy, Ông có cảm giác như VN đã “hội nhập vào trong lòng TQ. Tuy 2 mà một. Hoà nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội. Cứ như ở thời kỳ quan hệ anh em đồng chí bền chặt nhất vậy”.
Báo Tổ Quốc báo động rằng “Họ đem đất nước vào hẳn quỹ đạo của TQ”. Tờ báo tin chắc là ông Trương Tấn Sang tới Bắc Kinh để “chính thức hoá những gì đã được quyết định từ trước và do TQ áp đặt”, và lưu ý:
Ai cũng biết quan hệ hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam là một quan hệ lệ thuộc nhưng sự lệ thuộc đó đã trở thành toàn diện và triệt để sau những gì mà ông Sang vừa ký, bởi vì nó còn được "thúc đẩy", "mở rộng", "tăng cường" và "làm sâu sắc thêm". Đặc biệt nghiêm trọng là Việt Nam đã cam kết "điều phối" và "phối hợp" với Trung Quốc, nói cách khác, nhận mệnh lệnh của Trung Quốc trong các quan hệ đối với thế giới, kể cả với Liên Hiệp Quốc. Chúng ta mất chủ quyền. Và chúng ta cũng có nguy cơ mất cả lãnh thổ bởi vì chính quyền CSVN đã chấp nhận để bảy tỉnh biên giới Việt Nam "hợp tác" và "cùng phát triển" với các khu tự trị của Trung Quốc ở biên giới…

TQ "thuần hóa" VN

000_SAHK970714052960-250.jpg
Tổng Bí thư Đỗ Mười (P) cùng với Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân (T) tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 14/7/1997. AFP photo
Blogger Nguyễn Văn Huy lưu ý về “thời gian thảo luận những vấn đề hệ trọng liên quan đến tương lai đất nước trong vài ngày chắc chắn là không đủ”, và tin chắc rằng “nội dung của những thỏa thuận đã được hai bên trao đổi và thảo luận từ lâu”. Do đó, theo blogger Nguyễn Văn Huy,  chuyến Hoa du của ông Trương Tấn Sang “chỉ là để ký kết những gì đã đồng ý từ trước”. Khi thắc mắc về “ Một sự im lặng khó hiểu”, tác giả Nguyễn Văn Huy đặt ra một số câu hỏi, chẳng hạn như:
-Ông Trương Tấn Sang được ai hay định chế nào cho phép hoặc ủy quyền ký những văn bản hệ trọng liên quan đến tương lai Việt Nam ?
- Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ đã có những nhận xét nào về nội dung bản Tuyên bố chung ?
-Những đại biểu quốc hội, có bao nhiêu người được hỏi ý kiến về những văn kiện vừa được ký kết ?
Và tác giả nhận xét tóm tắt rằng:
Qua Tuyên bố chung này, khó có thể biện bạch Việt Nam là một quốc gia độc lập với Trung Quốc, nếu không muốn nói chính quyền cộng sản Việt Nam đang chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước sang tay người Trung Quốc. Theo nội dung của bản Tuyên bố chung, Trung Quốc có quyền tham gia vào tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt chính trị và kinh tế của Việt Nam, trong khi đó phía Việt Nam không thể và cũng không đủ điều kiện để tham gia ngược lại.
Khi báo động về tình trạng TQ đã “thuần hoá” VN, nhà báo Vi Anh nhận xét rằng Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang “đi sang Tàu triều cống, diện kiến Tập cận Bình như thần tử diện kiến long nhan, tái xác nhận thái độ thần phục Thiên Triều”. Ông Trương Tấn Sang tuyên bố “nhất trí, đồng tình, hồ hởi, phấn khởi”, giải quyết vấn đề Biển Đông trên nguyên tác song phương do phương Bắc đề ra, chứ tuyệt đối không cho nước thứ ba nào bên ngoài can dự vào. Vẫn theo nhà báo Vi Anh, “Giải quyết những tranh chấp tay đôi giữa con sói và con trừu, thì Biển Đông và đảo của VN coi như từ chết tới bị thương, bị kẻ mạnh nuốt hết !”.
Blogger Gò Cỏ May thì lưu ý rằng mặc dù hai nước CS anh em Việt-Trung từ lâu đã bình thường hoá bang giao và hợp tác chặt chẽ, không ngừng nâng mối quan hệ chiến lược giữa 2 đảng, 2 nhà nước lên “tầm cao mới”, nhưng “ thật lạ kỳ, cứ mỗi đợt gặp gỡ cấp cao như thế là Trung Quốc lại gia tăng các hoạt động gây căng thẳng trên các vùng biển mà Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền “không tranh cãi”. Phía Trung Quốc thì hành động. Còn phía Việt Nam lại chỉ cho Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao  lên tiếng phản đối, chứ giới chóp bu thì đều bị cái vòng kim cô ‘đại cuộc’ mang tên ý thức hệ kiềm tỏa, ngậm tăm”.
Qua Tuyên bố chung này, khó có thể biện bạch Việt Nam là một quốc gia độc lập với Trung Quốc, nếu không muốn nói chính quyền cộng sản Việt Nam đang chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước sang tay người Trung Quốc.
- Tác giả Nguyễn Văn Huy
Trong khi nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn báo động rằng “Việc ông Trương tấn Sang công du Trung quốc lần này với những cam kết về một sự ‘hợp tác chiến lược toàn diện’ trên tinh thần ‘đồng chí anh em’ chỉ đẩy đất nước lún sâu hơn vào hiểm họa lệ thuộc ngày càng nhiều hơn vào Trung Quốc mà thôi”, thì nhà báo Bùi Tín lưu ý “ Nước cờ này đã đẩy đảng CSVN đang núng thế thụt sâu thêm xuống hố suy thoái”.
Khi nêu lên câu hỏi rằng có phải “ VN thiếu vắng lãnh tụ ?”, tác giả Phạm Dzũng nhận định rằng “ Trong cuộc chiến Tàu-Việt từ ngàn xưa tới nay, sách lược muôn đời của Tàu vẫn là tàn hại nguyên khí của dân Việt, và chúng ra tay rất sớm -‘tiên hạ thủ vi cường’ ”. Vẫn theo tác giả thì “Hiện tượng bế tắc tương lai và suy yếu toàn diện vừa về lãnh đạo, vừa về văn hóa, xã hội, kinh tế và quốc phòng của Việt Nam chứng tỏ rằng TQ đã thành công trong sách lược làm Việt Nam suy thoái triệt để. Mối nguy hiểm lớn nhất là ở chỗ bọn xâm lược không cần phải trực tiếp ra mặt, mà lại sai khiến được chính nhà cầm quyền Việt Nam…”.
Tác giả Phạm Dzũng nhận thấy hành động của giới cầm quyền trong nước liên tục trấn áp dân và liên tiếp nhượng bộ phương Bắc một cách vừa lén lút, vừa công khai chứng tỏ rằng Bắc Kinh đã nắm được giới cầm quyền Hà Nội, mà nổi bật nhất hiện nay là bộ máy công an… Như vậy, theo tác giả, “chính là Tàu đang cai trị VN”. Và mọi phản đối máy móc, chiếu lệ của nhà cầm quyền VN đối với hành vi xâm lược, ngang ngược của TQ ở biển Đông và biên giới phía Bắc chỉ là để “che mắt thiên hạ nhằm chuẩn bị giao hết căn nhà VN cho chủ mới….”.
Tuy nhiên, tác giả bày tỏ tin tưởng rằng “bên này biên giới mong manh của sự bi quan” trước nguy cơ mất nước vào tay phương Bắc, thì phong trào chống đối ngày càng lớn mạnh của tuổi trẻ cùng người dân trong nước trong bối cảnh ngày càng dân chủ hóa toàn cầu, người dân Việt vẫn có thể tin vào tiền đồ của một dân tộc đã chiến đấu mấy ngàn năm để tồn tại.

Tin, bài liên quan




Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link