Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, March 25, 2014

Sự thiếu hụt tri thức lý luận trong nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam


Sự thiếu hụt tri thức lý luận trong nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam

ĐĂNG NGÀY: 23.03.2014 , MỤC: - TIN NỔI BẬTLANG THANG INTERNET

VRNs (23.03.2014) – Hà Nội - 30 năm nghiên cứu văn hoá Việt Nam – đó là một khoảng thời gian đủ để một chuyên ngành khoa học hình thành và phát triển. Nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam- tính từ 1975 đến nay, với những biến đổi về chính trị, kinh tế và xã hội theo chiều hướng tiến bộ, tích cực- chắc chắn đã có một sự phát triển cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.

Dĩ nhiên, như là một tất yếu trong quá trình phát triển, nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam cũng không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, những bất cập. Tham luận này của tôi muốn nói về một trong những bất cập này, đó là những thiếu hụt về tri thức lý luận trong nghiên cứu văn hoá ở nước ta.
1. Vấn đề
Có thể mô tả sự thiếu hụt và thiếu cập nhật về tri thức lý luận trong nghiên cứ văn hoá ở Việt Nam bằng một số ví dụ sau:
- Phân tâm học (psychological analysis), và sau này là tâm lý học phân tích (analytical psychology)- một bộ môn khoa học được các học giả trên thế giới gọi là “khoa học văn hoá mới”- trong suốt mấy chục năm nay bị giới đại học và các nhà khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam chối bỏ, mãi cho tới những năm gần đây nhất mới bắt đầu có những cuốn sách dịch và giới thiệu bộ môn này.
- Cấu trúc luận (structuralism) suốt trong một thời gian dài bị các nhà khoa học Việt Nam coi là thứ khoa học tư sản, phi lịch sử [1]. Đến nay, tuy nhiều người đã nhắc đến nó (mặc dầu cấu trúc luận hiện nay đã không còn là tri thức kiểu mẫu ở các nền khoa học phát triển nữa) nhưng những tri thức về nó vẫn còn tản mạn, cóp nhặt và thiếu hệ thống.
- Nhân học xã hội và văn hoá (social anthropology and cultural anthropology)- là một ngành khoa học hiện rất phát triển và trở thành bộ môn khoa học (discipline) chủ đạo của giới nghiên cứu xã hội và nhân văn ở hầu như tất cả các nước trên thế giới- hiện vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc (bấp bênh) trong hệ thống đại học cũng như trong các Viện nghiên cứu khoa học xã hội- nhân văn và văn hoá ở Việt Nam (trừ trường hợp ngoại lệ ở Đại học khoa học xã hội và nhân văn TP. Hồ Chí Minh là có được khoa nhân học)
- Có thể kể thêm rất nhiều ví dụ tương tự ở bất cứ bộ môn nghiên cứu văn hoá nào ở Việt Nam (xã hội học, dân tộc học, tâm lý học, văn hoá dân gian học, lịch sử văn hoá)

Thực ra, sự học là khôn cùng nên việc thiếu hụt tri thức ở từng nhà khoa học là chuyện bình thường, vấn đề đáng bàn ở đây là: Không ít người trong giới khoa học của ta chẳng những dửng dưng, vô cảm với sự thiếu hụt đó mà còn có thái độ bài xích, thậm chí còn bao biện cho sự bài xích này bằng thứ chủ nghĩa AQ trong khoa học: Ta có lý thuyết, phương pháp luận của ta sao lại cứ phải theo Tây! Hoặc ta phải tìm ra con đường của ta, lý thuyết của ta chứ lý thuyết phương tây làm sao phù hợp và phương Tây bây giờ chẳng đang hướng về, đang học phương Đông hay sao? vv…

Có lẽ không có nước nào mà giới khoa học lại có thái độ như vậy đối với tri thức khoa học của nhân loại. Kinh nghiệm ở một số nước ở châu Ácó nền khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội và nhân văn phát triển (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản chẳng hạn) đã cho thấy: Trước khi đi vào những hướng nghiên cứu riêng, hay mở ra những lý thuyết riêng… các ngành học, các bộ môn khoa học cần phải có một thời kỳ khá lâu dài và bền bỉ là: Cố gắng học hỏi, tiếp nhận những tri thức của nhân loại, đặc biệt là những tri thức lý luận sao cho các nhà nghiên cứu có một mặt bằng tri thức ngang bằng và cập nhật với các nhà nghiên cứu của ngành mình, bộ môn mình trên thế giới.

Ngay ở các nước phát triển cũng vậy, lịch sử các bộ môn khoa học đã cho thấy: Những tri thức mới được sáng tạo ra bao giờ cũng là kết quả của quá trình kế thừa- phát triển theo kiểu “phủ định của phủ định”.

Vì thế, trong quan niệm của các học giả âu- Mỹ, không có tri thức nào là cũ, lạc hậu hay thừa. Rõ ràng rằng sẽ không có cái gọi là phản thực chứng luận nếu không có sự phát triển của thực chứng luận, không có bản thể luận tham dự nếu không có bản thể luận tách biệt (giữa chủ thể và khách thể), hoặc tương tự sẽ không có các lý thuyết hậu cấu trúc nếu không có cấu trúc luận…vv… Điều này không chỉ đúng với lĩnh vực lý luận mà nó còn đúng với cả lĩnh vực hoạt động thực tiễn: 

Trong sáng tạo nghệ thuật chẳng hạn, sẽ không có một Picasso danh tiếng và chủ nghĩa lập thể nếu như ông ta không là người đã từng thể nghiệm thành công ở hầu hết tất cả các trường phái của hội hoạ rồi lại phủ định chúng 2. Hệ quả

Chính sự thiếu hụt tri thức lý luận đã là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến những chậm trễ trong sự phát triển của nền khoa học xã hội và nhân văn nước nhà, đặc biệt là trong các nghiên cứu văn hoá:
- Đa phần những nghiên cứu văn hoá ở ta đều là những nghiên cứu mô tả, thậm chí do không có phương pháp luận và phương pháp tham dự nên nhiều khi những mô tả đó bị người nghiên cứu diễn tả sai ý nghĩa dẫn đến sự bóp méo văn hoá của một tộc người [2]. Dĩ nhiên, quan sát, mô tả là phương pháp tất yếu mà nhà khoa học nào, công trình khoa học nào cũng sử dụng nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu của một nghiên cứu.
140322005

- “Mù” lý thuyết dẫn đến những nghiên cứu mang nặng tính hình thức. Có nhiều nhà nghiên cứu cũng đã tích cực áp dụng các phương pháp của khoa học âu- Mỹ vào trong các nghiên cứu của mình, nhưng do thiếu tri thức căn bản và tri thức thiếu tính hệ thống (không đến nơi đến chốn) nên việc áp dụng các phương pháp đó không đạt được hiệu quả tích cực.

Xin lấy một ví dụ về phương pháp định lượng: Thông thường, một khi người nào sử dụng phương pháp định lượng thì người đó đi theo bản thể luận thực chứng, nắm vững những lý thuyết của kiểu bản thể luận này và theo phương pháp luận tổng thể- cấu trúc- thực chứng. Vì thế, khi triển khai một nghiên cứu, người đó sẽ xác định các giả thiết của mình theo những mối quan hệ nhân- quả nào đó và anh ta phải thể hiện được đối tượng nghiên cứu của mình bằng những cấu trúc các mối liên hệ. Phương pháp định lượng chỉ là công cụ để cụ thể hoá mối quan hệ cấu trúc ấy và kết quả thống kê sẽ giúp nhà nghiên cứu khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nghiên cứu ban đầu đã đặt ra mà thôi. 

Nhưng ở ta, tình trạng chung là: Nhà nghiên cứu không cần đếm xỉa đến những vấn đề lý thuyết hay phương pháp luận mà đi thẳng vào việc thiết kế bảng hỏi và tiến hành điều tra. Vì thế, nhiều kết quả thống kê chẳng nói lên được điều gì mà vấn đề nghiên cứu đặt ra hoặc ngược lại chỉ ra được một điều mà không cần phải điều tra ai cũng biết. Có một nhà nghiên cứu đã nói một cách hài hước rằng: “Làm nghiên cứu kiểu này chẳng khác gì một người cứ nghiến răng nghiến lợi để cố đẩy một cánh cửa vốn đã được mở rồi”.

- Những nghiên cứu văn hoá có tính ứng dụng thực tiễn quá hiếm hoi.
- Trong giới khoa học Việt Nam xuất hiện không ít những nhà khoa học thiên về cách nghiên cứu tư biện mà không hề dựa trên những nguyên tắc tối thiểu của tư duy hay trên một nền tảng kiến thức khoa học, thậm chí còn có người tư biện tuỳ tiện đến mức tán nhảm hay nói như ngôn ngữ thông thường là “phịa”[3].
3. Nguyên nhân
Tại sao lại có tình trạng thiếu hụt tri thức lý luận và chối bỏ sự tiếp nhận tri thức ấy ở giới khoa học văn hoá Việt Nam ?
3.1. Những lý do khách quan
3.1.1. Mặt bằng đào tạo thấp và không đồng bộ
Hãy thử so sánh bất kỳ một bộ giáo trình nào của các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn trong hệ thống đại học của ta với những giáo trình của những môn này trong trong chương trình tú tài (lớp 12) ở miền Nam Việt Nam thời kỳ trước giải phóng (1975), chúng ta sẽ thấy được mặt bằng đại học của chúng ta là như thế nào.

Chúng tôi xin dẫn hai cuốn sách giáo khoa về triết học và tâm lý học để chứng minh cho luận điểm trên:
- Cuốn “Luận lý học” dùng cho học sinh lớp 12 ABCD, do Trần Xuân Tiên và một nhóm giáo sư triết biên soạn, (Trí Đăng xuất bản, 1974). Cuốn này vừa giới thiệu những kiến thức giáo khoa, vừa trích văn của các nhà triết học nổi tiếng vừa có những câu hỏi trắc nghiệm về logic học. Cuốn sách được cấu tạo bởi 6 phần; 1). Đại cương về luận lý học (Kinh nghiệm về sai lầm; Nguyên lý của lý trí; Khái niệm về luận lý học); 2) Các phương thức tổng quát của tư tưởng (Trực giác; Suy luận; Phân tích; Tổng hợp); 3) Khái luận về khoa học (Nhận thức khoa học; Khái niệm về khoa học, Khoa học và kỹ thuật, Nguồn gốc khoa học, Tinh thần khoa học, Giá trị khoa học); 4) Toán học (Khái niệm, phương pháp, bản chất suy luận toán học, công dụng); 5) Khoa học thực nghiệm (khái niệm, phương pháp thực nghiệm, Nguyên lý và thuyết lý; Khó khăn của các khoa sinh vật); 6) Khoa học nhân văn (Khái niệm, Tâm lý học, Xã hội học, Sử học)

- Cuốn “Cẩm nang trắc nghiệm tâm lý học” dành cho học sinh lớp 12 CD, do Nguyễn Nhật Duật, Đinh Văn Hải và Hoàng Minh Dũng biên soạn (NX Kim Đồng, Sài Gòn 1974). Nội dung cuốn sách gồm 16 bài: 1) Tâm lý học ngôi thứ nhất; 2) Tâm lý học ngôi thứ ba; 3) Tâm lý học ngôi thứ ha; 4) Tương quan tâm sinh lý và tâm xã hội; 5) Ýthức và vô thức; 6) Cảm xúc; 7) Đam mê; 8) Tập quán; 9) Ýchí; 10) Tri giác; 11) Ảnh tượng- trí tưởng tượng; 12) Liên tưởng; 13) Ký; ức ;14) Chú ý; 15) Ngôn ngữ và tư tưởng; 16) Tính tình và nhân cách.

Trong khi đó học sinh phổ thông của chúng ta khi bước vào đại học được trang bị quá sơ sài những tri thức căn bản để bước vào khoa học xã hội và nhân văn như thế này. Và họ bước vào đại học với sự ngỡ ngàng, choáng váng bởi những môn “khó hiểu”, “trừu tượng”. Ngay cả ở bậc đại học, và thậm chí trên đại học của ta sinh viên cũng không được trang bị những kiến thức như những cuốn sách mà tôi vừa nêu ở trên (bởi mỗi một môn đại cương các em chỉ được học 2 học trình, triết học thì được học nhiều hơn những lại toàn là triết học Mác- Lênin). Điều này có thể giải thích phần nào cho việc đa số sinh viên ta không thích học những môn như xã hội học, triết học…

Bên cạnh mặt bằng thấp như chúng tôi vừa nêu ở trên, nền đại học của chúng ta còn thiếu tính đồng bộ. Một biểu hiện quan trọng về vấn đề này là sự khập khễnh, tuỳ tiện của các giáo trình đại học. Đa phần chúng ta không có giáo trình (dạy- học chay) hoặc giáo trình không cập nhật (điển hình là hiện nay Đại học Huế vẫn đang dạy môn Dân tộc học bằng giáo trình của Liên Xô cũ được ta dịch từ những năm 60). Các bậc học cao hơn (Thạc sỹ, Tiến sỹ) tình hình cũng không sáng sủa hơn. Lẽ ra, ở các bậc học này học viên phải được trang bị nhiều hơn những kiến thức lý thuyết và phương pháp luận cũng như phương pháp nghiên cứu, các tài liệu tham khảo phải phong phú hơn, cập nhật hơn thì ở các cơ sở đào tạo của ta học viên gần như phải “học lại đại học”: Học viên phải theo học nhiều bộ môn để lấy chứng chỉ nhưng chất lượng thì không hề được nâng cao, bởi họ vẫn học chính những người thầy ấy, những bài giảng ấy, phương pháp dạy- học ấy của cái thủa đại học họ đã học rồi.

Chúng tôi hiểu mặt bằng đào tạo thấp đó có những nguyên nhân khách quan. (Nó không phụ thuộc vào ý chí cá nhân của ai đó mà nó là hệ quả tất yếu của trình độ phát triển kinh tế, chính trị và xã hội). Tuy nhiên, vẫn cần phải nhấn mạnh ở đây rằng: Đến nay, dù trình độ phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam đã có những bước tiến nhưng mặt bằng đào tạo của chúng ta vẫn “dậm chân tại chỗ” và trở thành một lực cản lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nước nhà.
3.1.2. Sự chi phối của những khuôn mẫu văn hoá truyền thống: Kìm hãm sự phát triển trong khoa học
Trong truyền thống văn hoá Việt Nam, “tôn sư trọng đạo” và “kính lão đắc thọ” là hai khuôn mẫu văn hoá được đề cao và vẫn có sức sống trong đời sống đương đại. Ởmục này chúng tôi muốn bàn về những khía cạnh tiêu cực của những khuôn mẫu văn hoá này.

Trên thực tế, không phải ở ta không có những cán bộ trẻ được học hành tạm gọi là “đến nơi đến chốn” ở những nước có nền khoa học xã hội và nhân văn mạnh (như ở Hoa Kỳ, Canada, Anh quốc) nhưng khi về Việt Nam họ lại không phát huy được tác dụng là bao. Tại sao vậy?

Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân của việc thực hành các khuôn mẫu văn hoá truyền thống (như “tôn sư”, “kính lão”) của các học giả trẻ này. ỞViệt Nam ta, hiếm thấy một người nào dám “đảo ngược” hoặc ít nhất là “cải chính”, sữa chữa những tri thức mà thầy học của mình đã nêu ra, đặc biệt là đối với những thầy đã thành danh và có chức vị.

Tôi còn nhớ cách đây ít năm, nhóm nghiên cứu của Bùi Thiết đã từng ra một tập sách trong đó có nhiều luận điểm khoa học trái với/ phản bác lại những luận điểm của GS. Phan Huy Lê. Có lẽ đây là trường hợp duy nhất trong sinh hoạt học thuật ở Việt Nam. Dư luận xã hội thời ấy chống lại nhóm Bùi Thiết như là những người không có đạo đức trong mối quan hệ thầy trò.

Thực ra, ở các nước phương Tây, những chuyên tương tự như vậy trong mối quan hệ thầy- trò không những là chuyện bình thường mà người ta còn coi đó mới là động lực để thúc đẩy sự phát triển khoa học. Thậm chí những mối quan hệ như thế còn được ngợi ca thêm trong các sách viết về lịch sử khoa học (cổ điển thì có mối quan hệ giữa Platon và Aristot, thời hiện đại thì có S. Freud và K. Jung….). Ởta, “chuyện nọ xọ chuyện kia”, vì thế chẳng có nhà khoa học trẻ nào dại dột đến mức “phủ định” thầy mình, mặc dầu bản thân anh ta biết rõ mười mươi rằng thầy mình đã quá cũ kỹ và sai ở đâu.

Trong giới nghiên cứu thì khuôn mẫu “kính lão đắc thọ” vẫn đang thống trị: Trong khoa học cũng giống như trong đời sống- cứ “sống lâu lên lão làng” không phân biệt đó là người giỏi hay không, có đóng góp cho khoa học nước nhà ở mức độ nào (vì thế giới giáo sư các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở ta người già thì nhiều, người giỏi thì ít). Một hội thảo khoa học chẳng hạn, những người già, có thâm niên trong giới sẽ được mời đọc trước, còn giới trẻ thì ngồi dự, ngồi nghe là chính. Hoặc như từ “phản biện” trong đời sống học thuật ở Việt Nam có một ý nghĩa khác hẳn so với từ này ở những nước phát triển: Đối với họ, phản biện có nghĩa là sự trao đổi đồng đẳng thì từ này ở ta có ý nghĩa đẳng thứ (trên- dưới) vì thế nó giống như một sự phán quyết hơn là một sự trao đi đổi lại trên phương diện khoa học. Điều này đẻ ra tình trạng “ngậm miệng ăn tiền” của người bị phản biện. Đây chẳng phải là sự kìm hãm hay sao?

3.1.3. Sự thống trị của hệ tư tưởng Mác- Lê Nin trong khoa học xã hội và nhân văn

Hiển nhiên, hệ tư tưởng và các khoa học xã hội và nhân văn là những hình thái ý thức xã hội nên mỗi một chế độ xã hội phải có hệ tư tưởng chính thống và hệ thống khoa học xã hội tương ứng. Tuy nhiên, xã hội của chúng ta hiện nay đã bước qua thời kỳ “chiến tranh lạnh” để cùng hoà nhập vào thế giới chung của nhân loại nhưng hệ tư tưởng Mác- Lê Nin (tư tưởng chính thống của xã hội Việt Nam hiện nay) vẫn chiếm địa vị độc tôn và nó vẫn quy định nền khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta.

Thứ nhất, thời lượng và tỷ trọng các bộ môn khoa học Mác- Lê Nin (triết học, kinh tế chính trị học mác- Lê Nin, Chủ nghĩa xã hội khoa học) so với những kiến thức đại cương khác ở các trường đại học và các cơ sở đào tạo trên đại học là quá lấn át.

Thứ hai, trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu các bộ môn này, các giáo sư và các nhà nghiên cứu không vượt qua khỏi khuôn khổ của chủ nghĩa tư biện, giáo điều. Có những vấn đề thực tiễn đặt ra mà chủ nghĩa giáo điều không thể giải đáp được thì cách giải quyết cũng chỉ là chủ nghĩa cải lương.

Đa phần những cán bộ nghiên cứu ở ta (đặc biệt là những nhà khoa học đang giữ cương vị lãnh đạo trong các trường đại học và các viện nghiên cứu) là đảng viên hoặc chí ít cũng là cán bộ ăn lương nhà nước, vì thế học và tuân thủ những nguyên lý Mác xít là nghĩa vụ của họ.

Hiện nay, tất cả cán bộ nhà nước đều được đi học các lớp (ít nhất là trình độ trung cấp) chính trị thuộc hệ thống trường đảng Nguyễn Ái Quốc. Những thể chế ấy tuy không biến tất cả những nhà nghiên cứu thành những người Mác- xít nhưng cũng đủ để kiềm chế họ trong khi tiếp nhận những tư tưởng phi- Mác xít.

Như thế, dù trực tiếp hay gián tiếp, giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở ta cũng phải dè dặt, thận trọng khi tiếp nhận hay phát biểu một định đề nào đó, đặc biệt là viết một cái gì đó (“giấy trắng mức đen”) mà không giống như hoặc không đúng với những nguyên lý Mác xít. Điều này giải thích được sự chậm trễ về lý thuyết của ta khi tiếp nhận các lý thuyết hiện đại của nền học thuật thế giới: Theo quan niệm chính thống những lý thuyết đó hoặc bị coi là “siêu hình”, “duy tâm” hoặc bị coi là “phi lịch sử”…

Dĩ nhiên, trên thế giới (và ngay cả ở Mỹ) có rất nhiều khoa học đi theo quan điểm Mác xít, nhưng sự phát triển khoa học là một bức tranh đa dạng, tổng thể. Ngay cả việc hiểu được các nhà khoa học Mác xít ấy cũng không đơn giản. Chúng ta không thể hiẻu được các nhà khoa học Mác xít ấy nếu không đặt họ và lý thuyết của họ trong bối cảnh nhất định nào đó, hoặc trong mối tương quan với lý thuyết của các học giả phi Mác xít nào đó.
Tất cả những điều đó luôn như là một sức mạnh vô hình tác động lên từng cá nhân các nhà nghiên cứu và hút họ vào những “vòng xoáy im lặng” (spiral of silence)
3.2. Những nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan mà chúng tôi vừa mới kể ở trên, thực trạng này còn có những nguyên nhân chủ quan. Nếu giới khoa học của chúng ta ý thức được điều này, chắc chắn tình trạng thiếu hụt về tri thức lý luận trong khoa học xã hội và nhân văn, khoa học văn hoá sẽ được cải thiện phần nào.

3.2.1. Năng lực ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) kém
Trước hết là trình độ ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng của đội ngũ nghiên cứu của ta còn rất thấp. Nếu tạm chia giới khoa học của ta thành 4 nhóm (trên 70 tuổi, từ 50 đến 69 tuổi, từ 35 đến 49 tuổi, dưới 35 tuổi) thì tình trạng ngoại ngữ của các nhóm như sau (một cách tương đối):

- Nhóm 1 gồm những người biết tiếng Pháp (hiện còn rất ít và đã nghỉ hưu lâu rồi, ít tham gia các diễn đàn khoa học)
- Nhóm 2 là những người được đào tạo tại Liên Xô và các nước XHCN (cũ) biết tiếng Nga hoặc tiếng Bungari, Đức, Hung, Tiệp…(Những tri thức mà họ tiếp thu thời sinh viên hay nghiên cứu sinh đã không còn cập nhật nữa)
- Nhóm thứ 3 là nhóm trưởng thành trong buổi giao thời, nhà nước ta không cử đi học và nghiên cứu ở nước ngoài nữa nên ngoại ngữ của nhóm này kém (nhiều người không biết một ngoại ngữ nào cả)- Nhóm này thường là học trò của nhóm 2.
- Nhóm 4 là nhóm đã học tiếng Anh và nhiều người trong số họ được đào tạo nghiêm chỉnh ở các trường đại học ở Mỹ. Anh và Canada, Pháp… Tuy nhiên, đa số trong thế hệ này được đào tạo trong nước (học trò của nhóm 2 và 3) vì thế trình độ ngoại ngữ của họ kém.
Khoa học hiện đại được truyền bá chủ yếu bằng tiếng Anh, vì thế trình độ ngoại ngữ như đã mô tả ở trên rõ ràng là một trở lực trong quá trình tiếp nhận: Người già, có địa vị xã hội thì không tiếp nhận trực tiếp được, người trẻ có thể tiếp nhận được thì lại không có vị thế để phát huy những kiến thức mà mình đã học được.
Khi tiếng Anh kém hoặc không biết thì khả năng cập nhật kiến thức cũng sẽ kém: Họ không thể sử dụng Internet, hay sách điện tử, không có mối giao lưu với các nhà khoa học chuyên ngành ở bên ngoài…

3.2.2. Chủ nghiã AQ
Có nhiều nguyên nhân chủ quan nhưng ở đây tôi chỉ muốn nêu thêm một nữa: Đó là chủ nghĩa AQ trong nghiên cứu khoa học. Cách đây mới ít hôm tôi vẫn nghe thấy một số đồng nghiệp bên Viện Nghiên cứu văn hóa (Viện văn hoá dân gian trước kia) ca thán về vấn đề này: Nhiều người vẫn nói rằng, riêng đối với nghiên cứu dân tộc học và văn hoá dân gian thì tây còn phải đến học ta ấy chứ!
Thực ra, có người thấy các nhà nghiên cứu nước ngoài say mê với thực tiễn văn hoá tộc người rất phong phú và còn “nguyên thuỷ” của Việt Nam rồi hiểu rằng họ phải sang học mình; nhưng đa phần là do những hạn chế về chuyên môn nên sinh ra tâm lý “tự đại” kiểu AQ. Giá như những người này thông thạo tiếng Anh, đi theo họ trong những cuộc điền dã, học những phương pháp tham dự của họ, đọc những nghiên cứu của họ thì họ sẽ bớt đi được những tuyên ngôn đầy “ngạo nghễ” kiểu AQ đó.

Tôi nghĩ rằng, chừng nào ta không bỏ đi được tâm lý AQ này, mà thực chất nó là một kiểu tự ti, thì nền khoa học của ta vẫn cứ “một mình một sân” mà thôi.
Thay lời kết
Tôi viết bài này KHÔNG PHẢI VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI NGOÀI CUỘC. Nói một cách rõ hơn : Tôi cũng là một nhà nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam đang có những khuyết tật như đã nêu ở trên. Mong quý vị hiểu cho tâm ý của tôi khi viết tham luận này và lượng thứ cho những chỗ có thể bị quá lời.
Ts. Bùi Quang Thắng

[1]. Xin trích một đoạn văn của GS. Đặng Nghiêm Vạn để làm ví dụ; “…Đó là điều mà ông L.Strauss đang muốn thể nghiệm cái chủ nghĩa mang tính phi lịch sử và duy tâm- thứ chủ nghĩa cấu trúc xã lạ với chúng ta, những người theo quan điểm Mác- xít. L.Strauss đã áp dụng chủ nghĩa đó vào một loạt những cuốn sách nghiên cứu về huyền thoại của ông, một thứ thử nghiệm sẽ không thành công, đang bị chính các nhà Fôn- clo học tiến bộ ở phương tây chỉ trích” (Tô Ngọc Thanh, Đặng Nghiêm Vạn, Phạm Hùng Thoan, Vũ Thị Hoa- Fônclo Bâhnar- Sở VHTT Gia Lai- Kontum, 1988, trang 281)

[2]. Ví dụ: Trong một nghiên cứu về lễ tang của người H’Mông ở Thanh Hoá (một dự án nghiên cứu văn hoá phi vật thể trong chươg trình mục tiêu quốc gia về văn hoá năm 2003), các tác giả đã “gọi” tục người H’Mông đưa xác người quá cố ra giữa sân nhà là tục phơi xác- mang xác của người chết ra ngoài trời, để ngửa họ lên, cho dù trời nắng? Điều này nghe man rợ và thực chất bóp méo nền văn hoá của người H’Mông. 

Thực ra, những thông tin này được thu thập qua người phiên dịch. Người phiên dịch- rất có thể đã bị nhiễm cách nghĩ của người Kinh, hoặc cũng có thể tiếng kinh của anh ta chưa đủ tinh tế- đã cung cấp cho những nhà nghiên cứu những từ ngữ sai như tục phơi xác (mà đáng ra nó phải được hiểu như cách ứng xử cổ truyền của cộng đồng, tộc họ đối với người chết để người chết có thể nhìn thấy bầu trời xanh, nhìn thấy nơi mà linh hồn họ sẽ bay về với tiên tổ của mình- vùng hương hoả),

[3]. Ví dụ: PGS. TS. Trần Lâm Biền đã diễn giải như sau về biểu tượng trống sấm của lễ hội Lam Kinh 2005: “Người ta đã bảo, trống sấm gây ra mưa, chiêng mở cửa trời. Trời mở cửa xem nó hỏi cái gì tức là trống sấm bắt buộc nó phải cầu chuyện linh thiêng, tang trống mầu đỏ, mặt trống mầu sinh khí. Mầu sinh ấy tràn xuống trần gian…tinh của trần gian là của con rồng thì nó phải vẽ lên các sinh vật khác và khi gõ trống đó là để âm dương hội tụ, thúc đẩy cho muôn loài sinh sôi thì ở giữa phải có cái mặt lưỡng nghi. 

Mà cái mặt lưỡng nghi thì tự chia thành con số 2005 thì có chướng không? Thế là không thể chịu được, nên xoá con số 2005 ấy đi” (tư liệu ghi âm của Viện Văn hoá Thông tin tại hội thảo “Lễ hội Lam kinh 2005- Lý luận và thực tiễn” tổ chức tại Thanh Hoá 11/2005). Riêng đối với tôi, kiểu diễn giải như thế này về một hiện tượng văn hoá là không chấp nhận được, nó nhảm nhí, phi khoa học.



'Kleptocracy' đã đến Việt Nam rồi chăng?


Bùi Tín (VOA) - Vấn đề tên gọi một nước rất quan trọng. Mọi người, nhất là các sinh viên ngành Chính trị và Luật học, biết rõ điều đó.

Ở nước ta năm ngoái, khi bàn luận về Hiến pháp 2013, cũng rộ lên vấn đề nên gọi nước ta là gì? Nước Cộng hòa VN? Nước VN Cộng hòa? Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa? Cuối cùng Quốc hội đã quyết định để nguyên tên cũ: nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng như thế đã ổn chưa? Chính xác chưa?

Các nhà chính trị Cộng sản thời Stalin, Mao sáng tạo ra chế độ Dân chủ Nhân dân, rồi Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Marx - Lenin. Ở Bắc Âu có những nước được gọi là Nhà nước Phúc Lợi do có những chính sách chăm lo đến cuộc sống của con người từ khi trong bụng người mẹ, trong nôi, học vỡ lòng, lên trung học, đại học, khi đau ốm, khi thất nghiệp, góa bụa, khi nghỉ hưu, khi từ trần. 

Có nước tên gọi rất hay, rất đẹp, nhưng không thấy chút vẻ đẹp nào trong thực tế, ngược lại. Những năm gần đây một số nhà xã hội học quốc tế đã dùng lại một số khái niệm xưa cũ để chỉ một số chế độ chính trị thời hiện tại. Ví dụ như khái niệm Kleptocracy được định nghĩa là chế độ, chính quyền tham nhũng tràn lan, rộng khắp, nặng nề. Gần đây, từ Kleptocracy được dùng để chỉ các chế độ Saddam Hussein ở Irak, Bel Ali ở Tunisia, Muanmar Gaddafi ở Libya, Hosni Mubarak ở Ai Cập…nơi tệ nạn tham nhũng hoành hành rộng khắp và cực kỳ nghiêm trọng. Một số cơ quan truyền thông Việt ngữ như mạng Dân Làm Báo, hoặc báo Người Việt đã dịch từ này là chế độ 'ăn cắp', 'đạo tặc', hay Nhà nước 'ăn cắp', Nhà nước 'đạo tặc'.

Ở Việt Nam đã có một số nhà bình luận lên tiếng báo động về nạn tham nhũng 'tràn lan', 'dữ dội', 'khủng khiếp', 'một quốc nạn nội xâm', có sức tàn phá đất nước kinh hoàng, làm nhân dân mất niềm tin, và theo lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đang 'đe dọa đến sự tồn vong của chế độ'.

Trên báo Người cao tuổi giữa tháng 2/2014 đã nêu lên nghi vấn về 'tài sản khủng' kèm theo ảnh biệt thự hoành tráng giữa vùng đất rộng của nguyên Thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền ở tỉnh Bến Tre, tiếp theo là tin tức trước ngày nghỉ hưu ông Truyền đã vội ký một lèo hàng 30 quyết định thăng cấp và lên chức cho cán bộ cấp cao, vạch trần bộ mặt của một ông lớn ăn cắp quả tang, vì theo mức tiền lương, ông Truyền phải để hơn 40 năm không ăn tiêu gì mới tích lũy được số tiền để dựng lên ngôi nhà như thế.

Cũng báo Người cao tuổi trong số ra cuối tháng 2 đã nêu lên trường hợp Ngô Văn Khánh, phó Tổng thanh tra chính phủ, cũng ký hàng loạt quyết định bổ nhiệm cán bộ cấp cao trước khi nghỉ hưu, kèm theo lời tố cáo ông ta có hàng chục tỷ đồng VN (tương đương với hàng triệu đôla) gửi trong các ngân hàng. Làm sao mà một viên chức cộng sản lại có nhiều đến thế, nếu không ăn cắp của dân?

Rồi còn vụ thượng tướng quan chức số 2 ngành công an được biết nhận hối lộ nhiều lần, lần thì 20 tỷ đồng, lần thì nửa triệu đôla, lần thì 1 triệu đôla, khiến cho ngay những đảng viên CS cũng phải kêu lên: Ở đâu ra mà nhiều đôla đến thế! Không ăn cắp của ngân sách thì ở đâu?

Hai mươi năm trước nhà thơ Nguyễn Duy đã thét lên, từ gan ruột anh:

Xứ sở từ bi, sao thật lắm thứ ma
Ma quái, ma cô, ma tà, ma mãnh
Quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài !

Xứ sở kỷ cương, sao thật lắm thứ vua
Vua mánh, vua lừa, vua chôm, vua chía
Vua không ngai, vua choai choai, vua nhỏ
Lãnh chúa sứ quân, san sát vùng cát cứ 

Đến nay, số ma, số vua ấy, đội ngũ kẻ cắp, kẻ cướp có quyền lực ấy đã phát triển thành những bầy sâu nhung nhúc khắp nơi, cấu kết để bảo vệ nhau tha hồ bòn rút các nguồn viện trợ và đầu tư ODA và FDI.

Trên báo Pháp luật on line đầu tháng 2/2014 nhà bình luận Phạm Chí Dũng và nhà kinh tế Phạm Chi Lan đã nêu lên nguyên nhân của tham nhũng lan tràn là thiếu một cơ chế giám sát tài chính, thanh tra các khoản đầt tư và viện trợ, các cơ quan thu nhận, phân phối, điều hành kinh doanh , thanh toán các khoản tiền cực lớn ấy. Tổng Thanh tra chính phủ, ban Kiểm tra Trung ương đảng, Quốc hội do đảng CS kiểm soát được lệnh không động đến.

Đây chính là những đặc điểm của các chế độ 'đạo tặc', các nhà nước 'ăn cắp'.

Theo phân tích về chế độ Kleptocracy, tâm lý các nhà cai trị loại này là tâm lý của 'kẻ cắp, kẻ cướp', mục tiêu là ăn cắp hay ăn cướp tiền để tiêu xài, hưởng lạc, đua đòi theo kiểu trọc phú, trưởng giả học làm sang, đi tắt để có nhiều tiền, không coi trọng tài kinh bang tế thế, coi khinh người có tài kinh doanh lương thiện biết tôn trọng luật pháp. Họ không chọn trí thức có học thuật, theo nhân cách, khả năng sáng tạo, mà chọn những kẻ theo hình ảnh của chính họ, chuyên mua quan bán chức, mưu ma chước quỷ, mánh mung cửa hậu, tuyển lựa bọn cơ hội, thậm chí hợp tác liên minh với bọn xã hội đen, côn đồ, lưu manh, miễn là có lợi.

Nhiều học giả nêu lên một đặc điểm của chế độ Kleptocracy là nó tàn phá các giá trị văn hóa đạo đức- tôn giáo cố hữu. Theo báo Pháp le Figaro ngày 24/2/2014, các nhà báo nước ngoài đã sửng sốt khi vào xem dinh thự hoành tráng của nguyên tổng thống Ukraine Victor Yanukovitch. Đây là một kiến trúc xa hoa lộng lẫy nhưng cực kỳ phản văn hóa, phô trương một cách lố bịch, tố cáo chủ nhân của nó là một tay trọc phú vô học.

Tâm lý xã hội đòi hỏi công lý, lập luận rằng không có lý gì một tên trộm vặt, một tay móc túi ngoài chợ, một kẻ ăn cắp gà vịt, chó hay trâu bò ở nông thôn thì bị nguyền rủa, săn đuổi, đánh đập không nương tay, trong khi những tên đạo tặc 'sang trọng, danh giá' quyền cao chức trọng ăn cắp hàng chục, hàng trăm triệu đôla lại không bị trừng phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ tội ác 'ghê gớm, khủng khiếp' gấp trăm ngàn lần của chúng.

Ở Việt Nam ai đã tạo nên cái xã hội đồi trụy bệ rạc đầy kẻ cắp kiểu cleptocracy khá là điển hình như thế này. Xin mời các học giả, anh chị em bloggers tư do và các bạn trẻ sinh viên trường Luật, ngành xã hội nhân văn lên tiếng, góp thêm ý kiến.







Monday, March 24, 2014

CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM ĐÃ CÓ SAO ?

===


On Monday, 24 March 2014 5:50 AM, Nguyen Chon Thanh <> wrote:
 

CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM ĐÃ CÓ SAO ?
                         I
Chống Cộng bằng mồm đã có sao?,
Âm mưu phá hoại hết tào lao. 
Chúng  đang bày trận sao im tiếng?,
Khi muốn xung phong phải thét gào.
Chớ có ngây thơ nghe dụ khị,
Phải cần tỉnh táo giữ hầu bao. 
Tự do dân chủ nêu danh nghĩa,
Cộng sản Việt gian phải lật nhào.
                          II
Có mồm không nói hoá thành câm,
Tranh đấu sao lại chẳng súng gầm.
Ba triệu con tim vang thế giới,
Muôn ngàn tiếng nói dội thanh âm.
Tay sai bán nước đầy run sợ
Việt Cộng gian manh chất lỗi lầm.
Chiến thắng oai hùng mai sẽ tới
Cùng nhau quật đổ bọn gian tà.
                            III
Nếu không lên tiếng còn chi nưã,
Hay đã buông xuôi chịu phục tòng.
Cộng Sản lăm le vào lũng đoạn
Tự do ôm ấp phải hằng trông.
Văn minh tiến bộ nhờ tim óc,
Hải ngoại lừng danh bởi một lòng.
Báo chí truyền thông là vũ khí
Muôn ngàn mũi giáp quyết xung phong.
Tiến lên toàn dân ắt thắng lợi.
Vinh quang chiến thắng bởi có mồm .
(Một lòi nói bằng vạn khấu thần công .

12-03-2014
TÚ VỊ XUYÊN

            NHỎ TO HÀ LỘI...
  

Dân phố bàn nhau chuyện nhỏ to
Nước thì rất nhỏ, thủ đô to,
Thủ đô lại lắm con đường nhỏ,
Đường nhỏ lại xây biệt thự to.
Nhà to lại lắm cô vợ nhỏ,
Vợ nhỏ nằm ôm các cụ to.
Cụ to có cái cặp hơi nhỏ,
Cặp nhỏ nhưng mà dự án to.
Dự án to kềnh công hiệu nhỏ,
Hiệu nhỏ nhưng mà thất thoát to.
Thất thoát to đùng lỗi rất nhỏ,
Lổi nhỏ làm cho nước hẹp co.
Nuớc co hẹp lại do óc nhỏ,
Óc nhỏ nhưng đầu lại vẫn to.
To đầu nhưng túi tham không nhỏ,
Vơ vét cho đầy, nước hại to. 
Hại to đất nước: bầy sâu bọ!
Dân tình đói khổ lạnh co ro.
Nhà giầu chỉ có hàng quan Đỏ,
Phung phí ăn xài ắt chẳng lo.
Triệu triệu dân đen lê khắp ngõ,
Gầy rạc trơ xương ngỏng cổ cò.
Cơáo tự do mà muốn có
Phải mau tận diệt lũ vong nô!



19-03-2014
TÚ VỊ XUYÊN


===

On Sunday, March 23, 2014 9:46 AM, San Le D. <> wrote:


 
KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TAU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

Bài Chửi Mất Nước - Giọng đọc: Cát Bụi - YouTube

alt
► 7:35
Nov 22, 2012 - 8 min - Uploaded by NhungSuThat
Bài Chửi Mất Nước Giọng đọc: Cát Bụi Tác giã: Lê Duy San http://youtu.be/ mgjuz2QgpaQ.


On Sunday, March 23, 2014 4:29 AM, Hoangyen Nguyen <> wrote:

Chửi vc là đánh võ mm ư ? Riêng tôi thì :

Hoàn toàn đồng ý với Cụ GS Bút Xuân và bác Katumtran rằng người Việt hải ngoại chống vc và vgcs cần chửi thật nhiều , thật mạnh vào những cái thối nát , giả nhân giả nghiã cuả vc , những trò trâng tráo mị dân , những hành động đê hèn đối với người yêu nước và với dân oan , những thái độ hèn hạ luồn cúi cuả vc đối với chệt đỏ , những thói khoe cuả rởm đời cuả bọn học làm sang gốc dép râu chân phèn và nạn bè phái tham ô nhũng loạn dân nghèo , những sa đoạ về đạo đức , văn hoá , xã hội mà chế độ cs đã gieo rắc trên quê hương sau 39 năm cưỡng chiếm miền Nam . 

Người-Việt-hải-ngoại-không-cs cần phải chửi liên tục vào những tệ đoan sai trái cuả vc trong nước như chúng ta đã làm suốt 39 năm nay , và cũng nhờ phương tiện truyền thông tân kỳ ngày nay mà người dân trong nước nghe được , thấy được (qua tìm hiểu trên internet ) SỰ THẬT về VNCH , về những trang quân sử oai hùng cuả miền Nam trong suốt 21 năm tự vệ chống vc và cs quốc tế  và về cái "hào quang" lố bịch mà người cs đã tự tô vẽ , tự ca tụng , tự tôn xưng để che cái cốt chỉ là con bù nhìn cuả Nga Tàu không hơn không kém . 

Cám ơn những vidéo clip cuả cô Trang Lê ( bà ngoại xóm tám " xì tin " ) chửi vc cho bà con xóm tám và các "xóm" khác nghe và ... cười chơi . Tác giả những clip ấy , sau khi qua Hoa Kỳ , đã thấy được sự cần thiết cuả truyền thông nên đã có sáng kiến " tư biên tự diễn " và cho ra đời những clip chửi duyên dáng và hay không thua gì các bà chửi mất gà ngoài Bắc , mục đích đưa tin tức cập nhật về đám côn đồ vc trong nước đối với dân nghèo , đến tận tai người nghe cuả ... xóm tám ha ha . Rất hay và rất cám ơn sáng kiến cuả cô .

Cám ơn hai anh Nguyên Khôi , Hoàng Tuấn cùng toàn ban biên tập và kỹ thuật cuả chương trình ĐỌC BÁO VẸM hàng tuần đã siêng năng " đọc " báo vc cho chúng ta nghe và hiện tại đang được người dân trong nước chú ý theo dõi "rất kỹ" cũng như thường xuyên trao đổi ý kiến với ban biên tập . Cám ơn các anh về công tác " vác ngà voi " này mà các anh đã và đang làm .

Cám ơn quý vị thức giả , quý vị trong toàn khối Dân Quân Cán Chính VNCH xưa , đã không quản tuổi tác , sức lực cho đến ngày nay , vẫn hăng hái viết những bài tham luận , những bài thơ chửi cái sai cái quấy cuả vc và đám vgcs hay đám HO già không nên nết ( không nh cái tủi nhục cuả đất nước và cuả chính bản thân mình mà vác mặt về ăn chơi trên nỗi đau cuả toàn dân , nhục lắm các bô lão HO ạ ! ) 

Quý vị là thành phần trí thức cuả miền Nam , quý vị từng là nng cốt cuả chính phủ VNCH , hay là những sĩ quan ưu tú cuả QL/VNCH , những binh sĩ , thương binh anh hùng cuả miền Nam , quý vị đã góp rất nhiều công ích khi chửi vc trên các trang mạng điện tử hay trên các blog cuả người Việt yêu nước khắp năm châu , đó là những đòn chí tử giáng vào đầu bọn cầm quyền ở VN .

Vậy thì tại sao chúng ta không tiếp tục chửi cho chúng nó nghe và cho người dân nghe . Làm bậy thì phải nghe chửi có gì là lạ đâu và phải CHỬI cho đến cùng , cho đến khi người dân VN thoát gông xiềng cs mới thôi . 

Tiếc thay ! Vận nưđiêu linh , anh hùng gp nạn , miền Nam đã phải ngã xung trước nhng chữ ký điếm nhục trên bàn hội nghị Paris năm 73 để rồi những người anh hùng cuả miền Nam phải chịu bao nhiêu trận đòn thù hèn hạ cuả " bên thắng cuộc " trong lao tù cs ! 

Người cs qua đó , đã sát hại không biết bao nhiêu anh tài cuả đất nước , không biết bao nhiêu là tiềm năng cuả Tổ Quốc VN , bao nhiêu nhân tài đã hy sinh vô ích và vô lý . Đau thương thay cho dân tộc !

Mong sao các thế hệ trẻ cuả VN hãy vào internet mà đọc và tìm hiểu ( xin chỉ cần tìm hiểu một cách khách quan thôi ) về VNCH và về cuộc chiến tranh TỰ VỆ cuả miền Nam trước tham vọng bành trướng cuả quốc tế cs (qua anh chàng csVN ở Bắc bộ phủ ) một cuc chiến tranh mà các anh hùng min Nam đã viết nên trang quân s hào hùng cuả VNCH . Mong lm vậy ! 

Các cháu , các em là tương lai cuả đất nước , hãy mạnh dạn nhìn thẳng vào SỰ THẬT để trả lại cho VNCH lẽ công bằng và Chính Nghiã sáng ngời cuả họ .  

Để kỷ niệm ""tháng tư đen " tôi kính cẩn dâng lên Hồn Thiêng Sông Núi , dâng lên Anh Linh các Anh Hùng Tử Sĩ và toàn thể chiến sĩ QL/VNCH lòng tiếc thương và tri ân vô b bến .

Kính ,

HY 





__._,_.___

Khủng hoảng ở Crimea làm thay đổi thế giới


Khủng hoảng ở Crimea làm thay đổi thế giới

Thanh Mai: Dịch từ bài phỏng vấn nhà báo Jefim Fistejn đăng trên tạp chí Reflex số 11/2014.
Nhà báo Jefim Fistejn (sinh tại Kiev năm 1946), tốt nghiệp khoa Báo chí tại trường Tổng hợp Lomonosov, Moscow, từ năm 1969 sống tại Praha với nghề phiên dịch. Sau khi ký Hiến Chương 77, ông bị theo dõi và bị buộc phải lưu vong sang Vienne. Từ năm 1981, ông là bình luận viên chính trị của đài phát thanh Châu Âu Tự do.
Ở khắp mọi nơi trong xã hội Séc đang nổ ra các cuộc tranh luận gay gắt về nguyên nhân và hậu quả của cuộc khủng hoảng của Ucraine, và cũng như về tham vọng của nước Nga. Ông Jefim Fistejn, công tác viên của Reflex
là một trong những người am hiểu nhất về tình hình đã trả lời vắn tắn những câu hỏi đặc trưng nhất của tờ Reflex.
Jefim Fištejn (Ảnh: Marek Illiaš- rozhlas)

Phải chăng trên thực tế Crimea đã sát nhập vào Nga? Như vậy bản đồ chính trị của châu Âu đã được vẽ lại? (bài phỏng vấn được đăng trong Reflex ra ngày 13/3/2014, trước khi diễn ra cuộc trưng cầu dân ý ở Crimea)

Đối với tôi, việc nước Nga lấy lại Crimea là việc đã rồi. Vì Kremlin không thể xem xét lại quyết định của mình về việc sáp nhập bán đảo Crimea. Để làm được việc sáp nhập này, Kremlin đã thực hiện tất cả các bước cần thiết: ở đây có cả quyết định của quốc hội Crimea, cả quyết định tạm thời của Hạ viện Nga (cơ quan lâp pháp) sẽ tuân theo “ý nguyện của người dân Crimea”. Trên thực tế, vùng đất trên bán đảo Crimea đã bị quân đội chiếm giữ và vào thời điểm này, không gì có thể bác bỏ được thực tế này. Các đoàn thủy thủ và những gì còn lại của hạm đội tàu chiến Ucraine bị chặn giữ trong cảng sẽ bị giam giữ: hoặc họ sẽ bị giữ làm con tin dùng để trao đổi nếu cần, hoặc sẽ bị mang ra xử như những kẻ xâm lăng. Nghị quyết của Quốc hội về việc thay đổi thuộc tính nhà nước tại bán đảo Crimea đã có hiệu lực ngay lập tức, và cuộc trưng cầu dân ý ngày 16/3 chỉ có thể phê duyệt, chứ không thể quyết định về số phận của Crimea. Cơn cuồng chiến ở Nga không cho phép Putin rút lui khỏi kịch bản này mà không bị mất mặt. Ông ta đã đầu tư vào cuộc phiêu lưu này quá nhiều vốn liếng chính trị. Tuy nhiên, tấm bản đồ được vẽ lại lần đầu thường sẽ không bao giờ là tấm bản đồ cuối cùng – cả ở châu Âu, và cả trên thế giới có quá nhiều nhà nước, mà chủ quyền của họ thường hay bị nghi ngờ, bởi vì nó chia đôi các dân tộc lớn. Nói một cách không thương tiếc thì hiện nay chúng ta đang trên ngưỡng của việc dùng bạo lực để phân chia lại hoàn toàn lãnh thổ giữa các nước. 

Xã hội phương Tây có thể làm thêm được điều gì để luật quốc tế được bảo đảm? 

Có thể có những khả năng như thế nào? Qua sự việc này, luật quốc tế đã bị phương hại một cách không thể cứu chữa, và không có vẻ gì là nó sẽ có thể được khôi phục lại khi không có một chiến lược rõ ràng và lâu dài của phương Tây, mà hiện nay vẫn còn chưa thấy đâu. Đối với thế giới, những hậu quả của tình trạng này là vô cùng tai hại. Luật lệ và những nguyên tắc của cuộc chơi sẽ có hiệu lực một khi hiệu lực đó có thể đòi lại được, và một khi có một thế lực nào đó có khả năng trừng phạt trong trường hợp hiệu lực đó không được tôn trọng. Ngày nay, không có thế lực nào như thế. Điều đó, trên thực tế, đồng nghĩa với sự sụp đổ của một trật tự vốn đã tồn tại từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. 

Về tổng thể, Crimea và Kosovo khác nhau như thế nào? 

Chủ thể của quyền tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương của Hội đồng Liên hợp quốc và trong Hiến chương nhân quyền là các dân tộc. Chẳng tồn tại một dân tộc Crimea nào cả, và đã từ lâu dân tộc Nga đã thực thi quyền tự quyết của mình. Việc sáp nhập bất kỳ vùng đất nào vào một lãnh thổ khác sẽ là có thể, một khi có được sự đồng ý của nhà nước mà vùng đất nói trên muốn tách ra. Kosovo muốn sáp nhập vào Albania mà không được Serbia đồng ý, vì thế một nhà nước trung lập đã ra đời, và nhà nước đó được cộng đồng quốc tế công nhận chỉ với điều kiện là sẽ tồn tại một cách độc lập và trong giới hạn của chủ thể là liên bang. Crimea sáp nhập vào Nga không được Ucraine đồng ý. Bất chấp hiến pháp của Ucraine, trong điều kiện bị quân đội nước ngoài chiếm đóng và không hề có sự giám sát của các quan sát viên quốc tế. 

Ông nói sao về ý kiến cho rằng dù sao Crimea “ đã luôn luôn thuộc về Nga”? 

 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự quốc tế được thiết lập trên một quan điểm hoàn toàn không quan tâm đến việc, cái gì lúc nào đã thuộc về ai, bởi vì không thể thiết lập một giới hạn mà chúng ta có thể coi là có tính quyết định, để xác định vùng đất nào thuộc về đâu. Crimea có 171 năm thuộc về Nga, có 60 năm thuộc về Ucraine. Sự khác biệt về thời gian có tính chất quyết định hay sao? Vậy thì sẽ nói sao với luận cứ cho rằng Crimea đã thuộc về Turkey trong một thời gian còn dài hơn thế, rằng ở đây còn có cả lãnh địa Crimean Tartar của Khan có trung tâm là thành phố Bachcisarai, rằng người Hy lạp đã sinh sống ở đây? Trên thế giới có hàng chục lãnh thổ, mà đường biên giới của chúng nhiều phần rất tình cờ, và không hiếm khi nó chia một sắc dân vào hai hoặc nhiều nước khác nhau. Nguyên tắc luật pháp vô cùng đơn giản: đường biên giới đã được công nhận là không được phép động đến. Một khi bắt đầu thay đổi đường biên để một dân tộc được đoàn tụ, chúng ta sẽ không biết phải dừng ở đâu. Việc lấy lại Crimea đã không tuân thủ theo nguyên tắc này, vì thế có nhiều người nhìn nhận sự việc này như khởi điểm của cuộc phân chia lãnh thổ một cách đầy hỗn loạn. 

Ông nói sao về luận cứ của nước Nga cho rằng đảo chính đã diễn ra ở Kiev, và mà đằng sau cuộc đảo chính đó là những người theo chủ nghĩa phát xít? 

Được đa số thông qua đúng theo hiến pháp, Quốc hội được thành lập dựa trên kết quả của lần bầu cử cuối cùng đã hạ bệ tổng thống Janukovic. Vì ngay sau đó Janukovic biến mất và tiếp tục mất tích cả trong mấy ngày sau đó, thỏa thuận về việc thành lập chính phủ đoàn kết dân tộc là không thể thực hiện được, đơn giản là không có ai để thỏa thuận. Ý định lập Janukovic lên lại sau khi ông ta bị chính đảng của mình coi là tội phạm, và bị Putin coi là xác chết chính trị là một điều không tưởng. Liệu chính phủ do cuộc bầu cử từ tháng Năm bầu ra có phải là chính phủ “phát xít” hay không thì không ai có thể biết trước. Đấy chỉ là một cách nói chữ mang tính tuyên truyền. Những thế lực mà bị lên án là theo chủ nghĩa quốc xã mới, hiện vẫn đang tồn tại trong tất cả các nước ở châu Âu. 

Ông có thể phác thảo những đặc điểm chính của chính phủ mới ở Kiev? Chính phủ đó có được tín nhiệm về mặt đạo đức và có tính chính danh ra sao? 

Một cách rõ ràng, chính phủ mới là chính phủ tạm thời. Chính phủ này không có và không thể có chính danh nào khác ngoài danh tính cách mạng. Chính tự thân chính phủ này cũng coi mình là nhà quản lý tạm thời của đất nước. Chính phủ gồm 4 phe: đảng Tổ quốc (Batkivshchyna) và đảng UDAR (Đảng liên đoàn dân chủ Ucraine chủ trương Cải cách) với những tuyên bố theo khuynh hướng phương Tây, đảng Tự do thiên về tinh thần dân tộc, và những người đại diện cho công chúng do những người biểu tình ở Majdan bầu ra. Hiện thời tất cả đều hành xử một cách cẩn trọng, tất cả đều tuyên bố trung thành với các giá trị của nền văn minh phương Tây. Về kết quả của cuộc bầu cử thì chúng ta chỉ có thể suy đoán. Xác suất của một chính phủ liên minh, nhiều phần theo phương Tây, là rất lớn. Độ tín nhiệm về mặt đạo đức của các bộ trưởng đương nhiệm rất khác nhau, tương quan với thời thế đầy xáo động và thậm chí không thể chờ đợi điều gì khác ở họ. 

Đặc tính của chế độ dưới thời Putin đã biến đổi như thế nào? Một số người Nga cho rằng đấy là một dạng “của nền dân chủ được điều khiến” 

Dưới thời Putin, những quan niệm mang tính ý thức hệ và là nền móng của chế độ, đã liên tục thay đổi. Một trong những quan niệm đó là nền dân chủ được điều khiến. Tác giả của thuật ngữ này là ông Gleb Pavlovskij, nhà kỹ nghệ trên phương diện chính trị (political technologist), sau năm 2010, ông chia tay với Putin và sau đó trở thành người phê bình Putin một cách không nhượng bộ. Ngày nay, quan niệm này đã lỗi thời. Xã hội vẫn do quyền lực điều hành, tuy nhiên những yếu tố dân chủ ngày càng mất dần. Pháp luật được ban hành trong hai năm cuối cùng đều nhằm để hạn chế các hoạt động dân chủ. Trên thực tế, quyền hội họp đã bị xóa bỏ hoàn toàn, Hạ viện Nga bị “bảo quản” trong tình trạng hiện nay không cho các chủ thể chính trị mới bất cứ cơ hội nào được xuất hiện. Bộ máy tư pháp đã mất đi mọi dấu hiệu mang tính hình thức chứng tỏ sự độc lập. Chế độ ngày càng thể hiện rõ các hình thức độc tài, diễn đàn của Hạ viện còn đề cử chức Tổng thống suốt đời. Ý thức hệ thực chất và duy nhất của chế độ là chủ nghĩa đế quốc. 

Ở Nga, khả năng phê phán chính phủ và Putin là như thế nào? Tự do ngôn luận ở đó ra sao? 

Một trong những xu hướng nguy hiểm nhất trong thời gian cuối đây – bên cạnh các điều luật chống dân chủ, quyền tự do ngôn luận bị hạn chế ngày càng rõ rệt hơn. Mới đây nhóm chính trị đầu sỏ quy tụ quanh Kremlin đã thâu tóm được phần lớn các hoạt động truyền thông. Kênh truyền hình độc lập cuối cùng, tuy chỉ phát trong phạm vi một vùng, mang tên TV Rain, đã kết thúc hoạt động đúng trong những ngày này. Nguyên nhân là vụ thăm dò ý kiến những người dân ở Petrohrad về việc liệu công cuộc bảo vệ thành phố trong những năm chiến tranh có xứng với cái giá phải trả là sinh mạng của hàng triệu con người. Người ta kết tội ban điều hành của Đài Truyền hình là xúc phạm ký ức các anh hùng đã hy sinh. Cũng trong những ngày này, ban biên tập một Đài phát thanh có vị thế tương đối độc lập là Radio Echo Moskva (tuy nhiên nằm trong quyền sở hữu của Gazprom Media) vừa được thanh lọc về mặt nhân sự, ghế giám đốc được thay thế, Alexej Venediktov vẫn là Tổng biên tập, nhưng nội dung chương trình đã mất đi tính phê phán. Trên lĩnh vực truyền thông chỉ còn hai, ba trang web, luôn luôn bị kiểm duyệt và bị kiểm soát tài chính chèn ép. Tờ báo in duy nhất Bolsoi gorod – Thành phố lớn – sau khi bị đổi chủ đã ngay lập tức bị đóng cửa. Chỉ còn lại các cơ quan tuyên truyền và những tờ báo lá cải. Bởi vì cả xã hội đang bị lôi kéo vào cơn cuồng chiến, các cơ quan tuyên truyền chỉ ra những “kẻ phản dân hại nước” mang bút danh Nga, đằng sau đó là nguồn gốc Do thái của những người chỉ trích chế độ. Hai nữ phát thanh viên nổi tiếng của Đài pháp thanh tuyên truyền Anh ngữ Russia Today không chịu nổi bầu không khí đầy dối trá, trong buổi phát trực tiếp đã tuyên bố thẳng thắn sự bất bình của mình với việc Nga đổ bộ vào Crimea và quyết định thôi việc. Đỉnh cao của xu hướng này là đề xuất của Nghị viên Fjodorov của Hạ viện Nga, yêu cầu ra điều luật xử tù bất cứ nhà báo nào nghi ngờ các bản tin thời sự chính thức. Theo luật mới này, phương tiện truyền thông này sẽ tức khắc bị bắt giữ, cùng với toàn bộ ban biên tập. Sự thiếu minh bạch và sự thao túng của bộ máy tuyên truyền Kremlin có thể thấy rõ qua số phận của chính Janukovic. Sau 4 ngày mất tích, ông ta xuất hiện trong cuộc họp báo và tuyên bố rằng “không yêu cầu sự giúp đỡ của người anh em”, ngày hôm sau người Đại sứ tại OSN đưa ra một bức thư mời, nghe nói là do Cựu Tổng thống ký, tuy nhiên chính ông Đại sứ cũng không thể khẳng định liệu có phải là chữ ký thật. Lại một lần nữa, Janukovic lại biến mất, thấy bảo là do ốm nặng. Nếu như mai này truyền thông có thông báo ông cựu Tổng thống từ trần vì bị tai biến não, hoặc vì cơn bạo bệnh nào đó, thì cả nhân chứng ương bướng cuối cùng cũng sẽ không còn. Không ai biết gì về tin tức của ông ta, không ai nhìn thấy ông ta. Không lẽ truyền thông tự do hoạt động như vậy hay sao? 

Những chuyển biến xung quanh vụ Crimea là sự mối đe dọa đến mức độ như nào đối với các nước còn lại ở Châu Âu? 

Mối đe dọa thường không bao giờ là trực tiếp, tuy nhiên chuỗi các lò lửa căng thẳng không sớm thì muộn, thế nào cũng động chạm đến chúng ta. Trước hết, một trật tự pháp luật sụp đổ sẽ không bao giờ không để lại hậu quả. Phương thức thành lập quốc gia bằng nguyên tắc công dân lại một lần nữa đã bị nước Nga thay thế bằng nguyên tắc mang tính dân tộc Blud und Boden (Máu và Đất), và như thế, chiếc bình Pandora đã bị mở ra trên khắp không gian thuộc hệ thống công sản cũ, nhưng đồng thời cũng mở cả ở những nơi khác, mà là nơi có đường biên giới phân chia các dân tộc. Luận thuyết “Crimea là của chúng ta vì ông cha ta đã đổ máu trên mảnh đất này” không phải là gì khác ngoài việc thực thi nguyên tắc Máu và Đất. Hãy nhìn xem, còn có biết bao nhiêu nơi mà đường biên giới có thể bị đặt dấu hỏi Nagorno-Karabakh, Transnistria, và người Hung ở Slovakia thì sao? Mà đấy là chưa nói đến nhiều nơi khác ở Balcan. 

Tại sao phương Tây lại yếu sức? Điều gì đã làm họ yếu đi đến vậy? 

Lời giải đáp cho câu hỏi này đang được các nhà tư tưởng ở khắp nơi trên thế giới tìm kiếm, và là nội dung của nhiều cuộc thảo luận nghiên cứu. Trên bình diện phổ cập nhất: chúng ta đang sống trong thời đại hậu-hiện đại (bây giờ có lẽ là hậu-hậu-hiện đại) khi mà quá trình tương đối hóa không dừng lại trước bất cứ một giá trị nào đã được công nhận trước đây. Hệ thống các giá trị cũ chưa được một hệ thống giá trị mới vẹn toàn thay thế, khoảng trống mới xuất hiện dễ dàng bị lấp đầy bởi các hình trạng ẩn khuất, cổ xưa, các thần linh ma quái đủ dạng, các huyền thoại thời trung cổ… Trong ngôn ngữ thực tế thì chính trị thời nay đã mất đi định hướng về các giá trị trong cuộc sống. Các nhà lãnh đạo chính trị yếu đuối, luôn bị buộc phải mua chuộc giới cử tri. Họ bị lệ thuộc vào ý nguyện của các cử tri ngày càng thiếu ý thức, vì thế họ thay đổi, và thậm chí nhiều khi họ ngưỡng mộ cả những giá trị kém cỏi của giới cử tri.  

Liệu chúng ta có cơ hội bảo toàn được mô hình dân chủ phương Tây trong tương lai xa, và có bảo toàn được xã hội phương Tây? 

Các ban viện quốc tế hiện nay đang không có khả năng hành động. Trên thực tế, sự can thiệp của họ luôn hàm chứa tinh thần của Hiệp ước Muchen, điều đó có nghĩa là phản xạ chính trị đầu tiên của họ là cố gắng bắt nước yếu phải nghe theo ý nguyện của kẻ mạnh hơn và hung dữ hơn. Điều này đúng cả với NATO và EU. Một sự lạm dụng các nguyên tắc của cuộc chơi vốn có hiệu lực từ cuộc chiến tranh cuối cùng, có lẽ sẽ dẫn đến điểm gẫy, đó là khi vì đã dẫn đến đụng độ, những nguyên tắc mới sẽ được thảo dẫn và một trật tự mới sẽ đươc thiết lập. 

Ông đánh giá thế nào thái độ của người Séc trong cuộc khủng hoảng này? 

Một cách tự nhiên, chính trường của Séc chia ra làm hai thể loại: Nửa đầu là một tập hợp kỳ quặc bao gồm cánh tả Bolsevic và những môn đồ cánh hữu, trong đó mỗi bên đều nhìn thấy trong sự trỗi dậy của đế quốc Nga cơ hội phục sinh cho ý thức hệ của chính mình mặc dù hai ý thức hệ đó là mâu thuẫn với nhau. Một bên thì hy vọng một cách vô ích rằng nỗi cay đắng trong xã hội Nga vì cái quá khứ cộng sản sẽ làm chủ nghĩa bolsevic hồi sinh, bên thứ hai có sự thành công của chủ nghĩa độc tài bảo thủ, họ gặp nhau trong niềm tin rằng tiềm năng sáng tạo của chế độ độc tài sẽ có khả năng ngăn chặn sự tan rã của nền văn minh phương Tây. Nửa thứ hai bao gồm những kẻ thiên về sức mạnh bạo lực theo truyền thống, họ có cảm giác, sức mạnh, đó mới là “vĩnh cửu” hoặc ít ra, sẽ bền lâu. “Những kẻ thích nghi” bắt đầu mơn trớn những kẻ tiềm tàng sức mạnh, theo nguyên tắc cẩn trọng thông thường. Và đó cũng là một cố gắng mang tính truyền thống. Những người can đảm rất ít, rất ít những người tự tin, rất ít những hình mẫu của cách xử sự đàn ông. 

Người dịch: Thanh Mai- vietinfo.eu (vietinfo.eu)

__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link