Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, October 12, 2013

Đỗ Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung bị còng tay, xích chân, ngất xỉu trong xe tù thùng đặc chủng trên đường ra Bắc


 

Đỗ Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung bị còng tay, xích chân, ngất xỉu trong xe tù thùng đặc chủng trên đường ra Bắc


 


Trương Minh Đức (Danlambao) - Sáng ngày 11-10-2013 ông Đỗ Ty, thân phụ của Đỗ Thị Minh Hạnh có mặt tại Hà Nội để đến trại giam Thanh Xuân (phân trại 3) thuộc xã Xuân Dương, huyện Thanh Oai - Hà Nội để thăm Hạnh. Cùng đi có 5 anh chị em khác và anh Võ Văn Bửu - chồng của chị Mai Thị Dung. Khi gặp được con gái của mình là Đỗ Thị Minh Hạnh trong lúc thăm gặp, Ông Đỗ Ty thấy Hạnh mà lòng quăng đau khi nghe Hạnh kể lại như sau:

 

Trại giam đã chuyển Đỗ Thị Minh Hạnh và chị Mai Thị Dung đi ra Bắc bằng xe "thùng đặc chủng". Trong quá trình di chuyển Hạnh đã bị còng tay, đồng thời bị xích chân lại trong thùng xe. Hạnh đã nhiều lần ngất xỉu... rồi tỉnh lại suốt trên đoạn đường hơn 1.700 cây số. Chị Mai Thị Dung cũng ngất đi nhiều lần do xe di chuyển trên quãng đường dài Nam Bắc. Chị Dung đã bắt đầu tuyệt thực từ ngày 01-10-2013. Cả 2 chị em Dung và Hạnh bị nhốt trong xe thùng mang đi trong tình trạng sức khỏe kém, đói khát và bệnh tật.




Đây là những điều không ai có thể tin là nhà cầm quyền CSVN xử sự với hai tù nhân nữ đang đau ốm như thế trong một thế giới đang bảo vệ cho những người Phụ Nữ bị ngược đãi. Nhưng chỉ vì CSVN họ sợ tiếng nói đòi Quyền Tự Do Dân Chủ, Quyền Tự Do Tôn giáo... của 2 nữ tù nhân này nên đã trút đòn thù bằng cách lưu đày, hành hạ thân xác... bất chấp dư luận.



Chị Mai Thị Dung (tay cầm hộp sữa)

 


Đỗ Thị Minh Hạnh (hình chụp trong một chuyến thân nhân thăm trước đây)

 

Anh Võ Văn Bửu, chồng chị Dung cho biết là chị Dung tuyên bố thà chết trong nhà tù chứ không bao giờ chấp nhận cái gọi là "nhận tội" theo yêu cầu của trại giam. Qua lần thăm gặp ngày 10-10-2013, tính đến nay thì Chị Dung đã tuyệt thực được 11 ngày. Tình trạng của Chị Dung rất nguy hiểm cho tính mạng.

 

Chị Dung không còn đi được nữa, mà phải có 2 nữ tù nhân khác cõng ra, giọng nói của chị Dung thì thào không nói thành lời... anh Bửu phải kề sát tai mới nghe tiếng được tiếng không. Đến ngày 11-10-2013 (tức 1 ngày sau thăm gặp) khi ông Đỗ Ty vào thăm Đỗ Thị Minh Hạnh thì Hạnh cho biết là chị Mai Thị Dung vừa được trại đưa đi cấp cứu sáng nay (11-10-2013) do chị Dung bị ngất xỉu vì kiệt sức.

 


Đoàn người đi thăm Hạnh và Dung (ảnh FB Bùi Thị Minh Hằng)

 

Thân phụ của Đỗ Thị Minh Hạnh cũng cho biết thêm hiện nay cán bộ trại giam đang "vận động" Hạnh và chị Dung ký bản nhận tội đi sẽ được "thả sớm". Ông Ty cũng tiết lộ rằng trong lúc chờ thăm gặp Hạnh thì cán bộ trại cũng đến "vận động" ông hãy khuyên Hạnh sớm nhận tội để được thả... 

 

Khi ông Ty đến gặp được Hạnh thì thấy Hạnh rất ốm nhưng bản lỉnh của Hạnh rất mạnh mẽ và kiên định trong việc đấu tranh của mình. Ông nói ông rất hài lòng những gì Hạnh đã làm vì Công Lý để lên tiếng bảo vệ cho những người công nhân nghèo khổ bị bóc lột, những người Nông dân bị mất đất và những bức xúc trong xã hội hiện nay. Trước khi ra về ông Đỗ Ty cũng an ủi và nói với Hạnh rằng ba thấy con làm điều đúng, gia đình anh chị em luôn yêu quí con, nếu con làm điều sai thì Ba cản con rồi. Ba rất tự hào vì con.

 


Ông Đỗ Ty - ba của Đỗ Thị Minh Hạnh

 


Friday, October 11, 2013

TS NGUYỄN QUANG A CHỒN LÙI CẢN NGĂN BẠO ĐỘNG?


 

 

 

TS NGUYỄN QUANG A CHỒN LÙI

CẢN NGĂN BẠO ĐỘNG?

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 10.10.2013


 

            Trước hết xin những bậc lão thành góp cho chúng tôi phân biệt hai chữ CHỒN LÙI và CHUỒN LÙI. Chữ nào đúng hơn chữ nào. Theo nghĩa thông thường thì CHUỒN LÙI là trốn đi và đi lùi. Còn chữ CHỒN, thì trong Tự Điển của LÊ VĂN ĐỨC định nghĩa là: (i) Chồn là Cáo, Cầy, giống thú rừng thuộc loại gặm nhấm, ở hang, leo giỏi; (ii) Chồn là Mỏi, Chán, Thối chí.

            Như vậy cả hai chữ CHUỒN LÙI và CHỒN LÙI có mang nghĩa là hô hào đấu tranh, nhưng tìm cách thối lui lén lút để chuồn đi.

            Tuần trước nữa và tuần vừa rồi, chúng tôi viết bài về những Phong trào quần chúng NỔI DẬY đấu tranh ở Việt Nam.  Nhìn những tích lũy UẤT HẬN của những Phong trào này, chúng tôi nhìn thấy viễn tượng BẠO ĐỘNG sẽ xẩy ra như một định mệnh. Cái nguyên do để BẠO ĐỘNG phải xẩy ra, chính là đảng CSVN đã đẩy Dân đến chỗ đó dù Dân không muốn BẠO ĐỘNG một chút nào. Cái lỗi gây ra BẠO ĐỘNG chính là thái độ cố lỳ ngậm cục xương của đảng CSVN và gian xảo vu khống cho Dân, rồi dùng bạo lực đàn áp Dân, dùng nhà tù để nhốt Dân.

            Dân đã đấu tranh BẤT BẠO ĐỘNG, chỉ cần giải quyết đúng lý, thì mọi việc ổn thoả. Tỉ dụ cuộc CÁCH MẠNG HIẾN PHÁP 2013 hiện nay là hoàn toàn BẤT BẠO ĐỘNG. Chỉ cần đảng CSVN bỏ đi ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP, trao quyền lại cho Dân, thì toàn Dân phấn khởi chung lưng xây dựng Xã Hội tươi đẹp và phát triển Đất Nước phồn thịnh. Đây là dịp may cho đảng CSVN để DỨT BỎ cái CƠ CHẾ CSVN PHI NHÂN BẢN hiện hành. Còn nếu đảng CSVN cố thủ chai lì giữ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP, thì sớm chầy quần chúng phải NỔI DẬY và dùng BẠO ĐỘNG đập lên đầu đàn chó chai lì ngậm cục xương.

            Khi viết tuần trước về viễn tượng BẠO ĐỘNG như vậy, thì tuần này vào Diễn Đàn, chúng tôi đọc được hai bài:

1)         Bài thứ nhất: THẬT GIẢ HỖN CHIẾN viết bởi Bs NGUYỄN ĐAN QUẾ.

2)         Bài thứ hai: PHẢN BÁC BÀI VIẾT “KHÔNG ĐƯỢC KÍCH ĐỘNG BẠO LỰC “ viết bởi Tác giả NGUYỄN NGỌC GIÀ

            Bài thứ nhất làm chúng tôi nghĩ đến câu hỏi xem tại Quốc nội ai hỗn chiến với ai mà chúng tôi đã phải nói đến những chữ PHẢN TỈNH THỰC và PHẢN TỈNG CUỘI. Bài thứ hai khiến chúng tôi nghĩ đến những chữ CHỒN LÙI hay CHUỒN LÙI.

 

Ai hỗn chiến với ai:

Phản tỉnh THỰC với Phản tỉnh CUỘI ?

 

Khi Ls LÊ HIẾU ĐẰNG tuyên bố thành lập đảng Đối lập lấy tên là đảng DÂN CHỦ XÃ HỘI, thì Diễn Đàn đã xôn xao đặt ra vấn đề Phản tỉnh THỰC hay Phản tỉnh CUỘI. Chúng tôi cũng đã viết hai bài để định rõ lập trường. Bài thứ nhất nói rõ rằng Ls LÊ HIẾU ĐẰNG đã là đảng viên 45 tuổi đảng của đảng CSVN và chúng tôi sẵn sàng hợp tác theo câu nói :”Nếu thằng quỷ Satan chỉ đường cho tôi lên Thiên đàng, thì tôi làm việc với nói, nhưng luôn luôn tỉnh táo biết rằng nó vốn là Satan và có thể phản lại mình bất cứ lúc nào “. Với bài thứ hai kế tiếp, chúng tôi ví những người phản tỉnh như những con Chuột cống biết nganh ngóc hang chuột, thì hãy dùng Chuột để xục xạo hang cùng ngõ hẻm của chuột mà đuổi chuột. Việc Phản tỉnh THỰC hay CUỘI phải lấy một tiêu chuẩn rất rõ và khách quan để phân biệt: Mục đích của Đối lập là đi đến DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành hay không ? Nếu chỉ Đối lập trong lòng của Cơ chế, thì đó là Phản tỉnh CUỘI vì việc đối lập chỉ nhằm KIỆN TOÀN cho Cơ chế. Còn Đối lập nhằm DỨT BỎ CƠ CHẾ, thì đó mới là Phản tỉnh THỰC.

Bác sĩ NGUYỄN ĐAN QUẾ phân tích để đi đến kết luận rằng Việt Nam phải có một Thể chế Dân chủ, nghĩa là không thể giữ được Cơ chế CSVN độc tài hiện hành. Nhưng để đi đến Thể chế Dân chủ, Bác sĩ nhìn thấy hai khuynh hướng có thễ hỗn chiến với nhau. Bác sĩ viết:

            “NHƯNG hiện đang xảy ra hai hướng giải quyết đối nghịch nhau:

-           Một mặt, Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam đang ra sức giữ độc quyền lãnh đạo bằng cách: đàn áp những tiếng nói chân chính đòi dân chủ và thi hành dân chủ giả hiệu từ trên xuống. Dễ có thể thấy qua những đòn ngón bá đạo như kiểu lấy phiếu “tín nhiệm cao, tín nhiệm vừa, tín nhiệm thấp” các cấp lãnh đạo, hay đến nhà ép dân phải đồng ý với những sửa đổi hiến pháp 1992 hoặc đang tính cải biến Mặt trận Tổ quốc cho có dáng dấp là tiếng nói phản biện của những tổ chức trong xã hội…

-           Mặt khác, khi tham gia vận động nhân quyền và dân chủ, những người tranh đấu luôn sát cánh cùng quần chúng để thiết lập Dân Chủ thực sự từ dưới lên. Nhiều giới trong xã hội đang dùng internet lên tiếng đòi giới cầm quyền phải tôn trọng những nhân quyền căn bản của người dân. Thí dụ: trí thức, thanh niên, sinh viên, giới trẻ, giới làm báo đòi phải có tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu ý kiến; tín đồ các tôn giáo đòi phải bỏ ‘giáo hội quốc doanh’ và tôn trọng quyền tự do hành đạo; người lao động đòi quyền sở hữu đất đai, đòi công đoàn độc lập, đòi quyền được đình công... Đây chính là những mầm mống xã hội dân sự đang hình thành và lớn mạnh trong đấu tranh.”          

Như vậy, Bộ Chính trị có thể đưa ra những người Phản tỉnh CUỘI để làm tiến trình Dân chủ, thậm chí còn sử dụng những thành phần hải ngoại gọi là “Hòa Hợp Hòa Giải “. Cái tiến trình Dân chủ hóa này là nhằm KIỆN TOÀN cho Cơ chế CSVN hiện hành và tất nhiên chúng tôi xếp họ vào loại Phản tỉnh CUỘI.

            Phản tỉnh THỰC phải đi với quần chúng để dành lại quyền Dân Chủ cho Dân và cùng Dân xây dựng Thể chế Dân chủ thay thế hẵn Cơ chế CSVN độc tài hiện hành.

            Việc phân biệt THỰC và CUỘI là cần thiết lúc này mà tiêu chuẩn phân biệt là Ý chí rõ rệt DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN PHI NHÂN BẢN hay không.

 

Ts.NGUYỄN QUANG A là Chồn Lùi

ngăn cản BẠO ĐỘNG đến như định mệnh

 

            Tác giả NGUYỄN NGỌC GIÀ, với bài PHẢN BÁC BÀI VIẾT “KHÔNG ĐƯỢC KÍCH ĐỘNG BẠO LỰC“, đã nêu đích danh Ts.NGUYỄN QUANG A bởi vì Tiến sĩ viết và phổn biến bài KHÔNG ĐƯỢC KÍCH ĐỘNG BẠO LỰC . 

Trước khi nói đến nội dung bài của Tác giả NGUYỄN NGỌC GIÀ, chúng tôi xin nói về những ý nghĩ của chúng tôi khi thấy Phong trào 130 Trí thức ký tên Tuyên bố Quyền Xã Hội Dân Sự và kêu gọi thành lập DIỄN ĐÀN XÃ HỘI DÂN SỰ

            Khi đọc nội dung những lời Tuyên bố về Quyền Xã Hội Dân Sự, nghĩa là một Phong trào đấu tranh bằng khai triển Xã Hội Dân Sự với lý luận để từ đó đi đến cải tổ Thể chế Chính trị hiện hành. Theo như đường hướng đấu tranh Dân Sự, thì việc đấu tranh sẽ dài và bằng lý luận, viết lách và kiến nghị.

            Điều mà chúng tôi khá ngạc nhiên về Phong trào Trí thức này là những Trí thức đã phải la lớn lên để THANH MINH THANH NGA cho CSVN biết là họ đấu tranh trong ÔN HÒA để cải tổ Thể chế Chính trị. Lời thanh minh thanh nga này cho CSVN đi guốc trong bụng sợ sệt của mình rồi. Khi đấu tranh, chỉ cần nói cái Ý chí, còn việc ÔN HÒA, BẤT BẠO ĐỘNG không cần la lớn để thanh minh thanh nga tỏ ra sự sợ sệt của mình.

            Xin nhắc lại cho những Trí thức biết là Thánh GANDHI đấu tranh bất bạo động, nhưng không cần tuyên bố. Nước Anh  phải nhìn qua việc bất bạo động ấy một Lực Lượng BẠO ĐỘNG của khối người Aán Độ, thì mới trả Độc Lập cho nước này.

            Những lời tuyên bố thanh minh thanh nga ÔN HÒA, BẤT BẠO ĐỘNG, chính là thái độ vừa đấu tranh vừa chắp tay van lậy CSVN tha cho mình, đó là tranh đấu CHỒN LÙI hay CHUỒN LÙI vậy.

            Ts NGUYỄN QUANG A cũng trong Phong trào 130 Trí thức và còn thanh minh thanh nga bằng một bài viết “KHÔNG ĐƯỢC KÍCH ĐỘNG BẠO LỰC “ để khuyên hoặc ra lệnh cho quần chúng đang NỔI DẬY với tất cả viễn tượng BẠO ĐỘNG. Bộ CSVN là cha mẹ, anh em bà con thân của Tiến sĩ hay sao mà Tiến sĩ ra lệnh cho quần chúng NỔI DẬY  không được mang đòn càn, đòn sóc, búa tạ đập bể đầu những tên đầu trâu mặt ngựa đến cướp của giết người.

            Tác giả NGUYỄN NGỌC GIÀ đã thẳng thừng dậy cho Ts NGUYỄN QUANG A một bài học:

            “Rất lâu, từ trước khi bà Hằng bị ông A cho là "kích động bạo lực", nhiều mạng người đã chết hay bị thương tật, tù tội oan khuất bằng cách này hay cách khác, dù gián tiếp hay trực tiếp do giới cầm quyền Việt Nam gây ra như: Bà Bùi Thị Nhung chết ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, vụ gia đình Đoàn Văn Vươn, vụ nông dân Văn Giang chống cướp đất, vụ đặt mìn tại nhà giám đốc công an Khánh Hòa của ông Nguyễn Viết Trương, vụ bà Đặng Thị Kim Liêng (mẹ cô Tạ Phong Tần) tự thiêu, vụ người đàn ông tự thiêu cháy đen tại Lâm Đồng v.v... cùng nhiều vụ chết người do phía công an gây ra. Thử hỏi ông Nguyễn Quang A, những vụ chết người này do ai "kích động bạo lực"?...

            “Đó lại chỉ ra một việc, lâu nay một số vị "có ăn có học" cứ nhìn một số người dân hay một vài nhóm bạn hữu như là một tổ chức chính quy có cương lĩnh, có điều lệ, có tài lực, vật lực, nhân lực đủ đầy. Rất lạ với những người tưởng chừng họ hiểu biết nhiều hơn người dân đen tưởng họ có.

            “Người dân ngày nay không ngu như ông Nguyễn Quang A tưởng. Hãy nhìn thực tế mà luận, đừng ngồi trong vỏ ốc, tháp ngà mà suy, hỡi những "trí thức sa lông"! Hãy hỏi thử gia đình Đoàn Văn Vươn, Lê Thị Ngọc Đa, Trần Thị Hài, Nguyễn Viết Trương, dân Văn Giang, Dương Nội, Thái Bình, Long An, Đà Nẵng v.v... xem những ai "xúi giục" hay "kích động" họ đứng lên chống lại bọn tham quan? Hay vì lợi ích của họ bị xâm phạm bất hợp pháp và bất hợp lý, họ từ những người dân oan lẻ tẻ, tự động đoàn kết lại để lập hội cùng đấu tranh? Và như thế nó là cái án tù 3 năm rưỡi mà bà Lê Thị Ngọc Đa phải nhận lãnh! [8] Rõ ràng, dân chẳng ngu chút nào!

Ông Nguyễn Quang A hô hoán lên chẳng khác gì ĐCSVN hô hoán "thế lực thù địch" mà không chỉ ra được tổ chức nào, tên gì cụ thể.

Tại sao ông A có thể hô hoán với những lời lẽ chụp mũ nặng về suy diễn và hoang mang không đáng có? Vì suy nghĩ ông A giống như suy nghĩ của giới chóp bu hiện nay, họ cho rằng dân ngu dốt nên mới dễ nghe theo lời "xúi". Những ai đồng ý với Nguyễn Quang A qua bài viết của ông, một là cũng tự đặt bản thân vào tâm thức dễ bị "xúi", hai là cũng khinh dân như... cộng sản. Do đó, bài viết của ông A suy cho cùng là một dạng chống lại nhân dân, chứ không phải vì dân.”

            Chúng tôi xin nhắc lại cho Ts NGUYỄN QUANG A nhớ rằng Trí thức Quốc nội đã bao lần viến Kiến nghị lên đảng CSVN và bao lần những Kiến Nghị ấy bị bỏ sọt rác. Tôi còn nhớ một Trí thức tên tuổi đã phải than ra nước mắt rằng Nhà Nước CSVN coi khinh chúng tôi như những con bò.

            Lúc này đấu tranh không cần phải rào đón trước sau là mình ÔN HÒA, BÁT BẠO ĐỘNG. Không những thế, cuộc đấu tranh của Trí thức Quốc nội có hiệu lực hay không là phải sửa soạn đàng sau một LỰC LƯỢNG KHẢ THỂ SẴN SÀNG BẠO ĐỘNG. Xin những đừng kêu gọi “KHÔNG ĐƯỢC KÍCH ĐỘNG BẠO LỰC“, mà chính Trí thức Quốc nội phải phân chia nhau ra để đi vào với những LỰC LƯỢNG QUẦN CHÚNG có khả năng BẠO ĐỘNG để tổ chức cho quy cũ.

            Quần chúng sẽ cho Trí thức cái LỰC LƯỢNG BẠO ĐỘNG KHẢ THỂ để hậu thuẫn Phong trào dắu tranh như trước đây Khối Dân Aán Độ đã hậu thuẫn cuộc đấu tranh của Thánh GANDHI.

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 10.10.2013


 

 

 

Đừng bốc phét nữa


From: Chuyen tiep

 

Đừng bốc phét nữa
Tác giả: Trần Hồng tâm






Thoạt đầu tôi định chỉ viết một lời bình sau khi đọc Thời thanh niên sôi nổi của chị Đoan Trang trên ĐCV, nhưng e rằng sẽ không đủ ý, đành viết bài này vậy.

Tôi là một gã Bắc kỳ. Từ lớp vỡ lòng đến đại học tôi được học dưới cái gọi là “mái trường XHCN”. Anh tôi là một bộ đội phục viên. Cháu ruột là đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh đang tại chức. Tôi đi nghĩa vụ quân sự 3 năm, mang quân hàm trung úy, chức đại đội phó, có tham gia một vài trận đánh ở chiến trường Campuchia.

Dài dòng một chút để các bạn hiểu: tôi không liên hệ gì đến Việt Nam Cộng Hòa. Tôi không hận thù, không chống cộng. Tôi chỉ muốn được chia sẻ chút suy nghĩ của mình trước những thậm từ mà thiên hạ đang sử dụng để tung hô tướng Giáp: “mãi mãi là một biểu tượng sống động của trí tuệ”; “Thiên tài quân sự”; “Đại trí, đại nhân, đại dũng”; “Vị tướng huyền thoại”; “Nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại”; “Một nhân cách lớn”.

Có thiệt vậy không?

Những Điều Tận Mắt


Khoảng đầu năm 1983, ông Giáp đến thăm một trường đại học. Khi đó ông đã thôi chức Bộ trưởng quốc phòng, đang là Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch. Tôi thấy ông vẫn mặc quân phục, mang quân hàm đại tướng. Bọn sinh viên chúng tôi đang ở tuổi trên dưới 20, rất ngưỡng mộ ông, kéo đến nghe ông nói chuyện. Không ngờ những bài phát biểu của ông rất nhạt, chung chung, vô thưởng vô phạt, với những sáo ngữ mòn cũ, giáo điều thường thấy trong các nghị quyết của chi bộ, chi đoàn như là Đảng ta, nhân dân ta anh hùng, quân đội ta anh dũng, thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác Hồ, quyết tâm, vượt mức, lập thành tích, quán triệt, phát huy,…

Không có gì sắc sảo, mới lạ. Màng nhĩ của tụi tôi bấy giờ đã khá quen với những ý tưởng và ngôn từ của các giáo sư đại học thời Tây còn lại, hoặc những vị cỡ như Bùi Tín nói về thời sự quốc tế, Trần Quốc Vượng nói về Hà nội học, hay Xuân Diệu bình thơ. Vì thế nghe tướng Giáp nói xong chúng tôi thất vọng quá. Sau này tôi lại thấy mỗi khi đi thăm các cơ sở, ông Giáp đều bắt đầu lời phát biểu kiểu như:

Thay mặt đ/c Lê Duẩn uỷ viên BCT tổng bí thư…, đ/c Trường Chinh ủy viên BCT chủ tịch hội đồng nhà nước…, đ/c Phạm Văn Đồng ủy viên BCT, chủ tịch hội đồng chính phủ, và các đ/c khác trong trung ương… tôi xin gởi lời thăm đến các đồng chí…

Thì ra ở đâu ông cũng ăn nói na ná như nhau.

Ngày 30 – 4 -1995, kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam. Năm chẵn, nên tổ chức rất hoành tráng ở t/p HCM. Truyền hình Mỹ chiếu trực tiếp lễ duyệt binh, có phần phỏng vấn tướng Giáp và tướng Westmoreland. Ý họ là để cho hai vị tướng đã từng đối đầu ở chiến trường có dịp trò chuyện với nhau. Sau lời phát biểu khá khiêm tốn của tướng Westmoreland, đến lượt tướng Giáp – ông nói đại ý rằng chúng tôi vô cùng tự hào vì Việt Nam là một thuộc địa nhỏ bé nhưng đã đánh thắng được hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Một thiên tài quân sự, một chính khách lỗi lạc, một nhà ngoại giao tài ba, mà lại phát biểu như vậy sao. Tôi tự hỏi.

Từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò

Ngày 22-11-1944, ông Giáp cùng với 34 chiến sĩ đã qua một cơn chuyển dạ đớn đau, rồi sinh hạ QĐNDVN duới gốc đa Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Đến tháng 5-1948, tức 3 năm rưỡi sau, ông Giáp được ông Hồ Chí Minh phong cho chức Đại tướng. Khi ấy ông Giáp mới 37 tuổi.

Riêng điều này thì “huyền thoại” thiệt. Cả thế giới đến nay mới xuất hiện hai đại tướng được phong vượt 17 cấp bậc như thế! Ông Giáp ở Bắc Việt Nam, và Kim Jong-un ở Bắc Triều Tiên! Từ đó người ta gọi ông Giáp là “tướng Giáp”. Ông giữ những chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh QĐNDVN cho đến năm 1982.

Vào cuối thâp kỷ 60, trước và sau khi ông Hồ chết, nội bộ ĐCSVN xảy ra “Vụ Án Xét Lại Chống Đảng” do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phát động. Ông Giáp trở thành đích ngắm của vụ án, nhưng ông lại không bị đánh trực tiếp, mà đòn hiểm lại nhằm vào những người đồng chí trung thành của ông ở chiến dịch Điện Biên Phủ: Thượng tướng Chu Văn Tấn tư lệnh Quân Khu Việt Bắc, Thiếu tướng Đặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần, Tướng Lê Liêm một ủy viên đảng ủy, Trung tướng Trần Độ chỉ huy đại đoàn 312, mũi tấn công chính vào sở chỉ huy Pháp, và là người tiếp nhận sự đầu hàng của tướng de Castries, Đại tá Đỗ Đức Kiên cục trưởng tác chiến, Đại tá Phạm Quế Dương, ông Hoàng Minh Chính, và nhiều người khác nữa. Tất cả bị vu cáo cùng một tội “chống đảng, xét lại, làm gián điệp cho nước ngoài”.

Điều trớ trêu là tướng Giáp biết rõ là ngụy tạo, nhưng ông không bao giờ mở miệng, hoặc có một động thái nào để bảo vệ, hay giúp đỡ những người bạn cũ đang bị đối xử rất tàn ác.

Đại hội Đảng V – 1982, ông Giáp bị đưa ra khỏi bộ chính trị, mất chức bộ trưởng bộ quốc phòng, và được “phân công” về làm trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch. Thực chất đây là một vụ cách chức, hay nói trắng ra là ông Lê Đức Thọ đã hạ nhục ông Giáp một cách không thương tiếc. Ông Giáp vẫn không có một hành động gì dù nhỏ nhất như là từ chức, xin về hưu để tỏ thái độ, và giữ gìn khí tiết của một người làm tướng. Ông tỏ ra như một đứa con ngoan vâng lời cha mẹ. Dân Bắc kỳ phải ngán ngẩm mà than rằng:


Xưa làm bộ trưởng quốc phòng

Nay làm bộ trưởng đặt vòng tránh thai

Hay:

Bác Hồ nằm ở trong lăng,
Nhiều hôm bác bỗng nghiến răng, giật mình
Rằng giờ chúng nó linh tinh
Tuổi tên của mình chúng ném xuống ao
Ao nào thì có ra ao
Cái tròn cái méo, cái nào cũng sâu
Hỏi rằng tướng Giáp đi đâu
Dạ thưa tướng Giáp… lo khâu đặt vòng.”

Một bài vè khác thì chẳng còn úp mở gì:

Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

Ngày xưa đại tướng công đồn
Ngày nay đại tướng công l… chị em.

Khi hai ông Duẩn – Thọ về thăm Bác, tưởng rằng vòng kim cô trên đầu tướng Giáp sẽ được gỡ ra. Nhưng không, nó còn bị siết chặt hơn bởi một cặp bài trùng mới: Đỗ Mười – Lê Đức Anh (được biết đến là MA, viết tắt từ Mười – Anh). MA đã giáng một đòn trực tiếp vào ông Giáp với một bản cáo trạng gồm 8 tội danh:

1. Ông Giáp từng là con nuôi của chánh sở mật thám Đông Dương, Louis Marty.

2. Ông Giáp cầm đầu vụ án Xét Lại Chống Đảng từ năm 1957-1958.

3. Ông Giáp bán bí mật quân sự cho Đại Sứ Liên Xô Serbakov.

4. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Giáp hèn nhát, sợ chết quanh quẩn trong hầm, không dám ra ngoài. Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ huy chiến dịch.

5. Ông Giáp nhận định tình hình kém, vội vàng giải tán 80.000 quân, để khi Pháp – Mỹ trở lại thì không có đủ quân chống đỡ.

6. Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội, nên xin đi nghỉ ở Moscow để lánh nạn.

7. Ông Giáp hèn nhát, sợ B-52 của Mỹ rải thảm, nên không đi B (chưa bao giờ dám đặt chân vào chiến trường miền Nam trước 1975).

8. Ông Giáp đã có vợ, nhưng lại ăn nằm với một phụ nữ đã có chồng. Cô này đến nhà riêng ông Giáp dạy đàn piano.

Đỗ Mười kết luận phải khai trừ ông Giáp ra khỏi ĐCSVN. Lê Đức Anh nương tay hơn, chỉ gạt ông Giáp ra khỏi ghế “ủy viên trung ương” – một vị trí an ủi mà thời Lê Duẩn – Lê Đức Thọ vẫn còn bố thí cho ông.

Người ta ví von rằng trận đòn mà MA đánh ông Giáp cũng giống như trận đòn mà Đặng Trần Thường đánh Ngô Thì Nhậm ở Quốc Tử Giám cách đây 200 năm. MA đánh Giáp bằng những tội danh rất hiểm. Thường đánh Nhậm bằng roi tẩm thuốc độc. Nhậm đau lắm nhưng vẫn đối đáp khí khái, ăn miếng trả miếng, bảo vệ được thanh danh, để lại tiếng thơm cho đời sau. Còn tướng Giáp thì vẫn nhũn như con chi chi, nhịn nhục, không dám nói năng gì. Có phải lòng kiêu hãnh của một vị đại tướng đã thành gỗ đá, không bao giờ bị thương tổn?

Có người lại bảo ông Giáp phục kích, chờ cơ hội. Đúng, ông Giáp đã chờ cho đến khi cả hai ông MA đã vào tuổi 90, sức khỏe cạn, quyền lực hết, không còn ảnh hưởng nhiều đến phong cảnh chính trị Việt nam thì ông Giáp mới dám mở miệng để đòi lại danh dự. Tiếc thay, tướng Giáp chỉ đòi công lý cho cá nhân ông, còn những đồng đội trung thành của ông ở Điện Biên Phủ ông chẳng hề bận tâm.

Dân Hà nội thì đàm tiếu rằng con đường tòng chính của tướng Giáp đầy gian nan vất vả, ông đã hành quân qua một chặng đường dài từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò. Cây Đa Nhà Bò là một trạm hộ sinh nằm trên phố Lò Đúc, Hà Nội, dành cho những phụ nữ thuộc giới bình dân, chuyên đỡ đẻ, nạo phá thai, khám phụ khoa, thông vòi trứng, hút điều hòa kinh nguyệt, điều trị rong kinh huyết trắng. (Ngẫm ra, dân Hà Thành thâm thiệt!)

Viết về tướng Giáp mà không phân tích một trận đánh do ông chỉ huy, thì rất là thiếu sót. Tôi quyết định chọn trận đánh cuối cùng trong cuộc đời cầm quân của ông. Đó là một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu giữa hai người anh em cùng ý thức hệ cộng sản:

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐND) do tướng Giáp chỉ huy và Hồng Quân Trung Hoa (HQTH) do tướng Dương Đắc Chí là tư lệnh.

Cuộc chiến Việt – Trung tháng 2-1979.
QĐND hoàn toàn bị bất ngờ:


Để trừng phạt Việt nam, HQTH đã sử dụng 10 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn độc lập, bao gồm 300.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối, hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay phía sau.

Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng HQTH đã mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công. Chỉ cần là nhân viên quân báo cấp trung đoàn, hay các tổ trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ý đồ, và ngày giờ khai hỏa của đối phương, nói gì đến tình báo chiến lược.

Mờ sáng ngày 17-2-1979, HQTH tấn công trên toàn tuyến biên giới dài 1.400 Km, trải rộng trong một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Việt nam hoàn toàn không hay biết gì. Khi HQTH tràn qua biên giới, thì thủ tướng Phạm Văn Đồng và đại tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng, đang thăm viếng xứ Cao Miên. Dân chúng không được thông báo trước, trẻ em, người già, và phụ nữ có thai, không kịp di tản ra khỏi vùng chiến địa. HQTH đã tạo ra được một yếu tố bất ngờ đến ngọan mục. Không hiểu tướng Giáp biện minh thế nào cho việc không hay biết gì về giờ nổ súng của đối phương. 


Thất bại về tình báo và nhận định tình hình:

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia. Đặng đã gọi Việt Nam là những tên du côn của phương Đông, phải dạy cho chúng một bài học. Có lẽ vì lời của Đặng quá khiếm nhã, báo chí Trung Quốc chỉ dùng nửa sau của câu nói.

Ngày 28-1-1979, Đặng thăm Mỹ, và tuyên bố “Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi”, “Trung Quốc kiên định đứng về phía Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam”. Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rõ. Báo chí Mỹ loan tải sớm muộn gì thì một cuộc chiến giữa hai nước cộng sản sẽ nổ ra.

Sau 3 ngày thăm Mỹ, Đặng đến Nhật. Tại đây, Đặng vẫn giọng điệu hung hăng “để trừng phạt Việt nam, dù có gặp những nguy hiểm cũng phải hành động”; “không trừng phạt kẻ xâm lược, sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền”, “Đối phó với loại người vô ơn như thế, không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả”. Các nhà ngoại giao Nhật ngạc nhiên vì lời lẽ và thái độ phi ngoại giao của Đặng.

Cũng khoảng thời gian này, TASS – hãng thông tấn của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn quân đội Trung Quốc đang áp sát biên giới Việt–Trung.

Từ Nhật về, Đặng chỉ thị tấn công Việt Nam vào ngày 17-2. Thời gian của chiến dịch không dài hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ (1962); không gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi trên duới 50 cây số từ biên giới.

Bằng chứng Đặng sẽ trừng phạt Việt nam đã rõ như ban ngày, nhưng không hiểu vì sao phía Việt Nam tin rằng Trung Quốc là một nước XHCN anh em, và nhân dân Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, sẽ không ủng hộ chiến tranh. Trung Quốc sẽ không tấn công, hoặc nếu có thì chỉ từ cấp sư đoàn đổ lại.

Thiếu tin tình báo, nhận định và phân tích tình hình sai, không nắm được thời điểm nổ súng, thời gian, không gian, và quy mô chiến dịch của đối phương, đã dẫn đến việc tướng Giáp không hề bố trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới. Tất cả phó thác cho dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, và một vài trung đoàn độc lập.

Một thất bại về chiến thuật:

Kế hoạch hành quân của Trung Quốc chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: từ 17-2 đến 25-2, phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam, làm chủ thị xã Cao Bằng, Lào Cai, và hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, để mở đường cho cuộc tấn công vào Lạng Sơn.

Giai đoạn 2: từ 26-2 đến 5-3, chiếm được thành phố Lạng Sơn, và hai thị trấn Sa Pa va Phong Thổ.

Giai đoạn 3: từ 5-3 đến 16-3, bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới, trước khi rút về.
Ngày 21 tháng 2, khi chiến dịch đang diễn ra rất ác liệt, tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã tiến về bờ biển Việt nam. Cầu hàng không của Liên Xô giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria đã chở vũ khí tới Hà Nội.

Trước tình hình đó ngày 23-2-1979, Đặng sợ Liên Xô nhúng tay, nên lên tiếng về “cuộc chiến sẽ giới hạn trong vòng 50 km, và sẽ rút quân trong 10 ngày tới. Rõ ràng Trung Quốc không có ý định tấn công vào Hà nội. Họ chỉ ba hoa rằng “ăn sáng ở Lạng Sơn và ăn tối ở Hà Nội.”

Việt Nam lại tin rằng cuộc chiến sẽ kéo dài, và Hà nội sẽ bị tấn công. Từ nhận định sai lầm này mà dẫn đến việc dồn hết công sức, và tâm trí vào việc xây dựng “Phòng Tuyến Sông Cầu”, để cố thủ Hà nôi. 7 tỉnh biên giới gần như bị bỏ ngỏ, phải tự chiến đấu trong tuyệt vọng, tự gánh vác lấy sức nặng của cuộc chiến, không được chi viện. Trận chiến tại Đồng Đăng là một thí dụ:

Đồng Đăng là một thị xã nằm sát biên giới Việt-Trung, cách thành phố Lạng Sơn 14 Km về phía Đông Nam. Trận đánh bắt đầu sáng 17-2 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, thuộc sư đoàn Sao Vàng, QĐND.

Phía Trung Quốc dùng 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh, (Tương quan lực lượng là khoảng 10 đánh 1). Pháo đài Đồng Đăng tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã, (Pháo đài này được Pháp xây dựng rất kiên cố, vì ở đây đã diễn ra khá nhiều va chạm đẫm máu giữa Pháp và nhà Thanh trước đây).

Việt nam chỉ có 2 tiểu đoàn trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không hề được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được 22 ngày đêm. Cuối cùng HQTH cũng đã làm chủ được khu vực bên ngoài Pháo Đài, nhưng Trung Quốc không gọi được đối phương cố thủ bên trong ra đầu hàng. Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, phun chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn. Khi chiếm được Pháo đài Đồng Đăng, HQTH đã dùng 10 tấn thuốc nổ để phá hệ thống cố thủ này.

Việt Nam lúc đó đã có ít nhất 5 sư đoàn đang ở miền Bắc, trong đó có sư 308 – là một sư đoàn thiện chiến đã từng đánh ở Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Nếu 5 sư đoàn này được tham chiến vào buổi bình minh của cuộc chiến thì tình thế sẽ hoàn toàn có lợi cho phía QĐND. HQTH không thể tiến sâu vào lãnh thổ VN, không thể làm chủ được thời gian, không thể đạt được những những mục tiêu như họ muốn, và họ sẽ không có lý do gì để tuyên bố là “Chiến Thắng”. Đây là một sai lầm mang tính chiến thuật mà tướng Giáp và bộ tổng tham mưu của QĐND phải chịu trách nhiệm.

Một kết thúc mập mờ dẫn đến một sai lầm chiến lược:

Sau những ngày chiến đấu ngoan cường nhưng đơn độc của sư đoàn Sao Vàng trước một đối phương áp đảo về số lượng và hỏa lực, ngày 4-3-1979, Lạng Sơn thất thủ.

Sáng 5-3, Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang, và quyết định rút quân.

Cùng ngày 5-3, Việt nam phát lệnh “Tổng Động Viên”. Những quân đoàn chủ lực của QĐND có xe tăng, pháo binh, và không quân từ chiến trường Campuchia trở về, cùng với một địa hình muôn vàn hiểm trở của núi rừng miền Bắc, Việt Nam đã vào vị trí vây hãm HQTH. Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc phản kích, mà phần thắng sẽ thuộc về tay QĐND.

Nhưng tiếc thay, Việt Nam lại tuyên bố “Thiện Chí Hòa Bình”, rằng truyền thống ông cha ta… rằng lòng cao thượng… rằng lòng nhân đạo của dân tộc ta … , Việt Nam sẽ để cho HQTH rút quân an toàn.

Sự thực trên đường rút quân, HQTH vẫn chém giết, vơ vét, và phá hoại. Vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại Đổng Chú, huyện Hòa An, Cao Bằng là một thí dụ. HQTH đã dùng búa, dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, 20 trẻ em, và 2 người đàn ông, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ suối. HQTH có đủ thời gian và không gian để phá hoại hạ tầng cơ sở, chiếm giữ những điểm cao quan trọng, và gài lại hàng triệu trái mìn cá nhân trên đường rút lui.

QĐND đã không tổ chức những trận đánh cấp tập, vu hồi, tạt sườn trên đường rút quân của HQTH. Kết thúc cuộc chiến một cách mập mờ, nửa vời, đánh rắn giữa khúc, nửa nạc nửa mỡ. HQTH coi thường ý chí và kinh nghiệm chiến đấu của QĐND, và còn mỉa mai rằng chưa được “vuốt râu cọp”. Họ không tôn trọng danh tiếng của một đạo quân thiện chiến.

Quyết định “Thiện Chí Hòa Bình” của Việt Nam hình như là một thái độ thủ hòa, nhưng hòa vào một thế vô cùng bất lợi. Từ đó, trong bất kỳ những cuộc thương thảo nào về biên giới, Trung Quốc luôn ở thế kẻ cả, áp đảo, và lấn lướt mà chúng ta thấy rất rõ. Đây là hệ luỵ từ sai lầm mang tính chiến lược do tướng Giáp và Bộ tổng tham mưu gây ra.

“Anh Đặng”

Đặng Tiểu Bình là người đã phát động cuộc chiến đẫm máu, man rợ, gây ra bao nhiêu đau thương và dẫn đến những hệ lụy cho đất nước Việt Nam nhiều năm sau đó. Đặng đã từng gọi lãnh đạo của Việt Nam là “những thằng du côn của phương Đông”, “lũ tiểu bá”, “đám vô ơn, bội bạc”.

Thế mà 10 năm sau, khi những vết thương trên thân mình Tổ Quốc vẫn còn đang chảy máu, ngày 3-9-1990, ba ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng bí mật đến Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, hy vọng được yết kiến Đặng Tiểu Bình.

Đặng không gặp, để cho hai đàn em Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp. Cả ba ông Linh, Mười, Đồng rất tiếc vì đã không gặp được “anh Đặng”. Ông Võ Văn Kiệt ở nhà cũng tiếc hùi hụi, phàn nàn rằng “nếu có anh Đặng, thì anh Tô (Đồng) mới nên đi.”

Kẻ tử thù của của nhân dân Việt nam, nay được các nhà lãnh đạo Việt Nam gọi bằng “ANH” thân thiết qúa. 
Cũng khoảng thời gian đó, tướng Giáp đến thăm Trung Quốc, và xin được gặp tướng Dương Đắc Chí – tổng tư lệnh trong cuộc chiến biên giới với Việt Nam năm 1979. Nhưng Dương tướng quân từ chối, nói:

“Đời nào tôi lại gặp ông ta. Mộ của các cán bộ chiến sĩ vẫn còn chưa xanh cỏ!”

Chỉ vài thông tin để các bạn thấy được cái gọi là “Đại trí, Đại nhân, Đại dũng” của những lãnh tụ cộng sản Việt Nam, trong đó có Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

(Trong bài này tôi có tham khảo tài liệu của các tác giả Bùi Tín, Trần Quang Cơ, Trần Vũ,
và Bharat Rakshavà trang mạng Talawas. Tôi cảm ơn các tác giả kể trên).
Tháng 3, 2011- © Trần Hồng Tâm
© Đàn Chim Việt

Miến Điện đạt thỏa thuận chấm dứt xung đột với quân nổi dậy Kachin


 

MIẾN ĐIỆN  - 

Bài đăng : Thứ năm 10 Tháng Mười 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 10 Tháng Mười 2013

Miến Điện đạt thỏa thuận chấm dứt xung đột với quân nổi dậy Kachin


Lực lượng võ trang KIA của người Kachin tại Miến Điện.

Lực lượng võ trang KIA của người Kachin tại Miến Điện.

AFP/Soe Than WIN

Thanh Hà  RFI


Sau ba ngày đàm phán tại Myitkyina, thủ phủ bang Kachin, chiều ngày 10/10/2013, chính quyền Miến Điện với đại diện của lực lượng võ trang Kachin vừa đạt được một thỏa thuận sơ khởi để vãn hồi hòa bình. Đây là bước đầu chấm dứt cuộc xung đột võ trang cuối cùng còn đang tiếp diễn tại Miến Điện.


Bộ trưởng đặc trách về vấn đề Sắc tộc của Miến Điện, ông Aung Min trong thông cáo báo chí nhấn mạnh, dù mới chỉ là thỏa thuận sơ khởi nhưng đây là một bước tiến quan trọng, là « nền tảng mở ra đối thoại chính trị » để khép lại cuộc xung đột võ trang đã kéo dài trong nhiều thập niên qua. Để đạt được mục tiêu hòa bình, đôi bên đã làm việc với nhau « để tìm ra một sự suy nghĩ mới về phương diện chính trị, để tìm ra đồng thuận, thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau».

Xung đột giữa quân đội Miến Điện với Lực lượng võ trang KIA của người Kachin đòi độc lập đã khiến hơn 100.000 người đã phải di dời chỗ ở kể từ khi giao tranh bùng lên trở lại vào tháng 6/2011, sau 17 năm lắng dịu. Chính quyền mới của tổng thống Thein Sein, lên cầm quyền vào tháng 3/2011, xem việc vãn hồi hòa bình tại bang Kachin, miền bắc Miến Điện, sát biên giới Trung Quốc là một ưu tiên. Naypyidaw đã tổ chức nhiều cuộc đàm phán với phe nổi dậy, nhưng tất cả đều đã thất bại.

Hôm 08/10/2013 một vòng đàm phán mới đã được mở ra với sự hiện diện của đặc sứ Liên Hiệp Quốc về Miến Điện, Vijay Nambiar. Đứng đầu phái đoàn đại diện cho chính phủ Miến Điện là Aung Min, bộ trưởng phụ trách các vấn đề sắc tộc. Trước khi bước vào đàm phán, ông Aung Min tỏ ra lạc quan. Đại diện của chính quyền Naypyidaw cho biết, đôi bên đã thảo luận về vế quân sự và về số phận người tỵ nạn Kachin.

Bản tin của AFP nhắc lại, đây là lần thứ nhì chính quyền Miến Điện đối thoại với quân nổi dậy Kachin ngay tại thủ phủ bang này. Lần trước là vào tháng 5/2013. Khi đó đôi bên đã đồng ý « từng bước giám bớt xung đột, để thực sự tìm kiếm một giải pháp chính trị » vì mục đích hòa bình. Phe nổi dậy đòi Miến Điện mở rộng một số hoạt động chính trị và công nhận quyền tự trị rộng rãi hơn của người Kachin.

Nhân chuyến công du Anh Quốc vào tháng 7/2013, tổng thống Thein Sein nhấn mạnh mong muốn Miến Điện, « lần đầu tiên từ 60 năm qua, không còn tiếng súng ».

Cách nay hai ngày, chính quyền Miến Điện đã trả tự do cho 56 tù nhân chính trị, trong đó nhiều thành phần có liên hệ với nhóm nổi dậy Kachin. Đó có thể được coi là một tín hiệu bày tỏ thiện chí của chính quyền.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link