Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, March 15, 2014

Tranh chấp Biển Đông và vai trò của VN

Tranh chấp Biển Đông và vai trò của VN

Thái Văn Cầu
Chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ
Thứ sáu, 14 tháng 3, 2014

Một tàu cá trước các tàu HQ-264 và HQ-265 của Bộ Tư lệnh vùng 5 Hải quân Việt Nam
Năm 2014 đánh dấu hai sự kiện lớn trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc:

Kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hoà hy sinh, và kỷ niệm 35 năm ngày Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống Việt Nam, khiến 60,000 người Việt Nam thiệt mạng, và khiến các tỉnh biên giới cực Bắc bị tàn phá nặng nề.

Ngày 14 tháng 3 năm nay cũng đánh dấu 26 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.

Qua nguồn tư liệu do nhà nước Việt Nam phổ biến công khai sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc và qua đối chiếu với nguồn tư liệu độc lập để kiểm chứng, ba điểm mốc thời gian của năm 1974, 1979, và 1988 phản ánh các mắt xích trong một chiến lược lâu dài, nhất quán, của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam: Bắt đầu từ thập niên 1950 cho đến ngày nay, bằng những mưu đồ, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khác nhau, thay đổi tùy tình huống, Trung Quốc luôn luôn muốn kiềm chế Việt Nam, giữ Việt Nam ở vị thế nước yếu kém, lệ thuộc vào Trung Quốc.

Mặc dù vào năm 1979, Trung Quốc thất bại thảm hại trong việc sử dụng hàng trăm ngàn quân tinh nhuệ và hoả lực hùng hậu để “dạy” cho Việt Nam một bài học, kể từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1990, Trung Quốc thành công đáng kể trong nỗ lực kiềm chế Việt Nam, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông.
"Trong gần 20 năm ... Việt Nam hoàn toàn bị động, tiêu cực, không có một phương án nào khác biệt với lập trường của Trung Quốc cho Biển Đông."
Do Việt Nam có chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa rõ ràng, vững chắc, và do hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc trên Biển Đông, nhiều năm trước, người viết đề nghị Việt Nam kiện toàn hồ sơ chủ quyền, tham vấn chuyên gia người nước ngoài, tranh thủ ủng hộ của khu vực và thế giới trong việc sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc.

Thực tế cho thấy, trong gần 20 năm, lãnh đạo Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp “thông qua đàm phán hòa bình”, trên tinh thần “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, và trên cơ sở “16 chữ vàng, 4 tốt”. Việt Nam hoàn toàn bị động, tiêu cực, không có một phương án nào khác biệt với lập trường của Trung Quốc cho Biển Đông. (Xem thêm "Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc” giữa Nông Đức Mạnh-Hồ Cẩm Đào, tháng 6 năm 2008).

Trong cùng thời gian, Trung Quốc tích cực xây dựng sức mạnh trong cả hai lãnh vực quyền lực mềm và quyền lực cứng về Biển Đông: Ban hành “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” bao gồm quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa năm 1992 (20 năm trước khi Luật Biển Việt Nam được ban hành); kể từ giữa thập niên 1990, đầu tư vào các học viện, trung tâm nghiên cứu chiến lược, quy mô lớn, thu hút sự tham gia của giới nghiên cứu, chuyên gia người nước ngoài; vận động để có quan toà Trung Quốc trong hai cơ chế luật pháp quốc tế: Toà án Quốc tế (ICJ) và Toà án Luật Biển (ITLOS); kể từ năm 1999, ban hành lệnh cấm đánh cá ba tháng mỗi năm, bao gồm vùng biển của Việt Nam; hiện đại hoá lực lượng hải quân để gia tăng sự hiện diện của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông; lôi kéo đồng minh trong khối ASEAN; nâng cấp đơn vị hành chính quản lý các đảo chiếm đóng bất hợp pháp thuộc Hoàng Sa-Trường Sa, v.v.

Mãi cho đến đầu năm 2013, lãnh đạo Việt Nam mới đề cập đến sử dụng công cụ luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp Biển Đông. Quan điểm này được đưa ra đúng 25 năm sau sự kiện 14.3 và gần 40 năm sau sự kiện 19.1, trong đấy, Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc khi dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa và nhóm đảo phía Tây Hoàng Sa, khiến hơn 100 chiến sĩ hải quân Việt Nam hy sinh.

Những bước cần thực hiện

Việt Nam có nên kết hợp cùng Philippines, Malaysia để kêu gọi Trung Quốc giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế?
Vài diễn biến đáng ghi nhận trong ba tháng đầu năm 2014 là việc nhà nước cho kỷ niệm một cách giới hạn 40 năm trận đánh Hoàng Sa giữa hải quân Việt Nam Cộng hoà và hải quân Trung Quốc, cho thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu biển Đông để thúc đẩy việc nghiên cứu, và trong một cuộc gặp chính thức, Đại sứ Việt Nam tại Philippines thông báo cho phó Tổng thống nước bạn biết là Việt Nam ủng hộ Philippines trong cuộc tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc.
Các bước đi này, dù muộn màng nhưng đúng hướng, cần thiết phải có cho quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa và bảo vệ quyền lợi đất nước trên Biển Đông.
Những bước đi khác mà Việt Nam nên khẩn trương thực hiện song song là:
  • Hoàn chỉnh một cách khoa học, nghiêm túc, hồ sơ bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa-Trương Sa qua đóng góp của giới nghiên cứu (độc lập cũng như trực thuộc bộ máy chính quyền) và qua tham vấn chuyên gia luật pháp quốc tế người nước ngoài
  • Trong khi hiện đại hóa quốc phòng là điều không thể thiếu trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc, là nước yêu chuộng hoà bình, Việt Nam tiếp tục phát huy mặt thuận lợi trong quan hệ ngoại giao với các nước, trong và ngoài khu vực
  • Do điều kiện đảo, đá, do nhu cầu giảm thiểu mức độ xung đột, tranh thủ ủng hộ của quốc tế, và do khả năng vô hiệu hoá đòi hỏi đường lưỡi bò của Trung Quốc, Việt Nam chủ trương quy định ngay cả đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa và Trường Sa có lãnh hải 12 hải lý và không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa
Việt Nam nên năng động, tích cực trình bày cho thế giới thấy rõ rằng, do vị thế chiến lược của các đảo này, Hoàng Sa-Trường Sa đóng vai trò then chốt trong đòi hỏi đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Làm sao để tạo đột phá?

"Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó: sử dụng công cụ luật pháp quốc tế để duy trì an ninh và trật tự trong một khu vực trọng yếu của thế giới."

Quyết tâm của Việt Nam nhằm thúc đẩy sử dụng luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc không chỉ để giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh hải giữa những bên liên hệ mà còn để mang lại ổn định cho tất cả các nước có giao thông hàng hải đi ngang qua một khu vực quan trọng hàng đầu thế giới và có diện tích rộng bằng một phần ba diện tích nước Mỹ.
Nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào giữa tháng 2 năm 2014, Trung Quốc tuyên bố tranh chấp Biển Đông cần được giải quyết thông qua đàm phán song phương, trên cơ sở chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế.

Để tạo đột phá trong bế tắc hiện nay và để tranh thủ thuận lợi hiện có, xét từ góc độ luật pháp quốc tế và tình hình khu vực, Việt Nam nên hoặc tự mình, trong trường hợp Hoàng Sa, hoặc cùng Philippines, Malaysia, trong trường hợp Trường Sa, hoặc một kết hợp khéo léo của cả hai phương án, công khai kêu gọi Trung Quốc đồng ý để cơ chế luật pháp quốc tế giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Trung Quốc có quan toà đại diện trong Toà án Quốc tế và Toà án Luật Biển; Trung Quốc cũng luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi đường lưỡi bò nói chung và quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa nói riêng.

Nếu khẳng định chủ quyền của Trung Quốc là dựa trên cơ sở sự thật, khó có bất kỳ lý do chính đáng nào cho Trung Quốc viện dẫn để từ chối vai trò giải quyết tranh chấp giữa các nước mà Toà án Quốc tế đã và đang hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay.

Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó: sử dụng công cụ luật pháp quốc tế để duy trì an ninh và trật tự trong một khu vực trọng yếu của thế giới.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/03/140314_vietnam_role_scs_conflict.shtml

Philippines quyết trụ lại trên Bãi Cỏ Mây bất chấp áp lực Trung Quốc

Philippines quyết trụ lại trên Bãi Cỏ Mây bất chấp áp lực Trung Quốc

Biểu tình trước sứ quán Trung Quốc tại Manila ngày 20/6/2013 phản đối Trung Quốc chiếm Bãi Cỏ Mây.
Biểu tình trước sứ quán Trung Quốc tại Manila ngày 20/6/2013 phản đối Trung Quốc chiếm Bãi Cỏ Mây.
REUTERS /Erik De Castro

Trọng Nghĩa

 Trong một động thái công khai thách thức Trung Quốc, Manila vào hôm nay 14/03/2014, đã tái khẳng định chủ quyền của mình trên bãi Second Thomas - mà Việt Nam gọi là Bãi Cỏ Mây – vùng quần đảo Trường Sa.Chính quyền Manila tỏ lập trường kiên quyết vào lúc Bắc Kinh nhắc lại luận điệu theo đó Philippines đã đồng ý rút chiếc tàu cũ dùng làm nơi đóng quân đi khỏi bãi đá này, và không ngần ngại dùng sức mạnh phong tỏa lực lượng Philippines đồn trú trên bãi.

 

Trong một bản tuyên bố chính thức, Bộ Ngoại giao Philippines đã xác định quyết tâm không lùi bước của mình khi nêu bật « quyền chủ quyền và tài phán » của Manila trên « một phần thềm lục địa của đất nước ».

Tuyên bố của Philippines nhắc lại rằng chiếc tàu mắc cạn trên bãi Second Thomas – mà Philippines gọi là Ayungin - là tiền đồn quân sự của Manila trong khu vực trong suốt 15 năm nay : « Chiếc tàu BRP Sierra Madre của Hải quân Philippines đã được bố trí trên bãi Ayungin vào năm 1999 để làm cơ sở thường trực của Philippines sau hành vi của Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp bãi Mischief vào năm 1995. »

Tương tự như bãi Second Thomas, bãi Mischief (tên Việt Nam là Đá Vành Khăn) là một rạn san hô thuộc vùng Trường Sa, cũng là đối tượng tranh chấp giữa bốn bên Philippines, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan. Vào năm 1995, Trung Quốc đã dùng sức mạnh chiếm đóng bãi này từ tay Philippines, rồi cho xây dựng các cơ sở kiên cố trên đó.

Chính hành động cưỡng chiếm Mischief Reef là chất xúc tác thúc đẩy ASEAN đàm phán và ký kết Bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) vào năm 2002. Trong tuyên bố của mình, Bộ Ngoại giao Philippines cũng nhắc lại rằng việc bố trí chiếc Sierra Madre trên bãi Ayungin được thực hiện trước lúc ký kết DOC, theo đó các bên cam kết không chiếm thêm cơ sở tại Biển Đông. Lời nhắc lại này nhằm phản bác một luận điệu khác của Bắc Kinh cho rằng Manila đã vi phạm DOC.

Báo chí Philippines tiết lộ là hiện có 7 người lính Philippines đồn trú trên chiếc tàu mắc cạn trên bãi Ayungin để đánh dấu một cách cụ thể chủ quyền của nước này. Trong thời gian gần đây, Bắc Kinh không ngừng gây sức ép để buộc Manila triệt thoái đơn vị đồn trú của mình và cho kéo chiếc tàu khỏi bãi đá này. Tại chỗ, Trung Quốc cũng tiến hành sách lược phong tỏa và mới đây đã tiến thêm một bước khi dùng võ lực ngăn chặn việc tiếp tế cho lực lượng Philippines trên bãi bằng đường biển.

Hành động thô bạo của Trung Quốc không chỉ bị Philippines cực lực phản đối, mà còn bị Hoa Kỳ tố cáo là một hành vi « khiêu khích ».



Một sự hiểu lầm tai hại

Một sự hiểu lầm tai hại


13.03.2014

Chung quanh việc Nga xâm chiếm Crimea của Ukraine, và liên quan đến Vladimir Putin, Tổng thống của Nga, có một số vấn đề khiến giới bình luận chính trị Tây phương thắc mắc và bàn thảo nhiều nhất suốt mấy tuần vừa qua: Một, tại sao tình báo của Mỹ không biết trước được việc Nga xua cả mấy ngàn quân (sau đó là cả mấy chục ngàn) đến chiếm Crimea? 

Hai, tại sao giới lãnh đạo Tây phương, kể cả các tổng thống Mỹ, từ George W. Bush đến Barack Obama, đều có vẻ cả tin Vladimir Putin đến vậy? Đằng sau hai câu hỏi trên là một câu hỏi khác: Tại sao Tây phương, kể cả Mỹ, lại dễ bị Putin lừa đến như vậy?

Kiểm tra lại các bản tin tình báo gửi lên giới lãnh đạo Mỹ, ít nhất là ở Quốc Hội, người ta thấy tuy các tình báo biết rõ sự kiện Nga huy động khoảng 150.000 lính đến biên giới Ukraine nhưng hầu hết đều đánh giá khả năng Nga quyết định tấn công Ukraine rất nhỏ.

Giới chức tình báo Mỹ biện minh: họ vẫn thường xuyên cập nhật các tin tức họ thu lượm được tại Nga và Ukraine và liên tục báo cáo cho chính phủ nhưng việc đánh giá đúng ý đồ của các nhà lãnh đạo nước khác, như Nga, chẳng hạn, rất khó chính xác.

Nói cách khác, thành thực hơn: lần này mọi người từ tình báo đến chính khách đều nhầm. Sự nhầm lẫn này xuất phát từ hai nguyên nhân chính:

Thứ nhất, từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, phần lớn ngân sách tình báo của Mỹ đều tập trung vào nỗ lực chống khủng bố, chủ yếu từ các quốc gia Hồi giáo hoặc ở những nơi các nhóm Hồi giáo cực đoan phát triển mạnh. Nga không còn là một ưu tiên để theo dõi như thời Chiến tranh lạnh nữa.

Thứ hai, quan trọng hơn, hầu như mọi người đều không hiểu đúng bản chất con người của Putin.

Nhớ, vào tháng 6 năm 2001, trong lần gặp gỡ đầu tiên giữa hai người, Tổng thống George W. Bush đã bày tỏ sự tin tưởng sâu đậm đối với Putin, người đồng nhiệm của ông ở Nga. Khi được các phóng viên hỏi tại sao, Bush tự tin đáp: “Tôi nhìn vào mắt ông ấy và thấy được tâm hồn của ông” (I looked in his eyes and saw his soul). Sự tự tin ấy, sau này, bị nhiều người chê là ngây thơ.

Nhưng không phải ai cũng thoát được sự ngây thơ ấy. Trước ngày Nga xua quân tràn vào Crimea, phần lớn các tờ báo có uy tín nhất tại Mỹ đều cho việc Putin điều động binh sĩ đến biên giới Ukraine chỉ là một trò hăm dọa. Các bài viết mang nhan đề kiểu “Tại sao Nga không xâm lược Ukraine” hay “Không, Nga sẽ không can thiệp vào Ukraine” hoặc “Năm lý do để mọi người đừng lo lắng thái quá về tình hình ở Crimea” xuất hiện đầy trên các mặt báo.

Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phần lớn các học giả, các chuyên gia quân sự và chính trị nổi tiếng đều không tin là Nga sẽ tấn công Ukraine như điều họ đã từng làm đối với Georgia vào năm 2008.

Tại sao người ta dám khẳng định một cách chắc chắn như vậy?

Có ba lý do chính:

Thứ nhất, nền kinh tế của Nga hiện nay quá yếu để có thể chịu đựng nổi một cuộc chiến tranh như thế. Putin hẳn thừa biết là nếu lao vào một cuộc xâm lược như vậy, ông sẽ bị Mỹ và Tây phương trừng phạt, ít nhất về phương diện kinh tế. 

Việc buôn bán sẽ bị ngưng trệ, đồng rúp sẽ bị giảm giá, uy tín của Nga trên trường quốc tế sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng; bao nhiêu tiền bạc đã đổ ra cho Olympic mùa đông tại Sochi vừa rồi như đổ vào biển, cuộc họp thượng đỉnh của khối Bát cường (8 group) được chuẩn bị vào tháng 6 sẽ hóa thành công cốc. 

Đó là chưa kể các nguy hại lâu dài: Về kinh tế, Nga phải cưu mang hơn 2 triệu người ở Crimea, trong đó 20% là người lớn tuổi; về an ninh, Nga sẽ phải đối diện với nguy cơ đánh du kích hoặc khủng bố của mấy trăm ngàn người Tatar vốn có truyền thống thù ghét Nga.

Thứ hai, nó lại không cần thiết: Ai cũng biết chính quyền Ukraine, sau cuộc cách mạng vừa rồi, đang đối diện với vô số thử thách: Nếu Nga không can thiệp, tự nó sẽ sụp đổ. Kinh tế Ukraine vốn đã gầy guộc, lại thêm nạn tham nhũng tràn lan, càng ngày càng quặt quẹo với lạm phát và nợ nần chồng chất. Mới tuần trước, tân Thủ tướng Ukraine ước chừng khoảng 37 tỉ Mỹ kim bị biến mất dưới thời Viktor Yanukovych.

 Hiện nay Ukraine cần ít nhất 25 tỉ Mỹ kim để trả nợ và bù đắp các thiếu hụt trong ngân sách. Trong khi đó số ngoại tệ họ dự trữ được chỉ còn có 12 tỉ.

Thứ ba, không những không cần thiết, nó còn có hại. Hai cái hại lớn nhất là: Một, nó làm cho Mỹ và Tây phương phải nhảy vào giúp Ukraine. Bình thường, không có sự uy hiếp của Nga, có lẽ Tây phương sẽ hờ hững với việc giúp đỡ Ukraine sau cuộc cách mạng vừa rồi. Tây phương đang phải đối đầu với các khó khăn của chính họ, nhất là ở các thành viên mới. Họ không đủ sức để cưu mang thêm một gánh nặng khác. Nếu Nga không tấn công Crimea, chắc chắn Mỹ và châu Âu không nhảy vào giúp Ukraine một cách nhiệt tình và tận tình như vậy. Hai, hành động hiếu chiến thô bạo của Nga làm cho dân chúng Ukraine trở thành đoàn kết hơn, yêu nước hơn và sẵn sàng chống trả Nga một cách mãnh liệt hơn. Quan sát dân tình ở Ukraine hiện nay, Chrystia Freeland cho là Nga đã thực sự thua trận.

Tất cả những điều ấy chắc chắn Putin và nhóm cố vấn của ông đều biết rõ. Ngay cả những người bình thường nhất cũng biết rõ. Vậy mà ông vẫn quyết định chiếm Crimea và có vẻ như sẽ đánh chiếm cả Ukraine. Tại sao?

Lý do đầu tiên có lẽ do Putin quá tự tin. Ông nghĩ là Mỹ sẽ không dám phản ứng gì cả. Một phần, vì Mỹ đã quá mệt mỏi với hai cuộc chiến tranh ở Iraq và ở Afghanistan, hơn nữa, họ phải tập trung đối đầu với Trung Quốc ở châu Á. 

Phần khác, ông cho là hầu hết các quốc gia Âu châu, những đồng minh thân cận nhất của Mỹ hiện nay, đều lệ thuộc vào nguồn dầu khí của Nga, lại có nhiều liên hệ kinh tế với Nga: Tất cả những nước ấy, vì quyền lợi của mình, không thể mạnh tay với Nga được. Khi Châu Âu khoanh tay, một mình Mỹ cũng chẳng làm gì được. 

Chính sách của Mỹ, ít nhất là dưới thời Obama, thường rất cẩn thận, tránh né mọi rủi ro; khi cần, họ chỉ lãnh đạo từ phía sau. Nếu châu Âu không đóng vai tiên phong, Putin tin là Mỹ cũng sẽ chỉ đánh võ mồm mà thôi. Mà kiểu đánh ấy thì ông chả ngán chút nào cả.

Lý do thứ hai, quan trọng hơn, là cách suy nghĩ và cách hành xử của Putin hoàn toàn khác với Tây phương. Khác đến độ bà Madeleine Albright, cựu ngoại trưởng Mỹ, cho là Putin bị hoang tưởng; phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ cho những lời lẽ của Putin về các âm mưu của Tây phương tại Ukraine là những sự hư cấu đáng giật mình nhất kể từ Dostoyevsky.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cho Nga hành xử như những kẻ sống trong thế kỷ 20 hoặc thế kỷ 19! Thủ tướng Đức Angela Merkel, trong một cuộc điện đàm với Tổng thống Obama mới đây, cũng đồng ý như thế khi cho dường như Putin đang sống ở một thế giới khác

Nhưng khác như thế nào? Khác ở ba điểm chính: Một, sẵn sàng dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề; hai, sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả sự khủng hoảng của kinh tế và sự cùng khổ của dân chúng để đạt được điều mình muốn. Nhưng sự khác biệt lớn nhất là sự nghi ngờ và căm thù đối với Mỹ và Tây phương. Putin thường nói là việc để cho chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, từ đó, làm tan rã khối Liên bang Xô viết trước đây là một sai lầm lớn nhất trong lịch sử nước Nga. 

Ông tự đặt cho mình sứ mạng là phục hồi lại đế quốc Nga bằng cách thu phục lại, và nếu cần, xâm chiếm các quốc gia láng giềng vốn thuộc Liên bang Xô viết trước đây. Trên con đường thực hiện giấc mộng ấy, ông xem cản trở chính là tham vọng bành trướng của Mỹ và châu Âu. Mỗi lần Liên hiệp Âu châu thu nạp một thành viên mới là một lần Putin giật mình căm hận. Ông không nhìn đó như một sự phát triển đáng mừng của lịch sử về hướng dân chủ hóa mà lại xem đó như một sự đe dọa. Trước những đe dọa ấy, ông phản ứng một cách quyết liệt, bất chấp những hậu quả về kinh tế, chính trị hay xã hội.

Tuy nhiên, ông lại quên thời thế đã đổi khác. Sự liều lĩnh của ông chỉ mang lại tai họa cho nước Nga.

Trước mắt, tai họa đầu tiên đến từ một yếu tố có lẽ Putin không nghĩ đến khi quyết định tung quân đánh chiếm Crimea: Khác với cuộc xâm chiếm Hungary vào năm 1956 và Czechoslovakia năm 1968, nước Nga hiện nay có một yếu tố mới có ảnh hưởng nhanh chóng và sâu sắc đến các quan hệ quốc tế: thị trường chứng khoán. Ngay ngày đầu tiên khi binh lính Nga xuất hiện trên đất Crimea, chỉ số thị trường chứng khoán bị rớt hơn 12%, làm bay mất 60 tỉ Mỹ kim và tỉ giá đồng rúp bị giảm đến mức kỷ lục.

Về lâu về dài, ngay cả khi chiếm được Crimea hoặc ngay cả toàn lãnh thổ Ukraine, nước Nga cũng sẽ phải chịu đựng những gánh nặng kinh tế hầu như vượt ngoài khả năng của họ. Hiện nay, Nga vẫn còn đang phải còng lưng ra tài trợ cho Abkhazia và South Ossetia họ chiếm được từ Georgia, và Transnistria từ Moldova. Ukraine, với những nợ nần và tham nhũng hiện nay, nếu lọt vào tay Nga, cũng sẽ trở thành một gánh nặng khủng khiếp. Đó là chưa kể Nga sẽ phải đối diện với các cuộc chống đối bằng vũ trang, dưới hình thức du kích hoặc khủng bố, của người Ukraine và đặc biệt, người Tatars.

Trong một bài viết mới đăng trên tờ The Washington Post, Henry A. Kissinger, cựu Ngoại trưởng Mỹ thời Nixon, có nêu lên một vấn đề hay: Một chính sách được kiểm tra không phải ở chỗ nó bắt đầu như thế nào mà ở chỗ nó kết thúc như thế nào.

Nhưng trong khi chờ cuộc xâm lược ấy kết thúc, không ai được quên bài học lần này: Cách suy nghĩ và hành xử của Putin hiện nay không khác gì mấy so với các nhà độc tài cộng sản trước đây. Thay tên đổi họ, ông vẫn không giấu được dòng máu của Stalin trong huyết quản.



Thứ Trưởng Đức đáp ứng nỗ lực vận động cho Ls. Lê Quốc Quân



Thứ Trưởng Đức đáp ứng nỗ lực vận động cho Ls. Lê Quốc Quân

Bộ Ngoại Giao
Prof. Dr. Maria Böhmer
Dân biểu Quốc Hội Liên Bang
Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao
Kurstraße 36
11013 Berlin
www.auswaertiges-amt.de
Ông
Prof. Dr. Johannes Kals
Eichstr. 44
67434 Neustadt/Weinstraße
                                                                  Berlin, ngày 11 tháng 3 năm 2014
Kính thưa Giáo sư Kals,
chúng tôi xin cám ơn ông rất nhiều đã gửi đến chúng tôi bức thư đề ngày 15.02.2014, trong đó   ông đã cùng với những nhân sĩ khác lên tiếng cho luật sư và người tranh đấu bảo vệ nhân quyền Lê Quốc Quân, hiện đang bị giam cầm tại Việt Nam.
Chính phủ Đức theo dõi trường hợp này từ lâu với sự lưu tâm đặc biệt và lo lắng. Đáng tiếc tòa án thẩm quyền tại Hà Nội  đã giữ nguyên bản án đối với luật sư Lê Quốc Quân vào ngày 18 tháng hai 2014. Nhân danh toàn khối liên hiệp Âu Châu phái đoàn liên hiệp Âu Châu đã phê phán bản án trên và kêu gọi phải tôn trọng nhân quyền. Bản tuyên cáo của liên hiệp Âu Châu tôi xin gửi kèm theo đây.
Ngoài ra chúng tôi rất lo âu về tình trạng sức khỏe của luật sư Lê Quốc Quân, vì ông đã tuyệt thực 16 ngày trước khi ra tòa, và vì thế trông ông kiệt sức. Qua tòa đại sứ Đức ở Hà Nội chúng tôi có mối liên hệ thường xuyên với người em trai và vợ của Ls Lê Quốc Quân.
Cùng với các quốc gia thành viên thuộc liên hiệp Âu Châu chúng tôi đã từng tranh đấu đề nhân quyền ở Việt Nam được tôn trọng và riêng cho Ls Lê Quốc Quân.
Chúng tôi xin cam kết với ông rằng chính quyền Đức sẽ tiếp tục lên tiếng và tranh đấu cho Ls Lê Quốc Quân.
Trân trọng kính chào
Maria Böhmer
______________________________________
Phái đoàn EU tại Việt Nam lên tiếng về phiên xử phúc thẩm Ls. Lê Quốc Quân
Thông Điệp của Phái Đoàn Liên Hiệp Âu Châu gửi đến Việt Nam về
Phiên tòa phúc thẩm Luật sư Lê Quốc Quân
Phái đoàn EU tại Việt Nam bày tỏ quan ngại về việc Tòa án Nhân dân Tối cao Hà Nội hôm nay bác bỏ kháng cáo của luật sư Lê Quốc Quân đối với án phạt 30 tháng tù giam và phạt tiền vì tội trốn thuế trước đó.
Vào tháng Tám 2013, Ủy Ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc ra phán quyết rằng việc giam giữ ông là tùy tiện và vi phạm các tiêu chuẩn xét xử công bằng. Ủy Ban yêu cầu Chính quyền lấy những biện pháp cần thiết để cải sửa tình trạng này.
Chúng tôi xin nhắc lại quyền căn bản của mọi người được bày tỏ ý kiến tự do và ôn hòa, theo Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam đã ký kết. Bản án trên là một thất vọng đặc biệt trong khung cảnh Việt Nam được bầu vào Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.
Phái đoàn xin lập lại những lời kêu gọi trước đây rằng Việt Nam hãy tôn trọng quyền tự do ngôn luận và thả hết những người cổ xúy một cách ôn hòa cho nhân quyền trong nước.
Liên Hiệp Âu Châu cũng sẵn sàng tiếp tục làm việc cùng với Việt Nam về những việc này và những vấn đề về nhân quyền và pháp luật khác.

Die deutsche Bundesregierung setzt sich für Le-Quoc-Quan ein

Fri, 03/14/2014 - 15:03
Auswärtiges Amt
Prof. Dr. Maria Böhmer
Mitglied des Deutschen Bundestages
Staatsministerin im Auswärtigen Amt
Kurstraße 36
11013 Berlin
www.auswaertiges-amt.de
Herrn
Prof. Dr. Johannes Kals
Eichstr.44
67434 Neustadt/Weinstraße
                                                                          
Berlin, den 11. März. 2014
Sehr geehrter Herr Kals,
vielen  Dank für Ihr Schreiben vom 15.02.2014, in dem Sie sich gemeinsam mit weiteren Persönlichkeiten für den inhaftierten vietnamesischen Rechtsanwalt und Menschenrechtsverteidiger Le Quoc Quan einsetzen.
Die Bundesregierung verfolgt diesen Fall seit längerem mit großer Aufmerksamkeit und Sorge. Leider hat das zuständige vietnamesische Gericht in Hanoi am 18.Februar 2014 seine Entscheidung über die Verurteilung von Herrn Le Quoc Quan aufrechterhalten. Im Namen der gesamten EU hat die EU-Delegation in Hanoi diesen Beschluss umgehend kritisiert und zur Achtung der Menschenrechte aufgerufen. Den Text der EU-Erklärung füge ich meinem Brief bei (*).
Wir sind zudem sehr besorgt über den Gesundheitszustand von Herrn Le Quoc Quan, der sich am Prozesstag seit 16 Tagen im Hungerstreik befand und entsprechend geschwächt wirkte. Über unsere Botschaft in Hanoi sind wir mit dem Bruder und mit der Ehefrau Le Quoc Quan im regelmäßigen Kontakt.
Zusammen mit unseren EU-Partnern haben wir uns in der Vergangenheit immer wieder für die Achtung der Menschenrechte in Vietnam und für Herrn Le Quoc Quan eingesetzt.
Seien Sie versichert, dass die Bundesregierung sich auch weiterhin für Herrn Le Quoc Quan engagieren wird.
Mit freundlichen Grüßen
Maria Böhmer


_________________________
(*) Message from the Delegation of the European Union to Vietnam on lawyer Le Quoc Quan’s appeal trial
The European Union Delegation to Vietnam expresses its concern over today’s rejection, by Hanoi’s Supreme People’s Court, of blogger and lawyer Le Quoc Quan’s appeal against his earlier sentence to 30 months in prison and monetary penalties on tax evasion charges.
In August 2013, the United Nations Human Rights Council Working Group on Arbitrary Detention found his detention to be arbitrary for violation of fair trial standards and requested the Government to take necessary steps to remedy his situation.
We recall the fundamental right for all persons to hold opinions and freely and peacefully express them, in accordance with the Universal Declaration of Human Rights and the International Covenant on Civil and Political Rights to which Vietnam is a party. The sentencing is particularly disappointing in light of Vietnam’s election to the UN Human Rights Council.
The Delegation reiterates prior calls on Vietnam to respect the right to freedom of expression and for the release of all peaceful advocates of human rights in the country.
The EU also expresses its readiness to continue working in partnership with Vietnam on these and other human rights and rule of law issues.

Dân biểu Ed Royce đệ trình dự luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, dân biểu Ed Royce.
Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, dân biểu Ed Royce.

14.03.2014
Dân biểu Ed Royce, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, hôm 14/3 ra thông cáo cho biết ông đã đệ trình Dự luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam, số hiệu H.R. 4254, áp đặt những biện pháp trừng phạt đối với những quan chức chính phủ Việt Nam “đồng lõa trong những vụ vi phạm nhân quyền nhắm vào người dân Việt Nam.”

Thông cáo cho biết đây là một dự luật lưỡng đảng, nhắm mục tiêu vào những quan chức chính phủ, công an, và những người khác vi phạm nhân quyền đối với những nhà bất đồng chính kiến ôn hòa. Những biện pháp được kiến nghị bao gồm những hạn chế du hành và trừng phạt về tài chính.

Cụ thể, những cá nhân có tên trong danh sách sẽ không được nhập cảnh hay quá cảnh ở Hoa Kỳ, không được cấp bất kỳ quy chế di trú hợp pháp nào, và cũng không được phép nộp đơn hay thỉnh nguyện liên quan đến những việc này. Về mặt tài chính, những cá nhân này sẽ bị phong tỏa tài sản, bị hạn chế hoặc bị cấm giao dịch tài chính và đưa tài sản vào hay ra khỏi Hoa Kỳ.

Trong phần dẫn nhập, Dân biểu Ed Royce nói dự luật này “làm mạnh thêm tiếng nói của những người dũng cảm lên tiếng chống lại chính quyền Cộng sản ở Việt Nam.” Ông nói, giữa lúc chính quyền Việt Nam đang tăng cường đàn áp tiếng nói bất đồng và chính quyền Tổng thống Obama im lặng trước những vi phạm nhân quyền, dự luật này “cho người dân yêu tự do của Việt Nam biết rằng Quốc hội Mỹ đứng về phía họ.”

Dân biểu Ed Royce là một trong những nhà lập pháp Mỹ cổ xúy mạnh mẽ nhất cho vấn đề nhân quyền của Việt Nam.

Ông là tác giả của dự luật H. Res.128 kêu gọi Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào lại danh sách những quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Ông cũng là người đồng bảo trợ chính cho Dự luật Nhân quyền Việt Nam được Hạ viện bỏ phiếu thông qua hồi năm 2013 nhưng bị chặn ở Thượng viện.

Nguồn: Thông cáo Báo chí Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ.



Bị công an thẩm vấn vì tưởng niệm trận Gạc Ma

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ
2014-03-14

truopngsa-305.jpg
Ngày 14/3/2013, người dân biểu tình tưởng niệm ngày TQ thảm sát 64 chiến sĩ đảo Gạc Ma hôm 14/3/1988.
Courtesy of huynhngocchenhblog

Cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bá Đăng ở huyện Nam Sách, Hải Dương bị công an bắt đi thẩm vấn trong hai ngày 13 và 14 tháng 3 vì ông này có ý định tổ chức cuộc tưởng niệm 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh tại đảo Gạc ma hồi ngày 14 tháng 3 năm 1988.
Sau khi được về nhà, vào lúc 8:40 phút tối ngày 14 tháng 3, ông Nguyễn Bá Đăng cho RFA biết:
Suốt hai hôm qua họ luôn tra vấn tôi- cả ngày và cả đêm qua và ngày hôm nay. Họ cho là tôi tổ chức biểu tình, xuống đường ngày 14 tháng 3. Và họ đưa ra  hơn chục bài viết của tôi và muốn biết về nội dung hơn chục bài viết đó.
Gia Minh: Hôm nay mới là ngày 14 tháng 3, vậy chuyện tổ chức biểu tình đó như thế nào?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Họ chủ động bắt tôi trước ngày 14 tháng 3 để ngăn cản không cho tôi tiếp xúc với những người dân khác trong nước để tổ chức kỷ niệm ngày 14 tháng 3- ngày mà các đảo Gạc ma, Cô Lin trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm lấn. Mục đích là họ muốn phá không cho xuống đường để tưởng nhớ ngày Trung Quốc xâm lấn biển đảo của chúng ta.
Gia Minh: Trước việc họ nói ông tổ chức tưởng niệm ngày 14 tháng 3 và những bài viết trên facebook của ông, thì ông trình bày lại với họ thế nào.
Ông Nguyễn Bá Đăng: Tôi đã hoàn toàn không hợp tác với họ và trả lời họ rằng việc chúng tôi và người dân Việt Nam xuống đường là để tưởng nhớ đến những ngày mà đảo của chúng ta bị mất về tay Trung Cộng.
Tôi đã hoàn toàn không hợp tác với họ và trả lời họ rằng việc chúng tôi và người dân Việt Nam xuống đường là để tưởng nhớ đến những ngày mà đảo của chúng ta bị mất về tay Trung Cộng.
- Ông Nguyễn Bá Đăng
Tôi cũng có viết những bài viết nói lên hiện tình của đất nước.
Tôi hoàn toàn không hợp tác với họ, và họ không đủ tư cách để tra vấn và làm việc với tôi.
Gia Minh: Ông có thể cho biết những người làm việc với ông là những ai?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Họ thay phiên nhau làm việc, họ rất đông khoảng từ 15 đến 20 người. Họ luôn bao vây quanh tôi để áp đảo. Trong đó tôi có nhớ một số tên công an, đó là công an Dương, công an Khương, công an Bình, công an Phong, công an Nho. Một số những nhân vật không mặc quân phục, mặc thường phục tôi không nhớ.
Gia Minh: Trong hai ngày và một đêm làm việc như thế thì sinh hoạt ăn, ngủ, nghỉ ra sao?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Đêm hôm qua họ không cho tôi ngũ, bắt phải làm việc nên tôi phản đối rất kịch liệt. Tôi nói làm việc phải có giờ giấc, trong một ngày chỉ được làm việc 8 tiếng, không được kéo dài suốt đêm để ảnh hưởng đến sức khỏe của tôi và sức khỏe của người khác. Họ có cho tôi ăn tối và ăn sáng, nhưng họ luôn làm buổi tra vấn rất căng thẳng. Họ đập bàn, đập ghế, họ dọa nạt, đe dọa tôi với một lực lượng hùng hậu rất đông.
Gia Minh: Được biết từ khi mãn hạn tù cho đến nay ông về ở tại gia đình, địa phương;  vậy lực lượng chức năng có những hành xử thế nào với ông?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Từ ngày tôi ra khỏi nhà tù nhỏ để vào nhà tù lớn thì được hơn một năm rồi; nhưng tôi thường xuyên bị chính quyền và công an các cấp luôn canh gác quanh nhà tôi. Tôi đi đâu họ cũng theo dõi và gây rất nhiều khó khăn đối với tôi và gia đình tôi.
Gia Minh: Lâu nay ông có tiếp xúc được với những người từng đấu tranh với ông trước đây và những người hiện nay công khai lên tiếng cho dân chủ- nhân quyền và quyền của con người tại Việt Nam không?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Tôi luôn bị canh gác như vậy, nhưng luôn cố gắng lúc nào có thể được là vượt vòng vây của họ để cùng với những anh em cùng chung lý tưởng đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam. Chúng tôi trong nước gặp rất nhiều khó khăn, họ luôn đe dọa chúng tôi.
Hiện nay họ sử dụng mọi thủ thuật đàn áp, đánh người và thậm chí họ sẽ tìm cách thủ tiêu. Hiện nay họ sẽ có nhiều phương cách tàn bạo hơn.
- Ông Nguyễn Bá Đăng
Gia Minh: Là người từng bị kết án tù, ông thấy tình hình hoạt động trước đây và hiện nay có những chuyển biến tích cực hay tiêu cực gì thưa ông?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Trước đây trong thời gian tôi hoạt động cũng như hiện nay, nhà cầm quyền luôn tìm cách đàn áp và bóp từ trong trứng nước các nhà hoạt động vì dân chủ- nhân quyền của Việt Nam. Theo tôi từ trước cho đến nay họ càng đàn áp tinh vi hơn, tàn bạo. Hiện nay họ sử dụng mọi thủ thuật đàn áp, đánh người và thậm chí họ sẽ tìm cách thủ tiêu. Hiện nay họ sẽ có nhiều phương cách tàn bạo hơn.
Gia Minh: Nhưng ông thấy phong trào, và những người tham gia phong trào nhất là những người hoạt động ngoài đường phố, có thêm người không thưa ông?
Ông Nguyễn Bá Đăng: Phong trào dân chủ của Việt Nam hiện nay mạnh mẽ, đông đảo hơn trước rất nhiều. Sự sợ hãi cuả người dân và các nhà đấu tranh dân chủ- nhân quyền và các dân oan trước bạo quyền đã vươn xa hơn, họ cũng đã không còn những sự sợ hãi như trước đây. Mà nhiều người đấu tranh quyết liệt cho một tổ quốc Việt nam được dân chủ, tự do.
Gia Minh: Cám ơn ông Nguyễn Bá Đăng.
Xin phép được nhắc lại, ông Nguyễn Bá Đăng năm nay 50 tuổi. Ông từng bị bắt bốn lần vào các năm 2003, 2007, 2008 và 2010. Năm 2010, ông bị kết án 3 năm tù về tội ‘tuyên truyền chống Nhà Nước’.


Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link