Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, November 10, 2013

SỰ THẬT DƯỚI ĐÁY TUYỀN ĐÀI


Mot bai viet nen doc



KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TAU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

SỰ THẬT DƯỚI ĐÁY TUYỀN ĐÀI

 

 

                                                             Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Mới đây chúng tôi có phổ biến trên internet một loạt 4 bài viết nhan đề “Làm Tái Diễn Lịch Sử: Mưu Toan Thất Bại.” Trong bài thứ 3, chúng tôi đề cập đến vấn đề tay sai VGCS cáo buộc rằng TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Hồ chí Minh qua việc người em của ông là ông cố vấn Ngô Đình Nhu gặp gỡ Phạm Hùng, một phó thủ tướng của phỉ quyền Hànội tại rừng Chí Linh, Bình Tuy là phản bội lại người Mỹ và mưu toan dâng hiến miền Nam cho VGCS. Một bạn đọc của chúng tôi là ông Trần Bá Đàm, có gởi e-mail nói với chúng tôi: “Tôi đề nghị ông Duyên Lãng  Hà Tiến Nhất soi dọi viết phân tích cá nhân - đoàn thể- tôn giáo - ngoại quốc ích kỷ vv... đã làm 3 anh em ông bị chết oan uổng, rồi cộng sản chiếm đóng miền nam Quốc Gia. Đóng góp làm sáng tỏ lịch sử, để lại cho hậu thế.”

 

    Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Trần Bá Đàm về đề nghị rất đáng quan tâm của ông. Điều ông mong muốn đòi hỏi công sức và thời giờ đáng kể nên chúng tôi đành phải xin lỗi ông và thú thực rằng trong hoàn cảnh và điều kiện hiện tại, chúng tôi lực bất tòng tâm. Nhưng để đáp lại phần nào điều mong muốn của ông Trần Bá Đàm, và cũng là để phản bác lại luận điệu xuyên tạc bôi bẩn của những tên tay sai VGCS, hôm nay chúng tôi cố gắng trở lại vấn đề với một vài suy nghĩ mới qua bài viết ngắn và cô đọng dưới đây.

 

     Chúng tôi luôn thắc mắc là tại sao cho đến bây giờ bọn tay sai VGCS mới ghim chặt cái tội ác tầy trời bán nước, thông đồng với giặc này lên đầu TT Ngô Đình Diệm. Thế còn những chuyện gia đình trị, đàn áp Phật Giáo ….. thì sao? Và chúng tôi cũng đã tìm ra được câu trả lời: những chiêu thức độc tài gia đình trị, đàn áp Phật Giáo v.v. lỗi thời rồi, không còn ăn khách nữa. Tố cáo TT Diệm bán miềm Nam cho VGCS mới là chiêu thức tuyệt kỷ xóa đi cái tội bán nước của giặc Hồ và bè lũ.

 

     Để tuyệt diệt chính quyền Đệ I VNCH gồm cá nhân TT Ngô Đình Diệm, hai người em của Tổng Thống, cùng với nhiều sĩ quan ưu tú, yêu nước, và trung thành nhất với chế độ, tất cả các thế lực thù địch của chính quyền TT Diệm gồm tập đoàn VGCS, chính quyền Mỹ lúc đó, bọn tướng tá côn đồ đâm thuê chém mướn cho Mỹ, nhóm Thích Trí Quang và đồng bọn tay sai CS, và bè lũ chính khách ham hố quyền hành, nhưng dốt nát, và ngu xuẩn, đã tung ra các chiêu bài hết sức man trá, nhưng rất ăn khách lúc đó như TT Diệm gia đình trị, tôn giáo trị, buôn lậu làm giầu, sa đọa trụy lạc với em dâu, bỏ tù và giết hại những người đối lập yêu nước v.v. Và chiêu thức thâm độc nhất, lôi kéo quần chúng nhất, và khích động lương tâm thế giới nhất là TT Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo.

 

     Sự thật những chiêu thức kia là gì?

 

     Giống như dân gian ta vẫn thường nói “cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng lòi ra.” Thời gian nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng còn để lại một sự thật rất vô tư và trần trụi là, tất cả đều là giả dối và bịp bợm. TT Diệm gia đình trị ư? Hai ngươi em trai của Tổng Thống, ông Ngô Đình Nhu và Ngô đình Cẩn được gọi là cố vấn đều không phải là người nằm trong cơ cấu quyền lực của chế độ và không ăn lương của nhà nước. Ông Nhu là một con người sâu sắc, nổi tiếng mưu lược, và có viễn kiến chính trị, cố vấn cho TT Diệm về đường lối trị quốc và các sách lược đối phó với VGCS cũng như với bạn là chính quyền Hoa Kỳ.
 
Ông Cẩn có biệt tài về vấn đề an ninh tình báo, giúp chính quyền thành công đáng kể trong vấn đề phá vỡ các đường giây xâm nhập của CS Bắc Việt. Sử dụng người trong gia đình có tài và sử dụng bọn chánh khách vô tài bất tướng cờ đến tay không biết phất trong nhóm Caravelle, đàng nào hợp lý hơn? TT Diệm tôn giáo trị? Thế nhưng ban tham mưu phủ tổng thống, kể từ Phó Tổng Thống trở xuống, hầu hết không phải là người đồng đạo với ông Diệm. Lãnh đạo và chỉ huy quân đội, 2/3 tướng lãnh là người ngoài công giáo. Hơn nữa, thực tế TT Diệm không hề dành ưu tiên cho Giáo Hội Công Giáo bất cứ cái gì.
 
Ngược lại ông đã dành cho các Giáo Hội Phật Giáo toàn miền Nam những ưu đãi rất đáng kể về đủ mọi mặt như xây cất chùa chiền, nâng cao trình độ và kiến thức văn hóa cho hàng ngũ sư sãi v.v. TT Diệm kinh tài nên gia đình giầu có? Thực tế đã chứng minh, với địa vị là nguyên thủ quốc gia mà TT Diệm và gia đình ông, nói hơi quá đáng một tí, cũng chẳng hơn gì dân khố rách áo ôm là bao. TT Diệm sống xa hoa trụy lạc? Chỉ có ác quỉ mới tưởng tượng ra nổi chuyện tố cáo bất nhân này. Một nhà tu hành đạo hạnh lạc lối vào con đường chính trị đã bị bọn lưu manh gán cho nỗi oan Thị Kính. TT Diệm bỏ tù và giết hại những người yêu nước?
 
Lời tố cáo hoàn toàn có tính cách vu khống bởi vì những kẻ trực tiếp hành động giết ông như tên CS Hà Minh Trí, phi công Phạm Phú Quốc mà còn được đổi xử tử tế và hết sức nhân đạo, thì tại sao ông lại bỏ tù, hành hạ, giết hại những người yêu nước? Nạn nhân của tính tàn bạo tưởng tượng này là những ai? TT Diệm đàn áp Phật Giáo? Sự thật được chứng minh hùng hồn và có sức thuyết phục nhất là biên bản của Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc được chính quyền Ngô Đình Diệm mời sang VN để trực tiếp tìm hiểu về vấn đề tố cáo này.
 
Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc được hoàn toàn tự do điều tra, đã xác định rằng không có vấn đề đàn áp Phật Giáo với tư cách là một tôn giáo tại VN. Phái Đoàn gồm toàn những quốc gia trung lập, phần lớn theo Phật Giáo. Không tin họ thì tin ai đây? Những sự thật này ngày nay bất cứ ai cũng có thể tự mình kiểm chứng được qua những tài liệu chính thức của chính phủ Hoa Kỳ đã được giải mật, qua những nhân chứng đáng tin cậy chung quanh TT Ngô Đình Diệm trước kia nay hãy còn sống, hoặc những sách báo họ viết ra, và nhất là dựa trên thực tại của đất nước diễn ra trong nửa thế kỷ qua.

 

     Ngày nay, tất cả những điều tố cáo nhơ bẩn và ác độc kia đã bị phơi bầy ra dưới ánh sánh mặt trời không thể che giấu được, nên ngược lại, chúng trở thành phản chứng và phản tác dụng, nói cách khác là tác dụng dội ngược. Nghĩa là những điều tố cáo bịa đặt lại tố cáo ngược lại chính những kẻ xưa kia đã tố cáo TT Diệm và chính quyền của ông. Tuy nhiên, như người ta vẫn thường nói: cà cuống chết đến đít vẫn còn cay. Bọn ác nhân ngày nay ít ồn ào hơn xưa kia, nhưng chúng cay cú tung ra một chiêu thức cực kỳ độc ác khác. Chiêu thức mới này là tố cáo TT Diệm phản bội lại người bạn Mỹ và mưu toan bắt tay với CS miền Bắc để hiến dâng đất nước cho kẻ thù.

 

     Vấn đề gọi là TT Diệm bắt tay với VGCS cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu chính thức nào xác nhận và tiết lộ nội dung. Trong bài “Làm Tái Diễn Lịch Sử …,” chúng tôi đã đưa ra một số dẫn chứng, và mới đây còn tham khảo thêm một số tài liệu khác nữa, chung qui đi đến một kết luận là, vấn đề này không đủ yết tố chứng minh là có, hoặc là nếu có thì cũng chỉ là cuộc thăm dò sơ khởi giữa hai bên miền Nam và miền Bắc. Cũng có thể nó nằm trong hai giả thuyết sau đây: một là do chính quyền Mỹ tạo ra để có lý do triệt hạ anh em TT Diệm.
 
Hai là có thể do ông Nhu tung tin để “trick” Hoa Kỳ. Hồ sơ lưu trữ của VNCH nếu có để lại thì 50 năm qua đã không tránh khỏi bị những thành phần tay sai VGCS thù ghét TT Diệm lôi ra để kết tội ông. Sự việc nếu thật sư đã đi đến quyết định thì thiết tưởng cũng khó qua khỏi con mắt cú vọ của CIA. Người Mỹ cũng chẳng cần phải giấu diếm làm gì.
 
 Nó đã được giải mật rồi. Phía CS miền Bắc, kẻ tham dự vào vấn đề (?) cũng chẳng cần ngâm tôm nếu việc này đã trở thành nghị quyết của Bộ Chính Trị đảng, vì đây là một đề tài có lợi cho chúng để tuyên truyền: cả đến Ngô Đình Diệm cũng còn muốn hòa hợp hòa giải với CS, tại sao người tỵ nạn cứ căm thù CS hoài? Điều đáng tiếc là tất cả những người trong cuộc gồm ông Nhu, ông Diệm, Phạm Hùng, và cả tên giặc Hồ đều đã trở thành người thiên cổ. Vấn đề như thế đã được đem theo xuống dưới Tuyền Đài, không để lại dấu vết gì.

 

     Vài bữa trước, khi chúng tôi đang có ý định viết những dòng suy tư này thì rất may mắn đọc được bài tường thuật bà Ngô Đình Nhu trả lời phỏng vấn của báo chí Mỹ hồi năm 1982 do Thiếu Tá Liên Thành và UBTTTAĐCSVN gởi cho. Thành thật cám ơn anh Liên Thành và Ủy Ban đã đem đến cho tôi một tia sáng, giúp tôi giải được những khúc mắc của vấn đề.

 

     Trong khi tham khảo, chúng tôi được đọc một tài-liệu cho là di-chúc của Hồ Chí Minh. Tài liệu này viết: “Ðầu năm 1963, hồi đó tôi (Hồ Chí Minh) còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt-chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân-viên Ủy-Hội Kiểm-Soát Quốc Tế Ðình-Chiến chuyển vào Nam bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.  Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam.” 
 
 Đọc đoạn văn biết là phịa, tôi hoàn toàn không tin. Khi đọc nhà bình luận Joseph Alsop viết trên tờ Washington Post rằng lần đầu tiên ông Nhu thú nhận với anh ta là ông đã liên lạc với Hà Nội, tôi cũng không tin, vì Alsop là một nhân viên CIA viết trên tờ báo phản chiến. Rồi khi bắt được bản phúc trình của ông  Maneli, trưởng phái đoàn Ba Lan (CS) trong Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến tại VN gởi chính phủ của ông, tường trình rằng cả 2 chính phủ VN muốn đạt thỏa ước theo kiểu riêng của họ.
 
Họ muốn làm như thế mà không có tham dự của các Siêu Cường Quốc, không có Moscow, không có Washington, và chắc chắn là không có Bắc Kinh. Cả 2 chính phủ ước muốn có những cuộc nói chuyện tối mật và phải giữ một mặt ngoài chính thức nào đó. Hà Nội đã đón nhận sáng kiến này, mà lần đầu tiên không có sự chấp thuận trước của Bắc Kinh. Tôi cảm thấy có lý và có đôi chút tin tưởng.

 

     Nhưngkhi đọc những câu trả lời rất trí thức và sâu sắc của bà Ngô Đình Nhu với các ký giả Mỹ, tôi cảm thấy không thể không tin, vì chính bà là người trong cuôc. Chúng tôi mạn phép tóm thuật những phát biểu quan trọng của bà Nhu trong cuộc phỏng cấn:

 

*  Chính Phủ Đệ I VNCH nhất định không chấp nhận sự can thiệp quân sự của Mỹ vào VN nên đã bị Mỹ dùng hạ sách để lật đổ. Hạ sách đó là dùng con bài PG Ấn Quang làm công cụ và sử dụng truyền thông phương Tây thổi lửa rằng Chính Phủ Ngô Đình Diệm là những kẻ độc tài bị phần lớn nhân dân của mình phản đối.

 

*  Phật Giáo Ấn Quang năm 1963 cũng chỉ là một trong các con cờ chiến thuật của Mỹ. 

 

*  Chính TT Kennedy bật đèn xanh cho cuộc phản loạn 1963 tại VN.

 

*  CS Bắc Việt bị vô hiệu hóa bởi chương trình Ấp Chiến Lược, đã chủ động đến gặp ông Ngô Đình Nhu để hỏi về điều kiện của Chương Trình Chiêu Hồi của Chính Phủ VNCH.

 

     Và đây là nguyên văn câu hỏi và trả lời chính cho vấn đề chúng tôi đang bàn đến:

 

-  Hỏi: Um, cũng có tin đồn rằng bởi vì chồng của bà cảm thấy bị phản bội bởi người Mỹ nên ông đã thực hiện những cuộc thương lượng với CS Bắc Việt. Bà cũng có thể bình luận về điều này?

 

-  Trả lời: Những cuộc thương lượng với CS? Thực ra, như tôi đã giải thích, chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Nếu chúng tôi không thắng cuộc chiến, thì không bao giờ Chính phủ Mỹ nhảy vào Việt Nam. Chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Những người CS đã không dám leo thang. Họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất, họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: hoặc leo thang - họ không dám - hoặc đàm phán. Vì vậy, chính họ là người gửi người đến chúng tôi bởi vì chồng tôi đã tìm thấy một giải pháp chống lại cuộc chiến tranh phá hoại. Giải pháp đó cho phép người dân của ông sống trong chiến tranh, phòng thủ từ xa mặc dù có chiến tranh. Và do đó những người Cộng sản không thể làm bất cứ điều gì. Vì vậy, thay vì leo thang chiến tranh, họ đã không làm, mà họ gửi người của họ đến nói chuyện với chồng tôi và chuyện này đã được xoay, xoay trở ngược chống lại chồng tôi như thể ông đã thực hiện những bước đầu tiên đó. Không, không đúng một chút nào. Đây là một sự dối trá. Không đúng một chút nào. Chính là họ là những người CS đã thực hiện những bước đầu tiên đó.

 

-  Hỏi: Ông đã nói gì với họ? 

 

 - Trả lời: Tại thời điểm đó, ông chỉ, chúng tôi chỉ mới bắt đầu nói chuyện với họ, để biết, các ông đề nghị gì? Và họ đến, để cho họ khỏi bị mất mặt vì chúng tôi làm hết, chúng tôi đã làm mọi thứ lúc đó để tạo tình huống dễ dàng cho họ. Vì vậy, họ đến, và họ chỉ hỏi điều kiện cho Open Arms Program của các vị là gì? Có nghĩa được dịch từ chữ Chương Trình Chiêu Hồi, mà thực ra, Chiêu Hồi mình nói là người hồi chánh, là sự trở về của người anh em phiêu bạt. Vì vậy, chúng tôi đã nói với họ chúng tôi sẽ kill the, bạn nói như thế nào, le veau gras [Tiếng Pháp]... anh em phiêu bạt, đứa con phiêu bạt.

 

     Chúng ta cần ghi nhận là theo bà Ngô Đình Nhu, vì lý do các chính sách của TT Diệm thành công đưa đến các thành quả tốt về mặt an ninh và dân sinh xã hội cho đất nước nên Hồ Chí Minh mới phải gởi Phạm Hùng vào miền Nam để thương lượng, và người Mỹ mới tìm cách triệt hạ TT Diệm và chính quyền của ông. Nghe qua có vẻ phi lý? Có phải bà Ngô Đình Nhu muốn thổi phồng thành tích của Đệ I VNCH để chạy tội, và kiêu căng tự phụ một cách quá đáng? Có hai thành tích mà bà Nhu muốn nói đến là vấn đề ấp chiến lược và sự thành công của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Tuy bà không nói ra công khai thành tích của Đoàn Công Tác, nhưng nó nằm trong nằm trong vấn đề ổn đinh an ninh mà bà ngụ ý.

 

     Vấn đề an sinh xã hội là chính sách quan tâm hàng đầu của chính quyền Ngô Đình Diệm. Chính sách này thể hiện qua các chương trình Dinh Điền, Khu Trù Mật v.v. và nhất là quốc sách Ấp Chiến Lược. Quốc Sách này có thể tạm ví như những Kibbutz của người Do Thái. Chúng tôi không phủ nhận những sai lầm hoặc lạm dụng của các viên chức thừa hành, nhưng sự thành công của nó nói chung không thể phủ nhận được. Vào giai đoạn mà chính quyền Hoa Kỳ không còn mấy mặn mà với chính quyền của TT Diệm,  trùm CIA tại Saigon lúc đó là William Colby thừa nhận rằng: Đường xá được mở lại. Số trường học tăng nhanh ở thôn quê. Chương trình ngũ niên xịt thuốc diệt muỗi được khởi sự để thanh toán bệnh sốt rét rừng. Sức sản xuất lúa gạo bắt đầu tăng…
 
Những tiến bộ về kinh tế, xã hội lúc đó đã xuống đến nông thôn… Đặc biệt kế hoạch “Khu trù mật” năm 1959, là kế hoạch được ông Diệm nâng niu nhất, bắt đầu với nhiều hứa hẹn. Những “đô thị” nông nghiệp được xây dựng trên phần đất truất hữu của địa chủ theo chương trình cải cách điền địa và được chia thành những khu trung tâm dân cư và vùng ruộng lúa…

 

     Còn về khía cạnh an ninh, đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung, do cố vấn Ngô Đình Cẩn sáng lập và ông Dương văn Hiếu điều hành là một cơ quan tình báo và phản tình báo, đồng thời còn làm công tác chiêu hồi các cán bộ CS rất hữu hiệu. Dư Văn Chất, một cán bộ tình báo của CS trong cuốn Người Chân Chính đã phải thừa nhận: Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là một “siêu tổ chức” với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với các phương thức hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và tàn bạo. Trong cái nhà tù không song sắt, Công an Mật vụ cùng với kháng chiến Việt Cộng, ăn chung, ngủ chung, chơi chung và công tác chung.
 
Chuyện khó tin mà có thật, và chỉ có được trong thời điểm lịch sử nhất định. Bắt đầu từ cuộc đấu tranh chính trị đòi hiệp thương tổng tuyển cử cho tới tiếng súng đồng khởi hạ màn kết thúc. Thành tích chống Cộng của Mật vụ Ngô Đình Cẩn – Dương Văn Hiếu thật diệu kỳ. Chúng đánh phá thẳng vào các cơ quan đầu não của các Đảng bộ miền Trung như Liên khu Ủy khu Năm, tỉnh ủy Thừa Thiên, thành ủy Huế rồi Đà Nẵng. Tiến xuống phía Nam, chúng tấn công cơ sở đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn, Thủ Biên, Cần Thơ. Nổi bật nhất là mật vụ miền Trung đánh bắt gọn các lưới tình báo chiến lược của ta trải suốt từ Bến Hải tới Sài Gòn trong vòng chỉ có một năm.

 

     Bỏ qua những lời khen tiếng chê của những người ủng hộ cũng như thù ghét TT Diệm và chính quyền của ông, chúng ta không thể không nhìn nhận những đánh giá trung thực của hai bên bạn/thù của miền Nam trên đây. Như thế mới có thể tin được rằng quả là bà Ngô Đình Nhu nói thật. Thù (VGCS) thấy thù (VNCH) thành công nên phải tìm đến thương lượng. Bạn (Mỹ) thấy bạn (VNCH) thành công nên tìm cách phá bĩnh. Thói thường xưa nay trong thiên hạ, người nghèo tìm đến dân giầu để ăn xin.
 
 Kẻ yếu hèn tìm đến người có thế lực nhờ vả. Kẻ thất bại tìm đến người thành công học hỏi. Trong giao tế quốc tế cũng vậy, anh đến cầu cạnh tôi hiển nhiên là anh yếu hơn tôi rồi. Việc Phạm Hùng từ Bắc vô Nam để gặp cố Vấn Ngô Đình Nhu chứng tỏ thế yếu, sự thất bại của miền Bắc. Đó là thái độ xuống nước của giặc Hồ. Có thể coi đây là trò bịp của tên cáo gìa Hồ Chí Minh. Nhưng ông Ngô Đình Nhu chắc chắn cũng không ngu dại gì mà không đề phòng. Như vậy là TT Ngô Đình Diệm có ý định dâng miền Nam cho CS? Chỉ có bọn tay sai CS ngu dần nói mà không biết suy nghĩ.

 

     Còn với Mỹ thì khác. Sự thất bại của miền Nam mới đúng là chính sách của Mỹ. Ngược lại sự thành công của miền Nam lại là sự thất bại trong chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ. Tại sao? Là vì ngày đó Mỹ cần bắt tay với Tầu để hạ Liên Sô. Hơn nữa thị trường tiêu thụ một tỷ người của Tầu hấp dẫn tư bản Mỹ không thể nào bỏ qua. Ra mắt với Mao Xếnh Xáng, chú Sam dĩ nhiên phải có một chút quà mọn nào đó. Món quà đó là VN.
 
Nếu miền Nam mạnh cả về kinh tế lẫn an ninh quốc phòng thì dứt khoát chú Sam không thể chơi cha được. TT Diệm bảo vệ chủ quyền của đất nước. Hoa Kỳ lợi dụng để thí bạn bè. Như vậy thì ai phản bội ai?

 

     Cuộc đọ sức giữa TT Diệm và tên giặc Hồ, nói cách khác là canh bạc giữa ông Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng đáng lẽ phải sôi nổi và gây cấn. Chỉ vì đánh bạc thiếu tiền nên ông Nhu mới thua, kéo theo cả người anh là TT Diệm phải tất tưởi chạy xuống Tuyền Đài ôm theo cái bí mật vĩnh viễn sẽ không bao giờ tiết lộ.

 

San Jose 30-10-2013

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

Nền Hiến Pháp của đảng csVN...


 on behalf of; Minh 70/2

Nền Hiến Pháp của đảng cộng sản Việt Nam...

 

Hiến pháp là của đảng, do đảng, vì đảng
Hiến pháp sửa đổi của Việt Nam đúng theo quy định của đảng cộng sản Việt Nam
Tất cả quyền lực thuộc về đảng
Tất cả tài sản thuộc về đảng
Tất cả cái khác coi như thuộc về Dân
Dân Việt Nam đã nêu lên những phi lý của quy định sửa đổi Hiến pháp của đảng
Hơn ba triệu đảng viên cộng sản Việt Nam không được Dân bầu lên không thể được xem là đại diện cho cả Dân Tộc
Việt Nam có đến 90 triệu dân bị ba triệu đảng viên cộng sản Việt Nam cai trị
cộng sản Việt Nam đều phải chịu sự điều khiển của cộng sản Trung Quốc
Sức mạnh của cộng sản Việt Nam không bao giờ hơn sức mạnh của Dân
Việt Nam có một chế độ độc tài
Nếu có một Hiến pháp thực sự khoa học, tiến bộ và nhân bản, thì chắc chắn đảng cộng sản Việt Nam dẹp tiệm
Đừng trông chờ vào những người cộng sản tự nguyện xây dựng một Hiến pháp phục vụ lợi ích của toàn Dân Tộc
Người dân Việt Nam không nắm lấy cơ hội xây dựng một Hiến pháp cho Dân Tộc thì phải bị cộng sản Việt Nam cai trị
Trả lại Tự Do cho Dân Tộc Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội đã chết trong lòng Dân Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn trên danh nghĩa chứ không còn trong lòng Dân Việt Nam
Tự do và Dân Chủ lành mạnh đòi hỏi sự tham dự của tòan Dân trong và ngoài nước Việt Nam
Tự do và Dân Chủ đòi hỏi nỗ lực và hy sinh đóng góp
Cơ Hội Tự do và Dân Chủ Cho Việt Nam đang ở trong tay tất cả mọi người
Vai trò lịch sử của cả dân tộc Việt Nam không một ai có thể bỏ qua

 

 

Vòng kim cô trên đầu giới khoa học xã hội


 

Vòng kim cô trên đầu giới khoa học xã hội


Tiếp tục trao đổi với tác giả Từ Huy, nhân bài Vụ Luận văn về Mở Miệng: còn cơ hội nào cho ngành KHXH&NV?  (Mạng Bauxite Việt Nam 7-10-2013)

Vương Trí Nhàn

I / CŨNG CHỈ LÀ MỨC ĐỘ… THÔNG THƯỜNG

   Trong đời sống văn chương học thuật ở ta,  luôn luôn người ta thấy có những hiện tượng tạm gọi là chệch hướng, còn chữ của giới chính thống là sai lầm hư hỏng chống đối. Rồi có sự tố giác phê phán. Rồi sau vài lời nói qua nói lại và có khi cả những “chiến dịch đấu tranh” kèm theo là những xử lý,  dư luận lại rơi vào im ắng cho đến khi … có những vụ mới.

Vụ Mở miệng và luận văn Nhã Thuyên thuộc loại ấy.

Về khâu xử lý, tôi nhớ thời chống Mỹ, cả Lưu Quang Vũ  lẫn Phạm Tiến Duật đều có những chuyện lôi thôi khiến người một hai năm, người tới bốn năm năm, bị cấm in trên các báo. Tức là hình thức xử lý còn nặng hơn rất nhiều so với cách chức hoặc cho thôi việc thời nay.

Đặt trên cái nền chung, thấy  tình hình chung quanh vụ luận văn về “Mở miệng” hôm nay còn là ở mức… có thể hiểu được.

 Điều tôi cho rất đáng hoan nghênh là, khi nhìn nhận vụ việc, nhà nghiên cứu Từ Huy đã không dừng lại ở hiện tượng cụ thể mà nhân đó nêu ra nhiều vấn đề chung của giới KHXH. Tôi cho là một sự triển khai cần thiết. Trong phạm vi bài này, tôi  thử đi vào giải thích tại sao giới nghiên cứu KHXH  VN đã có những ứng xử  như tất cả chúng ta đã thấy.

Cả  giới đã được đào tạo để trở thành như thế

Nhắc tới mấy năm 1956-58,  ngày nay chúng ta chỉ nhớ tới vụ Nhân văn Giai phẩm , và những ảnh hưởng của nó tới giới sáng tác.

 Nhưng thời điểm trên cũng là bước ngoặt trong giới ở ta đại học ở ta, rõ nhất là giới nghiên cứu các bộ môn thuộc khoa học xã hội.

Sự phát triển trước đó của đại học là tự phát.  Nay nền đại học non trẻ và “tiên thiên bất  túc”, “bất thành nhân dạng” về  nhiều phương diện ấy, được làm lại với những chủ đích rõ ràng.

 Nếu ở các nước khác, đại học là khu vực cuộc sống được thể nghiệm, khu vực tự trị, khu vực dân sự điển hình thì ở ta nó được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt cũng như  sự can thiệp mạnh mẽ và trực tiếp của chính trị. Các cơ sở đại học phải trở thành những “pháo đài xã hội chủ nghĩa” như chữ nghĩa hồi 1958-60 vẫn dùng.

  Lý do thì, như chỉ dẫn của một tác giả Nga mà tôi nêu trong bài viết  ngày 14-10-2013 trên blog này, KHXH ở VN  được sinh ra như thế, nó phải như thế, có gì là lạ. Nó cũng có nghiên cứu, nhưng là chỉ làm ở mức hết sức sơ lược. Trong những lúc bốc đồng, hoặc cố ý làm dáng, người ta cũng tuyên bố đi tìm chân lý, đứng về phía sự thật lịch sử…  nhưng đó chỉ là trong ao ước. Phần chính khoa học lúc này phải làm là những công việc mà  thần học trung thế kỷ vẫn làm. Nếu thần học cuối cùng phải chứng minh được chỗ đúng của các kinh sách có liên quan tới Chúa thì khoa học xã hội lúc này lấy việc đi vào minh họa cho cái đúng của thời hiện nay, cái đúng theo các chỉ thị nghị quyết, cái đúng của cấp trên… làm mục đich.

Trên đại thể là thế, mà trong từng việc cụ thể cũng là thế.

Tôi lấy một ví dụ. Vào những ngày hạ tuần tháng Mười 2013, trên báo chí đang rộ lên lời trách cứ các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại về việc sao không đưa tướng Giáp vào sách giáo khoa. Tôi xin thanh minh hộ các giáo sư sử học thế này – họ đâu có quyền! Đây toàn là do chỉ thị từ trên xuống cả. Thách kẹo cũng không có người biên soạn SGK dám tự tiện viết khác và các thầy lên lớp từ  tiểu học tới đại học dám giảng khác.

Không có ngoại lệ

Đọc bài của Từ Huy, ngay từ đầu, tôi đã không hiểu những lời ưu ái mà tác giả đưa ra đối với khoa nọ của trường đại học kia. Rằng đó là nơi rất có truyền thống tìm tòi chân lý. Rằng ở nơi đó luôn luôn có sự đón nhận, làm “bà đỡ” cho những tư tưởng mới trong nghiên cứu văn chương.

 Theo chỗ tôi biết thì hiện nay chẳng có một cơ sở nào như thế cả.

 Cuối bài, Từ Huy có nói tới tình trạng tạm gọi là “vượt thoát” và  kể ra là đã có những trường hợp khá thành công cả trong khu vực mà tác giả có quan hệ.

Trước hết là trong sáng tác, tôi thấy những trường hợp như Nguyễn Huy Thiệp, như Bảo Ninh đúng là những nhân vật vượt thoát thành công thật. Nhưng thử hỏi là sau họ làm gì có những tên tuổi nào khác.

Thứ nữa, nay các tác tác giả này đã được các tài liệu chính thống công nhận đâu! Trong xã hội, Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp vẫn được hoan nghênh được in lại. Nhưng họ không bao giờ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường.

Khi cần kể thành tựu của giới nghiên cứu, Từ Huy có phần lúng túng hơn. Những ưu điểm tác giả nêu ra ở đây chỉ hạn chế trong việc sử dụng những lý thuyết văn học ở nước ngoài vào để thúc đẩy tình hình trong nước.

Về mặt số lượng, tôi cho là người đi theo phương hướng này còn rất ít.

Hơn thế phải nói thẳng là những thành công của mấy người này còn ở mức rất khiêm tốn. Trong những trường hợp tốt nhất thì chúng ta mới may mắn được coi là những người thuộc bài, còn việc áp dụng những kiến thức đó vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam – xin lỗi cho tôi nói một cảm giác mà có thể nhiều người không đồng ý – còn chưa có thành tựu nào đáng kể.

Trong một bài viết gần đây, tôi có nói rằng giáo dục ở ta nói chung đang trong tình trạng vô phương cứu chữa. Một trong những luận cứ của tôi là giá kể bây giờ có chương trình đúng đắn, sách giáo khoa đúng đắn thì cũng không lấy đâu ra người để dạy các chương trình đó cả. Và người ta cũng không biết làm gì với hàng triệu giáo viên đang đứng trên bục giảng hiện nay; ở họ, có một cái gì đó đã cứng lại rồi, họ không thể thay đổi được nữa!

Với giới đại học cũng thế.

II/ THỬ XÁC ĐỊNH MỘT THỰC TRẠNG

Khi điểm lại tình hình, Từ Huy có ngỏ ý “trách móc” rằng sao từ ngày xảy ra cái vụ phê phán luận văn này, sau vài lời phản biện yếu ớt, trong giới không thấy nhiều người lên tiếng. Trong khi tỏ ý lo lắng cho tình hình từ nay về sau, tác giả thỉnh thoảng không quên giảng giải cho mọi người thế này mới là nghiên cứu, thế kia mới là khoa học.

 Tôi thì tôi thấy cách cư xử  của cả giới KHXH  như vừa rồi là nằm trong bản chất và lý do tồn tại của nghề nghiệp. Có một guồng máy đã hình thành, họ vừa là sản phẩm, lại vừa là các thành tố góp phần vận hành  guồng máy đó. Bận lắm, quay cuồng lắm! Về chuyện nên làm thế nào, họ không có thời gian mà nghĩ đến nữa. Cái phần tự vệ trong mỗi người luôn luôn mách bảo họ rằng biết ra chỉ thêm phiền, tốt hơn là đừng biết đừng nghĩ.

Cáo trạng và biện hộ

Đi vào cụ thể hơn.

 Từ Huy tự hỏi nguyên nhân của  vụ phê phán Luận văn về Mở Miệng xuất phát từ những hiềm khích cá nhân hay xuất phát từ một chủ trương?

Trả lời: là chủ trương. Để mượn lại chữ của Từ Huy, chẳng có “nhát dao nào là mù quáng cả“.

        Từ Huy cảnh báo: Điều gây tuyệt vọng không phải chỉ là sự tái bùng nổ đáng ngạc nhiên của những cây bút phê bình dao búa [ …] mà còn là (và có lẽ chủ yếu là) biểu hiện của thái độ chấp nhận đầu hàng ở giới đại học. Chính sự chấp nhận này rất có thể sẽ đẩy KHXH&NV vào tử lộ.

Trả lời: Không đầu hàng sao được! Đến những Trần Văn Giàu Trần Đức Thảo Nguyễn Mạnh Tường Đào Duy Anh Trương Tửu… cũng phải mất chức khi người ta đã chẳng cần, nữa là những cá nhân mới nẩy nòi lên chính trong tay nhà cầm quyền mấy chục năm nay. Dựng lên thành bụt đạp xuống thành đất ngay, chuyện đâu có lạ.

Còn lo rằng, do đó, nó –  bộ môn KHXH mà chúng ta đang quan tâm –  sẽ  suy tàn  ư? Khó lòng sống sót ư?  Người ta đã đẻ, người ta sẽ nuôi. Cái việc phù phép cho nó trở thành sống động đâu có quá khó. Người ta sẽ biểu dương nó, khen ngợi nó. Cấp tiền nuôi nó. Ban cho nó danh hiệu. Giới thiệu nó với giới khoa học quốc tế (còn việc quốc tế có công nhận không thì không cần biết). Còn muốn gì nữa?

 Từ Huy nhắc tới một chân lý: không có tự do học thuật thì khoa học không thể phát triển được.

Trả lời: Trên nước Việt Nam này, không có thứ  KHXH  mà Từ Huy hiểu và các nước người ta vẫn hiểu. Ngược lại, ở ta, cũng như ở nước Nga xô viết trước đây, nó có một cái nghĩa riêng. Theo nghĩa này, tự nó vẫn phát triển chứ đâu có dừng lại. Cái làm cho nó phát triển không phải là tự do mà là  các… mệnh lệnh chỉ thị hồi trước và và các đơn đặt hàng. Cái đó thì hiện nay không thiếu, không bao giờ thiếu.

 Từ Huy viết : Người nghiên cứu cũng có quyền nhìn đối tượng theo cách của mình, có quyền đưa ra một quan điểm nghiên cứu và chứng minh quan điểm đó bằng các lý lẽ lập luận được thể hiện trong công trình của mình. Quan điểm đó đúng hay sai, có thuyết phục người khác hay không, đó là chuyện cần phải tranh luận, nhưng người nghiên cứu không thể bị vùi dập vì quan điểm  riêng.

Trả lời: Không. Ở KH XH Việt Nam, khi đã nhận những chức danh như giáo sư tiến sĩ , người ta không có quyền có quan điểm riêng, lại càng không có quyền có quan điểm sai (so với cái đúng mà nhà nước quy định). Chỗ riêng tư, anh có vụng trộm nói khác nghĩ khác, tôi tạm tha. Nhưng công khai thì không. Cái chuyện ăn đòn (= vùi dập) khi làm sai là chuyện đương nhiên.  Anh có vì thế mà chết cũng chẳng ai thương tiếc. Cố nhiên, người đứng đắn thì sẽ ăn đòn xong lại đứng dậy, nhưng đó là việc riêng của anh.

Sức sống dai dẳng

 Từ Huy lo một khối băng giá đang ngự trị trong cả giới. Và tác giả đặt giả thiết:

Đằng sau sự im lặng của giới đại học  [ …  ] có thể đọc thấy điều gì? Nỗi sợ hãi? Sự hạn chế về năng lực chuyên môn? Sự tê liệt khả năng phản ứng? Sự thờ ơ vô cảm (coi đấy không phải là việc của mình)? Sự chuẩn bị tâm lý cho một quá trình chịu đựng vô điều kiện những áp đặt từ trên xuống, bất kể những áp đặt đó phi lý như thế nào, một quá trình chịu đựng lâu dài chưa biết bao giờ mới kết thúc?

Trả lời: Tất cả sự dự đoán của tác giả là đúng. Nhưng cần biết thêm, cách phản ứng của con người hiện nay nói chung – chứ không phải riêng của các “nhà” KHXH – bị điều kiện hóa rất chặt chẽ  và đó chỉ là một bộ phận trong sự chịu đựng hàng ngày. Đừng quá hy vọng ở họ. Họ sẽ chẳng chết như đã chẳng sống. Họ sẽ như thế này… mãi. Và sống có lý có lẽ, có sự tự tin cẩn thận.

Hồi chống Mỹ, miền Bắc, tức “bên thắng cuộc” sống trong một tình thế bị cắt đứt hoàn toàn với giới khoa học bên ngoài. Phía tư bản thì những Freud, Kafka, Sartre, Camus , Levy Strauss … đều phản động hết không nói làm gì.  Ngay cả với thế giới XHCN cũng vậy. Trung Quốc rơi vào cách mạng văn hóa, còn Liên Xô bị coi là xét lại, là một thứ nấm độc cần phải từ chối.

Những năm đó, bao nhiêu sinh viên và thực tập sinh đang học các ngành KHXH ở Liên xô và Đông Âu đều bị gọi về dù học còn dang dở.

 Tôi tuy chỉ ở bên văn chương nhưng mọi chuyện bên khoa học cũng được biết ít nhiều, vì  cả hai khu vực này đều trong phạm vi chi phối của ông Tố Hữu. Tôi nhớ có một tư tưởng của Tố Hữu, do giới  tuyên huấn lúc ấy cho lan truyền, cho rằng về khoa học tự nhiên thì chúng ta có thể kém các nước, nhưng còn về khoa học xã hội thì  ta là nhất, các nước khác cần cắp sách đến học chúng ta.

Về sau này, những tư tưởng đó có thể được trình bày kín đáo hơn, nhưng theo tôi thấy nó không bao giờ mất hẳn. Và nó biến hình thành những tư tưởng tinh vi hơn, chẳng hạn về cái gọi là tinh thần dân tộc trong nghiên cứu xã hội hay được nói gần đây. Riêng nó đủ tạo nên sức sống dai dẳng của các loại các bộ môn khoa học ở VN hôm nay.

 Mức độ suy đồi

Không phải trong giới không còn những người muốn làm khoa học xã hội thực sự.

Ở đây có một số người  được đào tạo đúng bài bản, tiếp thu được tinh thần khoa học chân chính từ nước ngoài về. Ngay trong những người chỉ là dân nội địa cũng có những người  do lương tri và học hỏi mà cảm thấy lẽ ra chúng ta phải có một thứ khoa học khác.

Tuy vậy, trong thực tế, có hai khía cạnh phải tính tới.

 Một là  ngay từ điểm xuất phát, giới đại học ở ta, nhất là bên KHXH, đã được hình thành theo kiểu ba vạ. Không ít người trong họ ban đầu là những cán bộ tuyên truyền chỉ giỏi về xách động, thiếu chuyên môn nhưng lại thừa ý chí, xông vào đủ mọi lĩnh vực và nay hóa ra những nhân vật đầu đàn, những pioneer (tạm dịch: người đặt nền móng) cho KHXH VN hiện đại.

Việc bảo vệ con đường đã qua của KHXH hôm nay là lẽ sống của họ. Cố nhiên họ thừa hiểu, mọi cố gắng đưa ngành này vào quỹ đạo của KHXH thế giới đều có nghĩa là phủ định công lao và vai trò của họ, đời nào họ cho phép.

Hai là  mấy chục năm nay,  tình trạng ọp ẹp ngành này kéo dài. Trên cái mặt bằng quá thấp của giáo dục nước ta, KHXH chính là khu vực trũng nhất. Học sinh phổ thông giỏi đi học y khoa, học tin học, học kinh tế… chứ mấy ai chịu theo bên văn bên sử. Khi vào ngành rồi, thì lại có sự sàng lọc tiếp theo, theo phương châm “ hồng trước chuyên sau”.

Ở các ngành khoa học tự nhiên, thì  sự kém cỏi còn khó che giấu. Chứ ở đây, cứ mạnh mồm là được. Không có gì lạ nếu bộ phận kém cỏi và hoạt đầu trong KHXH, lại được coi là bộ phận đáng nâng đỡ và dần dần đóng vai thao túng tình hình.

Những người ưu tú thì bị chèn ép, chỉ riêng việc chống lại chủ nghĩa bình quân cũng đủ khiến họ tiêu mòn sức lực.

Quan trọng không kém là vai trò của đãi ngộ. Trong khi các cán bộ có thiện chí khoa học cô đơn, và thiếu đủ mọi điều kiện để làm việc, thì những kẻ nịnh nọt, một lòng một dạ kiên trì thứ khoa học minh họa tha hồ được khen thưởng, được cho đi học nước ngoài, được cấp những khoản kinh phí lớn để “nghiên cứu”, những gì họ viết ra được đưa vào sách giáo khoa chính thức giảng dạy cho hàng triệu sinh viên học sinh.

Các nhà nghiên cứu trẻ có phải là thánh cả đâu? Bao nhiêu thông minh  vốn có trong họ trước tiên được sử dụng để giúp họ thích ứng với hoàn cảnh mà cũng là để mỗi người tìm cho mình một chỗ đứng. Nhu cầu tự do và khả năng học hỏi ở mỗi người dần bị mài mòn, người trước kẻ sau họ đều rơi vào cái quỹ đạo đã được vạch sẵn.

 Xét đại trà, bộ mặt của giới nghiên cứu đã hình thành đúng như sự nhào nặn của những người trả lương họ. Để đỡ phiền phức, càng ngày, những người trong cuộc càng tự mình thỏa mãn với công việc và trình độ của mình, không ai có ý ân hận và lo lắng về sự xa cách giữa KHXH Việt Nam và KHXH thế giới.

Không có gì là khó hiểu trong cái định hướng mà cả giới đã chọn. Thắc mắc mà làm chi khi bây giờ khi đại cục đã hỏng, tôi chỉ một con chim non bé bỏng – vứt trong lồng con giữa một lồng to (Tố Hữu).Trong khi đó, nhìn đi nhìn lại hóa ra so với ngày hàn vi mình nay cũng không đến nỗi nào. Phần lớn các nhân vật khôn ngoan trong giới đã đạt tới cái đích mà họ ôm ấp.  Giáo sư cũng có, tiến sĩ “ như lợn con”, viện sĩ hàn lâm nếu muốn rồi anh cũng có thể có.

Khi những điều kiện vật chất được thỏa mãn thì những đòi hỏi về tinh thần dần dà rồi cũng tan biến.

 Từ Huy đặt vấn đề trách nhiệm Chỉ còn hy vọng khi những người làm nghiên cứu ở Việt Nam, với tư cách cá nhân, vẫn giữ được cho mình quan điểm độc lập so với quan điểm chính thống này. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ phải nhìn thấy trách nhiệm của chính họ […] trong sự suy tàn của ngành KHXH&NV

Theo tôi hiểu, với giới nghiên cứu KHXH hiện nay, hai chữ trách nhiệm theo nghĩa cao nhất của nó – trách nhiệm với lịch sử – đang là thứ xa xỉ.

Trong nhiều luận văn công bố gần đây, Từ Huy đã giảng giải cho chúng ta thấy giới đại học phải có một cách hoạt động như thế nào, người làm khoa học xã hội phải có trình độ và tư cách  như thế nào.

Chẳng hạn, trong bài này, tác giả có nói đến yêu cầu của giới khoa học là đi tìm chân lý chứ không phải đi tìm cái đúng như cấp trên chỉ thị, và nhiều khi họ nghiên cứu mà họ không biết rằng mình sai hay đúng.

 Về phần mình, tôi ngờ rằng những điều đó ngày càng khó nghe đối với giới nghiên cứu hiện nay, vì chúng đánh vào lòng tự ái của họ, lương tâm của họ, là điều mà chính họ muốn quên lãng và không muốn ai nhắc lại nữa.

Từ Huy có lẽ đã cảm thấy điều đó khi mở đầu  bài viết bằng đoạn cảm thán Vẫn biết rằng những gì nói ra ở đây có thể chẳng ai nghe, có thể chẳng nhận được sự hồi đáp nào, mà có khi lại tự gây nguy hiểm cho bản thân, chuốc lấy sự thù ghét của đồng nghiệp. Nhưng đã cầm bút thì không làm khác được. 

Đây tôi không nói rằng việc giới nghiên cứu im lặng là tốt, nhưng chúng ta cần phải thông cảm với họ. Họ được đào tạo theo những cách khác và đặt quyền lợi của mình ở những điểm khác. Nêu ra những yêu cầu có tính chất ” chuẩn mực quốc tế ” đối với họ, là làm phiền họ và cũng chỉ gây thất vọng vì sẽ chẳng bao giờ mà yêu cầu đó được thỏa mãn.

 Sống tiếp như thế nào đây

Chúng ta thường chỉ lo lắng là có vẻ như KHXH ở ta hiện nay không có thành tựu. Cái đáng lo hơn là con người. Khi con người đã hỏng thì còn làm ra cái gì có giá trị nữa!

Một bạn theo dõi tình hình khoa học ở Nga kể với tôi câu chuyện sau:

Đúng năm 1991, khi Liên xô sụp đổ thì một nhà khoa học trẻ bảo vệ thành công một luận án tiến sĩ xuất sắc về chủ nghĩa vô thần. Đó là một người hết sức thông minh. Ông hiểu rằng cả tuổi trẻ của ông đã đi vào con đường sai lầm. Cảm thấy không có lý do để sống nữa, ông nhẩy lầu tự tử.

Ở ta không có những con người như thế. Trong trường hợp tốt nhất chúng ta chỉ có những mẫu người như Trần Quốc Vượng đã mô tả và sống theo. Cái gì cũng có một chút. Một chút phải đạo, một chút chống đối làm dáng. Một chút khoa học, một chút một chút xẩm chợ nói liều. Một chút cống hiến hết mình, một chút nhặt nhạnh kiếm chác và hưởng thụ.

Vả chăng, cái mẫu như ông Vượng cũng đang ngày một hiếm.

Thế tức là tình thế hoàn toàn tuyệt vọng hay sao? Khi tự đặt cho mình câu hỏi này, tôi tìm tới câu trả lời nước đôi. Vâng, tuyệt vọng thật . Đáng lẽ chúng ta phải có hàng trăm Bảo Ninh, hàng vài chục Nguyễn Huy Thiệp thì văn chương chúng ta mới khởi sắc được, chứ chỉ có một hai người ấy, mọi sự hy vọng đều là tự dối mình. Tuy nhiên, chúng ta không thể chết như ông tiến sĩ người Nga, chúng ta phải sống. Đối với các bạn trẻ, tôi nghĩ nay là lúc phải phân thân, vừa biết sống như mọi người, vừa dành một phần tối đa có thể để học hỏi và thầm lặng bắt tay vào, làm một cách hết lòng, làm như làm cho chính mình, những việc tử tế, có đóng góp cho khoa học mà cũng là có đóng góp thực sự cho nhân dân đất nước .

 May mà chúng ta làm khoa học xã hội, công cụ làm việc nhiều khi chỉ cần ít cuốn sách là đủ. Cũng chẳng cần chung quanh công nhận vội…Bởi cái đích của ta rất xa…Trong việc này mỗi người có thể rất đơn độc, và thất bại nữa…Và trước mắt là chịu thiệt, là không có cả danh lẫn lợi. Nhưng niềm vui lớn nhất, niềm vui của cuộc truy tìm chân lý đang chờ. Nhờ thế, lòng ta luôn luôn thanh thản.

Trong cái cuộc sống khó khăn này, có một điều theo tôi nên nghĩ. Là không phải chúng ta bi đát, mà nhiều người khác trên trái đất này cũng bi đát, các trí thức Nga , các trí thức Trung Quốc, và gần đây các trí thức Afganistan, Iraq , Ai Cập… Nghĩ rộng ra nữa, đọc kỹ vào văn học phương Tây thế kỷ XX, thì ở đâu chúng ta chẳng bắt gặp cái giọng đau đớn vì sự bất lực khi muốn làm người tử tế.
Trong thời hiện đại, có thể anh cần chấp nhận một số điều kiện mà những con người cổ điển thà chết chứ không chấp nhận. Phải sống để làm bằng được cái điều anh đã dự định ( như Tư Mã Thiên xưa nuốt nhục để làm nốt sứ mệnh của người viết sử). Như vậy là anh đã không đầu hàng, hơn thế nữa, đã chiến thắng .

 Ở một trang sổ tay cũ, tôi có chép được một câu danh ngôn, đúng hơn là một lời tự nhủ của một nhà văn, nó từng ám ảnh tôi nhiều năm, hồi chiến tranh đã thấy đúng, nay càng thấy đúng:

 Thời đại chúng ta  cốt yếu là một thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối coi nó là một cái gì bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta ở giữa những đổ nát, chúng ta bắt đầu xây dựng những túp lều  trú ngụ tạm bợ và dấy lên chút hy vọng nhỏ bé mới. Đó là một công việc khá nhọc nhằn. Nay là lúc không có con đường bằng phẳng nào dẫn tới tương lai. Nhưng chúng ta sẽ đi vòng quanh hoặc bò qua những trở ngại. Chúng ta  phải sống thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp.

Câu này của D.H. Lawrence (1885 – 1930), tôi đọc được từ trong một cuốn sách của ông Nguyễn Hữu Hiệu, hình như là cuốn Con đường sáng tạo in ở Sài Gòn trước 1975.

V. T. N.


 

Giáo dục khai phóng, con đường xa ngái… (*)


 

Giáo dục khai phóng, con đường xa ngái… (*)


PGS TS Hoàng Dũng


Đại học Việt Nam từng trải qua nhiều đợt cải cách để mong chấm dứt tình trạng đào tạo “học sinh cấp 4”, chất lượng đầu ra không cung ứng nổi cho thị trường lao động đòi hỏi cao. Nhưng trong bảng xếp hạng đại học thế giới của Times Higher Education – một trong những ấn phẩm xếp hạng khách quan và uy tín nhất toàn cầu – đến nay vẫn không có một trường đại học nào của quốc gia 90 triệu dân này lọt vào danh sách 400 đại học ưu tú nhất.

Là người hàng ngày trực tiếp giảng dạy trên giảng đường đại học, PGS TS Hoàng Dũng nói:

Bất chấp chúng ta có những nhà khoa học tầm cỡ thế giới, học sinh chúng ta đoạt nhiều giải thưởng trong các kỳ thi quốc tế, giáo dục Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp – nghịch lý ấy từ lâu không còn làm ai ngạc nhiên.

Giáo dục nói chung và đại học nói riêng ở Việt Nam đã trải qua nhiều đợt, người thì nói nhẹ nhàng “cải cách”, mạnh hơn một chút thì “chấn hưng”, nhưng cũng có người quyết liệt nói “cách mạng”. Nay thì, theo đúng từ ngữ của nghị quyết vừa mới thông qua, là “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”! “Căn bản, toàn diện” là cách mạng chứ gì nữa! Nhưng có lẽ lựa chọn cách nói như thế là người ta đã bắt đầu biết sợ những diễn đạt quá “hoành tráng”.
Tất cả cho thấy xã hội và các cấp có trách nhiệm đã thấy giáo dục đang khủng hoảng; và để giải quyết khủng hoảng ấy phải có phương thuốc “trị căn”, chứ không dừng lại ở “trị chứng”.

Để cải tổ đại học, theo ông phải bắt đầu từ đâu: gốc hay ngọn, hay cả gốc lẫn ngọn?

Nếu bài toán giáo dục chỉ cần giải quyết ngọn mà xong, thì không thể nhận định giáo dục Việt Nam, trong đó có đại học, đang khủng hoảng. Nhưng chỉ chăm chăm lo phần gốc, mà không chú ý thích đáng phần ngọn, thì trong một thời gian khá dài, bề ngoài vẫn chưa thấy thay đổi gì nhiều, vì “thuốc” chưa đủ thời gian để ngấm.

Nhà quản lý bỏ mặc những giải pháp chiến lược, để tập trung vào những vấn đề bề mặt (như phong trào “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”) thì trước mắt có thể tạo một ấn tượng tốt đẹp nào đó, nhưng nhất định sẽ thất bại. Ngược lại, nếu bức tranh giáo dục không được cải thiện trông thấy, thì xã hội không thể chờ đợi, gây áp lực đối với nhà quản lý. Giáo dục tác động đến toàn xã hội, đến 100% dân số, vì thế đây là áp lực hết sức lớn. Ở tầm quốc gia, giáo dục là một vấn đề chính trị. Và không một nhà chính trị khôn ngoan nào lại liều lĩnh đến mức không cần cân nhắc đến điều đó. Giải pháp về giáo dục phải là một giải pháp tổng thể, cân bằng giữa “gốc” và “ngọn”.

Người thầy, đầu vào của sinh viên, cơ sở vật chất… đều là vấn đề có thực của giáo dục Việt Nam. Nhưng khó lòng cho đó là những vấn đề quan trọng số một. Vì chất lượng và số lượng của người thầy, của tân sinh viên, của cơ sở vật chất không phải tự nhiên mà có. Nó là sản phẩm của một cơ chế nhất định.

Tự chủ đại học là một trong những cơ chế như thế. Xin nêu một trường hợp đáng ngẫm nghĩ: khi giáo sư Thí Xuân Phong (Shih Choon Fong) được chọn làm hiệu trưởng Đại học Quốc gia Singapore (NUS) năm 2000, ông đã cho tiến hành những cải cách mạnh mẽ. Tất nhiên, ông bị phản đối gay gắt, đến mức bị Chủ tịch Uỷ ban Giáo dục của Quốc hội lúc ấy cáo buộc ông đã đảo lộn các chuẩn mực tuyển dụng ở trường đại học. Mặc, giáo sư Thí Xuân Phong vẫn cứ làm theo ý ông. Kết quả đến năm 2004, NUS đã có một cuộc thăng hạng ngoạn mục: vươn lên đứng thứ 18 trong các trường đại học tốt nhất thế giới, theo xếp hạng của Times. Giả sử giáo sư Thí Xuân Phong làm hiệu trưởng một trường Việt Nam trong khuôn khổ cơ chế hiện nay, tôi tin giáo sư sẽ bị cách chức trước khi thấy kết quả công việc của mình.

Theo ông, tự do học thuật có vai trò và giá trị thế nào trong cách tân giáo dục nước nhà vào thời điểm hiện tại? Có rào cản nào không về ngân sách – thể chế trong việc thực hiện không gian tự do học thuật và đảm bảo chất lượng đào tạo đại học?

Tự chủ đại học không chỉ là tự chủ về mặt hành chính mà quan trọng không kém, thậm chí có thể nói là quan trọng hơn, là tự do học thuật. Ở ta, tự chủ về mặt hành chính tuy khó nhưng còn dễ hơn là chuyện tự do học thuật. Người ta không quen. Đã xảy ra chuyện một cơ quan quyền lực biên soạn giáo trình đại học, buộc tất cả các trường phải dùng làm tài liệu chuẩn. Đã xảy ra chuyện một cơ quan hành chính ra lệnh kiểm điểm những giáo sư đánh giá cao một luận văn thạc sĩ văn học, vì cho luận văn đó “có quan điểm sai trái”.

Không ai lú lẫn đến mức khẳng định tất cả hoạt động học thuật nói chung và ở đại học nói riêng đều đúng đắn. Nhưng vấn đề là cần phải giải quyết ở góc độ học thuật và bằng học thuật. Để bất cứ quan điểm ngoài học thuật nào xen vào, dù dưới bất cứ danh nghĩa nào, “chính đáng” hay “cao cả” đến đâu, cũng làm phương hại đến học thuật. Năm 1956, trong bài “Muốn phát triển học thuật”, Đào Duy Anh đã than: “Trong địa hạt khoa học tự nhiên, sự xâm phạm của những cán bộ chính trị vào địa hạt chuyên môn như thế cố nhiên là rất trở ngại cho công tác chuyên môn, nhất là công tác nghiên cứu khoa học. Trong địa hạt khoa học xã hội thì mối tệ cũng không kém”. Chắc ông không tưởng tượng được rằng gần 60 năm sau, “mối tệ” ấy vẫn còn!

Đại học là trí tuệ của đất nước, là nơi sinh dưỡng hiền tài. Mà như một câu nổi tiếng của Thân Nhân Trung khắc trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Khoá cho thật chặt để tránh gió độc, thì cũng bịt lối vào của gió lành. Hiền tài nào sống được trong môi trường thiếu dưỡng khí đó!

Còn chuyện tiền bạc? Khó lòng cải cách giáo dục mà không có đủ tiền hay chính xác hơn, không quyết tâm dành tiền cho giáo dục. Có tốn nhiều tiền không? Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã tính toán là để nâng cấp và xây dựng mới khoảng 200 bộ môn ở các trường đại học đủ trang thiết bị hiện đại và hàng năm mời 200 chuyên gia nước ngoài đến làm việc trong vòng 10 năm thì tốn chừng 125 triệu USD/năm. Để so sánh, xin nhắc kinh phí làm đường cao tốc Bến Lức – Long Thành là 28 triệu USD/km.

Thật ra, nguồn tài chính cho giáo dục không thể chỉ trông cậy vào ngân sách nhà nước. Nhưng một khi đại học trở thành một trong những thiết chế không thể thiếu của nền kinh tế, thì xã hội sẵn lòng chi tiền. Sự sẵn lòng ấy về căn bản không phải xuất phát từ lòng tốt, mà do đồng tiền bỏ ra thu được lãi. Ở Mỹ, 70-80% ngân sách của các đại học đến từ tài trợ của các công ty, của hợp đồng nghiên cứu hay triển khai khoa học… Xã hội đặt hàng và đại học đáp ứng. Và điều đó làm ra tiền. Ở ta, khái niệm “xã hội hoá” giáo dục hầu như bó hẹp trong chuyện bắt phụ huynh học sinh phải xuỳ tiền ra!

Cho nên, cách tân giáo dục là chuyện vượt tầm của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nó là chuyện thể chế. Nó là chuyện quyết tâm chính trị của cơ quan cao nhất.

Trong khi chờ đợi giáo dục Việt Nam cất cánh, những người có tiền hay có thế lực hoặc may mắn, giải quyết theo cách mà báo chí gọi là “tỵ nạn giáo dục”. Nhưng đa số người dân Việt thì đành phải chịu một nền giáo dục như nó có.

Đề án đổi mới toàn diện giáo dục lần này đặt vấn đề “trước đây nặng về dạy chữ, nhẹ dạy người”… Vậy mục tiêu của đại học là đào tạo ra những con người như thế nào?

Đánh giá rằng “trước đây nặng về dạy chữ” là không đúng. Vì nếu thế, không thể lý giải được tại sao đã “nặng về dạy chữ” mà chất lượng sinh viên nhìn chung vẫn thấp. Còn “nhẹ về dạy người”? Nếu căn cứ vào lời lẽ và cơ chế, thì giáo dục Việt Nam không hề xem nhẹ vấn đề này. Trái lại, còn quá nặng. Không khó khăn để trích dẫn những câu chữ trong các văn bản chính thức nhấn mạnh đến việc “dạy người”. Nhưng dạy thành công hay không, là chuyện khác. Chính xác hơn, nhà trường ta nhẹ về dạy người lẫn dạy chữ!

Một nền giáo dục khai phóng, là mở ra những chân trời rộng lớn, ở đó con người tự do, tự chủ. Đó là mục đích của một nền giáo dục đích thực, bất cứ thời nào và nơi nào. Đất nước có thể “rũ bùn đứng dậy sáng loà”, “sánh vai với cường quốc năm châu” được không, nếu thiếu điều đó? Nhưng hiện nay và ở ta con đường đi đến nền giáo dục khai phóng còn xa ngái!

Riêng đại học sư phạm – trường có vị trí hàng đầu trong câu chuyện cách tân giáo dục – vẫn đứng trước thách thức “chuột chạy cùng sào…”, theo ông phải cải tổ như thế nào?

Truyền thống Việt Nam đề cao “tôn sư trọng đạo”. Nhưng người thầy nay đã “mất giá” theo nghĩa đen. Một cuộc điều tra gần đây cho thấy thu nhập bình quân từ lương và phụ cấp của giáo viên từ 3 đến 3,5 triệu đồng/tháng; sau 25 năm giảng dạy mới có mức lương 4,1-4,7 triệu đồng/tháng; và đến 50% số giáo viên lương thấp hơn mức lương bình quân. Trong hoàn cảnh đó, nhấn mạnh đến “thiên chức cao quý” của nghề giáo chỉ là một sự mỉa mai, làm tăng vị cay đắng cho nghề sư phạm. Chưa từng thấy một quốc gia nào có nền giáo dục phát triển, mà lương nhà giáo lại thấp (lương trung bình một năm của giáo viên ở Singapore là 45.755 đô la, ở Hàn Quốc, Mỹ, Đức và Nhật Bản đều trên 40.000 đô la).

Trong sự xuống cấp chung của đại học, sự xuống cấp của đại học sư phạm phải gây cho những người có trách nhiệm biết nghĩ xa và sâu một sự lo lắng đặc biệt. Vì điều đó rút cục sẽ tác động tệ hại đến giáo dục nói chung.

Một quan chức lớn có nói với tôi rằng tăng lương cho giáo viên không dễ. Vì giáo viên có số lượng đông đảo (theo Tổng cục Thống kê, số giáo viên phổ thông năm học 2010-2011 là 830.900 người). Vì các ngành khác “tỵ nạnh”. Nhưng chính vì thế mà như đã nói ở trên, giáo dục cần đến quyết tâm chính trị của cơ quan cao nhất.

Xin nói thêm: Đã không còn hiếm việc phải chạy chọt, có khi mất hàng trăm triệu, mới có một chân giáo viên. Lương thì thấp, phải dạy không công bao nhiêu năm mới bù được? Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp không thể kiếm việc làm đúng chuyên môn, đã tâm sự với tôi đầy chua xót. Hơn 30 năm giảng dạy ở trường đại học sư phạm, tôi chưa từng thấy tình hình nặng nề như thế. Tăng lương cho nhà giáo là cần, nhưng đã đủ chưa?

Tác gia Mỹ W.A. Ward từng nói: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất sắc biết minh hoạ, người thầy vĩ đại biết truyền cảm hứng”, nghĩa là sao thưa ông?

Trong một cuộc hội thảo về văn hoá, giáo sư Hoàng Tuỵ nhận xét rằng người Việt Nam học phổ thông thì không đến nỗi nào, nhưng lên đại học thì kém hơn, và ở bậc trên đại học thì thua xa so với các nước tiên tiến. Giáo sư cho rằng đó là do người Việt thiếu óc tưởng tượng. Rất có thể.

Cảm hứng chỉ được nuôi dưỡng khi nảy mầm trên những mảnh đất mới mẻ. Thầy giáo truyền được cảm hứng là nhờ biết gieo hạt tưởng tượng trong tâm trí người học, cung cấp cho họ năng lượng cần thiết để vượt qua những khổ nhọc trên con đường khám phá. Chân trời của tưởng tượng vốn không có biên độ. Ở đấy con người thoát ra những lẽ thường và hoàn toàn tự do.
Nhưng như thế thì ta lại quay về chuyện “tự do học thuật”!

Cho nên, có một cách giải thích khác với ý kiến của giáo sư Hoàng Tuỵ. Cũng là người Việt Nam, tại sao ở nước ngoài nhiều người Việt học hành, làm việc chẳng thua ai? Tưởng tượng, như thế, còn là do môi trường. Làm sao cho nhà trường Việt Nam trở thành một nơi chốn khuyến khích người học tha hồ tưởng tượng mà chẳng sợ ai chê trách, thậm chí đe doạ? Những thứ “văn mẫu”, “tư tưởng mẫu”, “giải pháp mẫu”, “con đường mẫu”… không thể là vòng kim cô trói buộc đầu óc của con người. Khai phóng là ở đó, chứ đâu nữa!

Minh Nguyễn thực hiện

Năm 2012 tổng số công bố quốc tế của tất cả các trường đại học Việt Nam chỉ tương đương số công bố của Đại học Chulalongkorn (Thái Lan), một trường không có tên trong số 400 trường tốt nhất thế giới (Times Higher Education World University Rankings 2011-2012), và bằng ¼ Đại học Quốc gia Singapore (NUS), một trường hạng 40 vào năm đó.
 

(*) Trả lời phỏng vấn báo Người đô thị (số 08 bộ mới, ra ngày 7.11.2013). Do khuôn khổ có hạn, một số câu bị cắt (đánh dấu màu đỏ).

Người trả lời phỏng vấn gửi trực tiếp cho BVN.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link