Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 16, 2013

Không Gian và Lương Tri Việt


 




Không Gian và Lương Tri Việt





Để thấy rõ những liên quan mật thiết giửa người Việt “trong và ngoài” nước, chúng ta hãy xét kỹ hai nguyên tắc và cũng là hai thành tố của cùng một thực thể.  Đó là không gian và lương tri Việt.

I. Không Gian Việt

1. Đối với người Việt “trong” nước, Không Gian Việt trước đây là giang sơn, núi rừng, biển đảo, là đất đai nhà cửa, nơi thờ phụng linh thiêng, ruộng vườn và mồ mả ông cha để lại.  Tất cả những gì chính đáng phải bảo trọng toàn vẹn, từ mặt pháp lý tới văn hoá, từ văn tự hợp pháp tới văn phong chính trực.

Vậy, cái Không Gian Việt của gần 90 triệu dân trong nước còn hiện hữu, đầy đủ, vẹn toàn hay không?

Không Gian Việt của người Việt trong nước có phải là một tài sản chung của “thổ dân”, của người dân đang sinh sống tại đó? Do dân đứng tên, do dân sở hữu và quản trị?

Hay đối với đa số người Việt trong nước, Không Gian Việt phải chăng chỉ còn là một hiện tượng trống rỗng, tha hoá, như một “nước lạ” mà người trong nước chỉ là kẻ ở đợ, sống ngoài lề xã hội chủ nghĩa hay ngoài vỉa hè của “lãnh thổ”, trên phao nổi của “lãnh hải”, bất bình, bất định, trôi dạt tạm bợ ngay trên “đất nước” ông cha để lại, với mồ hôi nước mắt, với máu mủ truyền thống.

Không Gian của đa số người Việt trong nước chỉ còn là một “không gian ảo”, một mảnh giấy vụn với những sơ đồ địa hạt thất tung, xoá bỏ, với những bằng khoán pháp lý bị khước từ, với những tài liệu chấp hữu giả tạo, man khai, cưỡng ép.

Không Gian Việt của người Việt trong nước thực sự là một không gian vô chủ chính thức, nay trong tay những kẻ chấp hữu bất chính và những tên cướp ngày võ đoán, vô liêm sỉ.

Tuy nhiên về mặt pháp lý và công lý căn bản, đối với đa số người Việt “ở đợ” trong nước, Không Gian Việt đó vẫn là một gia tài bất khả tước đoạt, vẫn là của họ, nên cần truy lùng và đòi lại từ tay kẻ cướp đoạt.

2. Đối với người Việt “ngoài” nước, Không Gian Việt vốn là giang sơn, núi rừng, biển đảo, là đất đai nhà cửa, nơi thờ phụng linh thiêng, ruộng vườn và mồ mả ông cha để lại, với đầy đủ tài liệu chứng minh về mặt pháp lý, văn hoá, truyền thống, liên hệ gia đình.

Đối với họ, Không Gian Việt vẫn là một thực thể không thể bị trao đổi, truyền nhượng ngoài ý muốn của sở hữu chủ chính danh, không thể bị cầm cố, hủy bỏ, hay tước đọat khi họ vắng mặt.

Thử lấy một tỷ dụ dễ hiểu, cận đại: ông NKA, sở hữu chủ một căn nhà, vườn tược tại thành phố San Jose, California.  Vì một biến cố nào đó, đương sự đi xa làm việc tại Boston, MA hay vượt biên sinh sống tại Vancouver, Canada.  Bỗng dưng có kẻ lạ, hay tên hàng xóm bất lương tới chiếm cứ tài sản, phá cửa ngõ vào chấp hữu toàn diện căn phố, đất đai, cây cối, vườn tược.  Rồi vỗ ngực rêu rao làm chủ thực tại “de facto” những của cải cướp đoạt, hay làm giả văn kiện chấp hữu, mua bán trao tay giữa kẻ gian này tới kẻ gian khác [mua lại đồ ăn cắp, tước đoạt].

Có ai vô lý, bất nhân tâm đến độ coi nạn nhân NKA bị tước đoạt tài sản là kẻ “ngoại cuộc”, ngoại lai, vô tư cách khiếu nại, truy sách đòi lại của cải mất mát mà đương sự vẫn đủ bằng khoán tư hữu?!

Vậy có ai bất nhân, bất công cho rằng người tỵ nạn cộng sản Việt Nam [VTNCSVN] nay ở nước ngoài đương nhiên phải mất nhà, mất cửa, phải mất quê hương xứ sở cho lũ cướp ngày, tàn bạo, võ đoán, lũ người thường vỗ ngực “vô sản chuyên chính”, nay lô diện mafia gian lận tư bản đỏ.

Đối với đa số người Việt tỵ nạn CSVN [VTNCSVN] nay cư ngụ nơi đất khách quê người, Không Gian Việt vẫn là một thực thể nguyên vẹn: đa số người VTNCSVN thường nghĩ, thường nói: “tôi không ở đất nước, đất nước ở trong tôi”.  Giản dị và trung thực như vậy.

Đối với đa số người VTNCSVN nay cư ngụ nơi đất khách quê người, Không Gian Việt đó tuy vắng chủ chính thức vẫn là một gia tài bất khả tước đoạt, vẫn là của họ, nên cần truy lùng và đòi lại từ tay kẻ cướp đoạt.

Như vậy, đối với toàn dân dù tỵ nạn “trong nước”, hay tỵ nạn “ngoài nước”, Không Gian Việt đó vẫn chỉ là một gia tài bị tước đoạt một cách bất chính, bằng vũ lực, súng ống, hay bằng giấy tờ sang đoạt giả mạo.

Ở khía cạnh pháp lý, truyền thống máu mủ, tâm linh, tình cảm, Không Gian Việt đó vẫn nguyên vẹn của toàn thể hay đa số người Việt chân chính.  Không Gian Việt vẫn chờ đợi sự khiếu nại, truy sách, đòi lại của những người sở hữu chủ chân chính, thực sự. Mọi sự chấp hữu bất chính, bằng vũ lực, chuyển tay gian lận, đều vô hiệu, phải hủy bỏ.

Vậy, trong Không Gian Việt toàn diện, toàn cõi này, xin miễn phân chia người Việt “trong và ngoài” nước, vì Không Gian Việt bao gồm cả giang sơn thực thể và giang sơn bị tạm bợ tước đoạt, đang truy sách, đòi lại. Nên gọi họ là người Việt-phương-Tây và người Việt-phương-Đông là chí lý, hợp tình hợp nghĩa hơn cả.

Thật vậy, Không Gian Việt đó chỉ là một, dù đa dạng về mặt địa lý, vị trí, cai quản.  Nên không thể phân chia sai lầm – trong nước và ngoài nước — để truất phế, khai trừ người vắng mặt.  Không Gian Việt chỉ là một thực thể, mà bất cứ ở khía cạnh nào, bên trái, bên phải, nam bắc, đông tây, vẫn chỉ là một không gian độc nhất.  Bất cứ chỗ nào cũng là trọng tâm, trọng điểm của toàn thể Không Gian Việt bất khả chia tách, bất khả tước đoạt.  Bất cứ chỗ nào cũng có thể là điểm nóng, là chiến tuyến chống và khai trừ kẻ xâm lăng, kẻ thù chung, dù đó là nội thù tức CSVN hay ngoại thù tức Hán Cộng và bất cứ kẻ láng giềng bất lương, bất hảo nào khác.

Về mặt văn hoá, văn chương, mỹ thuật, kể cả về mặt tình cảm, Không Gian Việt không thể bị giới hạn ở bờ cõi lãnh thổ, lãnh hải, mà còn lan rộng tới những chân trời vô tận.  Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, những bài hát dân gian, khi được chuyển ngữ sang Anh văn, Pháp văn sẽ hội nhập kiến thức và tâm hồn của biết bao cộng đồng văn hoá khác trên thế giới đang tìm kiếm, thưởng ngoạn, chọn lựa những giá trị sáng tạo từ nguồn gốc Việt.  Đã biết bao nhiêu dịch giả, nhà văn Việt-phương-Tây đang làm công việc khai mở bờ cõi văn hoá, tư tưởng cuả Không Gian Việt ngay trong lòng không gian nhân loại, đa nguyên, đa dạng.

Về mặt chiến lược, ngoại giao và ảnh hưởng nơi tập đoàn thế giới, chúng ta hay nhắc tới thế “nhiệm cách”, đại diện và ảnh hưởng sâu đậm của cộng đồng Do Thái tại các nước Tây phương và nhất là tại Hoa Kỳ.  Chắc chăn người Do Thái sẽ không có phương tiện và kỹ thuật thành lập đất nước họ một cách hữu hiệu như vậy, trong thời điểm lịch sử 1948, hay không thể gìn giữ nước Israel cho tới ngày nay nếu không có áp lực và sức chống đỡ chiến lược của người Mỹ gốc Do Thái, hay của người Do Thái đang sinh sống, lập nghiệp tại Hoa Kỳ.

Về mặt quốc tế công pháp, người di dân tại Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Úc vẫn có quyền có song tịch [dual citizenship].  Như vậy, người Việt-phương-Tây khi muốn, hay nếu cần, vẫn có quyền coi mình có quốc tịch Việt.

II. Lương Tri Việt

Như xác định phía trên, Không Gian Việt chỉ là một đối với người Việt bất cứ ở đâu, phương Đông và phương Tây.  Dù họ có ở những vị trí, bờ cõi khác nhau, những Tiểu Bang, những Nước khác nhau, họ vẫn có cái Không Gian Việt của họ, nếu họ muốn gìn giữ, bảo trọng, nếu thực tâm, họ chưa khước từ, bác bỏ.

Vậy người Việt bất cứ ở đâu, nếu họ muốn, nếu họ chọn, vẫn là người Việt.  Do đó, về mặt thuần lý, lương tri của người Việt bất cứ ở đâu, tại phương Đông hay tại phương Tây vẫn chỉ là một khả năng, một cơ hội hiểu biết đứng đắn về sự thật, về những phải trái rõ rệt, mà lịch sử và đời sống chứng tỏ nguyên hình, nguyên trạng.

Sự thật đó, cả nước và hầu như toàn dân, kể cả những đảng viên sáng suốt đều thấy rõ CSVN sai lầm từ lúc sơ khởi cướp nước; CSVN hại dân một cách liên tục, thâm độc, và nhất là không hề biết hối cải, ăn năn dù một lần chân thực.

Vậy trong khi CSVN quyết tâm bám chặt định hướng xã hội chủ nghĩa, tận dụng vị thế siêu quyền lực để củng cố đảng phiệt, độc quyền thao túng thị trường, độc quyền tham nhũng và gây thảm hoạ cho đất nước, cho dân tộc, thì đa số người Việt tỵ nạn cộng sản ở bất cứ đâu, phương Đông hay phương Tây vẫn phải giữ vững lương tri và lập trường — vừa đề cao cảnh giác trước tai ương lịch sử, vừa chuẩn bị cho giai đoạn tái thiết đất nước khi CSVN cáo chung, khi đảng phiệt này tự nổ hay bị giải thể.

Tranh đấu CSVN-Mafia bằng trí giác, bằng lời lẽ minh bạch nêu cao sự thật và đại nghĩa là lương tri chính xác nhất, khi mục đích là chuyển lực và kết sinh bênh vực người dân, bất cứ ở đâu, giúp họ thêm kiến thức, thêm phương tiện và kỹ thuật vượt cộng, hầu dứt bỏ đời sống tăm tối, để tự tay tạo dựng và duy trì một tương lai tốt đẹp, tử tế, đầy đủ về mặt vật chất lẫn tinh thần.

Người Việt bất cứ ở đâu chỉ nên có một thứ lương tri toàn diện: bảo trọng sự thật, thực hiện quyền sống trọn vẹn, có giá trị cho mình và cho người khác.  Đem an sinh và phúc lợi chung cho đa số dân tộc Việt, và nếu có cơ hội, ra tay giúp đỡ nhân loại bất cứ là ai, bất cứ ở đâu, thì càng hay, càng quý.

Do đó, Lương Tri Việt có thể biểu hiện song phương hay đa phương, song ngôn hay qua nhiều tiếng nói xây dựng khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn chung một giá trị, một định hướng hợp lý, hợp tình: bảo trọng và phục vụ quyền lợi chung cua dân tộc, của con người.

Lương Tri Việt chân chính không những nhằm chống và vượt Cộng sản khắp nơi, tại phương Đông, lẫn phương Tây, mà còn phải nỗ lực chống và vượt thắng mọi hà tì, sai quấy từ bất cứ thành phần phản nước hại dân nào khác.  Mục đích vẫn chỉ là bảo trọng sự thật và phục vụ quyền lợi chung của dân tộc, của con người.

Ai ai cũng thấu hiểu căn nguyên của mọi tai ương, sai quấy, mọi đổ vỡ, khuynh đảo, mọi nhục nhã bất hạnh là do CSVN gây ra, của Cộng sản quốc tế chỉ đạo, đến nỗi cả cựu Tổng Thống Nga Boris-Yeltsin cũng đã từng nói “Cộng Sản không thể nào thay đổi, mà cần phải dẹp bỏ.”

Vậy, nếu lợi dụng tự do ngôn luận, tự do tư tưởng để cổ vũ sai quấy và tội ác của kẻ gian, kẻ trọng tội bất trị, vô phương cứu chữa; để đánh bóng, giúp đỡ hay tiếp hơi một chế độ thống trị bán nước, phản dân như CSVN, thì đó không phải là “tiếng gọi của lương tri”, không phải là một suy tư hay dấn thân chân chính, một chọn lựa tử tế, mà chỉ là một âm mưu hay mắc mưu tham gia hệ thống tội ác.

III. Để Tạm Kết Luận

Người Việt ở bất cứ đâu, vào bất cứ giai đoạn nào, nếu quyết tâm tin tưởng vào công cuộc xây dựng Không Gian và Lương Tri Việt một cách trong sáng, chân chính, vững bền, sẽ có ngày giải thể CSVN và sau đó xây dựng một chính thể của dân, vì dân, bởi dân.  

Với điều kiện là người Việt chúng ta ý thức rõ vị thế của mình và tôn trọng mục tiêu lựa chọn.

Trân trọng,

TS-LS Lưu Nguyễn Đạt

Cảm nghiệm về sự bất chính và tàn bạo – Kỳ cuối


 

 

Biểu tình yêu nước: Cảm nghiệm về sự bất chính và tàn bạo – Kỳ cuối

Tôi được đưa vào phòng có tờ giấy dán ở cửa “Phòng làm việc số 6”. Một sĩ quan công an vào bật điều hòa và bật quạt về phía tôi rồi hỏi: “Như vậy đã mát chưa”. Tôi đáp: “Cảm ơn anh” và anh ta ra đi sau khi để lại một câu: “Ngồi phòng Phó Giám đốc thế này thì mát quá rồi”. Còn lại tôi và cậu công an nghĩa vụ luôn tay bấm điện thọai chơi game, lát sau được bổ sung một cậu mặc thường phục cầm máy quay. 

Tôi ngồi chờ và cố gắng tĩnh tâm, nhưng vẫn nghĩ đến tiếng kêu thét của Trương Văn Dũng lúc nãy tôi nghe. Có thể nhiều người sẽ được nếm những trận đòn thù kiểu đó, nhưng nếu càng làm thế, chính họ đã thú nhận họ không có chính nghĩa. Việc họ bắt từng người vào từng phòng riêng nhằm mục đích che giấu điều này. 

nam5

Lâu lâu lại có một đám khi ba, khi bốn người vào rồi lại ra, họ không mặc quân phục, chừng như vào nhận diện từng người vậy. Một lúc sau, hai người vào phòng, một người nói với tôi: 

- Các anh đi biểu tình như vậy, có được ích gì, chuyện biển đảo đã có nhà nước nó lo. Tôi cũng đã đọc bài phát biểu của Thủ tướng hôm qua ở Shangri-La rồi. Đấy anh thấy, ngay Thủ tướng vẫn không gọi thẳng tên thằng Trung Quốc ra. Các nước lớn mạnh trên thế giới đều sợ Trung Quốc.

Nghe buồn cười và không muốn tranh luận, tôi đáp:   

- Nếu làm việc với tôi, đề nghị anh xưng danh, chức vụ và làm việc đàng hoàng trước khi làm việc. Yêu cầu anh mặc quân phục đúng quy định. Anh thông cảm, ở đây là Trại chứa toàn con nghiện và đĩ điếm nên tôi không phân biệt được ai với ai. Biết đâu tôi đang phải nói chuyện với con nghiện?  

- À không, đây là anh em nói chuyện.    

- Vậy thì khi nào làm việc, chúng ta sẽ nói chuyện sau, giờ tôi không có nhu cầu nói chuyện. 

Anh ta và người kia ra đi. 

HieuCA
Đại úy Hiếu đã lên Thiếu Tá sau những cuộc trấn áp người yêu nước

Một lúc sau, thiếu tá Hoàng Xuân Hiếu bước vào, ngồi xuống ghế:

- Anh thông cảm, chúng tôi cũng chỉ là nhiệm vụ thôi.   

- Tôi yêu cầu anh cho biết, tôi bị bắt vào đây vì lý do gì? Còn nhiệm vụ ư? Ai cũng có nhiệm vụ, hôm nay tôi có nhiệm vụ đi chụp ảnh Bờ Hồ và đưa con đi chơi. Tại sao anh chỉ biết nhiệm vụ của anh mà không biết nhiệm vụ của người khác. Việc mình làm, đừng đổ lỗi cho nhiệm vụ. Chúng ta là con người, có trái tim và khối óc để phân biệt được đúng hay sai, nên không thể lấy cái gọi là nhiệm vụ để bao biện cho hành vi tội ác.

- Nhưng chúng tôi được lệnh thì phải mời các anh lên làm việc.  (Hình: Đại úy Hiếu đã lên Thiếu Tá sau những cuộc trấn áp người yêu nước)

- Anh mời theo kiểu xã hội đen thế à? Nhà nước có quy định nào mời theo kiểu bắt cóc người khác thế không? Mời thì người được mời có quyền nhận lời mời hoặc không nhận chứ? 

- Nhưng chúng tôi mời tức là yêu cầu anh phải làm việc.  

- Anh là sĩ quan, vậy anh học đến lớp mấy rồi?  

- Đại học An ninh.  

- Anh học Đại học mà không phân biệt được khái niệm mời và yêu cầu khác nhau thế nào à? Thật tội nghiệp cho trình độ ngôn ngữ của sỹ quan học trường này ra. 

 - Nhưng khi mời mà anh không đi thì chúng tôi phải cưỡng chế, chẳng hạn có người báo bị mất cắp thì chúng tôi phải mời anh để điều tra. Ở đây, người ta báo các anh vi phạm.  

- Vậy thì trước hết, anh phải có đơn trình báo của người đó, hoặc chính người đó có mặt để báo cho anh biết bị mất cắp thế nào chứ cứ báo là anh cho xã hội đen đi bắt về nhốt à? Tôi chính thức báo anh có đám côn đồ bắt người trái pháp luật đưa về đây đấy, anh bắt chúng về điều tra đi. Tôi có bằng chứng và nếu cần tôi làm đơn.      

Còn anh, anh cho tôi xem bằng chứng, đơn báo hoặc người báo là tôi vi phạm điều gì? Tôi thách anh tìm được điều gì tôi đã vi phạm pháp luật trong ngày hôm nay, từ sáng đến giờ. Ngược lại tôi có thể chứng minh rõ ràng các anh đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

 - Nhưng, tôi thi hành mệnh lệnh, khi người lính khi ra trận chỉ biết mệnh lệnh mà không cần biết đúng hay sai.  

- Anh cho rằng chống lại nhân dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược là ra trận à? Nghĩa là anh đang đứng về phía ngược lại với nhân dân yêu nước trong trận chiến này?

 Anh ta không trả lời và ra ngoài. Tôi cũng chẳng buồn nói gì thêm. Một lúc sau, hai người không sắc phục bước vào, người này hỏi người kia: Đã thu thẻ nhớ chưa? và hỏi tôi:

- Đề nghị anh cho kiểm tra điện thoại, máy ảnh và các thứ khác.

Nói xong anh ta vồ lấy cái máy ảnh và mở ra, tôi phản đối:  

- Nếu các anh làm việc, phải có biên bản, giấy tờ và theo nguyên tắc pháp luật, tự động lấy tài sản của tôi, xâm phạm đời tư của tôi là vi phạm pháp luật. 

Đặt máy ảnh lại lên bàn, anh ta nói:

- Lát nữa chúng tôi sẽ kiểm tra máy ảnh, điện thoại của anh xem có tin nhắn, hình ảnh gì liên quan đến vụ việc hôm nay không thì chúng tôi xóa đi, chứ không ảnh hưởng gì đời tư của anh cả. Đề nghị anh hợp tác.  

- Thế nào là không ảnh hưởng đời tư? Những thứ tin nhắn, hình ảnh của tôi mà không là đời tư à? Tại sao liên quan việc có thật hôm nay lại phải xóa? Tôi sẽ chỉ hợp tác trong những điều pháp luật quy định. Hôm nay, công an đã làm hỏng của tôi một chiếc ống kính máy ảnh, một kính mát đeo mắt và làm rơi của tôi một chiếc thẻ nhớ, lát nữa phải lập biên bản đền cho tôi. 

Thế là hai người bỏ đi. Bên ngoài, anh ninh và tên Khương vẫn đi đi lại lại, thỉnh thoảng ghé qua cửa nhìn tôi, tôi nhìn lại.

Ngoài trại, tiếng hô khẩu hiệu “Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam” “Đả đảo Trung Quốc xâm lược” “Đả đảo tay sai bán nước” cứ vang lên từng đợt vọng vào, nhức nhối, âm vang và lay động.

Trời đã ngả về chiều vẫn không thấy ai vào “làm việc”. Tôi bồi hồi chợt nghĩ, trừ trường hợp họ dùng vũ lực đánh chết tôi tại đây hoặc họ tự lập hồ sơ và ký với nhau. Còn nếu làm việc theo pháp luật, tôi sẽ yêu cầu đúng thủ tục và quy trình thì chắc hết ngày mai vẫn chưa xong. Đã vào đây thì mấy ngày chẳng được.

Khá lâu sau, một sĩ quan có tuổi mà tôi không kịp nhìn cấp bậc bước vào:

- Anh có phải là anh Vinh không?  

- Vâng, anh có việc gì? 

- Thôi, mời anh về.   

- Tôi đề nghị anh lập biên bản việc bắt giữ người trái pháp luật từ sáng đến giờ đối với tôi và làm mất mát, hư hỏng tài sản của tôi. 

- Thôi, suốt một ngày anh em cũng mệt rồi, mời anh về nghỉ ngơi đi.

Tôi chậm rãi đứng dậy, biết rằng có nói thêm cũng chẳng để làm gì. Như vậy là một ngày đủ các thứ mưu mô, đàn áp, bắt bớ, ngăn chặn… để cuối cùng “mời anh về nghỉ ngơi” nhẹ tênh? Người sĩ quan nhìn tôi và đứng dậy giơ tay bắt. Tôi bước ra ngoài.

ratrai

Ngoài cửa, bà con anh em đã đứng đầy trước cổng, tôi ra đến cổng họ ùa lấy tôi, xúc động và ấm áp. Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong và Hiền, vợ Ls Lê Quốc Quân đã cùng bà con giáo dân, anh em sang chờ tôi từ chiều. Cảm động với tấm chân tình của tất cả, chúng tôi lại hô vang: “Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam” “Đả đảo Trung Quốc xâm lược” “Đả đảo tay sai bán nước” ngay trước cổng trại và chờ những người còn lại.

donotrai

Còn Trương Văn Dũng, người bị đánh ngay từ sáng và đánh khi đưa lên phòng vẫn cứ chưa được ra, mọi người bảo anh bị đánh rất đau. Xung quanh chúng tôi, nào dân phòng công an xã và an ninh dày đặc. Đám an ninh khiêu khích từng người dân, họ cố tình đụng chạm, gầm gừ.

truongvandung

Bỗng nhiên Nguyễn Chí Đức bị một đám lôi vào trong hàng rào dây kẽm gai và đánh tới tấp, tàn bạo. Mọi người xông vào ngăn cản nhưng không thể cản lại một kế hoạch đã rắp tâm thực hiện. Đám công an, dân phòng đứng phía ngoài ngăn chặn bà con tiếp cận. Chí Đức bị đánh đau và lôi xềnh xệch trên bãi đá vào đồn công an gần đó. Bên ngoài Bùi Tiến Hưng vô cớ bị một tên An ninh mặc áo trắng đánh dúi dụi vào hàng rào cùng với mấy thằng hỗ trợ. Nguyễn Văn Phương đến can thiệp liền bị nhóm hội đồng hơn chục người công an và an ninh đánh dã man. Trong đó rất rõ tay công an đã từng canh chúng tôi cả buổi chiều trong trại. Phương bị nhốt vào xe chở tù dựng sẵn ngay trước đồn công an.

cadanhdan

Đến lúc đó, cơn giận của người dân đã không thể kiềm chế. Đồng loạt xông vào yêu cầu thả người ngay. Nhưng chiếc xe vẫn nổ máy định quay đầu bỏ chạy. Sự căm phẫn đến mức tột đỉnh. Hàng loạt người đã nằm xuống đuôi xe, nhất định không cho xe chở người bỏ chạy. Tình trạng người dân kể cả đến xem đã đến mức cực kỳ phấn khích, người dân bên ngoài hô to: “Đốt mẹ đồn của chúng nó đi”. Thấy tình hình rất có thể xảy ra quá khích, tôi nói với viên An ninh chỉ huy nhóm đó:   

chanxetu

- Giờ thì ông định nhốt người trong đó đến khi nào xảy ra chuyện lớn mới mở, đúng không? Nếu khôn hồn, thì hãy mở thả người ngay. 

Anh ta đáp:

- Vâng, sẽ cho thả ngay, anh bảo mọi người đứng dậy để thả.  

- Ông nói với họ xem họ đứng dậy không, họ sẽ không bị mắc lừa các ông nữa.

Anh ta gọi người đưa chìa khóa mở xe tù, Nguyễn Văn Phương bước ra. Nhưng Chí Đức vẫn trong đồn. Người dân đòi thả Nguyễn Chí Đức đang bị đánh trong đồn. Không thấy bên công an động tĩnh, tất cả nằm ra đường Quốc lộ 3, giao thông tắc nghẽn. Cảnh sát giao thông phải đến phân luồng đi lối khác và chửi nhau loạn xị ngậu.

nam1
nam4

Trong khi mọi người đang chú ý vụ bắt Đức và Phương, Trại Lộc Hà đã cho mấy người khiêng Trương Văn Dũng vứt ra đường mới máu me đầy đầu. Kể ra, con bài kéo người về phía kia bằng vụ đánh người để thả Trương Dũng là khá cao tay. Nhưng kết quả ngoài mong đợi và không như kịch bản họ đã soạn ra. Cuối cùng, thì cũng phải thả Chí Đức, tất cả yêu cầu Trưởng Trại có trách nhiệm trong việc bắt và đánh người. Hành động vô nhân đạo bắt người, đánh người rồi vứt ra đường đã làm phẫn nộ không chỉ những người biểu tình mà cả nhân dân ngày càng đông. Bí quá, Trại phải gọi một xe cấp cứu đến nhưng riêng công an thì trốn tiệt.

Khi đó, người dân mới thấy cái uy, cái dũng, cái hùng hổ, cái bạo ngược của những viên công an buổi sáng và buổi trưa biến đâu mất. Chỉ còn lại sự lỳ lợm, bất nhân và đểu giả, hèn nhát.

Người dân đã cùng nhau lập biên bản và đưa Trương Văn Dũng đi cấp cứu cho kịp thời. Cuộc biểu tình đến đó coi như mới chấm dứt.

Từ một cuộc biểu tình chống Trung Quốc, với sự sáng suốt của những người lãnh đạo Hà Nội, họ đã tự biến những người yêu nước trở thành thế lực thù địch của họ. Như vậy, họ đã tự đứng vào hàng ngũ những kẻ chống lại người đi chống xâm lược của ngoại bang.

Một ngày với nhiều sự việc, nhiều kịch tính, nhiều diễn biến cho ta thấy nhiều điều. Nhưng, trên hết, chúng ta thấy sự bất chính, lén lút và sự tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội với những tấm lòng yêu nước.

Ở đó, cũng chứng minh sự chính nghĩa, tấm lòng trong sáng vì Tổ Quốc, vì nhân dân của những người tham gia biểu tình yêu nước hôm nay. Họ không đông, nhưng có chính nghĩa trong tay.

Họ đã ngẩng cao đầu mà bước tới bất chấp bạo quyền.           

Hà Nội, ngày 6/6//2013  

 ·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

 

Ai có thể đánh bại được Cộng sản?


 

 

Blog / Nguyễn Hưng Quốc


Ai có thể đánh bại được Cộng sản?


( nhìn lại sự sụp đổ cuả đế quốc cộng sản ) 

 


Tin liên hệ










10.06.2013

Nhìn lại lịch sử tranh chấp giữa hai khối tư bản và Cộng sản trong gần suốt thế kỷ 20, nhận xét đầu tiên người ta có thể rút ra là: Không ai có thể đánh bại được Cộng sản.

Nhận xét ấy được hỗ trợ bởi hai bằng chứng:

Thứ nhất, trên phạm vi toàn cầu, trong 70 năm đầu tiên, chủ nghĩa Cộng sản phát triển cực nhanh, nhanh đến độ dường như không có ai và không có cái gì có thể ngăn cản được. Ra đời tại Nga năm 1917, năm năm sau, 1922, Liên bang Xô Viết được thành lập với vai trò nòng cốt của Nga, châu tuần bởi các nước láng giềng nhỏ của Nga, như Ukraine, Belarus, Georgia, Armenia và Azerbaijan. Sau đó, một số nước khác bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết, như Estonia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Đến giữa thập niên 1980, Liên bang Xô Viết, với diện tích trên 22 triệu cây số vuông và đường biên giới trên 60.000 km, chiếm đến một phần sáu diện tích trái đất, rộng bằng cả Bắc Mỹ. Năm 1945, sau Đệ nhị thế chiến, một số nước thuộc Trung Âu và Đông Âu lần lượt rơi vào tay Cộng sản: Albania, Ba Lan, Bosnia, Bulgaria, Croatia, Đông Đức, Hungary, Macedonia, Montenegro, Romania, Serbia, Slovakia, Slovenia, Tiệp Khắc, Nam Tư. Sau đó nữa là các nước thuộc châu Á và châu Phi, như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Afghanistan, Campuchia, Congo, Mông Cổ, Yemen, Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Somalia, Eritrea và Mozambique. Vào giữa thập niên 1980, khối Cộng sản rất mạnh, chiếm một phần ba dân số thế giới. Cho đến lúc ấy, câu khẩu hiệu chủ nghĩa Marx-Lenin hoặc chủ nghĩa Cộng sản bách chiến bách thắng vang lên khắp nơi. Dân chúng ở các nước Cộng sản, vốn bị nhồi sọ, tin điều đó, đã đành. Ngay phần lớn dân chúng ở Tây phương, tuy biết tất cả những mặt trái đầy tiêu cực của chủ nghĩa Cộng sản, vẫn không tin là Tây phương có thể đánh bại được Cộng sản.

Thứ hai, dù cả hai bên, tư bản và Cộng sản, lúc nào cũng cố gắng tự kiềm chế, nhưng ít nhất cũng có hai nơi cuộc chiến tranh lạnh đã biến thành chiến tranh nóng: Ở Triều Tiên trong ba năm, 1950-1953, và ở Việt Nam, từ 1954 đến 1975. Ở trận chiến đầu, hai bên hòa nhau, Triều Tiên bị chia đôi, Nam và Bắc. Điểm phân cách vẫn là vĩ tuyến 38, đúng với quyết định của phe Đồng Minh trong hội nghị Potsdam vào tháng 8 năm 1945. Ở trận chiến sau, Mỹ tự nhận là thua sau khi rút khỏi Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. (Về điểm này, tôi có phân tích khá kỹ trong bài “1975: Việt Nam có thắng Mỹ?”. Ở đây, tôi tạm thời chấp nhận cách nhìn quen thuộc và phổ biến để khỏi bị gián đoạn mạch lý luận trong bài viết này.)

Có điều, từ nhận xét nêu ở đầu bài viết, không ai có thể đánh bại được Cộng sản, người ta lại chứng kiến một sự kiện oái oăm vào thời điểm bản lề giữa hai thập niên 1980 và 1990: chủ nghĩa Cộng sản đã bị sụp đổ trên phạm vi toàn cầu. Cái gọi là “sụp đổ” ấy có hai mức độ: sụp đổ hoàn toàn và sụp đổ một phần, hơn nữa, phần lớn. Nhưng dù sụp đổ hoàn toàn hay sụp đổ một phần thì cũng vẫn là sụp đổ. Một sự sụp đổ lớn lao, nhanh chóng, và đặc biệt, hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của mọi người ở mọi phía.

 Sự sụp đổ hoàn toàn diễn ra ở Nga, Đông Âu, Trung Âu, Trung Đông, Trung Mỹ và châu Phi.

Trước hết, ở châu Âu, chỉ trong vòng chưa tới ba năm, toàn bộ các đảng Cộng sản đang nắm quyền sinh sát gần như tuyệt đối ở Đông Âu và Trung Âu đều mất sạch quyền hành; chế độ độc đảng trở thành đa đảng; bầu cử tự do được tổ chức khắp nơi, các thành phần đối lập hoặc lên cầm quyền hoặc được chia quyền (ở Ba Lan, ngày 4/6/1989; Turkmenistan 7/1/1990; Uzbekistan 18/2/1990; Lithuania 24/2/1990; Moldova 25/2/1990; Kyrgyzstan 25/2/1990; Belarus 3/3/1990; Nga 4/3/1990; Ukraine 4/3/1990; Đông Đức 18/3/1990; Estonia 18/3/1990; Latvia 18/3/1990; Hungary 25/3/1990; Kazakhstan 25/3/1990; Slovenia 8/4/1990; Croatia 24/4/1990; Romania 20/5/1990; Armenia 20/5/1990; Tiệp Khắc 8/6/1990; Bulgaria 10/6/1990; Azerbaijan 30/9/1990; Georgia 28/10/1990; Macedonia 11/11/1990; Bosnia & Herzegovina 18/11/1990; Serbia 8/12/1990; Montenegro 9/12/1990; và Albania 7/4/1991). Liên bang Xô Viết tan rã. Hầu hết các quốc gia trước đây bị sáp nhập vào Liên bang đều tuyên bố độc lập hoặc tự trị. Ngay cả ở Nga, đảng Cộng sản không những bị mất quyền mà còn bị khinh bỉ và tẩy chay, không còn đóng vai trò gì trên bàn cờ chính trị quốc nội.

Xin lưu ý; sự sụp đổ của chế độ Cộng sản ở các nước trên đều diễn ra rất gọn gàng, không gây xáo trộn và đặc biệt, không đổ máu, trừ Romania, nơi Ceaușescu bị lật đổ và giết chết, kéo theo cái chết của khoảng 1.100 người khác.

Sự sụp đổ ấy nhanh chóng lan sang các vùng khác, đặc biệt các vùng Trung Mỹ, Trung Đông và châu Phi. Năm 1990, ở Nicaragua, sau một cuộc bầu cử tự do, đảng Cộng sản mất quyền; ở Angola, cuộc chiến giữa Cộng sản và phe chống Cộng chấm dứt; năm 1991, ở Ethiopia, Trung tá Mengistu Meriam, nhà độc tài Cộng sản từng thống trị đất nước suốt gần 15 năm, chạy trốn khỏi đất nước, và Eritrea tuyên bố tách khỏi Ethopia, trở thành độc lập và từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản. Ở Trung Đông, năm 1990, chế độ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Yemen bị sụp đổ, sau đó, hợp nhất với Nam Yemen, thành lập nước Cộng hòa Yemen; ở Afghanistan, chế độ Cộng sản của Najibullah sụp đổ vào mùa xuân 1992.

Sự sụp đổ một phần diễn ra ở Trung Quốc, Lào, Cuba và Việt Nam.

Chế độ Cộng sản, như nó từng tồn tại từ năm 1917 đến cuối thập niên 1980, dựa trên ba nền tảng chính: Về ý thức hệ, dựa trên chủ nghĩa Marx-Lenin; về kinh tế, dựa trên chính sách quốc hữu hóa và nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung; và về bộ máy quyền lực, dựa trên sức mạnh độc tôn của đảng, công an và quân đội. Ở cả bốn quốc gia kể trên, từ đầu thập niên 1990, nền tảng ý thức hệ coi như đã bị phá sản; nền tảng kinh tế cũng bị biến chất theo chiều hướng tư bản hóa. Trên cái thế kiềng ba chân của chế độ, hai chân đã bị sụp. Chỉ còn một chân là bộ máy quyền lực. Gọi chế độ Cộng sản ở bốn quốc gia này bị sụp đổ một phần, thậm chí, phần lớn, là vậy.

Trên thế giới hiện nay, chỉ có một quốc gia duy nhất còn giữ được chế độ Cộng sản chính thống và “truyền thống” trước năm 1990, đó là Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, không ai xem đó là điều đáng tự hào. Ngược lại. Nó chỉ bị xem là một thứ quái thai.

Như vậy, chúng ta chứng kiến một nghịch lý: một mặt, có cảm tưởng như không ai có thể đánh bại được Cộng sản; mặt khác, chỉ trong vòng mấy năm thật ngắn ngủi, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều thi nhau ngã gục. Vậy thì ai đánh bại nó?

Có nhiều câu trả lời đã được đưa ra. Nhưng câu trả lời được nhiều học giả đồng tình nhất là: Không có ai đánh bại Cộng sản cả. Chỉ có Cộng sản mới đánh bại được Cộng sản.

Cộng sản đánh bại Cộng sản bằng cách nào?

Bằng nhiều cách. Thứ nhất, bằng các sai lầm có tính hệ thống trong kinh tế khiến nước Cộng sản nào cũng nghèo đói xơ xác. Giữa thập niên 1980, phần lớn các cửa hàng quốc doanh, kể cả cửa hàng thực phẩm, ở phần lớn các nước Cộng sản, bao gồm cả Liên Xô, đều trống không. Nợ nước ngoài chồng chất. Riêng Ba Lan, nơi chế độ Cộng sản sụp đổ đầu tiên, nợ các nước Tây phương đến trên 100 tỉ đô la và đối diện với nguy cơ không thể trả được. Thứ hai, tình hình kinh tế tồi tệ ấy càng tồi tệ thêm nữa do nạn tham nhũng tràn ngập ở mọi cấp. Thứ ba, những thất bại về kinh tế, sự hoành hành của tham nhũng và những chính sách độc tài tàn bạo của chính quyền làm dân chúng bất mãn và nổi dậy tranh đấu đòi thay đổi chính sách, đặc biệt, dân chủ hóa. Cuối cùng, đối diện với tất cả các vấn đề ấy, hầu như mọi người, kể cả các cán bộ cao cấp nhất, đều mất hẳn niềm tin vào chủ nghĩa Cộng sản. Họ biết chắc chắn một điều: họ không thể tiếp tục tồn tại được nếu họ không tự thay đổi. Chính sách glasnost và perestroika của Mikhail Gorbachev ra đời là để đáp ứng lại nhu cầu đó. Nhưng ngay cả khi đưa ra chính sách cải tổ và tái cấu trúc như vậy, giới lãnh đạo vẫn không an tâm hẳn. Họ biết đó chỉ là những biện pháp vá víu. Tự thâm tâm, tất cả đều mất niềm tin vào chế độ.

Chính vì mất niềm tin như vậy nên ở những thời điểm quan trọng nhất, mọi người đều đâm ra hoang mang, không ai dám quyết định điều gì. Ngày 9 tháng 11 năm 1989, khi dân chúng đổ xuống đường biểu tình trước bức tường Bá Linh, bộ đội và công an, dù đông hơn hẳn, không biết đối phó thế nào. Họ gọi điện thoại lên cấp trên. Các cấp trên của họ sợ trách nhiệm, cứ đùn qua đẩy lại với nhau: Cuối cùng bức tường bị đổ. Ở Nga cũng vậy, trước các cuộc xuống đường của dân chúng, không ai dám ra lệnh quân đội hay công an nã súng vào dân chúng: cuối cùng, chế độ sụp.

Không phải cán bộ, công an hay giới lãnh đạo bỗng dưng nhân đạo hơn. Không. Ở đây không phải là sự thay đổi trong tính khí. Mà ở nhận thức. Tất cả đều nhận thức được sâu sắc mấy điểm chính: Một, ngày tàn của chế độ Cộng sản đã điểm; nó không thể tồn tại thêm được nữa. Hai, nó cũng không thể cứu được. Mọi nỗ lực cứu vớt đều tuyệt vọng và chỉ gây tai họa không những cho đất nước mà còn cả cho chính bản thân họ. Cuối cùng, như là hệ quả của hai điều ấy, chọn lựa tốt nhất mà họ nên làm là buông tay bỏ cuộc.

Cả ba nhận thức ấy đều không thể có nếu không có hai điều kiện: Thứ nhất, người ta có dịp so sánh với sự giàu có, tự do và dân chủ ở Tây phương và thứ hai, các nỗ lực tranh đấu không ngưng nghỉ của dân chúng, đặc biệt giới trí thức, trong việc vạch trần các sai lầm và tội ác của chế độ. Cả hai điều kiện đều quan trọng, nhưng điều kiện thứ nhất chỉ có thể phát huy được tác dụng là nhờ điều kiện thứ hai. Những sự phê phán và tranh đấu cho dân chủ liên tục càng ngày càng làm nổi bật sự khác biệt sâu sắc giữa tự do và toàn trị, càng làm lung lạc niềm tin ngay cả ở những kẻ cuồng tín và mê tín nhất, cuối cùng, cô lập những kẻ lì lợm bám víu vào bộ máy độc tài. Khi sự cô lập đến mức độ nào đó, người ta chỉ còn hai lựa chọn: hoặc trở thành Gorbachev hoặc trở thành Ceaușescu (hay gần hơn, Muammar Gaddafi ở Libya).

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

__._,_.___

Tiếng gào của những người mẹ Việt Nam


 

Nguyệt Quỳnh – Tiếng gào của những người mẹ Việt Nam


Posted on by minhhieu90

Họ bắt con đi vào lúc rạng sáng,
Mẹ đi theo con như bước theo quan tài.
…Trời ơi, mẹ không thể nào quên được!
Mẹ sẽ làm như các bà vợ lính trung đoàn chiến binh
Đến vật vã gào khóc dưới tháp điện Cẩm-Linh

(Anna Akhamatova – Ca Khúc Tưởng Niệm)

Hơn tám mươi năm trước, tiếng gào khóc con của một người mẹ trước thềm điện Cẩm Linh, chỗ ở của các lãnh tụ cộng sản Nga là một nét khắc mạnh mẽ lên cái khung cảnh ảm đạm của những ngày mùa đông ở Moskva. Người mẹ đau khổ đó là thi sĩ Anna Akhmatova.

Không ai ngờ rằng sau gần một thế kỷ, khi chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung ngay tại cái nôi của nó thì ở Việt Nam tiếng gào khóc của những người mẹ vẫn vang lên khắp nơi, tại các trại giam, trước phiên toà, hay ngoài đường phố. Ngày 23/05/13 tại phiên toà phúc thẩm xử tám thanh niên yêu nước, mẹ của anh Nguyễn Đình Cương, bà Nguyễn thị Hoá, không được phép vào dự phiên xử của con mình. Bà chỉ còn biết đứng gào, gọi tên con thảm thiết bên ngoài cổng toà án.

Vài tuần trước đó, bà Nguyễn thị Nhung, mẹ của sinh viên Nguyễn Phương Uyên, khi đến thăm con tại trại giam, mới biết rằng cô con gái 20 tuổi của mình đã bị đánh đến ngất xỉu trong tù. Nhìn con với những vết thâm tím trên người, trái tim chị Nhung chắc đã rướm máu. Khi thấy Phương Uyên dùng tay ép vào lồng ngực kêu đau và khó thở, tôi có thể hình dung được chị Nhung muốn gào thật to vào mặt các quản giáo: “Trời ơi! lương tâm của các người ở đâu?”

Tất cả là một tấn bi kịch hãi hùng của những người mẹ, nỗi khổ đau vô cùng tận của họ khi bất lực nhìn thấy con mình bị bắt giam, bị hành hạ, tra tấn bởi cả một guồng máy côn đồ. Tiếng nức nở trong lặng lẽ của biết bao nhiêu bà mẹ có con trong lao tù đã được Anna Akhmatova ghi lại trong trường ca “Requiem” (Ca khúc tưởng niệm).

Suốt mười bảy tháng trời mẹ kêu vang,
Cố gọi con trở về nhà,
Mẹ phải phủ phục dưới chân tên đao phủ,
Vì con của mẹ cũng là nỗi kinh hoàng của mẹ.
Mọi sự mãi mãi rối tung
Và mẹ không còn phân biệt nổi
Giờ đây ai là con thú, ai là con người,

(Anna Akhamatova – Ca Khúc Tưởng Niệm)

Là người được dân Nga và thế giới công nhận như một nhà thơ kinh điển của thi ca nước Nga nhưng Anna Akhmatova mang số phận bi đát của một người vợ, người mẹ của những tù nhân lương tâm dưới chế độ cộng sản. Người chồng đầu tiên của bà bị bắt và bị giết chết vì bị ghép vào tội âm mưu lật đổ chính quyền. Người chồng thứ hai là một sử gia về nghệ thuật cũng bị cộng sản giam cầm nhiều năm và cuối cùng bị chết trong tù.

Đọc Anna Akhmatova tôi liên tưởng đến hoàn cảnh những người mẹ Việt Nam, trong đó có những người mẹ của 14 thanh niên yêu nước. Các con của họ, những thanh niên công giáo, tin lành gương mẫu, những người chuyên phụng sự xã hội và là thành viên của nhóm Bảo Vệ Sự Sống, đã bị bắt cóc, bị tống giam và bị kết án nhiều năm tù; chẳng khác gì nhà sử học Lev Gumiliov, con trai của Anna Akhmatova, là một thanh niên lý tưởng và đầy nhiệt huyết. Ông đã từng tham gia vào quân đội để chiến đấu chống lại quân phát xít. Sau này, Lev Gumiliov được người dân Nga dựng tượng đài với dòng chữ: “Tượng một người Nga đã bảo vệ cho người Tartar khỏi sự vu khống”. Chủ nghĩa Cộng Sản đã hủy diệt những trí thức, những tinh hoa của mọi quốc gia nơi nào có sự hiện diện của nó.

Trong “Requiem” Anna Akhmatova mô tả lại hình ảnh người con trai ưu tú của mình cúi hôn lên tượng thánh giá giá lạnh vào một buổi sáng ảm đạm khi mật vụ Nga còng tay ông dẫn đi. Tiếng gào của bà là tiếng gào uất nghẹn của những bà mẹ nước Nga. Chính những bà mẹ này đã góp phần vào sự sụp đổ của thành trì cộng sản tại Liên sô. Anna Akhmatova kể lại rằng: vào cái thời gian cả nước Nga đang chìm đắm trong nỗi sợ hãi dưới sự khủng bố của chính quyền Stalin, một hôm khi bà đang đứng xếp hàng trước nhà tù ở Leningrad, một người đàn bà nhận ra thi sĩ. Với đôi môi thâm tím, người đàn bà tiến đến gần và thì thầm vào tai thi sĩ: “Chị có thể tả lại chuyện này được không?” Khi thi sĩ trả lời lại, cũng bằng những tiếng thì thầm rằng bà có thể, bà chợt nhìn thấy một nụ cười thoáng qua gương mặt đã chai cứng vì khổ đau của người đàn bà kia. Nụ cười của một niềm tin son sắt rằng dù bạo lực có tàn bạo đến đâu, cái ác rồi sẽ bị vạch mặt.

Khi chị Nguyễn thị Nhung nén nỗi đớn đau trong lòng để gởi thông điệp cho người con gái thương yêu của chị trong lao tù, tôi nhìn thấy cả một dòng chảy lịch sử và tương lai của đất nước tôi. Nghe con than đau và nhìn những dấu vết hành hạ trên người Phương Uyên, chị Nhung đã phải cố gắng lắm mới kềm chế được mình. Chỉ có 20 phút ngắn ngủi gặp gỡ con gái trước ngày con ra toà, chị dặn lòng phải bình tĩnh để nói hết được những điều cần phải nói với con. Điều cần thiết đó là gì – chị dặn con hãy đứng thẳng trước toà, hiên ngang trước bọn xâm lược và lũ bán nước. Chị đã nuốt nước mắt vào trong, chị đã làm một việc quá sức của một người mẹ nhưng chị đã giúp con gái mình tuyên bố một thông điệp lịch sử của tuổi trẻ Việt Nam.

Ôi! những bà mẹ sẵn sàng nén nỗi đau trong lòng mình để con đi lo cho đất nước và dân tộc. Từ bao đời đã thế và bao đời sau cũng vậy, đất nước Việt không chỉ trường tồn nhờ xương máu của “Cha Ông” mà còn lớn mạnh nhờ những giòng nước mắt, sự dũng cảm và trái tim của những “Người Mẹ”.

Tôi nhớ một câu ru đã được nghe mẹ hò từ những ngày còn thơ bé: Ru con con ngủ cho lành/ để mẹ gánh nước rửa bành ông voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ có bà Triệu tướng cỡi voi, đánh cồng. Từ những câu ru của mẹ, của bà, đất nước Việt Nam đã có những Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đình Cương, Đỗ thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Vi và biết bao nhiêu những người trẻ đang âm thầm góp mặt.

Xin cám ơn những giọt nước mắt, những tiếng gào trong lặng lẽ của mẹ. Xin cám ơn nỗi đau đớn giấu kín trong lòng, những câu ru và lời dặn dò để chúng con lớn lên xứng đáng là con của mẹ. Xứng đáng là một người Việt Nam.


 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link