Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, July 28, 2013

” CỎ GIỐNG ĐẤY” TRONG SÁCH LƯỢC”CẤY GIỐNG ĐỎ” CỦA VIỆT CỘNG.



 ” CỎ GIỐNG ĐẤY” TRONG SÁCH LƯỢC”

   CẤY GIỐNG ĐỎ” CỦA VIỆT CỘNG

  ” CỎ GIỐNG ĐẤY” TRONG SÁCH LƯỢC” CẤY GIỐNG ĐỎ” CỦA VIỆT CỘNG.

- TRƯƠNG MINH HÒA –

 

Người làm vườn, ruộng, các gia chủ có đất trồng hoa, người chơi kiểng…. đều ghét nhất là các loài cỏ dại, thứ nầy không biết từ đâu tới, thừa cơ con người lơ là, bèn đâm chồi nẩy lộc, phát triển không ngừng và lây lan nhiều nơi khác, là thứ làm hại đất, hao phân bón, cứ” mọc nhanh, mọc manh, mọc lan..”; từ đó những ai không lo nhổ tận gốc ngay lúc đầu, dọn dẹp sạch sẻ cỏ dại, luôn bực mình và nhất là gặp khó khăn khi cỏ đã ăn sâu vào đất, làm thiệt hại hoa mau, hoa kiểng.
 
 Do đó, việc nhổ cỏ tận gốc, trừ cỏ dại lây lan, được con người lưu tâm từ thuở biết cách canh tác, đến nay, ngoài những biện pháp diệt cỏ dại bằng tay, còn có máy móc, hóa chất….Việt Cộng cũng là thứ cỏ dại, nếu không đề cao cảnh giác, chỉ vài hạt giống đỏ, cũng đủ lây lan sang nhiều nơi, gây tác hại không nhỏ cho sự an bình mọi người, nhất là các cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại.

Một số người Việt tỵ nạn, tưởng đâu ra khỏi nước Việt Nam là được an toàn; tuy nhiên bàn tay lông lá của Việt Cộng thường thò vào, làm cho cuộc sống những người bỏ nước ra đi tìm tự do không được thật sự” an cư lạc nghiệp” để lo tương lai, gia đình, con cháu học hành thành đạt. Đây cũng là” âm mưu diễn biến xâm nhập, nằm vùng của những thành phần gián điệp, tay sai, luôn tìm cách đánh phá, treo cờ máu và phổ biến hình của tên đại Việt gian Hồ Chí Minh” tại ngay hậu phương an toàn của người tỵ nạn nơi các nước tạm dung.

 
Sách lược cấy giống đỏ là mối quan tâm hàng đầu, nhu cầu” chiến lược của đảng Cộng Sản ở mọi thời đại nếu còn sự hiện diện của đảng, nên Hồ Chí Minh giáo dục đồng bọn rằng:” Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”.
 
Từ đó trở thành” lời dạy của Hồ Chủ Tịch” được phát động, phát triển và coi như sách lược bảo vệ sự tồn vong của đảng kể từ ngày thành lập đến nay. Trong cuộc đời và sự nghiệp” đéo lường, chơi lận, Đ…chạy vĩ đại” của chủ địt Hồ Chí Minh” dạy đĩ” sống mãi trong sự nghiệp” chơi bừa” của đảng cướp Việt Cộng, thì Hồ Tặc là người lừng danh với quá trình:” Cấy nhiều giống đỏ vào cửa mình phụ nữ” từ Pháp, Nga, Tàu, Việt và không thích từ chối ngay cả phụ nữ thuộc” dân tộc ít người” như Nông Thị Ngát, Nông Thị Xuân…thời kỳ trốn chui, trốn nhủi ở Việt Bắc thằng” cha già dâm, gian, ác của đảng cướp Cộng Sản Việt Nam” cũng được đàn em mang những” đóa hoa vị thành niên sơn cước” để cho Hồ” giải phóng” phụ nữ từ” mặt bằng, mặt lồi, mặt lỏm” thành đàn bà ngay sau cú” tiến quân của bác” trong việc” tiến vào cửa mình, trận cuối là trận nầy” mà trở thành” đàn bà”, không cần kinh qua bất cứ thời kỳ” quá độ” nào, như kinh điển vô thần của bậc thầy dạy” ăn cướp vĩ đại” Karl Marx.

 

 

Nhà ái quốc Huỳnh Thúc Kháng lầm khi cộng tác với tên Việt gian, tưởng là” đánh Tây giành độc lập”, nào ngờ”Ái Quốc hóa ra Việt gian”, một hôm tình cờ sang nơi” cơ ngơi” của Hồ, bỗng” phát hiện” ra hắn đang thực hành” Thiền Tiếp Hiện” với một cô gái trẻ thuộc” dân tộc ít người”, qua khe hở của vách váng, buồn bả, âm thầm quay về và sau đó làm bài thơ nhắn nhở, cho người mang sang bộ chỉ huy của chủ tịch, nào ngờ Hồ gian manh, biết bị bể mánh, nên trong một dịp máy bay Pháp oanh kích nơi căn cứ địa, Hồ ra lịnh cho đàn em hạ sát cụ Huỳnh và sau đó giả vờ thương tiếc, làm lễ quốc tang, cho người mang quan tài về tận quê quán ở Quảng Ngải.
 
Trong suốt quá trình” cấy giống đỏ” Hồ Chí Minh nổi tiếng là tay” chơi xứ Nghệ” thuộc hàng” đại điếm thúi nông thôn” và cũng là” bối thành thị” qua hành động dưới danh nghĩa” kách mệnh”, nên Hồ Chí Minh gieo nhiều giống đỏ, hể cô gái nào” yết kiến Bác Hồ” là bị mất trinh ngay, thế mới biết là công việc gieo giống đỏ là” nhu cầu chiến lược” hàng đầu, vừa giải quyết vấn đề” bức xúc” trong tình huống với cao trào” nắng cực” và cũng vừa bảo vệ đảng” như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt” như:” bảo vệ con C…trong quần tà lỏn” vậy.

 
Trong đảng, hàng ngũ nữ hộ lý chính là” cơ sở” khoái lạc dành cho cán bộ, đảng viên; ở miền Bắc sau 1954, cái lực lượng phụ nữ là” xưởng đẻ” cho ra những” cháu ngoan Bác Hồ”, cũng là nơi có” phân xưởng” nhao tươi thay thức ăn, bồi dưỡng thêm chất đạm, vì các hợp tác xã nhà nước không đủ” chế độ” thịt cung cấp theo tiêu chuẩn HỘ KHẨU làm cho dân thành HẬU KHỔ và thai nhi” chất lượng cao” được đảng viên dùng ngâm rượu đế, pha mật ong Hà Giang ( bông từ cây á phiện), làm thuốc cường dương để hàng ngũ” lãnh đạo, lãnh điếc” tiếp tục” giải phóng phụ nữ miền Bắc”, nên dù cho” đốt cháy cả Trường Sơn” chết hàng triệu cán binh, thì Hồ và đảng Cộng Sản vẫn không hề nao núng, lớp nầy chết, lớp khác thay thế, do” phụ nữ nhân dân” đẻ và nuôi dùm, đến nhớn là cho đảng xài, theo lịnh quan thầy Nga-Tàu.


Mặt trận” quần hồng” và” quần tà lỏn” rất quyết liệt, làm hao tốn biết bao” mồ hôi” chứ không đổ máu, là” chiến trường giường chiếu vẫn yên tỉnh” nhưng là thứ trận chiến” không qui ước”, thế là trong hàng” tướng lãnh tài ba lỗi lạc Hậu” trong đảng, chỉ có đại tướng” tự biên tự diễn” Võ Nguyên Giáp, tốt nghiệp viện” Quân Sự Múa Rối Nước” Hà Lội, qua nghệ thuật” lãnh gậy chỉ huy” theo đạo diễn Trung Cộng, với hào quang dỏm” Anh hùng Điện Biên” là xứng đáng là” tướng cầm quần” lừng danh miền Bắc, nay tăm tiếng vang dội cả nước sau 1975, đến nay, ai cũng biết” TƯỚNG GIÁP” có tài TÁP DƯỚNG” đáy quần phụ nữ” với:” Xẻ dọc cửa mình đi kiếm nước, mà lòng nắng cực vẫn tiến công”. Cấy giống đỏ rất quan trọng, là nhu cầu của đảng, nên công tác” trường kỳ” cấy giống được thực hiện bất cứ thời điểm hay” tình huống” thoái trào, cao trào cách mạng.


” Cấy, cấy mãi, Bác Hồ không ngừng nghỉ.

Để cho hang Pác Pó được lấp đầy.

Cho mầm non, giống đỏ được sanh ra.

Cho đầy cả trong ngoài đều có mặt”

 

Hay là:

 
” Còn hộ lý, còn cháu gái ngoan.

Bác cấy giống đỏ, sanh sản gắp mười lần qua”.

 
Sau khi dùng sinh mạng hàng chục ngàn cán binh Việt Nam qua chỉ đạo chiến lược của quan thầy Trung Cộng với phái bộ của tướng Vi Quốc Thanh, thắng Pháp bằng” chiến thuật biển người” sản phẩm của Mao Trạch Đông, tạo chiến thắng” Pháp chết một, ta chết mười”. Hiệp định Geneve ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước. Lợi dụng thời gian trên đường tập kết ra bắc, cán bộ thoát ly miền Nam nán lại và” cấy hạt giống đỏ” vào những phụ nữ gồm vợ, tình nhân….nên sau khi đảng Cộng Sản rút khỏi miền Nam, ngoài con số cán bộ, đảng viên được cài lại để chuẩn bị cho cuộc chiến kế tiếp; đảng viên Cộng Sản còn để lại” rải rác nhiều nơi mầm giống đỏ” tại các vùng nông thôn và những nơi mà đám” bộ đội già Hồ” đặt chân tới.

 
Nhờ những” quan hệ gia đình” bắt nguồn tư mối” quan hệ HỮU CƠ” với những phụ nữ miền Nam trong thời kỳ chuẩn bị tập kết ra Bắc, nên khi những người hồi kết trở về theo lịnh đảng, họ có nơi nuôi ăn, tiếp tế, tình báo, giải quyết sinh lý…..mà không tốn kém đào tạo, là nguồn” hậu cần” vô tận, thế mới biết là việc cầy hạt giống đỏ quan trọng như thế nào. Nhờ địa bàn có nhiều hạt giống đỏ, nên đảng Cộng Sản mới có được thuận lợi ở nông thôn và nhất là sau ngày 1 tháng 11 năm 1963, nhờ công lao rất lớn của trung tướng Dương Văn Minh” tướng quốc gia, giúp ma Cộng Sản”, sau khi đảo chánh, đã bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược của tổng thống Ngô Đình Diệm, nên Việt Cộng mới hồi sinh và tiếp tục” cấy mầm giống đỏ” ở nông thôn; cũng lại đại tướng Dương Văn Minh thừa cơ lúc tình hình chính trị đang rối ren, sau khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, với chức tổng tư lịnh, phá nát quân đội qua” tái phối trí lực lượng” và đưa đến thảm cảnh” di tả chiến thuật”; tướng Minh nhào vào” cướp chính quyền” êm ái, bằng cách gây áp lực với những chính khách còn lại, với lý do là làm theo yêu cầu của Việt Cộng để” thương thuyết” cũng với bình phong nhân đạo, tránh đổ máu, cuộc cướp chính quyền nầy không dàn quân như năm 1963 và ít ngày sau thì” bàn giao trong vòng trật tự” cho giặc Cộng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thế là ông Minh trở thành đại ân nhân của du kích, gia đình thân Cộng và đảng Cộng Sản miền Bắc, là người” lập công dâng đảng”qua chủ trương sát hại chí sĩ Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu hầu” diệt trừ hậu hoạn” nên sau năm 1975, không đi tù cải tạo, trái lại được Việt Cộng nuôi dưỡng, trở thành” công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” từ 1976, sau đó xuất ngoại, khi chết cũng phải mò sang Mỹ để chết cho sướng và an toàn.

Sau 1975, một số mầm đỏ được cấy từ 1954 đã có nhiều người phục vụ trong hàng ngũ quân lực VNCH, công chức, một số hiên ngang không theo cha ông làm Việt Cộng phản dân hại nước và số khác thì vẫn duy trì cái” Gene” giống đỏ di truyền, làm cán bộ, trở thành” gia đình vẻ vang”, cùng với cha ông đàn áp, bốc lột dân để làm giàu.
 
 Do hạt giống đỏ cấy khắp nơi từ thời” đánh Tây giành đập lột”, tạo xã hội miền Nam rối ren, làm tan vở nhiều mái ấm gia đình kể từ khi những người chồng, cha…với bình phong làm” cách mạng” đã bỏ phế cho vợ ở lại nuôi con khôn lớn, vô trách nhiệm, còn lên lớp” giáo dục” vợ là:” để cho con theo ngụy quân, ngụy quyền”; chỉ có những người Cộng Sản mới có được những cách cư xử như thế.

Trong hàng ngũ hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi tìm tự do, trà trộn có: gián điệp, tỵ nạn gian, thành phần ra đi vì lý do kinh tế…sau nầy, có chương trình bảo lãnh thân nhân, nên con số người Việt hải ngoại gia tăng, nay lên đến hơn 3 triệu ( theo Việt Cộng là 3, 6 triệu, khi nhìn thấy túi bạc vĩ đại của bọn phản động nước ngoài).
 
Trong thời gian còn bị Hoa Kỳ cấm vận kinh tế, thì các hạt giống đỏ nằm im, vì điều kiện khó khăn và lúc đó người Việt chưa bị tác động bởi các kế sách tấn kích của Việt Cộng.
 
 Nhưng kể từ khi tổng thống Hoa Kỳ là Bill Clinton xã vận năm 1994, số người Việt trở về, đầu tiên chỉ với lý do” về thăm quê hương”, sau đó con số nầy gia tăng, mang về số tiền lớn, tăng dần từ vài trăm triệu, nay hàng nhiều tỷ Mỹ Kim.

Từ hình thức” thăm quê hương” chuyển sang Tam Du:” du lịch, du hý, du dâm” và về nước cầu kết với ” DU ĐẢNG CỘNG SẢN”, trở thành Việt kiều, vang danh là:” áo gấm về làng, đem tiền vàng nộp cho đảng, phản bội lý do tỵ nạn, kết bạn với quân cướp, làm nhơ nhớp những người bỏ nước ra đi vì hai chữ tự do”. Việt Cộng mở cửa thì nhiều gia đình người Việt tỵ nạn, nhất là thành phần” tam du” cũng mở cửa trước lẫn cửa sau, đưa nhau ra tòa ly dị, chia của và cái:” tình huống: ông ăn chả, bà ăn nem” trở thành một” cao trào thời thượng” lan rộng hơn cả dịch cúm gia cầm trong các cộng đồng tỵ nạn hải ngoại; nên từ đó cũng là thời cơ” vùng lên” của nam giới, sau bao năm ở hải ngoại cảnh” trai thừa, gái thiếu” được giải quyết với số lượng phụ nữ Việt Nam muốn thoát khỏi cảnh nghèo, không muốn sống trong” thiên đàng Cộng Sản”, nên những ông già khú vẫn cưới được vợ nhí với tiêu chuẩn theo thánh hiền, được bọn chơi bời theo văn hóa” dã man” Trung Hoa đánh giá là” còn trinh” và một số bà lớn tuổi, ham vui cũng có chồng trẻ, sung sức.

 
Việt Cộng là nguyên do gây ra tất cả cho người Việt Nam:

 
-Đánh Tây, đánh Mỹ thì hàng triệu người bị lừa, bỏ xương máu vô ích, và sau cùng khi” đất nước hoàn toàn thống nhất” đã trở thành một huyện của Trung Cộng.-Sau 1975, dân sống không nổi với bọn cướp, nên hàng triệu người bỏ nước ra đi, gây ra bao cảnh gia đình ly tán, vợ chồng cách biệt, kẻ ở người đi sau những chuyến hải hành liều mạng.

-Sau khi Việt Cộng mở cửa để tồn tại, vì quan thầy Liên Sô và toàn khối Cộng đảng Đông Âu sụp đổ, người Việt tỵ nạn cũng trở về mang tiền nộp và biết bao gia đình tan nát; chưa kể đến nhiều người bén hơn trở về nhiều lần, ăn phải thức ăn, nước uống có chất độc, nguyên nhân gây ung thư, viêm gan….không khí ô nhiễm nặng do nhiều khói, chất độc, môi trường…nên trong hàng ngũ người về thăm quê hương, tam du…có nhiều người đã” giả từ gác trọ” trở về nước” nước Chúa” hay” tiêu diêu nơi miền Cực Lạc”.
 
Những người chết thường được thân nhân, bạn bè nguyện cầu linh hồn được về những nơi” vĩnh cửu” tùy theo tôn giáo, nhưng nếu sau khi đến hai nơi nầy là cũng chưa chắc ăn đâu, vì Chúa và Phật chỉ nhận ở đây để chờ ” thanh lọc” và hổng chừng sau đó” phân phối” đi các nơi khác như địa ngục nếu làm ác, hay là người thân Cộng, gián điệp, phá rối, tay sai…là hy vọng được trả về” thiên đàng Cộng Sản” để đoàn tụ với” công an âm phủ: đầu trâu mặt ngựa” và gặp Lenin, Karl Marx, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông….. được hưởng” chế độ hộ khẩu đời đời” nơi đây, ắt là không còn cơ hội trở về với” loài người” mà làm” kách mạnh” nữa.

Khi mở cửa, cũng là cơ hội để mầm giống đỏ được” nhập khẩu” sang các nước dân chủ, nơi có người Việt định cư. Mức độc” nhập khẩu” hạt giống đỏ, là thứ” cỏ giống đấy” trong việc” cấy giống đỏ” gia tăng qua những lối lòn lách sau đây:

1-Chính sách di dân: các quốc gia dân chủ Tây Phương có chính sách di dân nhân đạo, với dạng ưu tiên số một là” bảo lãnh hôn phối”, đó là khe hở mà đảng Cộng Sản lợi dụng để đưa những hạt giống đỏ sang, nẩy mầm và gây tác hại cho các cộng đồng người Việt, nay đang bước sang giai đoạn” báo động” khi mà những giống đỏ” con đảng, cháu Bác” được” hòa hợp hòa giải” qua hình thức hôn nhân với những gia đình của người tỵ nạn. Nhờ cửa ngõ của những người tỵ nạn, đa phần là giới tỵ nạn kinh tế, vô tích sự, tỵ nạn gian, trở về nhiều lần, họ mang những mầm giống đỏ bằng nhiều cách qua luật di trú:

 
-Những người lớn tuổi, nhất là đàn ông, muốn tìm” tình già trên đồi cỏ non” nên thôi vợ già ở hải ngoại, bảo lãnh vợ nhí, gặp phải con cháu can bộ, ngoài việc được vợ nhỏ tuổi mà còn được gia đình bên vợ chi tiền, hưởng đặc quyền đặc lợi trong việc làm ăn ( nếu có cơ sở), đi đứng, được nhiều lợi lộc khi trở về Việt Nam. Sau khi bảo lãnh vợ sang, thời gian thường trú và được quyền công dân, thì vợ lãnh cả mẹ, anh em vợ theo diện đoàn tụ gia đình…thế là cả nhà Việt Cộng đươc sang các nước” tư bản phản động” tìm bơ thừa sửa cặn một cách hợp pháp, dễ dàng, đồng thời mang theo cả những số tiền bòn rút từ mồ hôi của dân chúng; từ đó, những gia đình Việt Cộng lại tìm cách” neo đơn” với bộ di trú, để bảo lãnh những” mầm giống đỏ” kế tiếp, phát triển đưa người xâm nhập một cách hợp pháp, không ngừng từ hàng chục năm qua. Nên gần đây, nhiều gia đình tỵ nạn lãnh gia đình gốc Việt Cộng sang, họ mở thương nghiệp, làm ăn, đầu tư, mua nhà….thế là những người tỵ nạn bảo lãnh cũng bị” cuốn theo chiều gió”, trở thành những kẻ phản bội, không muốn chống Cộng, tức là sợ đụng tới gia đình bên vợ và đương nhiên là rất sợ chế độ Cộng Sản sụp đổ.

 
-Những cuộc hôn phối giả nhan nhản trong các cộng đồng tỵ nạn, giá biểu bảo lãnh từ 20 ngàn Mỹ kim lên 50 ngàn, được các cơ sở luật di trú tư, các văn phòng lo di trú có những lối” mách nước” với thân chủ để vớt tiền đẹp những hồ sơ bảo lãnh hôn phối theo luật di trú. Việc bão lãnh thành công, sang có ăn ở với nhau hay không là quyền của hai người khác phái, bộ di trú theo dõi và trừng trị, như ở Úc, chính phủ biết trong số những hồ sơ bảo lãnh, có nhiều người lợi dụng để làm tiền, nên thỉnh thoảng họ đến thăm viếng những cặp vợ chồng bảo lãnh bất thần, xem xét nơi ăn ở….thế mà những kẻ gian, dùng luật di trú để làm tiền vẫn không nao núng.

 

-Nhiều gia đình muốn làm ăn ở Việt Nam, nên móc nối tạo những cuộc hôn nhân nhằm ràng buộc quyền lợi, nên một số người tỵ nạn đã kết” sui gia” với cán bộ Cộng Sản trong nước, họ dựng vợ, gả chồng, bảo lãnh và sau đó cũng di dân sang thoải mái. Những gia đình có mối” quan hệ hữu cơ” thông gia rất thân thương với nhau, nên các nhà tỵ nạn thường chứa chấp những tên cán bộ sang, âm thầm trong các chuyến du lịch, có khi là làm công tác. Những cán bộ Việt Cộng được sui gia đưa đi thăm các nơi, cộng đồng và từ đó thu thập thêm nhiều tin tức, mang về để” điều nghiên” đánh phá. Đáng lưu ý là trong số” sui gia” với Việt Cộng, có cả những người thuộc thành phần quân nhân cán chính miền Nam, đó là những người có sẵn vỏ bọc để bao che kỷ cho những tên cán Cộng, cùng gia đình. Những ung thư nầy làm cho cộng đồng suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm cỏ dại Việt Cộng lây lan.

2-Thành Phần du học sinh: đa số là” cháu ngoan Bác Hồ” nên coi tên Hồ Chí Minh là thần tượng” vĩ đại”, và tôn thờ luôn biểu tượng của đảng cướp” cờ đỏ sao vàng”, trong số nầy, có trà trộn cả gián điệp, đội lớp du học, chúng hoạt động âm thầm trong các trường đại học, gia đình tỵ nạn có con đi học; gây ảnh hưởng, lây lan” Gene” đỏ dần dần, làm ung thối cả những mầm tốt, nên thời gian gần đây, vụ con cháu tỵ nạn như Brian Đoàn với triễn lãm V.A.A.L.A ở Hoa Kỳ, La Thảo Nhi, Hạnh Ngô….tại Úc với phở chó, triển lãm nam-bang, Voices 2000.
 
Du học sinh sau khi tốt nghiệp, một số tìm cách ở lại bằng việc hôn phối hay là tìm cách” cấy giống đỏ” vào một phụ nữ tỵ nạn để có con, rồi tìm cách bảo lãnh bằng diện hôn phối. Ngoài ra, tại các nước, do nhu cầu cần thợ, chuyên viên, nên có chương trình” di dân theo diện tay nghề”, họ được nhận ở lại và làm việc, thành thường trú nhân. Du Học Cộng Sản đưa sang còn” điều nghiên” luật di trú các nước dân chủ để tìm cách đưa thêm người của chúng sang bằng những ngõ ngách di dân hợp pháp và phi pháp; đó là những” đỉnh cao trí tệ du học” đóng góp nhiều trong công việc buôn bán nô lệ, nên từ ngày số lượng du sinh ồ ạt ở hải ngoại, thì tình trạng buôn bán lao nô, phụ nữ gia tăng” vượt chỉ tiêu”.

 
Du sinh Việt Cộng chính” là người tổ quốc hại mai sao” ngày nay du học, ngày mai hại đời. Du sinh trở thành” cao trào đi tìm bơ thừa sửa cặn thời thượng” của hàng ngũ đầu lãnh băng đảng siêu cướp Việt Cộng; chưa bao giờ đám” mầm đỏ” ồ ạt ra đi tìm những nơi” càng phản động càng tốt” để mon men kiếm chác, ở lại, cài người, đánh phá, gây rối, lập cơ sở hoạt động….. Mặt khác, các trường đại học, cao đẳng Tây Phương cũng là nơi” thương nghiệp giáo dục” nên họ thích nhận những du học để thu học phí cao, còn đậu hay rớt không quan trọng; các nước còn cấp một số học bỗng, nhưng họ đã lầm vì những học sinh nào được học bỗng cũng có mối quan hệ mật thiết với đảng và nhà nước… đó là những lý do gia tăng” mầm đỏ” trong các cộng đồng tỵ nạn, con số nầy trở thành mối đe dọa trực tiếp đối với những người bỏ nước ra đi tìm tự do, khi” du sinh vùng lên” để treo cờ đỏ, như vụ Taste Vietnam ở tiểu bang Queensland (Úc Châu), do thành viên băng đảng Việt Tân là bác sĩ Bùi Trọng Cường, lợi dụng cương vị chủ tịch, danh nghĩa cộng đồng để hạ cờ vàng ngay tại đất tự do, là báo động cho những người yêu chuộng tự do, nạn nhân Cộng Sản.

3-Tư bản đỏ: lợi dụng chính sách di dân theo lối thương nghiệp, đảng viên Cộng Sản giàu có nhờ bốc lột, có trong tay bạc triệu, hội đủ tiêu chuẩn di dân và mang theo tiền nhiều, mở thương nghiệp, dần dần khống chế kinh tế. Mới đây tại Hoa Kỳ, lợi dụng tình hình suy thoái kinh tế, khủng hoảng tiền tệ nên công ty địa ốc quốc doanh” Thủ Đức House” có kế hoạch đổ ra nhiều tỷ Mỹ Kim để đầu tư vào nhà đất ở vùng Califoirnia, nơi có nhiều người Việt định cư, được coi là thủ đô người tỵ nạn ( Little Saigon). Đây là lối xâm nhập người qui mô, theo diện kinh doanh, được chính thủ tướng” không người lái” Nguyễn Tấn Dũng ký nghị định số 236/QD-TTG ngày 20 tháng 2 năm 2009. Nếu công ty địa ốc quốc doanh nầy tham gia thị trường đầu tư ở California, thì sau đó sẻ có thêm nhiều cán bộ di dân, núp dưới bình phong doanh nhân, làm cho cộng đồng thêm rối ren, phối hợp với các” cơ sở” có sẵn nằm vùng, đánh phá mạnh hơn vì trong tay có nhiều tiền.

 
4-Tôn giáo: nhất là các cơ sở Phật Giáo, ngày nay cần phân biệt TIỆM PHẬT và CHÙA PHẬT, hảy cẩn thận để không lầm và đem tiền cúng dường cho quỷ, làm công quả dùm cho ma quái, chúng dùng tiền của người tỵ nạn để đánh lại người tỵ nạn. Những cơ sở thuộc đám” về nguồn” đều là tiệm Phật, từ lâu đã bảo lãnh công an, cán bộ tôn giáo vận, gián điệp sang qua cửa ngõ” chùa là cái tiệm” an toàn và vừa được hàng ngũ” Tam Tạng thời đại” bưng bợ, tôn kính như là thầy, hơn cả cha mẹ.
 
Những Tam Tạng nầy trông ma hóa tăng, trông công an tưởng thầy….các cộng đồng và người đời thường tôn kính thầy là” lãnh đạo tinh thần” nhưng không ngờ sư ni từ Việt Nam sang thuộc thành phần” quỷ phá nhà chay” lợi dụng lớp áo, cạo đầu, chuông mõ để làm công tác, điều khiển hải ngoại bằng dùng” tượng Phật” làm bình phong. Hiện nay con số” công an tăng ni” lên đến khoản” một lữ đoàn thầy chùa đít đỏ”, chừng 2,000 tên, trà trộn vào chùa, xã hội.

Các” CỬA HÀNG CHÚA” cũng không tránh khỏi bọn Linh Mọp quốc doanh, được dòng tu đỏ” Dòng Chúa Cứu Đảng” hay là” Dòng Chúa Mến Bác”….cử sang móc túi bằng lưỡi dao cạo” từ thiện, xây nhà thờ, giúp người nghèo..” và có một số được bảo lãnh ở lại tu, là những con” chó sói” đội lớp mục tử, có khả năng hướng dẫn những con chiên thiếu cảnh giác đi theo” tấm bản chỉ đường” của giáo hội Công Giáo nhà nước, là tổ chức tôn giáo râu ria, công cụ của Mặt Trận Tổ Quốc.. Cho nên các tôn giáo, hạt giống đỏ được đưa sang và nhờ các tín đồ, con chiên hứng lấy vì không phân biệt chánh tà, là tập quán nguy hiểm:” trọng Phật kính tăng, thương cha, mến Chúa” đã giúp cho Việt Cộng nẩy những mầm đỏ khắp nơi.

Ngày nay mức độ xuất hiện của” giống đỏ” khác nhiều tại các nơi có người Việt tỵ nạn định cư. Hạt giống đỏ hiện diện nhiều nơi, có một số người Việt tỵ nạn, thường trở về Việt Nam, khi biết những hạt giống đỏ ngay tại xứ tự do, nhận biết qua lời nói, phát âm và rất sợ kêu là” Việt Cộng”, là con ma Việt Cộng dù đang sống ở nước tự do. Những người nầy không dám nói gì trước các” hạt giống đỏ” vì sợ bị rắc rối cho những chuyến” áo gầm về làng” thật là đáng trách, hèn nhát. Ăn cướp thì kêu ăn cướp, có ai cho là sai, còn Việt Cộng thì kêu là Việt Cộng, là trúng tên tộc và hai chữ nầy được quốc tế hóa từ lâu. Một số cơ quan truyền thông do người Việt tỵ nạn chủ trương ( ngoại trừ cơ quan truyền thông nằm vùng, bị Việt Cộng mua, khuynh đảo, ảnh hưởng), họ không dám viết trên báo, đọc trên đài:” Cộng Sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam, chính quyền Việt Nam..” mà không dám dùng hai chữ” Việt Cộng”, quả là” ăn cơm tự do, sợ ma Cộng Sản”.

 
Trước 1975 ở miền Nam, một số phim có nữ tài tử Kim Cương đóng, kết thúc phim có cảnh” hoa đồng đỏ thắm và con bướm vàng bay lượn”, hình ảnh nầy tưởng là nghệ thuật thông thường, nào dè là lịnh tập trung của Việt Cộng nằm vùng để chuẩn bị” tiến vào Saigon, trận cuối là trận nầy”.

 
Ngày nay ở hải ngoại, những dấu hiệu làm người ta phải cảnh giác: Trung tâm Thúy Nga, sau nhiều năm hành nghề, gây được nhiều uy tín, thì bỗng nhiên cho ra cuốn băng nhạc” Paris 40″ sau gọi là B.40, mở đầu có cảnh” thiền sư Thích Nhất Hạnh” trong bộ áo màu đà, dọng chuông, y như” bồ tác tại thế” của tu sĩ Trường Hoằng tôn vinh trên đài truyền hình SBTN của Trúc Hồ, quảng báo rộng rải trong cộng đồng tỵ nạn.

 

Tuy nhiên ai cũng biết gã thiền sư Thích Nhất Hạnh chính là tu sĩ đắc quả BỒ HÁT với nghiệp chuyên ca tụng BÁC HỒ, chớ không bao giờ là Bồ Tát cả, lý do là Bồ Tát thì coi của cải là” sắc sắc, không không” là thứ” vô thường” nên bồ tát là thường bố thí tất cả của cải, để giúp đời, người khốn khó; trong khi thiền sư Thích Nhất Hạnh thì bo bo, cố gom tiền bá tánh để phát triển càng nhiều càng tốt” của cải vật chất”, đó là” tiền sư, đô la sư”, Thích Nhất Hạnh chỉ xuất tiền” bố thí” cho những cơ quan truyền thông như tờ New York Times, với 45 ngàn Mỹ Kim, đăng báo” binh vực cho hàng đệ tử khủng bố của Hồ Chí Minh là Osama Bin Laden khi bị đánh tại ổ căn cứ A Phú Hãn năm 2001….trong băng nhạc B 40, dùng hình ảnh” bà mẹ chiến sĩ”, du dương trong nhạc Trịnh Công Sơn, đâm những nhát mã tấu vào quân lực VNCH và cuối băng nhạc là” hình ảnh cấy hạt lúa đỏ”. Đây có thể là dấu hiệu, lịnh” phát pháo khai thành” mở cuộc tấn kích trường kỳ hải ngoại, nẩy mầm giống lúa đỏ, lan rộng khắp nơi, nên sau đó không lâu,

 

 

Ủy Ban Hổ Trợ Người Việt Nước Ngoài ra đời, đảng cử tên thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Đình Bin đặc trách, với số vốn 7 tỷ đồng tiền Hồ và kế tiếp là nghị quyết 36, càng ngày càng có những cái chốt, kiềng được dựng lên như: Việt Weekly, nhật báo Người Việt, hỏa mù của băng đảng tay sai Mafia Hồng, Việt Tân với các tổ chức phản tỉnh giả có hai số chót” 06″, ru ngủ bằng” đấu tranh ôn hòa”, ủy ban bảo vệ người lao động nước ngoài ( trớt quớt), thêm những” bụi giống đỏ” như ngục khỉ Nguyễn Chí Thiện, Bùi Tín, Dương Thu Hương… được mang trồng ở nơi” đất lành” hải ngoại, làm cho mãnh đất tự do có nhiều loài cỏ dại càng ngày càng” bành trướng” và cho ra những gai gốc, làm hại các thứ cây hữu ích trong một” vườn hoa tự do có nhiều hương sắc”.

 

 

Lại thêm giống” thày lày” Tạp Nhạp Dân Chủ Điên-Ngoa, tên giống thuộc họ cỏ dại là Thông Loạn, gặp bải cứt chó xà mâu Vẹm mà sống trong èo uột trong một” vườn tạp nhạp: cờ vàng lẫn cờ đỏ”, nên không thể thu hút được ai, ngoại trừ đám người” đồng minh tương ý, đồng chí tương ngôn”, trong đó có vài” trí ngũ, trí mơ, trí mộng du…” nằm trong hàng ngũ” trí đần”, là đám:” lưu manh khoa bảng, bất lương trí thức”, có học mà không có hạnh, tỵ nạn chính trị mà mất lập trường….giống như đi đường mà không biết lối, nói dối mà không có căn,” ăn năn mà lại gán cho tổ quốc”, thế là Nguyễn Gia Kiểng” không có đất dụng võ” vì nơi mãnh vườn” có nhiều giống cỏ dại, mầm đỏ”.

 

 

Trước sự lây lan” cỏ giống đấy” từ việc” cấy giống đỏ” tại hải ngoại, nguy cơ cộng đồng người Việt tỵ nạn bị cỏ dại lan dần và tình trạng cũ lập lại sau thời 1954, khi nhiều gia đình, chùa, nhà thờ….là nơi dung dưỡng các loại cỏ dại Cộng Sản qua những mối dây liên hệ tình cảm, tôn giáo, gia đình….và từ đó đảng cướp Việt Cộng mới có được địa bàng hoạt động, có chỗ vung thân, có nơi rửa tiền và nhiều điều khác.

 

 

Đất nước dân chủ là nơi có thứ thuốc trừ cỏ dại, mầm giống đỏ, mang nhản hiệu TỰ DO, nên những thứ làm hại con người là Cộng Sản không thể” mọc nhanh, mọc mạnh, mọc lòn lách” ở vùng đất có nhiều thuốc trừ cỏ, diệt sâu mọt. Tuy nhiên, những mầm giống đỏ cũng đủ làm cho những người Việt Nam tỵ nạn bực mình, nên khi gặp bất cứ cỏ ở đây, từ một hạt giống đến vài cây lèo tèo…cũng phải dẹp, bứng đi, bỏ vô thùng rác là hy vọng giống cỏ đỏ bị diệt, nếu có sống cũng èo uột thôi./.

 

 

THƠ LÁI ÂM.

 

 

” CỎ GIỐNG ĐẤY” VIỆT CỘNG” CẤY GIỐNG ĐỎ”.

 

 

 

Tại hải ngoại, Việt Cộng cũng bị luật nhân quả tác động như ai: trước đây chửi bới những người bỏ nước ra đi tìm tự do là” ăn bơ thừa, sửa cặn” thì ngày nay, thằng điếm thúi, con đĩ chó nào bon chen để được: di dân, du học, du lịch, cầu cạnh…. ở các nước” tư bản phản động”. Ngày nay mức độ đi xâm nhập, gia tăng dân số Việt Cộng gia tăng là nhờ: những người tỵ nạn gian bảo lãnh sang trong diện hôn nhân, đoàn tụ….các nước nhận di dân tay nghề….nhưng dù sao, thì mầm giống đỏ Việt Cộng khó phát triển ở môi trường tự do, nơi có nhiều loại thuốc trừ” cỏ dại” hiệu Tự Do.

 

 

 

 

 

 

MỐNG GIAN tỵ nạn, MANG GIỐNG nầy.

ĐÂY LÀ cỏ dại Vẹm, ĐÀ LÂY.

CỎ MẦM ĐẤY hại, CẤY MẦM ĐỎ.

ĐÃ CẤY nằm vùng, ĐẤY CẢ bầy.

CỎ ĐỘC du sinh, lòi CỌC ĐỎ.

CẢ ĐỎ di dân, CỎ ĐÃ đầy.

ĐỘC LAN, cảnh báo, cùng ĐANG LỌC.

LÓ ĐỘC trị liền, LỌC ĐÓ ngay.

 

 

TRƯƠNG MINH HÒA

Ngày 02.03.2009

 

 


 

 

3 thoughts on “” CỎ GIỐNG ĐẤY” TRONG SÁCH LƯỢC” CẤY GIỐNG ĐỎ” CỦA VIỆT CỘNG”

 

 

1.   

      Pingback: ” CỎ GIỐNG ĐẤY” TRONG SÁCH LƯỢC” CẤY GIỐNG ĐỎ” CỦA VIỆT CỘNG « Tudodanchu’s Weblog <http://tudodanchu.wordpress.com/2009/03/02/cogiong/>

     

 

 

 

Saturday, July 27, 2013

:Ảnh Hưởng Của Những Biến Chuyển Lịch Sử Đến Văn Học Việt Nam Thời Cận Đại


From: Gia Cat <

To: 

Sent: Thursday, 25 July 2013 9:18 PM

Subject:  TRẦN GIA PHỤNG :Ảnh Hưởng Của Những Biến Chuyển Lịch Sử Đến Văn Học Việt Nam Thời Cận Đại

 

Ảnh Hưởng Của Những Biến Chuyển Lịch Sử Đến Văn Học Việt Nam Thời Cận Đại

 

 

Trần Gia Phụng

 

1.- GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ

 

Bài nầy chỉ nhắm trình bày ảnh hưởng của những biến chuyển lịch sử đến văn học Việt Nam trong bối cảnh mở rộng bang giao quốc tế thời cận đại, chứ không đi vào giai đoạn toàn cầu hóa kinh tế chỉ mới diễn ra vào khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ vừa qua khi nhiều nước bãi bỏ hàng rào quan thuế để việc trao đổi kinh tế được rộng rãi, dễ dàng; và bài nầy cũng không đi vào phần văn chương của đề tài.

 

2.- VIỆT NAM MỞ RỘNG BANG GIAO QUỐC TẾ

 

Trước thế kỷ 19, Việt Nam chỉ giao thiệp với Trung Hoa và một số nước ĐNÁ. Từ các vua đầu nhà Nguyễn, tức từ năm 1802 trở đi, Việt Nam bắt đầu liên lạc thêm với vài nước phương Tây. Lúc đó, tại Âu Châu, do sự phát kiến máy chạy bằng hơi nước trong cuộc cách mạng kỹ nghệ, phương tiện giao thông phát triển, các nước Âu Châu bắt đầu mở cuộc tìm kiếm thuộc địa khắp thế giới.

 

Trong khi Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan tìm đến các nước Á Châu khác, Pháp đến đánh Việt Nam từ năm 1858, chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867, buộc Việt Nam phải nhượng toàn bộ Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa năm 1874, rồi đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Việt Nam năm 1884. Điều 1 hòa ước 1884 buộc Việt Nam phải lệ thuộc Pháp về ngoại giao. Lúc đó, Pháp là một cường quốc, bang giao rộng rãi với nhiều nước trên thế giới, nên qua nước Pháp, Việt Nam bắt đầu giao thiệp thêm với nhiều nước ngoài vùng Đông Nam Á.

 

Từ đó, nền bang giao quốc tế của Việt Nam càng ngày càng rộng mở cho đến ngày nay.

 

3.- THAY ĐỔI CHỮ VIẾT VÀ GIÁO DỤC

 

Sự bảo hộ của người Pháp đưa đến nhiều thay đổi quan trọng về tất cả các mặt trong đời sống của người Việt. Về văn hóa, quan trọng nhất là sự thay đổi chữ viết và hệ thống giáo dục. Người Việt nói tiếng Việt, nhưng từ thời Ngô Quyền lập quốc năm 939 cho đến thời nhà Nguyễn, các triều đại quân chủ dùng chữ Nho, tức chữ Hán và nói nôm na là chữ Tàu, làm chuyển ngữ trong hành chánh và giáo dục.

 

Khi Pháp bảo hộ, để đào tạo viên chức cho chế độ mới, nhà cầm quyền thực dân Pháp nghĩ ngay đến việc thay đổi hệ thống giáo dục và chữ viết của người Việt Nam.

 

a) Giai đoạn Pháp thăm dò (1861-1906):

 

Mẫu tự la-tinh và chữ quốc ngữ: Khi đến Đại Việt truyền đạo Thiên Chúa từ cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ Tây phương cùng một số giáo dân Việt, dựa theo mẫu tự La-tinh, sáng chế ra một thứ chữ mới mà sau nầy được gọi là chữ quốc ngữ. Đầu năm 1861, Pháp chiếm ba tỉnh miền đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường). Phó đô đốc Léonard Charner, tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Viễn đông, ra nghị định ngày 21-9-1861, thành lập Collège Annamite-Français de Monseigneur l'Évêque d'Adran tại Sài Gòn, là trường thông ngôn dạy người Việt học chữ Pháp đồng thời dạy người Pháp học tiếng Việt bằng thứ chữ mới theo mẫu tự la-tinh. (John DeFrancis, Colonialism and Language Policy in Vietnam, New York: Moulton Publishers, 1977, tr. 76.)

 

Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ: Sau hòa ước Giáp Tuất (18-3-1874), sáu tỉnh Nam Kỳ trở thành thuộc địa Pháp. Thống đốc Nam Kỳ là Louis Lafont, ban hành nghị định ngày 6-4-1878, theo đó kể từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh... đều viết bằng mẫu tự la-tinh, tức chữ Pháp hay quốc ngữ, chứ không còn viết bằng chữ Nho. Cũng từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ chỉ những người biết quốc ngữ mới được tuyển dụng vào các cơ quan hành chánh cấp phủ, huyện, tổng. (Alfred Schreiner, Abrégé de l'histoire d'Annam, Deuxième édition, Sai Gòn: 1906, tr. 340.) Điều nầy có nghĩa là bên cạnh chữ Pháp, quốc ngữ chính thức trở thành chuyển ngữ của dân chúng Nam Kỳ, và chữ Nho không còn được sử dụng ở Nam Kỳ.

 

Chữ quốc ngữ ở Trung và Bắc Kỳ: Pháp bảo hộ Trung và Bắc Kỳ bằng hòa ước Giáp Thân (6-6-1884). Lúc đầu Pháp duy trì nền giáo dục Nho học để tránh va chạm với quan lại triều đình Huế mà đại đa số xuất thân khoa bảng Nho học. Năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, bắt đầu mở những trường dạy tiếng Pháp, trong khi vẫn để cho triều đình Việt Nam tiếp tục mở những khoa thi Nho học (thi Hương và thi Hội).

 

b) Tiến trình thay đổi giáo dục và thi cử (1906-1918):

 

Học chế 14-9-1906: Sau thời gian thăm dò, Pháp bắt đầu tổ chức giáo dục Pháp Việt. Quyền toàn quyền Đông Dương là Broni ban hành học chế ngày 14-9-1906 quy định các trường học Việt Nam gồm ba cấp ấu học, tiểu học và trung học, đều có dạy quốc ngữ. Ai đậu kỳ thi cuối khóa cấp trung học, được gọi là thí sinh và sẽ được dự kỳ thi hương. (Louis Cury, La société annamite, les lettrés - les mandarins - le peuple (Thèse pour le doctorat), Paris: Jouve et Cie, Éditeurs, 1910, tt. 24-33. (Nghị định do quyền toàn quyền Broni ký ngày 14-9-1906.)

 

Vận động cải cách của các nhà khoa bảng Việt: Trong khi đó, các nhà khoa bảng cựu học cấp tiến vào đầu thế kỷ 20 do Phan Châu Trinh khởi xướng, mở phong trào Duy tân, vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho học, cổ xúy việc học quốc ngữ để nâng cao dân trí, vì một lý do đơn giản: quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho. Các ông vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục, 1907).

 

Học chánh tổng quy, bãi bỏ các kỳ thi Nho học: Từ năm 1909, quốc ngữ được đưa vào chương trình thi hương trên toàn Trung và Bắc Kỳ. Khi đến Đông Dương làm toàn quyền lần thứ hai từ năm 1917, Albert Sarraut ra nghị định 21-12-1917 về “Quy chế chung về ngành giáo dục công cộng ở Đông Dương” (Règlement général de l'instruction publique en Indochine), thường được gọi là “Học chánh tổng quy”, áp dụng cho toàn cõi Đông Dương để thay thế cho học chế Broni. Đặc biệt, phần cuối tổng quy nầy định rằng các trường chữ Nho của tư nhân hay của triều đình Huế, kể cả quốc tử giám, đều được xếp vào loại trường tư và phải tuân theo quy chế của chính quyền Pháp. (Dương Kinh Quốc, Việt Nam: Những sự kiện lịch sử (1858-1918), Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 1999, tt. 375-378.)

 

Sau “Học chánh tổng quy” năm 1917, thi hương bị bãi bỏ ngay ở Bắc Kỳ.

 

Ở Trung Kỳ còn kỳ thi Hương năm 1918, rồi chấm dứt luôn. Như thế là nền giáo dục Nho học hoàn toàn bị dẹp bỏ. Ở đây xin ghi nhận công ơn của sử gia Trần Trọng Kim. Khi Pháp thay đổi chữ viết và hệ thống giáo dục Việt Nam, Pháp âm mưu cắt đứt truyền thống dân tộc Việt, đào tạo các thế hệ thanh thiếu niên mới không biết chữ Nho, nên không thể đọc và học lịch sử đất nước vốn viết bằng chữ Nho. Sử gia Trần Trọng Kim đã có công soạn ngay bộ Việt Nam sử lược bằng quốc ngữ và ấn hành lần đầu năm 1920 tại Hà Nội (tức là ngay sau khi học chánh tổng quy của Albert Sarraut bãi bỏ Nho học), giúp cho lớp thanh thiếu niên mới, chỉ biết chữ Pháp và quốc ngữ mà không biết chữ Nho, có thể tiếp tục học lịch sử Việt Nam.

 

3.- ẢNH HƯỞNG VỀ ĐỀ TÀI VĂN HỌC

 

Đề tài yêu nước, tranh đấu: Văn chương chữ Hán cũng như văn chương chữ Nôm dưới thời nhà Nguyễn khá thịnh hành, thường xoay quanh đề tài ngâm vịnh, tả cảnh, tả tình nhẹ nhàng nhằm mục đích giải trí. Khi Pháp đánh chiếm và bảo hộ Việt Nam, sĩ phu chuyển hướng qua đề tài yêu nước và tranh đấu chống Pháp, bắt đầu từ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), qua thế hệ Phan Châu Trinh (1872-1926), Trần Quý Cáp (1870-1908), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), các tác giả trong Đông Kinh Nghĩa Thục và kéo dài đến năm 1945.

 

Văn chương lãng mạn: Cùng với sự du nhập văn hóa Pháp, các nền triết học, chính trị, văn học, nghệ thuật tây phương cũng tràn vào Việt Nam, tạo thành nguồn cảm hứng cho những đề tài mới mẻ. Lúc đầu nổi bật nhất là khuynh hướng văn chương tình cảm, lãng mạn và xã hội, từ Truyện thầy Lazaro Phiền của P. J. B. Nguyễn Trọng Quản do nhà xuất bản J. Linage ấn hành năm 1887 tại Sài Gòn, nghĩa là đúng 30 năm trước khi Nho học bị bãi bỏ theo học chế tổng quy của Albert Sarraut (1917).

 

Sau đó đến các tác giả Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, các tác giả Tự Lực Văn Đoàn... Ngoài truyện ngắn, tiểu thuyết, phong trào thơ lãng mạn rất thịnh hành một thời, xuất hiện nhiều thi sĩ danh tiếng mà hầu như ai cũng biết.

 

Chủ nghĩa cộng sản, tranh đấu giai cấp: Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập năm 1930. Từ đây, CS cổ xúy đề tài về chủ nghĩa CS, về tranh đấu giai cấp. Trong cuộc họp ban Thường vụ trung ương đảng CSĐD từ 25 đến 28-3-1943, tổng bí thư Trường Chinh đưa ra “Đề cương văn hóa Việt Nam”, đặt văn nghệ phục vụ chính trị.

 

Năm 1949, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm được lục địa Trung Hoa. Đầu năm 1950, Hồ Chí Minh qua Trung Quốc và Liên Xô xin viện trợ. Nhờ sự giúp đỡ của CSTQ, Việt Minh chiến thắng ở Đồng Khê ngày 16-9-1950, vừa củng cố thế lực Việt Minh, vừa mở cửa biên giới sang Trung Quốc. Tư đây, CSVN rập khuôn theo đường lối văn nghệ của CSTQ, mở cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân, thanh lọc hàng ngũ đảng CS.

 

Nếu trước đó, cho đến năm 1950, trong chiến khu Việt Minh, người ta còn nghe hát những bản nhạc lãng mạn như “Suối mơ”, “Thiên Thai”, thì sau đó trí thức văn nghệ sĩ phải dứt khoát theo chủ nghĩa cộng sản...

 

Từ đây, đề tài văn chương tại vùng CS hoàn toàn chuyển hướng qua đấu tranh giai cấp, ca tụng chủ nghĩa CS, lãnh tụ CS Việt Nam và thế giới... (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập 2, Quyền bính, bản điện tử, tiểu mục “Xiềng xích nhân văn”.)

 

Tiếp nối khuynh hướng lãng mạn: Cũng trong năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại ký kết với tổng thống Pháp là Vincent Auriol hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam. Quốc Gia Việt Nam chuyển qua giai đoạn hậu thuộc địa, nền văn học lãng mạn thời Pháp thuộc tiếp tục kéo dài thêm một thời gian cho đến khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.

 

4.- ẢNH HƯỞNG VỀ HÌNH THỨC VĂN HỌC

 

Chẳng những đề tài thay đổi theo những biến chuyển chính trị, mà hình thức văn chương Việt Nam cũng thay đổi theo thời cuộc.

 

Tiểu thuyết văn xuôi: Thời nhà Nguyễn, tiểu thuyết thường được viết bằng văn vần, thể lục bát hay song thất lục bát (Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc…). Qua thời Pháp thuộc, tiểu thuyết được viết bằng văn xuôi như người Pháp, mở đầu bằng Truyện thầy Lazaro Phiền của P. J. B. Nguyễn Trọng Quản năm 1887 (đã viết ở trên).

 

Truyện ngắn và truyện dài càng ngày càng nhiều ở cả Hà Nội lẫn Sài Gòn. Nhiều nhà văn bắt đầu dịch các truyện Tàu, sau đến dịch các truyện Pháp và truyện của các nước khác qua bản Pháp ngữ như truyện Nga, Mỹ, Đức... Bên cạnh truyện dịch còn có các truyện phóng tác theo các truyện Tây phương nhưng dựa trên khung cảnh xã hội Việt Nam.

 

Thơ mới: Trước đây, các thi sĩ cổ điển làm thơ Đường theo thể 8 câu 7 chữ, thơ 5 chữ (ngũ phong) và phú. Thơ Đường luật (8 câu 7 chữ) phải tuân niêm luật đối câu, đối chữ, đối nghĩa rất khó khăn, càng ngày càng ít người sử dụng. Thơ lục bát và song thất lục bát là hai thể thơ gốc từ người Việt, vẫn còn được sử dụng. Vào đầu thập niên 30, xuất hiện thể thơ mới. Bài “Tình già” của Phan Khôi (1887-1959) trên báo Phong Hóa (Hà Nội) ngày 24 janvier 1933 có thể là bài mở đầu cho phong trào thơ mới và thơ tự do rất phóng khoáng, không theo khuôn khổ thơ nhất định.

 

Các sinh hoạt văn học khác: Một hình thức văn học hoàn toàn mới mẻ với người Việt Nam là ngành báo chí, hết sức phong phú. Tờ báo tiếng Việt đầu tiên bằng thứ chữ mới là tờ Gia Định Báo, ra số đầu ngày 15-4-1865. (Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 [tái bản, hiệu đính và bổ sung], Nxb. TpHCM, 2000, tt. 55-59.) Báo chí phát triển nhanh chóng nhờ kỹ nghệ in càng ngày càng tân tiến và phổ thông. Ngoài ra, còn có những bài tùy bút (ngày nay gọi là bút ký), phê bình văn học, bình luận chính trị, bút chiến rất sôi động.

 

5.- ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH GENÈVE: HAI DÒNG VĂN HỌC

 

Một biến cố biến cố lịch sử lớn ảnh hưởng đến văn học Việt Nam là hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17.

 

Văn học ở Bắc Việt Nam: Dưới chế độ mới của cộng sản ở phía bắc vĩ tuyến 17 sau năm 1954, các văn nghệ sĩ Bắc Việt Nam (BVN) bị bắt buộc phải theo sát giáo điều Mác xít và đường lối chính sách của nhà nước, đến nỗi có người đã phát biểu: "Hai năm hòa bình, chúng ta thấy nhiều nhà văn (trước kia) có tài, (ngày nay) bị buộc chặt vào địa vị, bằng những sợi lụa có tẩm độc. Tác phẩm của họ (ngày nay) chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn, thông cáo..." (Phát biểu của thi sĩ Hoàng Huế gởi Đại hội Văn nghệ Toàn quốc, đăng trên Giai Phẩm Mùa Xuân, Hà Nội, 1956. (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, 1959, tt. 11-12.)

 

Nhiệm vụ mới của giới văn nghệ sĩ được Trường Chinh, uỷ viên Bộ chính trị đảng Lao Động (hậu thân của đảng CSĐD), Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (từ ngày 7-7-1960), quy định trong bài "Tăng cường tính đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa" đọc trước Đại hội Văn nghệ Bắc Việt năm 1962: " Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đường lối chính sách của đảng. Văn nghệ sĩ phải trung thành với lý tưởng cộng sản và đấu tranh không mệt mỏi cho chủ nghĩa xã hội. Văn nghệ sĩ bằng hoạt động văn nghệ và hoạt động xã hội của mình cần luôn luôn phấn đấu để tăng cường sự lãnh đạo của đảng, củng cố lòng tin của quần chúng đối với đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin..." (Thân Trọng Mẫn: "Từ phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đến Cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989",trong tuyển tập nhiều tác giả Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, California: Nxb. Lê Trần, 1990, tr. 24.)

 

Vì vậy văn học BVN từ 1954 đến 1975 chỉ sôi động giai đoạn từ 1954 đến 1956 khi các văn nghệ sĩ vận động đòi quyền tự do sáng tác và yêu cầu đảng CS, lúc đó có tên là đảng Lao Động (LĐ) đừng can thiệp công việc sáng tác của họ. Đảng LĐ liền thanh trừng, đàn áp, bắt bớ, tù đày những văn nghệ sĩ nầy, tạo ra vụ án “Nhân văn và Giai phẩm”. Văn nghệ sĩ BVN trở thành những văn công của đảng, phục vụ công cuộc cai trị độc tài và nhất là cuộc xâm lăng miền Nam từ năm 1 BVN “chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn, thông cáo...” đúng như thi sĩ Hoàng Huế đã phát biểu.

 

Văn học Nam Việt Nam: Nếu BVN hoàn toàn bưng bít, thì ngược lại, Nam Việt Nam (NVN) chủ trương tự do tư tưởng, tự do sáng tác, mở cửa đón nhận tất cả các luồng văn hóa mới từ nhiều nước khác nhau. Ngoài văn hóa Pháp và Âu Châu, nền văn hóa Hoa Kỳ tràn vào NVN khi người Mỹ càng ngày càng đông đảo ở NVN và sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ du học. Chẳng những văn học mà cả âm nhạc và điện ảnh Hoa Kỳ ảnh hưởng mạnh đến giới trẻ Việt Nam.

 

Điểm đặc biệt là dù NVN phải chống trả cuộc xâm lăng của BVN, văn nghệ sĩ NVN được tự do sáng tác nên nền văn học nghệ thuật NVN rất phong phú, đa dạng. Bên cạnh những tác phẩm chiến đấu, lại xuất hiện nhiều văn thơ và nhất là ca nhạc thở than uỷ mỵ. Từ sự uỷ mỵ nầy, nhiều tác phẩm phản chiến xuất hiện, làm xói mòn và sa sút rất nhiều tinh thần chiến đấu của chiến sĩ ngoài tiền tuyến.

 

Tự do sáng tác tạo nên một khác biệt lớn lao giữa chế độ miền Nam tự do dân chủ với chế độ miền Bắc cộng sản độc tài. Đây là một ưu điểm của NVN, nhưng đồng thời cũng là một nhược điểm của NVN vì BVN không bỏ qua cơ hội lợi dụng quyền tự do sáng tác để gây suy nhược tinh thần chiến sĩ, làm rối loạn và băng hoại xã hội miền Nam.

 

6.- ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH PARIS: VĂN HỌC HẢI NGOẠI

 

Sau hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Hoa Kỳ rút quân khỏi NVN và ngưng viện trợ cho NVN. Nam Việt Nam một mình tiếp tục chiến đấu chống cuộc xâm lăng của BVN. Trong khi đó, BVN vẫn được Liên Xô và Trung Cộng viện trợ đầy đủ, và còn viện trợ gấp 4 lần so với trước hiệp định Paris. Cuối cùng NVN thất bại ngày 30-4-1975. Cộng sản BVN chiếm được toàn thể lãnh thổ Việt Nam.

 

Ở trong nước sau năm 1975, văn nghệ sĩ bị gò bó theo giáo điều CS, chỉ được ca tụng thành quả của đảng CS, ca tụng những gương anh hùng xã hội chủ nghĩa, đả kích những người vượt biên là những người phản quốc... Đảng CSVN kiểm soát rất chặt chẽ các sinh hoạt văn hóa, sáng tác.

 

Sau ngày 30-4-1975, nhiều người bỏ nước ra đi tìm tự do và định cử ở nước ngoài. Người Việt nước ngoài càng ngày càng đông, hoàn toàn tự do sáng tác đủ loại đề tài. Càng ngày đề tài của văn nghệ sĩ hải ngoại càng mở rộng, đa dạng. Nhờ tự do dân chủ, nhờ điều kiện học hành thoải mái, người Việt ở hải ngoại có thể sáng tác, nghiên cứu tất cả các đề tài văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội mà không bị cấm đoán. Có nhiều người viết tiếng Anh hay tiếng Pháp tùy theo địa phương cư trú. Tính theo tỷ lệ dân số, số lượng tác phẩm xuất hiện ở hải ngoại rất dồi dào so với tác phẩm ở trong nước.

 

Nhà nước CS cho rằng nền văn học hải ngoại là nền văn học phản động, lưu vong, mất gốc, nhưng thực tế cho thấy nền văn học Việt Nam hải ngoại tiếp nối nền văn học NVN hay Việt Nam Cộng Hòa, dựa trên căn bản truyền thống dân tộc cổ truyền, trong khi người Việt tiếp thu thêm những tinh hoa văn hóa nước ngoài khi đến định cư tại các nước trên thế giới. Trong tương lai, một khi chế độ cộng sản bị giải thể, chắc chắn nền văn học nghệ thuật hải ngoại sẽ hồi hương và sẽ là nền tảng thúc đẩy nền văn học nghệ thuật trong nước phát triển trở lại.

 

7.- ẢNH HƯỞNG CỦA COMPUTER VÀ INTERNET

 

Khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ vừa qua, sự phát triển của computer và Internet là một biến cố lịch sử trọng đại, có thể xem là cuộc cách mạng kỹ nghệ thế giới lần thứ hai, làm thay đổi toàn bộ xã hội các nước trên thế giới, kể cả Việt Nam cộng sản.

 

Computer giúp việc học hỏi, nghiên cứu, sáng tác dễ dàng, nhanh chóng.

 

Ngành computer hải ngoại phát triển mạnh và sớm hơn trong nước là một trong những lý do mà người Việt ở hải ngoại sáng tác nhiều hơn ở trong nước.

 

Sự bộc phát của computer đi kèm với sự bùng nổ của Internet, nhất là những trang web xuất hiện vào đầu thập niên 90. Tuy cố gắng ngăn cản, nhưng CS không thể chận đứng hoàn toàn Internet. Qua computer và internet, dân chúng trong nước có thể truy cập được những thông tin, sách báo ở hải ngoại mà lâu nay CSVN bưng bít, che đậy, giấu diếm. Nhờ đó, dân trí trong nước dần dần lên cao trở lại.

 

Trước đây, CSVN kiểm soát việc in ấn sách báo trên giấy rất chặt chẽ. Ngày nay, các văn nghệ sĩ trong nước chỉ cần phóng lên mạng thông tin toàn cầu sáng tác của mình, thì người Việt trong nước và trên khắp toàn cầu đọc ngay được dễ dàng. Điều nầy kích thích văn nghệ sĩ trong nước sáng tác mạnh mẽ hơn, và đề tài tự do đa dạng hơn, chứ không còn bị gò bó trong giáo điều CS.

 

Thên mữa, các blog xuất hiện càng ngày càng nhiều, vừa giải trí, vừa thông tin, vừa giải bày tâm sự, vừa tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ một cách bất bạo động. Ai cũng có thể viết blog, ai cũng có thể mở facebook.

 

Một mặt CS xây dựng bức tường lửa, ngăn chận thông tin trên Internet, một mặt công an CS truy lùng, bắt giam, tù đày những người viết mà CS kết tội là phản động, nhưng sự xuất hiện của computer và Internet tạo hoàn cảnh thuận tiện cho “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” ở trong nước, và thúc đẩy nền văn học trong nước nhảy vọt đáng kể trong thời gian gần đây.

 

Ngoài ra, khi nền kinh tế chỉ huy của CS suy sụp, đảng CS bắt buộc phải mở cửa, chuyển qua kinh tế thị trường tức kinh tế tự do để cứu nguy cho đảng CS. Từ đó Việt Nam dần dần tiến vào thị trường thế giới, dầu nhà nước CS vẫn “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khi Việt Nam mở cửa, các nước trên thế giới, nhất là các tổ chức theo dõi nhân quyền, đã can thiệp, giúp đỡ cho văn nghệ sĩ trong nước mạnh dạn đề cập đến nhiều đề tài mà lâu nay bị CS cấm kỵ.

 

KẾT LUẬN

 

Lịch sử là quá khứ của con người. Văn học là sàn phẩm của con người.

 

Lịch sử luôn luôn tác động đến văn học và ngược lại văn học phản ảnh những biến chuyển lịch sử. Những thay đổi lớn lao trong lịch sử Việt Nam từ 1884 cho đến nay làm cho văn học thay đổi mạnh mẽ đồng thời cũng được các tác phẩm văn học ghi lại dấu ấn khá rõ ràng.

 

Khi bị Pháp bảo hộ năm 1884, nền văn học bị ảnh hưởng tận gốc rễ do việc thay đổi chữ viết, hệ thống giáo dục và văn hóa. Người Pháp muốn cắt đứt truyền thống quá khứ để đào tạo một thế hệ trí thức mới, phục vụ chế độ Pháp thuộc. Nền văn học từ thời Pháp thuộc hoàn toàn khác biệt với nền văn học cổ điển, từ hình thức đến nội dung.

 

Sau thời Pháp thuộc, từ năm 1945 cho đến nay, lịch sử Việt Nam trải qua những thay đổi chính trị lớn lao nên văn học cũng trải qua những biến thái lớn lao về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên, có thể do hoàn cảnh gò bó về chính trị ở trong nước, hoàn cảnh khó khăn khi mới lập nghiệp ở nước ngoài, nên chưa xuất hiện những tác phẩm văn chương khai thác hết những góc cạnh lịch sử Việt Nam vừa qua, tạo ra những tác phẩm vĩ đại như Cuốn theo chiều gió của Magaret Mitchell (Hoa Kỳ) hay Chiến tranh và hòa bình của Leon Tolstoi (Nga). Hy vọng, một khi đất nước thực sự tự do dân chủ, thanh bình thịnh trị, người Việt trong và ngoài nước bình tâm sáng tác, sẽ xuất hiện những tác phẩm văn chương lớn, phản chiếu lại toàn cảnh lịch sử đầy giông bão của đất nước chúng ta từ thế kỷ 19 cho đến ngày nay.

 

TRẦN GIA PHỤNG

 

 

Về cải cách sắp tới ở TQ: một cuộc trốc rễ vĩ đại


Về cải cách sắp tới ở TQ: một cuộc trốc rễ vĩ đại

 

 

Vũ Quang Việt

 

 

      Dù không nói ra, nhưng chính sách thành thị hóa [của Trung Quốc] rõ ràng là chính sách kích cầu lần thứ hai và có thể tốn kém hơn nhiều. Trừ trường hợp tạo thần kỳ lần hai, chính sách trên nếu đi quá đà có thể làm nền kinh tế TQ phá sản.

      Việt Nam có lẽ chẳng có một viễn kiến gì từ thành thị hóa đến phát triển nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam có ngày nay là tự dân chúng vận động sau khi nhà nước không còn kiểm soát giá. Nhưng cho đến nay nhà nước vẫn áp dụng một số chính sách lỗi thời và vi phạm nhân quyền [...] Tất nhiên quyền của nông dân Việt Nam hiện nay không hơn nông nô ngày trước vì đất đai không thuộc họ mà thuộc sở hữu “toàn dân”, cơ bản do quan lại định đoạt.

      Vũ Quang Việt

 

Tờ Thời báo New York (New York Times) đã cho xuất bản loạt bài với tựa đề Cuộc trốc rễ vĩ đại ở Trung Quốc: đẩy 250 triệu người vào thành phố <http://www.nytimes.com/2013/06/16/world/asia/chinas-great-uprooting-moving-250-million-into-cities.html> , và Cạm bẫy đón chờ chính sách thúc ép từ nông thôn vào thành thị ở TQ. <http://www.nytimes.com/2013/07/14/world/asia/pitfalls-abound-in-chinas-push-from-farm-to-city.html?_r=0> Bài báo nói về chính sách của Thủ tướng mới Lý khắc Cường, đã tuyên bố khi nhậm chức là thành thị hóa là một trong những ưu tiên hàng đầu. Chủ trương và kế hoạch cụ thể chưa chính thức ra đời, tuy nhiên ở khắp nơi chủ trương này đã đang trong được thực hiện.

Theo kế hoạch này, cứ mỗi năm 21 triệu người từ nông thôn sẽ được đưa vào thành thị và đến năm 2025 250 triệu nông dân sẽ biến thành thị dân, nâng tổng số thị dân lên 70% dân (nếu lấy thông kê bây giờ thì với dân số TQ là 1.300 triệu sẽ có 900 triệu ngườilà thị dân).

Một số nhà  kinh tế cho rằng mỗi năm phải chi tới $600 tỷ USD cho chương trình này, trong đó có việc xây hạ tầng cơ sở cho trung tâm đô thị, trường học, nhà thương, nhà ở.  Các quan chức TQ hy vọng sẽ đẩy mạnh chi tiêu của dân TQ, như TV, tủ lạnh, hàng hóa, v.v. Và chương trình này thật ra đã bắt đầu rồi; nhiều nông dân sau khi bị tập trung vào các khu phố, theo bài báo, đã hồ hởi mua TV, tủ lạnh nhưng rồi không dám dùng vì tiền điện quá đắt không đủ khả năng trả.

 <http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2013/07/image00121.jpg> Ảnh trên báo New York Times Theo bài báo, nông dân sẽ được trợ cấp về nhà ở (1/4 cho không, 1/4 vay không lãi suất, còn lại 2/4 là phải tự trả). Không rõ phần đất nông thôn sẽ được đền bù như thế nào.Nhưng ở Trùng Khánh, cuộc điều tra năm 2011 đã cho thấy là 43% nông dân cho rằng quan chức chính quyền đã cướp hoặc định cướp đất của họ, so với 29% trong cuộc điều tra năm 2008 (n a 2008 survey).

Một số câu hỏi được đặt ra là:

1. Chính sách thành thị hóa này có đúng không?

2. Nếu những người bị thành thị hóa này không có việc làm ở thành phố thì họ lấy tiền đâu để trả và chi tiêu ở mức cao hơn này (kế hoạch chạy theo số người bị đẩy vào thành phố hình như không đi với kế hoạch tạo việc làm?) 3. Chính sách ở TQ có thật sự tự nguyện không? (Theo bài báo thì không vì nhiều nông dân đã bị bắt buộc rồi).

4. Nhà nước lấy tiền đâu để chi cho chương trình này? Sẽ có tham nhũng, lạm phát không?

5. Nhà nước làm gì với đất nông nghiệp?

Ở đây tôi sẽ trả lời hai trong số những câu hỏi đặt ra ở trên.

Chính sách thành thị hóa có đúng không?

Về vấn đề này, tôi nghĩ TQ có cái nhìn đúng, đó là: phát triển đi liền với thành thị hóa, và nếu thành thị hóa được hoạch định tốt thì nông dân sẽ không tự chạy ồ ạt vào một vài thành phố. Đất nông nghiệp do đó có thể sử dụng hiệu quả hơn bởi những nông dân còn ở lại.

Kết luận như trên vì lịch sử phát triển cho thấy phát triển đi liền với thành thị hóa. Hiện tượng thành thị hóa xảy ra ở mọi nơi, mọi nước và thay đổi theo thời gian không có ngoài lệ. Càng phát triển thì tỷ lệ thành thị hóa càng cao. Các nước ở Bắc Mỹ dân đô thị đã chiếm hơn 85% dân số. Các nước châu Âu từ năm 1950 đến nay đã đẩy tỷ lệ thành thị hóa từ 17% lên gần 65%.


Nguồn: United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division: World Urbanization Không những thế, tỷ lệ nông dân và số nông dân tuyệt đối như ở Mỹ cũng giảm; năm 1980 có 3.3 triệu người hoạt động trong ngành nông nghiệp và liên quan, năm 2010 chỉ còn 2.2 triệu so với tổng số lực lượng lao động là 139 triệu. Như vậy, ngành nông nghiệp chỉ còn 1.6% lực lượng lao động và bằng 0.7% dân số. Họ dư thừa nông sản nên dù xuất khẩu khắp thế giới vẫn phải áp dụng chính sách trả tiền để đất hoang để hạn chế sản lượng. Còn ở Việt Nam hiện nay, số lao động sản xuất nông nghiệp là 48.4% (số này kể cả lao động lâm sản và thủy sản, nhưng số lao động lâm sản và thủy sản rất nhỏ) và dân nông thôn chiếm 70% dân số. Dân số thành thị dù đã tăng nhiều từ sau năm 1975 nhưng vẫn chỉ có 29% dân.

Liên Hiệp Quốc (UNFPA) tất nhiên cho rằng thành thị hóa là điều không tránh khỏi vì thành thị tạo nên lợi ích về kinh tế, dễ dàng trao đổi thông tin, dịch vụ và do đó gắn bó các hoạt động sản xuất, dễ dàng cho việc xây dựng và quản lý hạ tầng cơ sở, y tế và giáo dục, tạo thị trường việc làm, và tất nhiên làm tăng năng suất lao động và thu nhập. Không thể để đô thị tự phát phát triển như vết dầu loang, chỉ tập trung vào thành phố cực lớn (mega-city) nhưng LHQ cho rằng quá trình thành thị hóa phải:

(1) Tôn trọng quyền con người và quyền của người nghèo được sống ở thành phố. Các chính sách cấm đoán di dân vào thành phố, hạn chế quyền lợi về giáo dục và y tế đối với những người di dân vừa vi phạm nhân quyền vừa không giải quyết được vấn đề.

(2)  Phải có một tầm nhìn dài và rộng nhằm giảm đói nghèo và bảo đảm phát triển. Phải quyhoạch để người dân có nhà ở, tiếp cận được với điện, nước và giao thông.

Tuy nhiên ta thấy cho đến mới đây ở Trung Quốc, chính sách hộ khẩu là một chính sách cản trở nông dân vào thành phố, và nếu họ chui luồn vào được thì họ và con cái họ mất mọi quyền lợi của một công dân bình thường như được nhận dịch vụ y tế và giáo dục miễn phí, v.v. Bây giờ TQ nhìn thấy vấn đề là thành thị hóa là điều không thể tránh được thì họ chủ động làm nhưng lại làm một cách áp đặt là ép dân chúng nông thôn tập trung vào thành thị mới. Điều này khác hẳn với phương Tây. Ở phương Tây, quá trình thành thị hóa rất tự nhiên, vì sức hút của các trung tâm thành thị do thu nhập cao hơn. Vai trò của nhà nước ở phương tây là cả trăm năm trước họ đã nhìn thấy vấn đề và đã hoạch định thành phố rất tốt. Ngược lại, ở VN và nhiều nước châu Á, thành thị hóa hoàn toàn vô tổ chức và hầu hết là để các thành phố cũ tự mở rộng như vết dầu loang một cách vô tổ chức.

Trung Quốc có thể thành công với chương trình thành thị hóa này không?

Chính sách thành thị hóa này (TQ gọi là thành trấn hóa, còn VN có khi gọi là đô thị hóa) theo TQ là nhằm đẩy mạnh tiêu dùng, qua đó đẩy mạnh ngành công nghiệp xây dựng và hàng hóa tiêu dùng như tv, tủ lạnh, v.v.

Theo Thống kê mà tôi có được từ Cục Thống kê TQ, thì tỷ lệ thu nhập của hộ gia đình trong tổng thu nhập của cả nước giảm từ 67.5% năm 1996 xuống 57.2% năm 2008. TQ muốn tăng tỷ lệ thu nhập của hộ gia đình và từ đó tăng sức mua của dân chúng, vì từ lâu họ cho rằng chính sách của nhà nước TQ là nhằm trả lương thấp, tăng lợi nhuận doanh nghiệp, tạo cạnh tranh về giá thành nhằm xuất khẩu và nhằm thu hút đầu tư nước ngoài để tập trung vào đầu tư phát triển. Từ nhiều năm nay, các nhà chính sách TQ bàn luận rất nhiều về chính sách này.

Lý Khắc cương coi đây là chính sách chuyển đầu tư sang tiêu dùng. Tôi thì nghĩ ngược lại. Chuyển hướng thành thị hóa đòi hỏi đầu tư lớn, mà như tính toán của một số nhà kinh tế để chuyển 250 triệu dân vào các khu vực thị trấn, chi phí hàng năm có thể lên tới $600 tỷ US.  So với số chi ngân sách của TQ của năm 2011 là $1.685 tỷ US, chi phí thêm hàng năm vào chương trình thành thị hóa sẽ chiếm đến 35.6% ngân sách. Con số chi này còn vĩ đại hơn nhiều so với con số chi kích cầu những năm 2008-2011. Số liệu thống kê những năm này cho thấy bình thường trước đó TQ chi ngân sách là khoảng 18.7 % GDP, nhưng những năm kích cầu, TQ tăng tỷ lệ chi lên 22.4%, tức là tăng thêm 3.7% GDP. Như vậy trong 3 năm 2009-2011, TQ chi toàn bộ là hơn $800 tỷ để kích cầu, và mỗi năm trung bình là $268 tỷ. Con số dự định chi hàng năm $600 tỷ là con số quá lớn, không thể nói là không kích cầu. Chương trình này không nhằm xuất khẩu do đó nó có rất nhiều khả năng kích lạm phát và kích tham nhũng, có thể dẫn tới việc nông dân do bị áp đặt và tham nhũng trở thành kẻ thù của nhà nước. Nhìn vào số liệu tốc độ phát triển của kinh tế Trung Quốc ở dưới, ta thấy kích cầu những năm 2009-2010 chỉ thành công lúc đầu nhưng rồi giảm dần. Dù không nói ra, nhưng chính sách thành thị hóa rõ ràng là chính sách kích cầu lần thứ hai và có thể tốn kém hơn nhiều. Trừ trường hợp tạo thần kỳ lần hai, chính sách trên nếu đi quá đà có thể làm nền kinh tế TQ phá sản. Làm sao tăng lương? và nếu tăng lương liệu TQ có thể đi vào cạnh tranh ở các công nghệ tiên tiến hơn với năng suất cao hơn để phù hợp với lương cao hơn không?

 <http://www.boxitvn.net/wp-admin/admin-ajax.php?action=imgedit-preview&_ajax_nonce=beaa7ba1c3&postid=17675&rand=85530> Nhìn lại Việt Nam Việt Nam có lẽ chẳng có một viễn kiến gì từ thành thị hóa đến phát triển nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam có ngày nay là tự dân chúng vận động sau khi nhà nước không còn kiểm soát giá. Nhưng cho đến nay nhà nước vẫn áp dụng một số chính sách lỗi thời và vi phạm nhân quyền sau:

1. Tiếp tục áp dụng chính sách hộ khẩu của TQ dù có thay đổi một phần. Điều này chỉ bần cùng hóa nông dân. Lý luận của nhà nước là giữ chặt nông dân ở nông thôn với chính sách “ly nông nhưng không ly hương”.

2. Tiếp tục chính sách đòi hỏi nông dân trồng lúa vì cái gọi là “an ninh lương thực”. Các nước đều có quy định/quy hoạch khu đất đất nông nghiệp, đất rừng, khu thương mại, khu nhà ở và khu công nghiệp. Tuy nhiên đối với khu đất nông nghiệp, người dân được toàn quyền chọn cây trồng và giống nuôi. Không thể ép nông dân cứ trồng lúa khi giá lúa quá thấp vì mức sản xuất quá lớn phải xuất khẩu hàng năm. Tất nhiên quyền của nông dân Việt Nam hiện nay không hơn nông nô ngày trước vì đất đai không thuộc họ mà thuộc sở hữu “toàn dân”, cơ bản do quan lại định đoạt.

3. Dân số ngày càng tăng, đất đai thì không thể tăng cho nên đất đai khai thác sau khi phân chia trở nên manh mún khó đẩy mạnh việc chuyển trồng lúa sang trồng cây thương nghiệp hay chăn nuôi lớn.

***

Chúng ta nên theo dõi kế hoạch thành thị hóa này của TQ, không phải để bắt chước nó mà để tìm ra cách làm hay hơn, nhân đạo hơn và phù hợp với sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Nếu không thế chúng ta sẽ bịt mắt chạy theo anh cả [Trung Cộng] một cách điên rồ.

V.Q.V.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link