Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, February 17, 2014

Quân đội Trung Quốc sợ ai?


Quân đội Trung Quốc sợ ai?

Dân Làm Báo thân gửi đến bạn đọc trong thôn bài viết của Giáo sư - bác sĩ Thạch Nguyễn là Giám đốc Khoa Tim mạch, Trung tâm Y học St. Mary, Hobart IN., thành viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất trong ban chấp hành trường Tim mạch học Hoa Kỳ (American Cardiology of Cardiology: ACC), là người có thâm niên giảng dạy tại các trường ĐH danh tiếng ở Trung Quốc. 

Trong bài diễn văn nhận chức Giáo sư danh dự của trường Đại học Y khoa Hà Nội, giáo sư Thạch đã chia sẻ: “Từ năm 1992 đến nay, mỗi năm tôi đều đi dạy học ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Nam Kinh. Năm 1994, có một số bạn Việt Nam thấy tôi đi Trung Quốc nhiều mà không ghé Việt Nam, thì họ thắc mắc tại sao tôi hay đi làm việc ở Trung Quốc mà không hay đi Việt Nam hay những quốc gia khác. 

Tôi trả lời là có một thôi thúc mãnh liệt khiến tôi đi làm việc nhiều ở Trung Quốc là vì tôi muốn đảo ngược một hướng lịch sử đã đã kéo dài gần 2.000 năm. Trong suốt gần 2.000 năm qua, cho đến tận thế kỷ 20, các học giả Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều phải đến Bắc Kinh Trung Quốc để học hỏi về Khổng giáo hay tham vấn một kỹ thuật và nghệ thuật trị quốc khác. Nay tôi muốn đến Bắc Kinh để dạy lại và đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của ngành tim mạch Trung Quốc.


*

Quân đội Trung Quốc Sợ Ai?

Trong 20 năm qua, do những cơ duyên lịch sử lạ lùng, tôi đã có cơ hội làm việc ở Trung Quốc (TQ) trong mảng dân sự cũng như quân sự. Tôi đã ăn ở nhiều lần tại Điếu Ngư Đài, nhà khách của chính phủ TQ. Tôi đã giảng dạy ở Bệnh viện Trung Ương 301 của Quân đội TQ, và nhiều trường đại học  khác. Trong một chuyến thỉnh giảng theo lời mời của Quân y viện Thẩm Dương, nơi có tổng hành dinh quân sự miền Đông Bắc, tôi được mời đi thăm nhà máy chế tạo máy bay chiến đấu của họ. Thật không dễ dàng cho tôi chút nào khi đi xem những bảo tàng trưng bày những vũ khí mà triều Hán, Nguyên, Minh, Thanh đã sử dụng để xâm lược VN 2000 năm trước. Tôi buồn khi đến mộ Minh Thành Tổ, đại đế Trung Hoa đã ra lệnh xâm lược VN vào năm 1407. Tuy nhiên, việc chứng kiến nhiều sự kiện lạ lùng trong 20 năm gần đây của lịch sử cận đại còn đau đớn hơn nhiều.

Kẻ nội thù đối với nhiều sĩ quan TQ

Cuộc đời của họ cũng nặng nề như những người khác. Họ gia nhập quân ngũ để có một đời sống tiện nghi hơn, làm ít nhưng lương cao và ổn định hơn. Sau đó là tìm một trường tốt cho đứa con một, hầu hết là cậu ấm, và tiếp đến là tìm cho chúng một học bổng du học Mỹ. Đó là giấc mơ của họ. Chuyện chiến đấu không nằm trong kế hoạch tương lai của họ. Tuy nhiên, trong quân đội hay chính quyền, để leo cao trên bậc thang danh vọng, kẻ thù chính không phải là người Mỹ. Không phải người Âu. Không phải người Nhật. Mà là chính người Trung quốc với nhau. Để leo cao, người ta phải đè đầu cưỡi cổ những người khác và nhiều người không ngại dẫm đạp lên đầu trên cổ đồng bào hay gia đình mình để thăng quan tiến chức hay tìm một ghế trong bộ máy cầm quyền Bắc Kinh.

Cuộc tranh đấu của những lớp người trong và ngoài Đảng

Những hành động xấu xa của những kẻ giàu có và quyền lực trong chính quyền và đảng CS không lọt qua nổi con mắt tinh tường của mọi người dân. Tôi đã nghe nhiều chỉ trích về những hành động xấu xa của nhóm 10 người trong Bộ chính trị, trong Ủy ban Nhân Dân, trong Thường Vụ... Họ ăn cắp công quĩ, cướp đất nông dân (như ở Tiên Lãng), mua căn hộ sang trọng cho bồ nhí, thu vén tiền bạc cho gia đình chuyển ra nước ngoài, mua nhà và xin thẻ xanh ở Mỹ. Những người dân thường và đảng viên cấp dưới đã vô cùng oán hận khi phải bợ đỡ, hối lộ, cũng như thỏa mãn những đòi hỏi tình dục của xếp, những đảng viên cấp cao. Họ nhận thức rõ mình chỉ là đám tên nô lệ tân thời, phải quị luỵ, luồn cúi trước bí thư đảng ủy, hay phải đối phó với một gã công an đầu đường chặn xe hay nhân viên thuế vụ mỗi dịp cuối năm.

Người Dân Trung quốc nghĩ gì về Việt Nam? 

Trong một quốc gia lúc nào cũng có nhiều bè phái. Cánh quân sự Trung quốc muốn phiêu lưu xa hơn bằng vũ lực. Nhưng nó đã tạo ra những phản ứng ngược. Đa số người dân Trung quốc muốn được đi trên con đường của thế giới văn minh và hiện đại. Tuy nhiên, họ cần nghe tiếng nói trung thực của người dân Việt Nam. Người Việt cần lên án những hành động hiếu chiến của đám diều hâu trong quân đội TQ đang ngồi chễm chệ ở Văn phòng Tổng đốc Lưỡng Quảng ở Quảng Châu hay tại dinh Thái Thú Đặc Mệnh Toàn Quyền ở Hà Nội. 

Đối với đám diều hâu hiếu chiến, đám tướng lãnh chóp bu trong quân đội địa phương thì chẳng khác gì hoạn quan, tốt mã nhưng vô dụng. Các quan to ở triều đình chỉ là những con chó săn (CS) cho thiên triều Bắc Kinh. Đám vô lại này đã đem chủ nghĩa Mác Lê rác rưởi để đầu độc cả một dân tộc như chính sách ngu dân của Trương Phụ khi đốt tất cả các thư tịch cổ của Việt Nam, chỉ chừa lại các sách triết học và tôn giáo. Chủ nghĩa Mác Lê đã hủy diệt bao nhiêu thế hệ thanh niên Việt Nam trong chiến tranh Quốc Cộng để giờ đây, sự hy sinh đó chỉ để vỗ béo đám lãnh đạo và bầu đoàn thê tử. Việc cấm đoán kỷ niệm cuộc chiến 1979 được giải thích là do một cú điện thoại nóng từ Bắc Kinh. Làm gì có cú điện thoại qua đường dây nóng đó. Chỉ có đường dây điện thoại đỏ từ Quảng Châu thôi.

 Khi giải thích cho những học giả Trung Quốc, trong tiếng Việt, chữ tắt CS là chó săn, họ nghĩ ngay đến việc đổi tên đảng ở VN vì chính họ không muốn dây vào đám khuyển mã. Thái độ quị luỵ, luồn cúi của các quan chức VN khi đi sứ khất nợ chiến tranh làm ô nhục cho tổ quốc VN. 

Cuối cùng, họ phải bán rẻ đất, biển của cha ông để trả nợ vũ khí trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng 1954-1975. Rẻ mạt như khi Pháp bán Louisiana hay Nga bán Alaska cho Mỹ. 

Có đảng viên CS VN nào dám hãnh diện giơ cao thẻ đảng CS VN ở TQ hay Mỹ không? Tại Mỹ, Nga, Âu châu hay TQ, thẻ đảng là chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp của môn ăn cắp, đục khoét của công, dối trá, lường gạt gia đình, dân tộc và cả lừa mị chính mình nữa.

 Tôn Dật Tiên đã phải thốt lên:“Người VN cư xử như vậy vì họ đã quen làm nô lệ!” Những hành động của đảng CS VN tại TQ là bằng chứng hùng hồn cho thái độ hèn với giặc, ác với dân. Nhục này biết bao giờ rửa sạch?

Làm sao để biết quốc gia này có thể chận đứng một đoàn quân xâm lược? 

Khi dạy học ở Hàn quốc, tôi không ngạc nhiên khi trao đổi với những trí thức về thái độ hiếu chiến của người Tàu và người Nhật. Tuy nhiên, tôi hỏi những bà cụ già, những người đàn bà làm việc chân tay, một người buôn thúng bán bưng trên đường phố. Khi họ dạy tôi một bài học sắc bén về chủ nghĩa ái quốc bài Hoa, tôi biết TQlà bên thua cuộc trong cuộc xung đột với người Hàn quốc. Việc này cũng xảy ra ở Nhật bản hay Đài loan. Tinh thần chống CS Tàu thấm tận xương tủy mỗi người dân ở mọi tầng lớp, mọi tuổi. Già, trẻ, lớn, bé… họ hợp thành một lực lượng chống TQ mạnh mẽ và hữu hiệu. Tôi học được bài học đầu tiên và căm ghét quân xâm lược qua những lời nhẹ nhàng của một bà mẹ chưa học hết lớp năm. Lời răn ái quốc của các bậc cha mẹ ắt mạnh mẽ gấp vạn lần những thông điệp rỗng tuếch của những ông tổng bí thư của băng đảng phường bán nước.

Hôm nay kỷ niệm ngày TQ tấn công Việt Nam theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Ai sẽ là chiến sĩ mạnh mẽ nhất chống lại mọi đoàn quân xâm lược? Đó là toàn thể nhân dân Việt Nam, già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, có học nhiều hay học ít... Quân xâm lược sợ ai nhất? Cũng là sợ hãi toàn bộ người dân Việt Nam. Đó là nhưng người can đảm nói lên sự thực. Những người dám đưa những hình ảnh, bằng chứng sống động về sự tàn bạo và bất công của một thể chế bán nước ra trước công luận thế giới. Và đằng sau họ, là một dân tộc 90 triệu người đang phẫn nộ, mặc dù không phải ai cũng cất cao tiếng thét căm giận. Nên hiểu rằng, sự im lặng cũng đồng nghĩa với khinh bỉ.

Một lời nguyện cầu dâng lên các Tiền nhân đất Việt: Trong ngày kỷ niệm đau thương của lịch sử, cúi xin Tổ tiên phù hộ cho dân tộc và đất nước chúng ta được tự do, độc lập và no ấm. Xin các bác, các cụ, các anh chị, các em, các bạn hãy tiếp tục tranh đấu chống bọn hiếu chiến xâm lăng, chống lại những kẻ đã và đang bán nước. Lời nói, hành động của các bạn đã làm ấm lòng và cổ vũ mọi con dân Việt trong và ngoài nước. Các bạn là ngọn đuốc đi đầu, dẫn đường. Tự do của nhân dân, độc lập của dân tộc là trên hết. Khi thời điểm chín mùi, các bạn sẽ là những kẻ đánh bại bọn bán nước, vì sự thực và lẽ phải thuộc về chúng ta, tất cả những người dân VN yêu nước.

Viết từ mùa đông đầy tuyết tại Bắc Kinh, Trung quốc và Laporte IN, USA.


danlambaovn.blogspot.com

__._,_.___

Máu người không phải nước lã


Máu người không phải nước lã

 Tương Lai

  Phải đánh vật với bài viết này để đưa lên mạng kịp trong ngày 17.2 không phải vì đã cạn ý, nghẹn lời mà vì sự trăn trở chưa thể tự lý giải được cho mình : tại sao người ta buộc phải làm thế hay cứ muốn làm thế : Cố tình bắt dân tộc phải quên đi nỗi đau về một cuộc chiến tranh đã phơi trần bộ mặt thật của cái người “vừa là đồng chí, vừa là anh em” trong suốt ngần ấy năm?

 Không sao hiểu nổi khi cố tình lờ đi, quên đi, không cho nhắc lại, bỏ tù những ai muốn biểu tỏ lòng căm thù quân cướp nước gây nên cuộc chiến tranh đẫm máu trên đất nước ta do Trung Quốc tiến hành. Một cuộc chiến tranh quy mô lớn nhất của Trung Quốc kể từ cuộc chiến Triều Tiên 1950, điều động 9 quân đoàn chủ lực và 3 sư đoàn độc lập với hàng trăm xe tăng, hàng nghìn pháo, súng cối, dàn hỏa tiễn cùng với sự yểm trợ của hạm đội Nam Hải và không quân sẵn sàng ứng phó. Một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc trên toàn tuyến biên giới với tội ác trời không dung, đất không tha, lặp lại điều cha ông chúng xưa kia đã từng làm : giết sạch, đốt sạch. Các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn và một số thị trấn khác bị san phẳng. Máu của chiến sĩ và đồng bào ta đã nhuộm đỏ trên biên cương tổ quốc.

Tôi vẫn cố tin và mong điều mình tin đó là sự thật : những người ra cái mệnh lệnh ấy, vạch  đường lối ấy, thảo chủ trương ấy, đưa ra chỉ thị ấy dù là trên mực đen giấy trắng hay chỉ thị mật được truyền miệng trực tiếp đến các cấp ủy, đến hệ thống truyền thông, báo chí… cũng có trái tim yệu nước và căm giận bọn cướp nước. Vì, máu Việt Nam vẫn chảy trong huyết quản họ. Hàng ngày họ vẫn phải nhìn vào ánh mắt của con cháu họ, những ánh mắt tuổi thơ cần sự trong sáng và trung thực để lớn lên làm người tử tế. Họ, qua “đường giây nóng” hay chỉ là cấp thực hiện có thể ráo hoảnh thề thốt với phóng viên nước ngoài rằng không hề biết, hoặc không hề có những chủ trương, quyết sách, chỉ thị nọ, nhưng chẳng nhẽ lương tâm họ chai lỳ trước những lời nói dối để trong sâu thẳm tâm linh họ cũng chối bỏ nốt những thoáng dằn vặt hay run sợ ” Mai sau dầu đến thế nào, Kìa gương nhật nguyệt, nọ dao quỷ thần“.[Nguyễn Du]
Bởi chưng, máu người đâu phải nước lã! Anh linh của hàng vạn đồng bào và chiến sĩ của ta ngã xuống trên sáu tỉnh biên giới ba mươi lăm năm trước đây đã dồn góp vào, bối đắp thêm cho khí thiêng sông núi giữ nhịp cho mạch sống đất nước, đang nâng đỡ chúng ta, nhắc nhở chúng ta, soi rọi đầu óc chúng ta, và cũng nghiêm khắc trách phạt, căn dặn chúng ta hãy sống trong cuộc đời này như thế nào.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về“[Trịnh Công Sơn]. Ấy vậy mà Nguyễn Gia Thiều lại từng cảnh báo : “Kìa thế cục như in giấc mộng. Máy huyền vi mở đóng khôn lường”! Trong sự “mở đóng khôn lường” đó, cuộc sống tự mở lấy đường đi cho chính nó. Mọi vương triều, chính thể đều cuốn trôi theo dòng thác thời gian để cho sự sòng phẳng nghiêm cẩn của lịch sử phán xét chúng. Lịch sử gần và lịch sử xa đang hòa quyện vào nhau trong sự đa dạng và nhiễu nhương của thời cuộc hôm nay.
Những Trần Hưng Đạo rồi Trần Ích Tắc thế kỷ XIII, những Quang Trung Nguyễn Huệ và rồi Lê Chiêu Thống, thế kỷ XVIII đang được nhân bản với những gương mặt “hiện đại” của thế kỷ XX, rồi thế kỷ XXI này càng làm nổi rõ thêm lực tỏa sáng cũng như sức trĩu nặng của “đôi vầng nhật nguyệt” trên hai vai những người đương thời! Mà lịch sử có khi đi những bước chậm rãi nhưng không thiếu những chuyển động đột biến. 

Thế rồi, nói như Einstein  “trong ánh chớp của những cơn giông sáng lòe của một giai đoạn chuyển động, người ta thấy các sự việc và con người như trần truồng… Các dân tộc chỉ bị thúc đẩy để phát triển bằng nguy cơ và chấn động, mong rằng những chấn động này dẫn tới những hệ quả tích cực“.

Vậy thì, những bàn tay dại dột đang cố tình che dấu sự thật có che được nòng súng quân Trung Quốc xâm lược của
                                         pháo Bằng Tường dội sang xối xả
dằng dặc dòng người sơ tán đổ về xuôi
Lẫn lộn người Kinh, người Tày, người Dao
nào gánh, nào xe, nào gùi, nào vác
hiển hiện những ngày xưa loạn lạc
biên ải xưa giặc giã mới tràn vào
những gương mặt nghìn năm đanh sắt lại
máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới
vẫn mới cả nón mê cả áo vá chân trần…
Miếng cơm ăn lẫn cát bụi bên đường
giấc ngủ ngồi che hờ tàu lá chuối
ngôi nhà không bỏ trống sau lưng
đàn trâu lang thang lũ gà con xao xác
lũ trẻ con mắt tròn ngơ ngác
chân trẻ con lũn cũn chạy như đùa
Trẻ con trên ôtô, trên xe trâu, xe thồ
trẻ con trên lưng trẻ con trên tay
trẻ con lon ton níu váy níu áo
đòn gánh nữa kìa kẽo kẹt nghiến trên vai
một đầu gánh là trẻ con còn đầu kia là nồi là gạo
mắt trẻ con cứ tròn thao láo
như hòn sỏi ném theo đoàn quân đi…

Bịt thông tin thì bịt, nhưng bịt “ánh mắt trẻ con cứ tròn thao láo” mà nhà thơ  Nguyễn Duy miêu tả trong “chùm thơ mặt trận Lạng Sơn tháng 2.1979″ thì quá táng tận lương tâm.
Ánh “mắt trẻ con cứ tròn thao láo” ấy đang nhìn ông chúng, nhìn cha chúng trong mâm cơm của các vị, trong giấc ngủ của các vị đấy. Chẳng nhẽ các cháu sẽ vẫn tiếp tục bị bưng bít về tội ác của quân xâm lược Trung Quốc trong cuộc chiến thanh biên giới tháng 2.1979 khi người ta gỡ bỏ yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa. 

Lời khẳng định “Đấu tranh bảo vệ chủ quyền là vấn đề khác, bằng các giải pháp hòa bình, còn lịch sử là lịch sử, sự thật là sự thật” cũng bị bóc khỏi các trang mạng và trang viết. Một tít lớn chạy trên trang điện tử của báo Thanh Niên : “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết, hiện Bộ Ngoại giao đang lên kế hoạch kỷ niệm 40 năm sự kiện (1974) Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và 35 năm sự kiện tháng 2 năm 1979-chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc” chỉ giữ trên mạng có nửa buổi, sau đó biến mất! Chương trình tưởng niệm, thắp nến tri ân ‘Hướng về Hoàng Sa’ dự kiến diễn ra tại Công viên Biển Đông (Đà Nẵng) cũng bị hủy vào giờ chót với lời cáo lỗi tội nghiệp của ông Đặng Công Ngữ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa, rằng “do công tác chuẩn bị chưa được chu đáo“, một kịch bản vụng về.buộc người diễn phải ngậm bồ hòn làm ngọt để rửa mặt cho ai đó tọa lạc trên ngôi cao, quyền lớn.

Vậy thì ở đây, sự thật không còn là sự thật nữa hay ai đó sợ sự thật? Trang viet-studies ngày 11-2-2014 đăng bài của Hoàng An Vĩnh thì nói toạc ra rằng ” Cuộc trao đổi qua đường dây nóng giữa ông Tập Cận Bình và ông Nguyễn Phú Trọng là lý do khiến Việt Nam đột ngột chấm dứt các hoạt động tưởng niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa và 35 năm Chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc 1979“. Liệu đây có phải là “sự thật”?

Nhưng hình ảnh kèm ngay đây thì chắc chắn là sự thật 100% không có gì phải bàn nữa. Hãy xem người ta chỉ đạo đục bỏ dòng chữ Trung Quốc xâm lược trên tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê. Ai chỉ đạo. Ai? Chẳng nhẽ nhân dân ta “vì đại cục”, muốn giữ “hòa hiếu” với nhân dân Trung Quốc đã tự ý “đục bỏ lòng yêu nước” của chính mình?
  Và rồi ai chỉ đạo quét nhiều lớp nước vôi rất dày để làm mờ đi dòng chữ ghi tên người nữ anh hùng Hoàng Thị Hồng Chiêm được khắc trên bệ đá đặt bức tượng của người con gái từng là  biểu tượng sống động của tuổi trẻ trên tuyến đầu biên cương tổ quốc?

Trong bài báo có tên “Lại đục bỏ lòng yêu nước“, nhà báo Lê Đức Dục viết :
Sau khi chị hy sinh, tên của chị được đặt cho ngôi trường cấp 2 xã Bình Ngọc (Móng Cái-Quảng Ninh) là trường Trung học cơ sở Hoàng Thị Hồng Chiêm. Ở góc trường có bức tượng chị Chiêm bằng xi măng đặt trên bệ đá, tay trái cầm khẩu AK, tay phải cầm thủ pháo, mắt nhìn thẳng kiên nghị về phía trước, chân dẫm lên chiếc mũ quân Tàu… Vậy rồi gần 4 năm trước, năm 2010, cũng không biết vì lý do gì, trường không còn mang tên Hoàng Thị Hồng Chiêm nữa, quay lại với tên cũ là trường THCS Bình Ngọc“.

Chao ôi, Nguyễn Bỉnh Khiêm với tầm nhìn xuyên suốt lịch sử về vị thế địa- chính trị của bán đảo hình chữ S này đã những muốn mở nước về phương nam để lùi xa bớt sức ép trứng chọi đá của nước láng giềng khổng lồ nhằm tạo dựng cái thế “vạn đại dung thân” Nếu cụ Trạng Trình mà sống lại thì chắc cũng phải lắc đầu chào thua cái “viễn kiến” hiện đại, tự co mình lại trong sự tự huyễn “lấy nhu thắng cương“, kìm nén tối đa sức quật khởi của truyền thống dân tộc mà ông cha bao đời truyền dạy nhằm giữ lấy hòa khí với cái nước lớn “cùng chung ý thức hệ“!

Khốn nỗi, do lú lẫn hay hoang mang trong cơn bĩ cực đã biến chữ “nhu” thành nhu nhược, xúc phạm đến lòng tự hào dân tộc, gây phẫn nộ trong nhân dân. Về chuyện này thì lịch sử cũng đã có ghi, nhất là vào những thời đoạn suy mạt của những vương triều. Không thiếu những hoàng thân, quốc thích vì muốn giữ cái ngai vàng ruỗng nát đang lung lay đã quỳ gối trước các thế lực xâm lược hoặc chạy sang Tàu cầu viện. Vì quyền lực gắn với lợi ích của riêng của bản thân, gia đình, dòng họ, chúng đã phản bội tổ quôc, rước voi dày mã tổ, bêu tiếng xấu muôn đời. Thế nhưng, hình như lịch sử không thấy ghi những chuyện như kiểu “đục bỏ lòng yêu nước” của thời hiện đại!

Hãy ngược dòng thời gian để có cái nhìn đối sánh, lướt qua những gì mà những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thời hiện đạicùng chung ‎thức hệ với Mao – Đặng và những hậu duệ của họ đã “vượt xa” những bậc tiền bối ra sao.

Thoát khỏi ách Bắc thuộc, bước vào kỷ nguyên Đại Việt thì tìm về dân tộc và thân dân là phương thuốc tích cực nhất để giải nọc động vọng ngoại, giải Hán hóa, phải chăng đó là cội nguồn của hào khí “Đông A” khiến vương triều Trần huy động được sức mạnh của quân dân, “lấy ít địch nhiều”, ba lần đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược ở thế kỷ XIII.

Sử gia Trần Quốc Vượng đưa ra một nhận định sâu sắc về ông vua thứ 7 báo hiệu thời suy vong của vương triều Trần : “Ông vua trụy lạc Trần Dụ Tông vẫn còn một điểm lương tri khi làm thơ ca ngợi đức độ Trần Thái Tông : “miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng”. “Tuy đồng mà bất đồng” là một công thức hay để chỉ thế đối sánh Việt Nam-Trung Quốc. Đồng ở cách, bất đồng ở cốt, giống nhau ở phần biểu kiến, hiện tượng, kết quả  Trung Quốc hóa, hội nhập văn hóa với Trung Quốc trên bề mặt, khác nhau ở phần tiềm ẩn, bản chất- kết quả dân tộc hóa, giải Hán hóa dưới bề sâu. Thực thể dân tộc tính đầu đời Trần rõ ràng đến mức, trăm năm sau, cái ông vua thiếu quả quyết và bất lực như Nghệ Tông cũng biết nói một câu khôn ngoan, đúng đắn : “Triều đình ngày trước dựng nước tự có pháp độ riêng, không theo chế độ nhà Tống, là vì Nam, Bắc đều làm chủ nước mình, không cần phải bắt chước nhau“.

Xin nhớ là nhà sử học uyên bác này chỉ điểm  xuyết đôi dòng về thời suy mạt của một vương triều để chỉ ra điều nổi bật nhất trong tâm thế Việt Nam : quyết không bao giờ khuất phục phong kiến phương bắc cho dù kẻ bành trướng có sức mạnh áp đảo quyết đẩy dân tộc mình vào cái thế “châu chấu đá xe”.

Chỉ e răng có khi vị sử gia uyên bác này chưa lường được cái sức mạnh của “ý thức hệ” được ghi đậm trên mười sáu chữ bịp bợm vẫn đang phù phép, biến hóa những việc làm phi đạo l‎ý, thất nhân tâm, quay lưng lại với dân, chà đạp lên truyền thống dân tộc biến thành “tinh thần cảnh giác cách mạng” nhằm chống lại “các lực lượng thù địch” làm mất uy tín của Đảng khi mà “còn Đảng là còn mình“. Chẳng thế mà một ông từng giữ chức rất to không úp mở vòng vo, đã nói toạc ra rằng “mất vài hòn đảo chưa sao, mất Đảng là mất tất cả“.
Chẳng trách mà bọn xâm lược đang nuôi mộng siêu cường sẵn sàng làm tất cả để thực hiện chủ nghĩa bành trướng sẵn sàng hà hơi tiếp sức cho những người đang cố níu kéo cái ‎”ý thức hệ” lỗi thời đã mục ruỗng nhưng vẫn đang là cái bình phong che chắn cho một thể chế chính trị đang triệt tiêu động lực của sự nghiệp phát triển đất nước.

Chẳng phải là khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh xâm lược năm 1979 xua hơn 60 vạn quân tràn sang sáu tỉnh biên giới thì “điều thực sự mà Trung Quốc muốn là ” làm cho Việt Nam bị kiệt quệ cả về quân sự và kinh tế, và điều này sẽ diễn ra lâu dài“. Đây là nhận định của tạp chí Mỹ” Tuần tin tức“, số ra ngày 21 tháng 3 năm 1979.
Trong chuyến thăm Mỹ trước đó, ngày 1.1.1979, Đăng Tiểu Bình đã thăm dò về cuộc chiến tranh chốngViệt Nam và phản ứng của Mỹ. Với ông ta, đánh Việt Nam chính là cách vạch rõ ranh giới bạn-thù, nói rõ Trung Quốc không còn anh em, tình nghĩa gì với Việt Nam nữa. Tại Ủy ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ, Đặng nói : “Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi, vì hòa bình và ổn định của thế giới, vì chính đất nước mình, chúng tôi có khả năng không thể không làm những việc mà chúng tôi không muốn làm”. 

Tại Tokyo, Đặng nói với Thủ tướng Nhật Tanaka: “Không trừng phạt kẻ xâm lược, sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền”, “ đang suy tính, để trừng phạt dù có gặp những nguy hiểm nào đó cũng phải hành động”, ..“đối phó với loại người như thế, không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả”. Thế đó!

Thật ra thì không phải đợi đến tháng 1 năm 1979, sau khi Việt Nam đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, từ năm 1975 Trung Quôc đã thực thi chuẩn bị chiến tranh chống Việt Nam, cái gai mắc ngang cổ họng chủ nghĩa bành trướng Đại Hán không cho chúng nuốt trôi các nước Đông Nam Á và chiếm trọn Biển Đông.

Tên lính xung kích được chúng sử dụng là bè lũ diệt chủng PolPot ở Campuchia. Trung Quốc hứa viện trợ không hoàn lại cho chính quyền PolPot một tỉ đôla trong vòng năm năm, bao gồm kinh tế và quân sự. Theo AFP thì số viện trợ đó chiếm hơn một nửa tổng số viện trợ của Trung Quốc cho nước ngoài. Đặc biệt là về quân sự : từ bảy sư đoàn năm 1975 lên 23 sư đoàn; giúp xây dựng ba thứ quân và các binh chủng. Tổng số vũ khí mang nhãn hiệu Trung Quốc lên tới 450 khẩu pháo lớn, 294 xe tăng, 1.200 xe các loại, 42 máy bay; Trung Quốc đã cử hàng nghìn cố vấn quân sự đến Cam-pu-chia.

Thực chất cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam là nhằm thực thi âm mưu và thủ đoạn của người “vừa là đồng chí, vừa là anh em” cùng chung “ý thức hệ” chứ chẳng phải là ai khác cả. Chẳng những thế, Đặng Tiểu Bình còn láo xược gọi các cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc tấn công Việt Nam khi nhân dân ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài ngót nửa thế kỷ, mình còn đầy thương tích là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học“.

Không hiểu những người trung thành với cái gọi là “ý thức hệ ” với Đặng Tiểu Bình và những người kế tục ông ta đang ra sức bảo vệ cho mười sáu chữ bịp bợm có nhớ về “bài học” này không? Có thể người ta cố tình quên, nhưng thế giới thì họ nhớ. Tại Mỹ, bài báo nhan đề “ Ai cho ai bài học” trên nhật báo phố Wall số ra ngày 6 tháng 3 năm 1979 đưa ra nhận xét : “ Sau khi tính số lỗ lãi của đòn trừng phạt Việt Nam vừa qua của Trung Quốc, thế giới có thể nhất trí rằng : Trung Quốc đã phải rút khỏi cuộc chiến tranh với uy tín bị tổn thương và mặt mày đầy máu me, thương tích …”.

Có người lại cố nghĩ rằng, không phải cố tình quên mà là cao kiến hơn, người ta cố nín nhịn để vận dụng chính sách Câu Tiễn sau khi thua trận ở Cối Kê, quyết nằm gai nếm mật để phục thù, rửa hận lấy lại giang sơn? Nếu có được cái quyết tâm đáng kính đó thì hãy nhớ rằng, những hậu duệ của Ngô Phù Sai thế kỷ XXI này ranh ma quỷ quyệt gấp vạn lần bậc tiền bối của họ. Hãy đọc lại những lời nham hiểm của Đặng Tiểu Bình vừa nêu ở trên thì cũng thấy được phần nào trong khi những Ngũ Tử Tư của thời hiện đại này thì chẳng ai chịu rỗi hơi khuyên can những người bị điếc đặc bởi tai đầy ắp những giáo điều ẩm mốc đã biến thành kinh nhật tụng.

Hay là ai đó định chịu nhục như Hàn Tín thuở hàn vi phải chui qua háng của anh bán thịt giữa chợ để mưu sự nghiệp kinh bang tế thế mà cuối thế kỷ XXI này không biết có thấy được không. Rõ ràng là chuyện “đục bỏ lòng yêu nước“, hay cuống cuồng trước sự cau mày phật ‎ý hoặc lời khiển trách qua đường dây nóng, so với chuyện chịu nhục để “lấy được thiên hạ” của người tráng sĩ ở Hoài Âm xưa thì chẳng thấm vào đâu. Chỉ có điều, những Lưu Bang, Hạng Vũ nơi xứ sở của hơn tỷ dân đang nuôi mộng siêu cường hôm nay không dễ bị lừa bởi những mưu vặt của người không biết khai thác cái lợi thế mà thời đại đang tạo ra để tự mình vươn lên hội nhập vào thế giới văn minh, tự cô lập để vuột mất thời cơ. Mà mất thời cơ là cái mất lớn nhất.

Ấy vậy mà, trong khi nhà cầm quyền nín nhịn không cho phép công bố sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu này thì bộ máy truyền thông Trung Quốc, từ thông tấn báo chí đến văn học nghệ thuật suốt 35 năm nay đã ra rả gieo vào đầu thế hệ trẻ nước họ và dân chúng họ “về cuộc đánh trả tự vệ“. Nhiều nguồn tin cho rằng có tới trên 90% người dân TQ vẫn hiểu rằng năm 1979 bộ đội Việt Nam đã vượt biên giới sang tấn công , bắt buộc quân đội họ phải tự vệ !
Và, cũng do sự “nín nhịn” vì “đại cuộc” tệ hại này mà phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong hơn 1,4 triệu sinh viên nước ta hầu như không biết về cuộc chiến tranh xâm lược do Trung Quốc tiến hành. 

E rằng, Hứa Thế Hữu, viên tướng Tổng chỉ huy quân xâm lược Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới đã thất bại với chiến lược biển người quen thuộc chắc cũng tự an ủi rằng mình không bị chết bỏ mạng như viên tướng xâm lược của thế kỷ XVIII cũng họ Hứa, đề đốc Quảng Tây Hứa Thế Hanh, mà lại được thăng chức. Oái oăm hơn nữa là mười năm sau, ngày 19.9.2008 lại được báo Hà Nội Mới, “tiếng nói của Đảng bộ và Nhân dân Hà Nội” trong một bài viết nhan đề là “Thu phục tướng tài” đã ca ngợi viên tướng xâm lược bắn giết dân mình ở biên giới, hậu duệ của viên tướng xâm lược thế kỷ XVIII, là một tướng tài. Cần nói thêm rằng, Hứa Thế Hữu cũng chính là viên tướng chỉ huy cuộc đánh chiếm Hoàng Sa!

Đến Lê Chiêu Thống, kẻ đã rước Hứa Thế Hanh vào nước mình cũng chưa hề được nghe nói hay được đọc dòng nào là y đã tán tụng những tên xâm lược như hôm nay người ta đang làm. Quả là chẳng còn gì để nói.
Vì thế, không lạ khi vào những năm chẵn như năm vừa rồi kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó kỷ niệm cuộc chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” đòn quyết định đánh sụp sức mạnh không quân của đế quôc Mỹ, đưa tới việc k‎ý kết Hiệp định Paris, các cuộc kỷ niệm ấy diễn ra rất rầm rộ và hào hùng. Thế nhưng, kỷ niệm 35 năm cuộc chiến tranh biên giới đánh tan gần 60 vạn quân xâm lược Trung Quốc thì không khí lạnh tanh! Có chăng chỉ có sự náo động của lực lượng trấn áp, kể cả côn đồ được thuê để hành hung người biểu tình hô khẩu hiệu yêu nước chống bọn xâm lược.

Mọi sự dài dòng giải thích hay cao giọng rao giảng nhằm hạ nhiệt những bức xúc đang sục sôi trong tâm trạng xã hội trở nên trơ trẽn trước thực tế phũ phàng của những điều vừa dẫn ra! Chính cái đó nói lên tại sao lòng dân ly tán, trật tự an toàn xã hội rối loạn. Khi mà sự nói dối lộ liễu, “sự nói dối vĩ đại”, đang cầm chịch cho nhịp đập của xã hội thì trách gì chuyện văn hóa xuống cấp, đạo lý‎ suy đồi.

Vậy thì, nếu “ dân tộc và thân dân” là phương thuốc tích cực nhất để giải nọc động vọng ngoại, giải Hán hóa buổi mở đầu kỷ nguyên Đại Việt cách đây mười thế kỷ khi đất nước khỏi ách bắc thuộc thì trong thời đại của nền văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức hôm nay, biết vứt bỏ cái ‎ý‎ thức hệ lỗi thời, đặt lợi ích của dân tộc và tổ quốc lên trên hết và trước hết để thực tâm mở rộng dân chủ, công khai và minh bạch xây dựng nhà nước pháp quyền và mạnh dạn phát huy sức mạnh của xã hội dân sự nhằm huy động ‎ý chí và sáng kiến của dân, tạo ra một động lực mới, thúc đẩy phát triển. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống, và cuộc sống sẽ mở đường đi cho chính nó.

Máu của đồng bào và chiến sĩ ta đổ ra trong các cuộc chiến tranh giữ nước đã thấm đẫm  từng tấc đất, thước núi, triền sông, vụng biển sẽ không uổng nếu mệnh lệnh ấy của cuộc sống được thực hiện.
Ngày 16.2.2014


Ngô Nhân Dụng - Ðảng tan rã vì xã hội thay đổi


Ngô Nhân Dụng - Ðảng tan rã vì xã hội thay đổi

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 2 năm 2014


Các đảng Cộng sản ở Nga và Ðông Âu tan rã khi lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan không đường thoát vì những mâu thuẫn nội tại trong đảng và mâu thuẫn giữa đảng và xã hội. Những thay đổi bên ngoài thúc đẩy cho các mâu thuẫn nặng nề hơn. Nắm quyền thống trị trong một thời gian dài, tưởng như không có gì lay chuyển nổi, họ không thích ứng được với những thay đổi bên ngoài, đảng càng ngày càng yếu và xã hội ngày càng mạnh hơn, chế độ sụp đổ.

Hiện tượng này đang diễn ra tại Trung Quốc và Việt Nam. Các đảng cộng sản này đều chiếm được chính quyền khi canh nông vẫn còn là căn bản kinh tế ở hai nước. Trong những xã hội nông nghiệp, người dân vốn quen phục tòng quyền bính, một di sản thời phong kiến, họ chấp nhận một hệ thống đẳng cấp theo hàng dọc. Guồng máy cai trị lại lập ra được một hệ thống kiểm soát dân rất tinh vi hơn thời vua quan. Trong lịch sử chưa có một guồng máy thống trị nào dùng cơ cấu kiểm soát chặt chẽ, toàn diện, đủ mọi mặt đời sống, như các chế độ cộng sản, từ Nga, Trung Quốc, đến Việt Nam. Từ trên ban xuống, họ quy định việc chọn nơi cư trú và di chuyển (hộ khẩu), ban phát thức ăn, quần áo mặc, đồ dùng trong nhà (tem phiếu), nơi học hành, trò giải trí. Ðể kiểm soát cái đầu của người dân không cho phép ai suy nghĩ điều gì khác, họ không những nắm độc quyền các báo, các đài mà còn sử dụng hệ thống giáo dục uốn nắn con người tấm lòng trung thành, tuân phục tuyệt đối, từ lúc sinh ra đến lúc chết, dậy cho dân yêu những gì đảng yêu, ghét những gì đảng ghét.

Xã hội con người chưa bao giờ được thắt chặt vào một khuôn khổ như vậy. Bình thường, khi loài người phát triển ở đâu cũng cần lập ra một bộ máy nhà nước bảo vệ an ninh, trật tự; cần một mạng lưới sản xuất và trao đổi vì nhu cầu kinh tế; và trên hết là một trật tự tinh thần, với các tôn giáo, các hệ thống tư tưởng giải thích tại sao người ta nên sống chung như vậy. Chủ nghĩa cộng sản muốn bao biện cả ba lãnh vực: chính trị, kinh tế, và ý thức hệ. Các nhà xã hội học gọi đó là một chế độ ba chân: Caesaro-Papism-Mammonism (Hoàng đế, Giáo hoàng, và Thần tài). Chế độ ba chân này dễ đem áp dụng ở những xã hội nông nghiệp cổ truyền. Vì ở đó người ta đã quen thấy quyền hành chính trị bao trùm lên cả lãnh vực tín ngưỡng và tư tưởng, các vị hoàng đế cũng đóng vai trò lãnh đạo tinh thần, Max Weber đặt tên là Caesaropapism. Nhiều xứ Hồi Giáo nuôi lý tưởng một đế quốc thuần túy, Umma, thể hiện một chế độ hoàn thiện như vậy. Chủ nghĩa Mác Lê Nin mang tham vọng lớn hơn nữa, đã gom cả sinh hoạt kinh tế dưới một mái nhà, tạo thành chế độ ba chân, thường gọi là độc tài toàn trị.

Nhưng cuộc sống loài người thay đổi, chế độ ba chân toàn trị mất thế thăng bằng. Guồng máy chính trị bao trùm lên tất cả, sẽ tới lúc xã hội tiến hóa và phát triển không còn chịu đựng được nữa, giống như một trái lựu chín, các hạt lựu lớn căng lên, phá vỡ cái vỏ bọc, dù vỏ rất cứng rắn. Nhất là khi chế độ toàn trị phải mở hé cánh cửa cho dân được hưởng phần nào quyền tự do làm ăn để sinh sống. Một trong ba cái chân bắt đầu yếu dần, làm lệch thế cân bằng giữa nhóm thống trị và cả xã hội chung quanh họ. Cán cân sức mạnh tương đối giữa chính quyền và xã hội dần dần thay đổi. Xã hội tự nó lớn lên, không thể sống mãi trong cái vỏ do chính quyền bao bọc.

Chính quyền ngày càng yếu hơn, guồng máy kiểm soát lỏng lẻo hơn và uy tín bị soi mòn dần. Cùng thời gian đó, trong xã hội có những lực lượng mới dấy lên, ngày càng mạnh hơn. Người dân thấy họ có thể sống và suy nghĩ độc lập với guồng máy nhà nước; nhiều người dám kết hợp lại vì những nhu cầu, khát vọng chung; họ thông tin với nhau dễ dàng hơn. Có những thay đổi có thể quan sát được, như khả năng sống độc lập về kinh tế, lợi tức nhiều người lên cao và không phụ thuộc vào “chế độ xin-cho” ban phát của người cầm quyền. Ngoài ra còn những biến động ẩn chìm như những dòng nước ngầm nằm dưới đấy sâu, tới ngày sẽ làm vỡ các bờ đê ngăn chặn. Nhiều thành phần độc lập với guồng máy nhà nước càng ngày càng tự tin, đến lúc họ thấy cần sử dụng quyền công dân gây ảnh hưởng trên cuộc sống chung.

Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, khi đảng cộng sản bỏ giáo điều Mao chủ tịch, cho dân được tự do làm ăn, một tầng lớp trung lưu thành hình, ngày càng đông và lên tiếng mạnh bạo hơn. Các quốc gia bắt đầu chuyển sang thể chế dân chủ khi lợi tức theo đầu người lên mức khoảng 4,000 Mỹ kim một năm (tính theo mãi lực tương ứng, purchasing power parity viết tắt là PPP, không tính theo hối suất). Nhiều nước mặc dù lợi tức theo đầu người (percapita income) lên cao vẫn theo chế độ độc tài, vì tài nguyên do thiên nhiên ưu đãi đặc biệt chứ không phải do sức làm việc của con người tạo ra. Hiện nay trên thế giới có 24 nước với lợi tức theo đầu người cao hơn Trung Quốc mà vẫn chưa được dân chủ hóa. Trong số đó 21 nước chỉ giầu lên nhờ mỏ dầu khí. Giới quyền quý ở các nước đó giầu sang, người dân bình thường vẫn nghèo nhưng họ được chính quyền “hối lộ” bằng những chính sách trợ cấp để giữ không cho xã hội thay đổi.

Nhưng lợi tức lên cao chỉ là một trong nhiều biến chuyển dẫn đến khát vọng dân chủ. Tác động mạnh nhất trong xã hội hiện đại là kỹ thuật thông tin nhanh chóng, dễ dàng, và phổ cập. Tốc độ biến chuyển trong lãnh vực này tăng nhanh hơn và phổ cập rộng rãi trong số người càng ngày càng đông hơn. Trước năm 1979, pháp sư Hồi Giáo Ruhollah Khomeini phát động phong trào chống Sa hoàng Pahlavi bằng cách gửi những cuốn băng cát sét từ Pháp về cho các tín đồ ở Iran nghe. Từ đầu thập niên 1980, một tỷ phú gốc Hungary và sinh ở Mỹ là ông George Soros đã tặng cho các trường trung học ở Hungary những máy sao chụp (photocopy). Ông tin rằng ở đâu có phương tiện truyền thông dễ dàng thì ở đó xã hội sẽ thay đổi nhanh. Người dân Ðông Ðức vượt biên hàng loạt trong những năm 1988, 89 vì họ đã lén coi được những chương trình ti vi Tây Ðức. Nhưng sang thế kỷ 21, các khí cụ và phương tiện truyền thông mới có tác dụng mạnh và nhanh gấp trăm, ngàn lần những băng cassette, máy photocopy, và ti vi. Các mạng lưới điện tử ra đời nối kết loài người trong những cộng đồng ảo, không lệ thuộc vào khuôn khổ nơi cư trú. Các đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn đang lo lắng khi chứng kiến số phận các chế độ độc tài ở Tunisie hay Egypt, nơi cuộc cách mạng hoa nhài được phát động qua Internet và các máy điện thoại lưu động.

Vì vậy, họ đều tìm cách kiểm soát Internet. Nhưng kỹ thuật thông tin tiến bước nhanh hơn phản ứng của con người. Ðầu năm 2014, một thanh niên ở Việt Nam bầy ra một trò chơi điện tử thu hút được giới trẻ khắp nơi trong vòng mấy tháng; sau đã tự rút lại khi thấy nhiều trẻ em trên thế giới bắt đầu “ghiền.” Một đặc tính của những biến đổi kỹ thuật trong hệ thống thông tin mạng là những phát minh và sáng kiến rất bất ngờ. Các biện pháp do chính quyền đưa ra để ngăn cản các công dân mạng bao giờ cũng đi một, hai bước sau những sáng kiến cải thiện kỹ thuật “vượt tường lửa” của giới sử dụng Internet. Chính quyền không thể nào kiểm soát được tất cả. Mỗi khi họ ra lệnh “bóc” một hình ảnh, bản tin hay ý kiến trên một mạng thì đã chậm ít nhất một hai giờ. Nhiều công dân mạng đã thấy, đã sao chép để truyền đi rộng hơn. Chính quyền không kiểm soát được tất cả các mạng lưới thông tin, trong khi các công dân mạng luôn luôn tìm ra những kỹ thuật mới. Hành động ngăn cấm chỉ khiến cho các trang mạng được mọi người tin tưởng, uy tín tăng lên. Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, nhiều bloggers đã nổi tiếng vì những ý kiến tiến bộ, vì lòng can đảm không sợ hãi. Họ được nhiều người kính trọng, lôi kéo quần chúng càng ngày càng đông hơn. Các đảng cộng sản không thể tiếp tục ách cai trị bằng chính sách kiểm soát thông tin, bưng bít sự thật được nữa.

Ðảng Cộng sản bây giờ đã mất quyền kiểm soát nồi cơm và cái bao tử của dân vì phải chấp nhận mở cửa cho kinh tế thị trường. Họ đang mất độc quyền thông tin, tin tức phổ cập nhanh chóng đã trả lại cho dân quyền tự do suy nghĩ; đến chính các đảng viên cộng sản cũng mất hết lòng tin vào chủ nghĩa, chế độ và lãnh tụ. Trong ba chân của chế độ Caesaro-Papism-Mammonism, hai chân đang gẫy. Ðảng Cộng sản bảo vệ cái chân còn lại, cố nắm chắc quyền bính. Nhưng cái chân này cũng sẽ gẫy nốt, do những mâu thuẫn nội tại. Sức chịu đựng của bất cứ bộ máy nào cũng sẽ tới lúc mệt mỏi, rã rời, như một chiếc xe đã cũ. Ðảng còn tan rã vì các biến cố bên ngoài tác động. Một điều chúng ta biết chắc, là một chính quyền tỏ ra sợ sệt trước ngoại bang khiến người dân phải thấy hổ thẹn thì không thể đứng vững được.


Nhận định của một vị tướng về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc 1979


Nhận định của một vị tướng về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc 1979

PetroTimes - Vẫn tác phong nhanh nhẹn, hồ hởi và lối tư duy sắc sảo, mạch lạc của người chỉ huy chiến đấu năm xưa khi anh kể lại những kỷ niệm sâu sắc trong những tháng năm ở chiến trường. Trưởng thành từ người chiến sĩ ngoài mặt trận rồi sau này trở thành Phó tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, anh là người lính chiến dày dạn kinh nghiệm. Trong những ngày đầu chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc, anh giữ cương vị Phó chính ủy trung đoàn. Ông dành cho phóng viên PetroTimes một cuộc trò chuyện rất tâm đắc.
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm đang tặng hoa cho các cựu chiến binh cao tuổi của Sư đoàn 316
PV: Thưa anh, là người trực tiếp chỉ huy bộ đội chiến đấu chống quân Trung Quốc trên biên giới phía Bắc, sau 35 năm nhìn lại, anh có suy nghĩ như thế nào về cuộc chiến ấy?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Trước hết phải nói thế này, tôi có một suy nghĩ khác với nhiều người về cuộc chiến tranh đó. Lâu nay chúng ta quen với tên gọi là Cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung, như vậy không đúng.
Theo tôi, phải gọi đó là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc chống Việt Nam. Lý do là hai nước láng giềng, có quan hệ hữu nghị gắn bó từ những năm chúng ta còn kháng chiến chống Pháp. Biên giới lãnh thổ đã được phân định rõ ràng. Vậy mà phía Trung Quốc ngang nhiên đưa hàng chục vạn quân đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Trung Quốc đã dùng sức mạnh áp đảo để chiếm 4 thị xã và hàng chục huyện dọc biên giới của ta trong thời gian gần một tháng. Như vậy rõ ràng phải gọi nó là cuộc chiến tranh xâm lược.
PV: Khi chiến tranh nổ ra, anh đang đóng quân ở đâu và giữ cương vị gì?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Lúc đó Trung đoàn 148, Sư đoàn 316 chúng tôi đóng ở huyện Than Uyên, Hoàng Liên Sơn (nay là Lai Châu). Tôi là Phó chính ủy trung đoàn. Ngày ấy thông tin liên lạc còn khó khăn nên chiều ngày 18/2 chúng tôi mới nhận được thông báo Trung Quốc đã đánh vào thị xã Lào Cai. Thế là ngay chiều hôm ấy, trung đoàn tôi và Trung đoàn 174 được lệnh khẩn cấp hành quân về Lào Cai để đánh phản kích.
PV: Tình thế chiến trường lúc đó thế nào, thưa anh?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Ở hướng Lào Cai, quân Trung Quốc không đánh theo hướng trực diện qua cầu Hồ Kiều vào thị xã mà tiến bằng hai hướng Quang Kim, Bát Xát và ngã ba Bản Phiệt xuống. Pháo của địch bắn rất dữ dội để dọn đường cho bộ binh nên sau một ngày chúng đã chiếm được thị xã Lào Cai. Lực lượng địch được huy động đông gấp hàng chục lần phía ta.
Trước tình hình đó, Trung tướng Vũ Lập – Tư lệnh Quân khu 2 ra lệnh phá một số cây cầu để làm chậm tốc độ tiến công của địch. Đồng thời, Trung đoàn 148 nhận nhiệm vụ phòng ngự để bảo vệ dân, dàn quân từ Cốc San lên tuyến đường đi Sa Pa. Từ 2 thị xã Lào Cai và Cam Đường, hàng vạn người dân hoảng loạn chạy sơ tán về phía sau. Như vậy là bộ đội tiến lên phía trước, còn dân chạy về phía sau, tránh chết chóc. Trước đó chúng ta quen với chiến tranh giải phóng, bây giờ mới thực hiện chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cảnh tượng lúc đó giống như trong những bộ phim của Nga trong chiến tranh thế giới thứ 2.
Trung đoàn 148 có tới 80% là chiến sĩ trải qua chiến đấu ở chiến trường chống Mỹ từ phía Nam ra, rất kiên cường, dũng cảm. Đại đội 10 của Tiểu đoàn 6 chiếm giữa điểm cao 608, Trung Quốc dùng một sư đoàn tấn công 7 ngày nhưng không lên nổi. Sau đó họ lấn chiếm được một nửa điểm cao thì tôi tổ chức cho bộ đội đánh giáp lá cà khiến quân địch hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn. Chính vì thế, Sư đoàn 316 đã đánh thọc sườn, chặn quân Trung Quốc không tiến sâu được nữa.
Suốt 1 tuần lễ, Trung Quốc dùng hơn một quân đoàn và lực lượng pháo binh rất mạnh để đánh về Cam Đường và Sa Pa nhưng rồi cũng chỉ quanh quẩn ở thị xã Lao Cai. Khi địch vào được Sa Pa thì chúng tôi đã bảo vệ dân rút an toàn về phía sau. Nếu tiến thêm nữa thì Trung Quốc sẽ gặp khó khăn vì Trung đoàn 148 đã chặn đánh chúng ở đèo Khí tượng.
Bây giờ tôi không muốn nhắc lại chi tiết những trận chiến đấu ác liệt ngày đó nữa. Chỉ biết rằng, cuộc chiến đã để lại những hậu quả nặng nề cho cả hai phía. Sau mấy trận chiến đấu, tôi được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba và được bổ nhiệm thẳng lên làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 148.
PV: Là cán bộ trực tiếp chỉ huy chiến đấu, anh rút ra những điều gì về cuộc chiến tranh đó?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Đó là những vấn đề tôi vẫn suy nghĩ từ nhiều năm nay. Thứ nhất là chúng tôi bất ngờ trước sự tấn công của Trung Quốc. Mà Trung Quốc thì quá vội vã. Chỉ 15 ngày sau khi Đặng Tiểu Bình gặp Tổng thống Mỹ Ca-tơ là đánh ta luôn. Trong tư duy của chúng tôi trước đó thì không thể có chuyện Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh quân sự để đánh Việt Nam mà vẫn chỉ là những mâu thuẫn trong quan hệ đối ngoại, sẽ được hai nhà nước giải quyết bằng con đường ngoại giao. Vì thế, một số đơn vị đóng quân ở phía Bắc chỉ huấn luyện và tham gia sản xuất. Mà huấn luyện thì cũng vẫn huấn luyện bộ đội theo cách đánh Mỹ.
Thứ hai là nếu chúng ta xác định rằng Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam thì chủ động hơn trong cách đánh phòng ngự. Và với kinh nghiệm chiến đấu nhiều năm ở chiến trường đánh Mỹ, chắc chắn bộ đội ta sẽ chặn đứng được bước tiến của địch trong những ngày đầu.
Thứ ba là qua thực tế chiến trường, chúng tôi thấy trình độ tác chiến, kỹ năng chiến đấu của quân Trung Quốc còn kém, lính rất nhát. Bởi bao nhiêu năm quân đội Trung Quốc không đương đầu với cuộc chiến tranh nào nên khi chạm trán với những người lính thiện chiến Việt Nam, lính Trung Quốc rất lúng túng, chỉ dựa vào quân đông và hỏa lực mạnh. Tư tưởng của người lính trên chiến trường có ý nghĩa quyết định thắng bại. Quân đội ta đánh Pháp, đánh Mỹ và vừa đánh thắng bọn Pôn Pốt ở Campuchia hơn một tháng trước đó có tác động đến tư tưởng của quân Trung Quốc. Họ run sợ. Nếu cố tiến sâu nữa thì Trung Quốc sẽ thiệt hại nặng nề hơn.
Xe tăng Trung Quốc bị bộ đội ta bắn cháy trong cuộc chiến tranh biên giới.
PV: Với kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường, anh thấy quân Trung Quốc với quân đông, hỏa lực mạnh như thế thì tốc độ tấn công, hiệu suất chiến đấu của họ trên thực tế thế nào?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Tôi cho là tốc độ tấn công của họ quá chậm. Ở các hướng, tính bình quân mỗi ngày họ chỉ tiến được hơn 1 cây số. Bởi họ đã vấp phải sự kháng cự dũng cảm của quân và dân ta. Như ở Lào Cai, một quân đoàn của Trung Quốc mà đánh nhau với một trung đoàn của ta còn mất hàng tuần mới tiến được có mấy cây số. Chính vì thế, khi quân Trung Quốc vào được Sa Pa và Cam Đường thì chúng tôi đã bảo vệ dân rút hết về phía sau rồi.
Trung Quốc nói tiêu diệt quân chủ lực của ta nhưng không có chuyện đó. Mặc dù lực lượng mạnh như thế nhưng tấn công xâm lược mà không diệt gọn được đại đội nào của ta. Ta lượng sức mình yếu trước kẻ mạnh nên phải bảo toàn lực lượng, có đơn vị vừa đánh vừa rút. Và thực chất là tháng 2/1979, Trung Quốc mới đánh nhau với bộ đội địa phương và dân quân tự vệ ở biên giới của ta thôi. Thế mà họ đã bị thiệt hại nặng nề.
PV: Anh có nhận xét gì về cuộc tấn công xâm lược ấy của Trung Quốc?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Trung Quốc đã thất bại cả về quân sự, chính trị, ngoại giao; cả về ý nghĩa xã hội, nhân văn. Phát động một cuộc chiến tranh xâm lược như thế, họ muốn gây sức ép buộc ta rút quân khỏi Campuchia và kéo dài việc đàm phán phân định biên giới. Nhưng qua cuộc xâm lược ấy, họ thể hiện sự yếu kém. Cho nên tôi cho rằng, cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đã thua về nhiều mặt chứ chẳng vẻ vang gì như họ vẫn tuyên truyền lâu nay.
PV: Anh muốn nói gì với thế hệ trẻ hôm nay qua cuộc chiến tranh ấy?
Trung tướng Nguyễn Hữu Khảm: Tôi muốn thế hệ trẻ hôm nay hiểu rõ sự thật của cuộc chiến tranh xâm lược ấy của Trung Quốc. Từ đó tự hào với truyền thống đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc – truyền thống quý báu của bất kỳ thế hệ nào. Như vậy, vấn đề giáo dục truyền thống phải được chú trọng. Tôi thấy các bảo tàng quân sự của ta không có nội dung phản ánh cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc. Đó là một thiếu sót, cần phải bổ sung ngay. Lịch sử là lịch sử. Thế hệ trẻ cần được hiểu rõ sự thật lịch sử tháng 2/1979!
PV: Xin cám ơn Trung tướng về cuộc trò chuyện!
Đức Toàn

Nhà văn Võ Thị Hảo : Bưng bít thông tin về cuộc chiến tranh biên giới 17/02/1979 là thể hiện sự vô trách nhiệm

Võ Thị Hảo


Cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung vào năm 1979 tuy là một cuộc chiến ngắn hạn do Bắc Kinh tiến hành nhưng nó đã gây ra biết bao tang tóc đổ vỡ cho người dân Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta.
Sau khi cuộc chiến chấm dứt, nhà cầm quyền CSVN lúc đó đã tuyên bố đây là chiến thắng vĩ đại.
Tuy nhiên từ đó tới nay nhà cầm quyền CSVN chưa bao giờ tổ chức một buổi lễ kỷ niệm chiến thắng này như họ đã từng tổ chức rầm rộ chiến thắng Điện Biên Phủ 1945 hay 30.4.75. Ngoài ra họ cũng chưa bao giờ dám tổ chức tưởng niệm sự hy sinh của quân và dân Việt Nam trong trận chiến bảo vệ tổ quốc trước quân Trung quốc xâm lược này. Thậm chí họ còn ngăn cấm bất kỳ thông tin nào về cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung 17.2.1979.
Tại sao như vậy ?  Mời quý thính giả theo dõi cuộc trao đổi giữa nhà văn Võ Thị Hảo và phóng viên Trần Quang Thành:
 
Track #1
Chú thêm: một nguồn đáng tin cậy cho phóng viên Dân quyền biết  rằng công văn cấm đoán được phóng viên Trần Quang Thành nhắc tới trong câu hỏi cuối là có thật, và người ký là chính cái  ông quan to của ĐCSVN  người mà đã chối đay đảy rằng ông ta không biết gì  và ở Việt Nam không có kiểm duyệt trong một phỏng vấn với một đài nước ngoài.





Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link