Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, February 25, 2014

Hiện tượng người Bắc XHCN chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mại quan trọng ở Sài gòn, khống chế mọi lãnh vực trọng yếu ở miền Nam.

Hiện tượng người Bắc XHCN chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mại quan trọng ở Sài gòn, khống chế mọi lãnh vực trọng yếu ở miền Nam.

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỹ” – cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa – Thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật.

Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sài gòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sài gòn và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản –

 Từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước.

Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ.
Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán đồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ.

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sài gòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn).

Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra).
Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ – dĩ nhiên – vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu – Cũng đều là người Bắc – Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc tập kết – theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam, thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc cả.

Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới – Từ Trung ương đến địa phương – Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần – đều do đảng viên người miền Bắc XHCN – nắm giữ.

Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn – điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.
Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất – Cũng là do người miền Bắc XHCN nắm giữ. Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy.
Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp – nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức – tài sản những người thuộc diện tư sản – toàn bộ tài sản nầy từ Sài gòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam – được đem đi đâu? –
Không ai biết. Thông thường – những của cãi nầy phải được sung vào công quỹ – để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ.

Thế nhưng – sự thật trước nhứt – là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang).

Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ – nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê.

Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy – vì lo sợ cái gì đó – bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ.

Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu – không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại – là những biện pháp vá víu.

Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN. Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xã tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê…

Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Sài gòn.

Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam – nhưng sựthật khó chối cãi được – là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Sài gòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau – để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi – những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình).

Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh – một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình – các ông tự gọi mình đi. Đến thời “mở cửa” – cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương – đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác.

 Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế – những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.
Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu.

Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ – quê hương của Phạm Hùng – nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt – là một sự thật không thể chối bỏ.

Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực – những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê – nhứt là miền Nam – ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn – đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

 Nhà văn – bác sĩ Hoàng Chính – gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”: – “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. – Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. – Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “ Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

Bộ mặt của thôn quê miền Nam
Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua.

Thôn quê miền Nam – những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối.
 Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ).

Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ – chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn – còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy – dọc theo bờ sông Long Hồ – một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi. Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ.

Nhìn chung – có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương. Dưới sông – từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế – cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh.

Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời:
 “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “

Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? –

“ Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông, biết đâu gặp may.

“Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết. Tờ Tuổi trẻ – số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi – trong bài:

 “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy:
“Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết:

 “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Sài gòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái.Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.

 Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘

“Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”.

Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn. Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An.

Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm.

Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại. Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!

 Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không?
Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu.

Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn? Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.

Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) – những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ, thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.

Nghèo Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy – nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ?

Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam – thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực – thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá. Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết:

Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều – cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc…

Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân. Tục ngữ bình dân có câu:

Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu.

Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “

Miền Nam – 37 năm dưới chế độ Cộng sản
Kinh tế Việt Nam – trong đó có miền Nam – có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?

Kết luận
- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sài gòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.

- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) – bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ trong năm 2011 – có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF – LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

- 37 năm nhìn lại:
Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở”

- 37 năm nhìn lại:
Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam – khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc. Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu.” (Trích Người việt hải ngoại – Nguyễn văn Trấn)


© Trần Thế Phong

Văn tế Mã Thượng Tướng



Thằng Tấn Dũng thịt thằng Ngọ

Con dâu tướng sát bố chồng.
Mới về bố đã lên bồng làm tiên.
Xem ra số mạng chưa yên.
Sẽ còn ai nữa tiếp liền theo sau.
Chỉ vì muốn cưới con dâu.
Ra tay trấn lột trên đầu nhân dân.
Toàn tiền toàn bạc bất nhân.
Lớn nhỏ ăn tất chẳng cần đắn đo.
Qua mặt cả đám trâu bò.
Vì chưng quý Ngựa quan to trong làng.
Tham ăn nên họng mắc ngang.
Dũng Dương khai tuốt cả làng cùng nghe.
Tấn Dũng bực tức hăm he.
Thằng Ngựa chơi gác ! Đóng bè Mò Tôm.
Thủ tiêu phải mất vài hôm.
Cho nằm trị bệnh vào hòm gọn ơ.
Đảng ta vốn lũ mặt trơ.
Lo gì trơ trẽn cứ vờ là xong.  

VHT


 

Văn tế Mã Thượng Tướng

 
(Thượng Tướng Phạm Qúy Ngựa)
Ông Đồ Xứ Thượng  

Trong tinh thần hồ hởi của toàn dân (và một số bộ phận không nhỏ đảng viên) trước hoàn cảnh Mã Thượng Tướng (Thượng Tướng Ngựa) đã về miền đất hứa, Đồ tui xin có bài văn tế gửi gắm tấm lòng son sắt tiễn đưa một công cụ chuyên chở đắc lực, một cánh tay cơ bắp của đảng, chúc ông vừa đi đường vừa ấy ấy... vì: "Những hẹn hò từ đây khép lại"

...... Nhớ linh xưa!
Bờm trên cổ một chùm, lông sau đít phất phới, ngửa cổ hí to to
Móng dưới chân bốn cái, yên trên lưng lặc lè, co giò tung rạt rạt
.....
Phò đảng như cha, đất Thái Bình ra oai giám đốc
Lạy Hồ tợ thánh, cảng Sài Gòn ngọa hổ tàng long
......
Tiếng hí vang vang, người già run cầm cập
Vó khua lốp cốp, trẻ nhỏ đái tồ tồ
.... Than ôi!
Lực bất tòng tâm, phi nước đại, hy sinh đời bố, đành vướng thượng mã phong
Quả báo nhỡn tiền, Nuốt không trôi, củng cố đời con, cam phần gan cổ trướng
... Thôi thì!
Gạo một nạm, muối một đùm, thí phát tiễn vong
Vàng ba mớ, Đô vài thiên, hóa sinh ngạ quỷ
Đảng cộng sản, làm tang thật lớn cho vui, Cũng an ủi cái số phò tà
Dư luận viên, nhảy múa hết lòng đại hỉ, Âu cũng là xong phận vong nô
... Ai oán! Chí tai!

Đầu năm Ngựa, ai làm thịt Ngọ? -

 Ngô Đình Thu

Nhưng cái cảm giác nổi da gà ấy lại trỗi lên với tin Thượng Tướng Thứ Trưởng Công An Phạm Quý Ngọ vừa đột tử ngày 18/2/2014 vì bệnh ung thư gan. Cũng như các vụ của
Ai cũng tưởng cái thời rợn tóc gáy vì những tin chết bất ngờ đầy bí ẩn của các tướng trong thời bình như Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Phan Bình, v.v... đã vĩnh viễn chấm dứt.
Nhưng cái cảm giác nổi da gà ấy lại trỗi lên với tin Thượng Tướng Thứ Trưởng Công An Phạm Quý Ngọ vừa đột tử ngày 18/2/2014 vì bệnh ung thư gan. Cũng như các vụ của thế kỷ trước, có quá nhiều dấu hỏi quanh cái chết bí ẩn lần này.
Thắc mắc hiển nhiên đầu tiên là "bệnh ung thư" này đã có từ lâu hay chỉ từ khi ông Dương Chí Dũng công khai trước toà đã đút lót cho ông Ngọ hơn nửa triệu USD để chạy án?
Vì suốt từ điểm đó trở đi chẳng ai còn rờ mó gì được đến ông Ngọ ngoài Bộ Chính Trị. Tin ông đột nhiên ngã bệnh, rồi đến tin ông bệnh nặng đến độ hoãn vô hạn định việc điều tra các tố cáo tham nhũng, rồi đến tin ông lăn ra chết, và rồi mới đến tin ông đã từng đi Pháp, Nhật, Singapore chữa trị mà không hết, .... Tất cả các tin này đều phát xuất từ một nguồn duy nhất.

Thắc mắc thứ nhì là về loại bệnh, nếu đúng như Bộ Chính Trị nói, và thái độ của ông Ngọ đối với bệnh tình của ông. Với kiến thức thời Internet, ai cũng biết bệnh ung thư, đặc biệt ung thư gan như, là loại bệnh phát triển trong nhiều năm với nhiều triệu chứng. Ngay cả khi các triệu chứng phát tác mà không chữa trị thì vẫn phải mất nhiều tháng mới suy yếu dần. Với một người đang nắm nhiều quyền lực trong tay như ông Ngọ, muốn xuất ngoại đi nhà thương siêu cấp quốc tế nào là đi, mà không biết mình bị ung thư gan thì là chuyện rất lạ.
Càng lạ hơn nữa khi ông Ngọ đang rất khỏe trong năm 2013 cho tới ngày có vụ xử Dương Chí Dũng. Ông làm việc hăng say và hiệu quả đến độ được thăng lên thượng tướng công an vào tháng 7/2013, tức chỉ mới hơn 6 tháng trước. Nói cách khác, ông Ngọ bị bệnh nặng đến giai đoạn chỉ còn 6 tháng để sống mà lãnh đạo đảng vẫn không hề hay biết, qua sắc diện và qua hồ sơ, nên vẫn giao thêm gánh nặng trách nhiệm cho ông ta, có tin được không?
Ngược lại, khi chỉ còn 6 tháng để sống mà ông Ngọ vẫn sảng khoái, hăng hái xông vào những vụ "kiếm ăn lớn" như vụ Dương Chí Dũng  -- và đó chỉ là MỘT trong những vụ việc mà ông Ngọ dính tới -- thay vì lo đi dưỡng và đi hưởng cuối đời thì lại càng đáng đặt dấu hỏi.
Điều lạ kế tiếp là chính các đối thủ của ông Ngọ cũng không biết ông đang bệnh sắp chết.
Khoảng 1 tuần sau tết con Ngựa bỗng xuất hiện trên Internet bộ hình đám cưới cực kỳ xa hoa phung phí mà ông Ngọ tổ chức cho cậu con trai của ông vào cuối năm 2013. Các bức hình bao gồm từ cảnh rất riêng tư trong phòng cô dâu đến các cảnh lễ nghi giữa 2 nhà xui gia đến cảnh tiếp khách ngoài trời cho thấy đã có một nỗ lực thu thập từ nhiều nguồn, từ
vòng trong đến vòng ngoài gia đình ông Ngọ. Ai có khả năng và bỏ công thu thập hình ảnh như thế và tung ra vào lúc này? Họ là ai thì chưa thể xác định nhưng chủ đích của họ khá rõ. Đó là khích động công luận rằng (1) ông Ngọ chẳng có bệnh tật gì cả. Việc hoãn điều tra là vô lý; và (2) hãy nhìn cách gia đình ông Ngọ tiêu tiền tham nhũng.
Nếu biết ông Ngọ chỉ còn vài ngày hay vài tuần sống sót thì liệu đối thủ của ông Ngọ có phí công tung ra bộ hình nêu trên không? Và dĩ nhiên, một thế lực dám đối đầu với một thượng tướng kiêm thứ trưởng công an đang lên chức vùn vụt thì chắc chắn không phải là một thế lực cỡ nhỏ hay cỡ trung. Thế lực này chắc chắn phải có gạch nối với một số quan chức đảng ở tầng cao nhất. (Dĩ nhiên, mọi cặp mắt đều đang hướng về Trưởng Ban Nội Chính Nguyễn Bá Thanh). Rất khó tin có chuyện ông Ngọ bị bệnh thật mà ông Nguyễn Bá Thanh không biết.
Ấy thế mà bộ hình nêu trên xuất hiện chỉ mới hơn một tuần đã có tin Phạm Quý Ngọ đột tử. Và nay cũng đã có tin sẽ không điều tra lan lên cấp cao hơn cá nhân ông Ngọ trong vụ nhận tiền chạy án cho ông Dương Chí Dũng.
Nhưng liệu bệnh ung thư gan có lây tiếp sang các cấp thân cận dưới quyền ông Ngọ không?

.
alt
Vợ chồng Phạm Quý Ngọ và con trai con dâu trong ngày cưới. (Hình: Facebook Lộ Phạm)

alt
 

Bàn cờ đấu đá nội bộ đảng với xe Dũng, mã Ngọ

Bàn cờ đấu đá nội bộ đảng với xe Dũng, mã Ngọ



Con xe Dương Chí Dũng từ bàn cờ Hội nghị TW 6 

Sáng ngày 5 tháng 10 năm 2012, sau khi Hội nghị TW 6 - Khóa XI khai mạc được 4 ngày, Dương Chí Dũng bị Bộ Công an dẫn giải từ Sài Gòn về Hà Nội. Sự xuất hiện của Dương Chí Dũng đã giải thích cho nụ cười nửa miệng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong những ngày đầu hội nghị, mặc dù trước đó ai cũng cho rằng Nguyễn Tấn Dũng đang ở trong tình trạng bi đát với những đòn tấn công nặng nề của phe Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang. 

Dương Chí Dũng là nước cờ chiếu tướng bằng "xe" đầu tiên của Nguyễn Tấn Dũng mà một số người gọi đó là quả bom nổ trong Hội nghị TW6. Điều gì đã xảy ra?

Tại trại giam của công an Lạng Sơn, trong một bản tự khai, qua đó chúng ta biết trước đó, khi còn bị tạm giam tại B34 Sài Gòn, Dương Chí Dũng đã khai nhiều điều, trong đó đã có chuyện hối lộ Thứ trưởng Công an Phạm Quý Ngọ để tẩu thoát. (Xin xem lại bài "Vụ Phạm Quý Ngọ: Đại tá công an Nguyễn Như Phong muốn "cứu" hay "giết" Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang?". (1

Dương Chí Dũng từng là Cục trưởng Cục hàng hải Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), Ủy viên Thường vụ Đảng ủy khối doanh nghiệp TW Đảng. Chừng đó "bề dày cách mạng" trong "mạng nhện tham nhũng", Dương Chí Dũng là "hủ mắm" mà Nguyễn Tấn Dũng nắm được và nếu khui ra thì vô số những quan lớn trong TW đảng đã "trót" nhúng chàm sẽ bị lộ.

Do đó điều kiện đã được bắn ra: Nguyễn Tấn Dũng sẽ giải quyết nguy cơ bị lộ của nhiều đồng chí TW đảng nếu phủ quyết đề nghị kỷ luật đồng chí... X đã và đang được vận động ráo riết bởi Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang trước thềm Hội nghị TW6. 

Kết quả là Nguyễn Tấn Dũng cười tươi, Nguyễn Phú Trọng mếu máo, Trương Tấn Sang trầm ngâm và Nguyễn Bá Thanh ngẩn ngơ chào buồn chiếc ghế Ủy viên Bộ Chính Trị. 

Thành quả này có được cũng phải nhờ đến "công lao" của Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang lúc đó đang nắm quyền sinh sát Dương Chí Dũng tại trại tù của Bộ Công an. 

Sau Hội nghị TW 6, Nguyễn Tấn Dũng thực hiện lời hứa, giải quyết những nỗi âu lo bị lộ và lộ dây chuyền, lộ hàng loạt nếu Dương Chí Dũng bắt đầu xì ra. Lời hứa được thực hiện bằng cách vô hiệu hóa những lời khai trước đây của Dương Chí Dũng bằng chính lời khai... lại của đương sự: 

Ngày 17 tháng 10 năm 2012, tức là chỉ 2 ngày sau khi Hội nghị 6 bế mạc, tại trại tù Công an Yên Thạch, Lạng Sơn, Dương Chí Dũng ngồi viết bản tự khai, tự phủ nhận những lời khai "sai sự thật do lẫn và hoang tưởng" trước đó (1). Đây là kết quả của một thương lượng, mở đầu cho một tiến trình dàn xếp nhiều bước để mãi đến hơn một năm sau, vào tháng 12 năm 2013, Dũng "em" ra tòa với nụ cười khinh khỉnh không kém gì nụ cười nữa miệng của Dũng "anh" tại Hội Nghị TW 6. 

Liên minh Trọng-Thanh 

Sau Hội nghị Trung ương 6, Nguyễn Tấn Dũng thắng lớn. TBT Nguyễn Phú Trọng đăng đàn mếu máo "không kỷ luật được một đồng chí trong Bộ Chính Trị". Nguyễn Bá Thanh ê ẩm mình mẩy vì bị té ra khỏi ghế Bộ Chính Trị mà trước đó tưởng chắc sẽ được an tọa. Thua keo này bày keo khác, cuối năm 2012 Nguyễn Phú Trọng thành công trong việc vận động BCT thành lậpBan Nội chính Trung ương Đảng và cho Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng của Nguyễn Tấn Dũng ra rìa. 

Nguyễn Phú Trọng bổ nhiệm Nguyễn Bá Thanh vào chức vụ Trưởng ban Nội chính và chúa trùm Đà Nẵng dời về Hà Nội bắt đầu sự nghiệp hốt, hốt liền, hốt hết. Nhiệm vụ chiến lược của chương trình hốt này là hốt Dương Chí Dũng vào tù và sau đó cho dựa cột. 

Tuy nhiên, bộ phận Nội chính trung ương chưa đủ tầm để đối phó với phe Nguyễn Tấn Dũng đang nắm trong tay các bộ phận của nhà nước với vây cánh chằng chịt của nhiều thành phần lợi ích. Nếu không có thêm "công lực" khó mà Nội chính TW có thể hoàn thành sứ mạng chỉnh và đốn nhau. 

Phiên tòa Dương Chí Dũng 

Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Tòa án nhân dân TP Hà Nội mở phiên xét xử sơ thẩm Dương Chí Dũng. Hình ảnh tươi cười của Dương Chí Dũng, theo lời luật sư - sức khỏe và tinh thần của rất tốt và bị cáo đã sẵn sàng chuẩn bị tinh thần để tham gia phiên tòa, cho thấy Dương Chí Dũng đang an tâm với những lời hứa hẹn của phe Nguyễn Tấn Dũng / Trần Đại Quang trong nhà tù công an Lạng Sơn. 

Ngày 14 tháng 12 năm 2013, Trưởng ban Nội chính TW Nguyễn Bá Thanh bất ngờ xuất hiện tại phiên tòa xét xử. Buổi chiều cùng ngày, Dương Chí Dũng đứng trước tòa ngạo nghễ đọc thơ:"28 năm qua lại trở về, Những người hàng hải nặng thề năm xưa, Dưới cờ Đảng nguyện cùng đưa, Con tàu hàng hải đến bờ vinh quang..." 

Xe Dũng sang sông, bàn cờ nghiên về phía nhóm lợi ích. Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Bá Thanh phải đi tìm gậy chống. Gậy ấy nằm ở Bắc Kinh. 

Hai ngày sau khi thi sĩ Dũng ngâm thơ, chiều ngày 16 tháng 12 năm 2013, cùng một lúc tại 2 nơi xảy ra 2 sự kiện: 

- Tại Hà Nội, TAND tuyên án tử hình Dương Chí Dũng. 

- Tại Bắc Kinh, Nguyễn Bá Thanh hội kiến với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương Mạnh Kiến Trụ. Đây là cuộc gặp gỡ được tuyên bố. Những buổi họp khác nếu có, với ai khác đều không được thông tin. 

Ngày 16 tháng 12, bàn cờ đấu đá nội bộ đảng đảo ngược tại phiên tòa. Phe Trọng Thanh tấn mã sang sông. Mã này không phải là Mã Ngọ mà là mã từ bên Tàu. Mã Viện. Và Mã Viện chắc hẵn đã gửi thông điệp, bật đèn xanh trước đó và chuyến đi Bắc Kinh của Nguyễn Bá Thanh chỉ để báo cáo tình hình và nhận lời... khuyên mới.

Dương Chí Dũng đối diện với hai điều kiện để có cơ hội để thoát án tử hình: 

Điều kiện 1: Khai báo những nhân vật liên hệ thuộc phe Nguyễn Tấn Dũng để được xem xét giảm nhẹ bản án theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự. 

Điều kiện 2: Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: nếu bị cáo hoặc gia đình bị cáo “Đã bồi thường được ít nhất một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt; Đã bồi thường được từ một phần ba đến dưới một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt, nếu có căn cứ chứng minh rằng người phạm tội (hoặc người thân thích, ruột thịt... của người phạm tội) đã thực hiện mọi biện pháp để bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt (đã bán hết nhà ở, tài sản có giá trị; cố gắng vay, mượn... đến mức tối đa)” thì HĐXX có thể không xử phạt tử hình. 

Điều kiện 2 thì không đương nhiên mà "tùy" vào nhận xét của HĐXX cho cái gọi là có thểkhông xử phạt tử hình”. Và từ đó "tùy" vào phía Trọng, Thanh - phe nhóm đã thành công trong việc "hướng" tòa án móc túi ra bản án tử hình. 

Điều kiện 2 chỉ may ra được xảy đến nếu Dương Chí Dũng "làm cái gì đó" để thỏa mãn điều kiện 1. 

Làm cái gì đó:

Ngày 7 tháng 1, năm 2014, Dương Chí Dũng ra trước tòa công khai tên tuổi Phạm Quý Ngọ nhận hối lộ 20 tỷ, tiền từ Trương Mỹ Lan và có báo cáo với Trần Đại Quang. Lời khai lần thứ 3 này ngược với lời khai lần 2 của Dũng trong trại tù Lạng Sơn sau Hội nghi TW 6 phủ nhận lời khai lần 1 trước đó trong trại tù B34 của công an Hồ Chí Minh. (1

Kết quả thắng lợi lọt vào tay của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Bá Thanh: Ngày 8 tháng 1, 2013 Chủ tọa Trương Việt Toàn thay mặt Hội đồng xét xử công bố quyết định khởi tố vụ án làm lộ bí mật nhà nước đối với Phạm Quý Ngọ. 

Ngày 18 tháng 1 năm 2014, buổi lễ thắp nến tri ân các "liệt sĩ Hoàng Sa" bị thông báo hủy bỏ sau khi có cuộc điện đàm "đường dây nóng" giữa Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình. Ngày 16 tháng 2 năm 2014, nhiều công dân yêu nước cùng nhau tổ chức Lễ Tưởng niệm 35 Chiến tranh Biên giới chống xâm lược. Cán bộ đảng kéo đến chiếm khu vực tượng đài Lý Thái Tổ, thay nhau nhảy nhót ăn mừng với bản nhạc Tàu "Trung Quốc Chính Nghĩa", được Hồ Quang Hiếu đặt lời Việt là "Con bướm xuân".

Ơn đền cho cái gậy Trung Quốc sau khi oán trong nhà được thanh toán.

Ngày 18 tháng 2 năm 2014 Phạm Quý Ngọ chết. 

Nếu vào tháng 10, 2012 phe Nguyễn Tấn Dũng với Trần Đại Quang "khai tử" lời khai của Dương Chí Dũng bằng chính bản tự khai "lại" của Dương Chí Dũng thì tháng 2 năm 2014, những lời "chưa khai" của Phạm Quý Ngọ đã được "khai tử" bằng... chính lá gan của Phạm Quý Ngọ.

Trước khi Phạm Quý Ngọ chết - lúc 19h58', Đại tá công an Nguyễn Như Phong đăng tin trên tờ PetroTimes thông báo ông Ngọ chết vào lúc 21h20. PetroTimes là tờ báo của Tập đoàn Dầu khí, một thành phần của Tập đoàn... lợi ích, nơi có những người biết ông Ngọ chết trước khi ông ta chết. Đây cũng là nơi duy nhất được tiếp tế cho bản văn tự khai số 2 của Dương Chí Dũng tại nhà tù Yên Trạch vào tháng 2 năm 2012 (1)

Ngày 23 tháng 2 năm 2014, Bộ Công an tổ chức tang lễ cho Phạm Quý Ngọ. Thành phần lãnh đạo thưa thớt, nhưng đặc biệt là sự có mặt của Bộ trưởng Trần Đại Quang, người được "hưởng lợi" nhiều nhất trong vụ chết không còn nói được của Phạm Quý Ngọ. (2)

Bàn cờ mất mã còn xe. Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Bá Thanh không dại gì để cho Dương Chí Dũng dựa cột theo kiểu Ngọ chết là hết. Điều gì sẽ xảy ra cho con xe Dương Chí Dũng trong thời gian trước mắt sẽ cho chúng ta thấy những nước cờ đốn nhau của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. 



_____________________________________




NGƯỜI DÂN CÓ QUYỀN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN ĐỘC TÀI DÃ MAN


On Tuesday, 25 February 2014 2:39 PM, San Le D. <sanduyle@yahoo.com> wrote:

 
KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TAU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

NGƯỜI DÂN CÓ QUYỀN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN ĐỘC TÀI DÃ MAN 


Lê Duy San 

Chính quyền là do dân mà ra. Không có dân làm sao có nước ? Không có nước làm sao có chính quyền ? Bởi vậy, nếu chính quyền trở nên tồi tệ, không biết phục vụ cho người dân, bảo vệ quyền lợi và tính mạng của người dân, mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân thì người dân phải tìm cách lật đổ chính quyền để lập một chính quyền khác có lợi cho mình. Đó là quyền lật đổ chính quyền của người dân trong một nước.

I/ Nguồn gốc quyền lật đổ chính quyền của người dân.
a/ Trong học thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa của Khổng Mạnh.

Người cầm quyền xưa thường dựa vào lời nói: ``Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu`` của người xưa và đã hiểu theo nghĩa đen của từng chữ như sau: ``Vua xử chết, mà (bầy tôi) kháng cự là bất trung. Cha bảo chết, mà (con) còn luyến tiếc cuộc đời là bất hiếu (không xứng đáng là đại trượng phu, là nam tử hán)``.  Hai câu giáo điều này của Nho Giáo đã ngự trị ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa từ nhiều ngàn năm trước và đã được người cầm quyền thời đó tức các vua chúa ngày xưa căn cứ vào đó để trị nước một cách độc tài, độc đoán.

Thực ra thì mặc dù quan niệm Vua là Thiên Tử, nhưng theo Khổng Tử, DÂN cũng là con TRƠI, chỉ khác là VUA là con trưởng mà thôi (Phàm nhân giai vân Thiên chi tử Thiên tử vi chi thủ nhĩ). Không những thế, DÂN mới là người đáng qúy nhất (Dân vi qúy, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh). Thực vậy, không có DÂN thì làm gì có nước ? Không có nước thì làm gì có vua ? Bởi vậy, dù là Thiên Tử, làm gì cũng phải theo ý trời mà ngày nay ta phải hiểu là ý Dân. Thuận theo ý TRƠI thì sống, nghịch ý TRƠI thì phải chết (Thuận Thiên gỉa tồn, nghịch Thiên gỉa vong).

Chính Đức Khổng Tử cũng đã từng hành xử như vậy. Chỉ có điều vì ngài chủ trương NHÂN TRỊ CHỦ NGHĨA, lại sống dưới chế quân chủ chuyên chế nên cách giải quyết của ngài để phế bỏ những ông vua tàn ác, bạo ngược không thể thuyết giảng công khai mà chỉ âm thầm nhưng vẫn không thiếu phần tích cực và dũng cảm. 

Đó là sự ra đi (treo áo từ quan) và tìm người khác xứng đáng hơn để phù trợ mà vẫn không mang tiếng là bất trung, là phản nghịch. Một khi những người tài giỏi đã bỏ ra đi hết thì chẳng sớm thì muộn, ông vua tàn ác bạo ngược kia cũng bị mất ngôi, mất nước.

Đọc chuyện Đức Khổng Tử bỏ nước Lỗ trong cuốn Ôn Cố Tri Tân, tập 2 trang 657 của Mộng Bình Sơn, chúng ta thấy Ngài đã được vua nước Lỗ là Lỗ Định Công mời về và phong cho làm Tướng Quốc. Ngài đã giúp cho vua nước Lỗ chỉnh đốn lại được kỷ cương trong nước khiến nước Lỗ mỗi ngày một cường thịnh. 

Nhưng khi ngài thấy Lỗ Định Công không còn xứng đáng là một vị vua nữa, và cũng không còn cách nào cải sửa được nữa vì đã bỏ mất điều LỄ nên ngài đã bỏ nước Lỗ ra đi, sang nước Vệ rồi nước Tống, tìm minh chủ để phò trợ. 

Ai dám bảo Đức Khổng Tử, một người đã đề ra thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa, lấy Tam Cương Ngũ Thường làm giường cột, là bất trung ? 

Quan niệm của Đức Khổng Tử về Trung và Hiếu cũng như Quân, Sư, Phụ, lúc nào cũng phải dựa vào NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ và TÍN. Bởi vậy, không phải lúc nào cũng ``Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu``. 

Câu này sở dĩ luôn luôn được nói tới trong thời phong kiến bởi vì thời nào cũng vậy, hôn quân, bạo chúa, gian thần, nịnh thần thì nhiều mà minh quân, anh quân, trung thần thì ít, nên bọn gian thần, nịnh thần luôn luôn nêu câu này lên để hãm hại trung thần.

Ngày nay, bọn Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam tuy bề ngoài thì đả phá chế độ quân chủ, phong kiến, nhưng cũng bấu víu vào hai chữ TRUNG và HIẾU của Khổng Tử để đàn áp dân chúng cũng như những người bất đồng chính kiến. 

Nhưng chúng đã sửa đổi một chút cho phù hợp với xu hướng của thời đại và nhu cầu của chế độ là TRUNG với ĐẢNG, HIẾU với DÂN``. Thực ra thì bọn chúng (bọn Cộng Sản Việt Nam) chỉ bắt DÂN phải TRUNG với ĐẢNG mà thôi, chứ làm gì có chuyện bọn chúng HIẾU với DÂN ? 

Nếu bọn chúng biết HIẾU với DÂN  thì đâu có chuyện hàng triệu người phải bỏ nước ra đi để hàng trăm ngàn người phải bỏ xác ngoài biển cả ?

Là bầy tôi trung, phải hiểu là trung với nước, Vua hay Tổng Thống chỉ là người đại diện. Nếu không xứng đáng, người bầy tôi trung, nói riêng, công dân tốt, nói chung, không những có quyền mà còn có bổn phận đứng lên tìm cách phế bỏ hay đạp đổ. Liệu bọn Cộng Sản Việt Nam còn có thể tồn tại được đến bao giờ nếu chúng không thay đổi cách cư xử đối với dân và cách phụng sự đối với đất nước ? Người xưa thường nói: ``Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên gỉa vong. Thiên ở đây chính là lòng dân. 

Do đó, nếu chính quyền của một quốc gia không tạo được an sinh và hạnh phúc cho dân, mà chỉ tham nhũng và dùng quyền bính của mình để ức hiếp và áp chế người dân, người dân có quyền xử dụng quyền lật đổ chính quyền của mình để tạo lập một chính quyền khác, biết lo cho quyền lợi và hạnh phúc của mình hơn.

Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy có nhiều bầy tôi đã hiểu chữ TRUNG, chữ QUÂN một cách tích cực như vậy, mà cụ Chu Văn An, cụ Nguyễn Trãi là những người điển hình.

b/ Trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc.

Nguồn gốc thứ hai của Quyền lật đổ chính quyền của người dân cũng tiềm ẩn trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp, Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ và nhất là trong  bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyên của Liên Hiệp Quốc.

Điều 21 bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã gián tiếp công nhận quyền lật đổ chính quyền của người dân qua quyền bầu cử và ứng cử của người dân như sau:
             1. Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.
            2.Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.

            3.Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

II/ Các hình thức để thực hiện quyền lật đổ chính quyền.
a/ Các hình thức ôn hoà.

Tại các nước tự do, dân chủ, khi người dân bất mãn với chính quyền, họ thường xử dụng những quyền tự do đã được luật pháp công nhận như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền bầu cử và ứng cử v.v. để tỏ bầy những sự bất mãn của họ và yêu cầu chính quyền phải sửa sai.

Nếu không được, họ sẽ dùng những quyền tự do khác, cũng được luật pháp công nhận, nhưng mạnh mẽ hơn để làm áp lực như quyền đình công, bãi thị, quyền mít tinh, biểu tình để yêu cầu các người đại diện của họ tức các dân biểu, nghị sĩ phải đưa các vấn đề mà họ yêu cầu ra trước quốc hội để chất vấn chính phủ (các bộ trưởng) và nếu cần, khiển trách hoặc đàn hạc (impeachment), kể cả Tổng Thống. Một Tổng Thống mà đã bị quốc hội đàn hạc thì dù có thoát tội, và không chịu từ chức thì cũng khó lòng mà có thể được tái cử trong nhiệm kỳ tới.

b/ Các hình thức bạo động.
Tại các nước theo chế độ độc tài, nhất là chế độ độc tài cộng sản, các quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí v.v. đều bị cấm đoán hoặc nếu có đề cập tới, thì cũng chỉ là hình thức. 

Thí dụ như Điều 69 bản Hiến Pháp 1992 của Việt Cộng ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”, nhưng rồi chúng lại đặt ra luật pháp để cấm đoán. Thí dụ như để ngăn cấm những quyền tự do này,  Việt Cộng đã ghi vào bộ Hình Luật của chúng hai điều luật sau:

Điều 79, khoản 1 bộ Luật Hình Sự quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Điều 88, Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nguời phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm. Nếu trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 mươi năm.

Như vậy chúng ta chấy, mặc dù Hiến Pháp Việt Cộng tuy có đề cập tới các quyền tự do cũng bằng không. Làm sao người dân còn có thể lật đổ được chính quyền bằng các biện pháp ôn hòa? 

Người dân cũng không có thể yêu cầu các Dân Biểu hay Thượng Nghị Sĩ đưa Tổng Thống hay Chủ Tịch nhà nước ra trước Quốc Hội để mà chất vấn (question severely) hay đàn hạc (impeachment) vì họ (các dân biểu hay Thượng Nghị Sĩ) đều là người của Đảng (Cộng Sản), đại diện cho Đảng chứ không phải là người đại diện cho dân. Vì thế có thể nói rằng việc sử dụng các hình thức ôn hoà tại các nước theo chế độ độc tài để lật đổ chính quyền là điều bất khả thi. 

Vì thế người dân phải sử dụng những hình thức bạo động như biểu tình có bạo động, có đổ máu như hô những khẩu hiệu đòi hỏi những người lãnh đạo phải từ chức, quốc hội phải gỉai tán, đập phá, đốt xe cộ của công an, cảnh sát. 

Nếu bị công an, cảnh sát dùng những biện pháp mạnh như đánh đập người biểu tình thì người biểu tình phải chống đối lại bằng gạch đá, gậy gộc hoặc bằng bom xăng, đưa tới tình trạng bạo động đổ máu hoặc nội chiến gây nhiều tang tóc cho dân chúng, không thể lường trước được.

Việc sử dụng những hình thức ôn hoà chỉ hữu hiệu tại các nước dân chủ mà thôi. Bởi vậy tại các nước dân chủ thực sự, không bao giờ xẩy ra những cuộc cách mạng đổ máu. Trái lại, tại các nước độc tài quân phiệt hay độc tài Cộng Sản, nếu không có cuộc cách mạng đổ máu, thật khó mà có thể lật đổ được chính quyền của những nước này nhất là tại những nước theo chế độ Cộng Sản. 

Bởi vì mặc dầu những nước này cũng đã ký vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và cũng có ghi vào bản Hiến Pháp của họ. Nhưng trên thực tế, mọi quyền tự do đều bị cấm đoán. Không những thế, họ còn đặt ra những điều luật để hù dọa như điều 79, khoản 1 bộ Luật Hình Sự Việt Cộng. 

Điều khoàn này quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” để hù họa những người muốn xử dụng “Quyền lật đổ chính quyền”.

Tóm lại, khi một chế độ không biết chăm lo săn sóc quyền lợi của người dân, không biết bảo vệ quyền lợi của người dân mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân, không biết lo cho tương lai của dân tộc, tiền đồ của đất nước thì người dân có quyền lật đổ chính quyền. 

 Khi mà một chế độ chỉ biết vâng lời ngoại bang, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang và gây ra không biết là bao nhiêu cảnh tang thương, chết chóc cho dân tộc như bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam hiện nay đã làm thì đó là một chế độ phản dân, hại nước, người dân lại càng có lý do chính đáng lật đổ chúng để xây dựng một chế độ tốt đẹp hơn.

Vì thế việc lật đổ chính quyền Cộng Sản Việt Nam hiện nay, không những là một quyền tối thượng của người dân mà còn là một nhiệm vụ cao cả của người dân. Bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam không thể vin vào bất cứ lý do gì để trừng phạt hay cản trở người dân yêu nước khi xử dụng quyền tối thượng này.

Bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam hãy mau mau tỉnh ngộ, đừng để cuộc cách mạng đổ máu xẩy ra. Nếu không, chắc chắn sẽ không một lực lượng nào có thể ngăn chặn nổi sự giận dữ cuồng nộ của người dân. Chắc chắn lúc đó người dân sẽ, không những tìm những tên đầu xỏ Việt Cộng, những tên Công An Việt Cộng ác ôn để thanh toán mà còn thanh toán luôn cả các tên đảng viên cộng sản, các tên công an, và có khi cả các thân nhân của bọn chúng và cả những tên đã dựa hơi bọn chúng để làm giầu hay để ức hiếp dân lành.

 

 

Gia đình Bùi Hằng chính thức mời luật sư


Chị Bùi Thị Minh Hằng nhiều lần tố cáo đích danh chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo

CTV Danlambao - Ngày 21/2/2014, CA Đồng Tháp thông báo miệng với gia đình rằng đã có quyết định khởi tố hình sự đối với 3 nhà hoạt động chị Bùi Thị Minh Hằng, chị Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh. Tuy nhiên, đến thời điểm này (tối ngày 22/2), cả 3 gia đình vẫn chưa nhận được bất kỳ thông báo nào của CA Đồng Tháp về việc khởi tố, mặc dù thời hạn tạm gia 9 ngày đã kết thúc.

Trước lối làm việc phi pháp và mờ ám của CA Đồng Tháo, ngày 22/2/2014, con gái chị Bùi Thị Minh Hằng là Đặng Thị Quỳnh Anh đã chính thức ký hợp đồng mời luật sư bảo vệ quyền lợi cho mẹ.


Nội dung đơn mời luật sư được Đặng Thị Quỳnh Anh phổ biến trên facebook cùng với thông báo: 

"Xin thông báo cùng tất cả những ai có lòng quan tâm tới vụ việc của mẹ tôi là bà Bùi Thị Minh Hằng, hôm nay ngày 22/02/2014 (12 ngày kể từ ngày mẹ tôi bị bắt giữ phi lý) gia đình đã chính thức ký hợp đồng với văn phòng luật sư để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bà, mong mọi người cùng đồng hành với chúng tôi trên đường đi tìm lại công lý cho mẹ. 

Kính"


3 nhà hoạt động gồm có chị Bùi Thị Minh Hằng, chị Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh bị bắt giam và đánh đập tàn bạo tại Đồng Tháp vào hôm 11/2/2014. 

Từ ngày bị bắt đến nay, 22/2, cả 3 nhà hoạt động đã đấu tranh tuyệt thực sang ngày thứ 12 liên tiếp để phản đối hành vi bắt người tùy tiện.


                    *

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link