Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, March 27, 2014

Việt Nam suýt 'bị lừa' để ôm khoản nợ gần $56 tỷ

Việt Nam suýt 'bị lừa' để ôm khoản nợ gần $56 tỷ

25.03.2014 HÀ NỘI (NV) - Vụ nhận hối lộ 80 triệu Yen vừa đổ bể khiến người ta liên tưởng đến nỗ lực vận động thực hiện “Dự án đường sắt cao tốc Bắc ố Nam,” trị giá gần 56 tỷ USD, bị bác hồi 2010.

Vừa qua, do có một số dấu hiệu cho thấy công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transport Consultants - JTC) đã đưa hối lộ để được chọn làm nhà thầu, tư vấn cho các dự án thực hiện bằng viện trợ của Nhật ở Việt Nam, Indonesia, Uzbekistan, vi phạm luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật, các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhật đã mở một cuộc điều tra. 

Cuối cùng, ông Tamio Kakinuma, chủ tịch kiêm tổng giám đốc JTC, thú nhận đã đưa hối lộ ở cả ba quốc gia.


Một ga xe lửa ở Việt Nam. Scandal JTC khiến Việt Nam phải xem lại gần như toàn bộ các dự án phát triển đường sắt. (Hình: KN/Người Việt)

Riêng tại Việt Nam, JTC đã hối lộ 80 triệu Yen (khoảng 800 ngàn USD, tương đương 16 tỷ đồng Việt Nam,) để được chọn làm nhà thầu đảm trách vai trò tư vấn thực hiện một dự án phát triển đường sắt ở miền Bắc Việt Nam, trị giá 4,2 tỷ Yen.

Hồi tháng 6 năm 2010, sau khi dân chúng, báo giới và các chuyên gia phản đối quyết liệt kế hoạch thực hiện “Dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam” vì bất hợp lý, lãng phí quá lớn, chỉ tạo thêm khoản nợ khổng lồ cho quốc gia, dân tộc, Quốc Hội Việt Nam đã bác bỏ việc thực hiện dự án này, dù dự án cũng được xác định là chủ trương lớn của đảng, nhà nước.

Lúc đó, “Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-Sài Gòn” được xác định là “Dự án chiến lược của đường sắt Việt Nam,” nằm trong quy hoạch phát triển tổng thể đến năm 2020. 

Theo đó, sẽ xây dựng mới tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam dài 1.570 km, với 27 ga, ngốn hết 55 tỷ 850 triệu USD. Vào lúc trình dự án, các viên chức ngành giao thông-vận tải đã thuê các doanh nghiệp Nhật và Nam Hàn khảo sát, nghiên cứu lập báo cáo đầu tư.

Mới đây, khi trò chuyện với VTC News, ông Lê Như Tiến - một viên chức Quốc Hội Việt Nam, tâm sự, sự hăng hái, nhiệt tình của một số cá nhân hồi 2010 đối với “Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-Sài Gòn” đã từng khiến ông ta thấy nghi ngờ. 

Ông Tiến tiết lộ thêm rằng, lúc đó các viên chức ngành giao thông- vận tải từng tổ chức đưa một số cá nhân ra nước ngoài tham quan “đường sắt cao tốc” để tìm sự ủng hộ.

Từ khi “Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội- Sài Gòn” bị bác, các viên chức ngành giao thông-vận tải Việt Nam đã “chẻ nhỏ” dự án này để quy mô đầu tư có thể chỉ cần thủ tướng Việt Nam phê duyệt, chứ không cần thông qua Quốc Hội.

Tin mới nhất về những bê bối liên quan đến lĩnh vực phát triển đường sắt tại Việt Nam cho biết, trên thực tế, JTC-công ty Nhật đưa hối lộ để được chọn làm nhà thầu đảm trách công việc tư vấn cho một dự án phát triển đường sắt tại miền Bắc Việt Nam -ã vốn đã được chọn làm nhà thầu chào 14 dự án phát triển giao thông! Riêng trong lĩnh vực đường sắt, JTC được chọn làm nhà thầu của 5 dự án.

Vụ nhận hối lộ từ JTC đổ bể do điều tra của Nhật. Người ta chưa rõ nếu Nam Hàn cũng thực hiện cuộc điều tra tương tự thì có phát giác nhà thầu Nam Hàn được chọn để “khảo sát, nghiên cứu lập báo cáo đầu tư” cho “Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-Sài Gòn,” có phải đưa hối lộ như JTC hay không (?)

Sau khi những thông tin liên quan đến vụ đưa hối lộ của JTC được tờ Yomiuri Shimbun loan tải, chính quyền Việt Nam đã “tạm đình chỉ công tác” của ông Nguyễn Văn Hiếu, người đang là giám đốc ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam của tổng công ty đường sắt để “làm tường trình.”

Kế đó, họ tiếp tục “tạm đình chỉ công tác để làm tường trình” đối với các ông: Trần Văn Lục, giám đốc ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam của Cục Ðường Sắt thuộc Bộ Giao Thông-Vận Tải và Trần Quốc Ðông, Ngô Anh Tảo hiện đang cùng là phó tổng giám đốc của tổng công ty đường sắt Việt Nam.

Việt Nam cũng đã cử một viên thứ trưởng Giao Thông-Vận Tải sang Nhật để tìm thêm thông tin về vụ đưa - nhận hối lộ mà theo báo giới Nhật, đã được ông Tamio Kakinuma, chủ tịch kiêm tổng giám đốc JTC, khai báo chi tiết, song các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhật chưa công bố...

Chiều 24 tháng 3, một viên tướng là tổng cục phó Tổng Cục Cảnh Sát Phòng, Chống Tội Phạm, của Bộ Công An Việt Nam cho biết, công an Việt Nam đã yêu cầu thuộc cấp phối hợp với thanh tra của Bộ Giao Thông-Vận Tải, xem xét lại toàn bộ các dự án xây dựng đường sắt đô thị ở Hà Nội, xem có sai sót, vi phạm gì không.

Viên tướng này nói thêm rằng, công an Việt Nam sẽ thực hiện việc xác minh tin báo, tố giác về tội phạm cũng như thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nếu Nhật có yêu cầu.

Cùng thời điểm này, Bộ Giao Thông -Vận Tải Việt Nam đã quyết định thanh tra đột xuất hàng loạt dự án dự án đường sắt do tổng công ty đường sắt làm chủ đầu tư và những dự án có JTC tham gia: Dự án xây dựng đường sắt nội đô Hà Nội (tuyến Ngọc Hồi- Yên Viên), dự án xây dựng đường sắt đoạn Hạ Long-Cái Lân, Lim-Phả Lại, Phả Lại- Hạ Long. Các tiểu dự án do Cục Ðường Sắt thuộc bộ này làm chủ đầu tư cũng sẽ bị thanh tra.

Sự tích cực của Việt Nam sau scandal JTC được xem là vì Nhật luôn dẫn đầu trong việc cấp ODA cho Việt Nam và hồi 2010, Nhật từng cắt viện trợ do Việt Nam không quyết tâm điều tra vụ nhận hối lộ của PCI - một doanh nghiệp khác của Nhật - để chọn doanh nghiệp này làm nhà thầu đảm trách vai trò tư vấn cho dự án đại lộ Ðông-Tây ở Sài Gòn. (G.Ð)



Dù là đàn ông hay đàn bà

Dù là đàn ông hay đàn bà

Nguyễn Thị Từ Huy 

Thông Tin Đức Quốc - 27.03.2014












Tôi vừa đọc bài « Nhục » của Dạ Thảo Phương. Cảm ơn Thảo Phương. Tôi thực sự rất vui mừng khi đọc bài này. Bạn không đồng ý với tôi là đúng.

Chúng ta, những người phụ nữ, trong tư cách là con người, và trong tư cách công dân, không thể đẩy hết trách nhiệm lên vai những người đàn ông, cũng như không thể chối bỏ trách nhiệm của mình.


Vậy tôi có mâu thuẫn với chính mình không ?

Tôi nghĩ là không. Tôi viết bài « Bao giờ anh thôi sống hèn ? » trong bối cảnh ngày 8/3, ngày quốc tế phụ nữ. Chừng nào thế giới dẹp bỏ hẳn ngày này, chừng đó mới có bình đẳng giới thực sự. Chúng ta hướng tới sự bình đẳng giới, nhiều người đấu tranh cho điều này. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận một thực tế là :  bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, thậm chí ngay cả ở những nước văn minh nhất (ở Pháp chẳng hạn, vẫn có tình trạng lương của phụ nữ thấp hơn lương đàn ông, dù bằng cấp, chức vụ và năng lực thực tế có ngang nhau chăng nữa). Ở một nước như Việt Nam chúng ta, bất bình đẳng giới, trên nhiều phương diện, vẫn còn rất nặng nề. Chúng ta về nông thôn sẽ thấy một cách rõ rệt. Vẫn còn những nơi, vào dịp lễ tết, các mẹ, các chị, sau khi nấu nướng phục vụ xong, lặng lẽ ăn cơm dưới bếp. Cách đây vài chục năm, gia phả dòng họ tôi không ghi tên con gái. Tôi rất nhớ cái hôm xa xưa đó, lên thắp hương nhà thờ họ, tìm mãi không thấy tên mình trong gia phả, tôi đã hỏi tộc trưởng, cái câu hỏi rất trẻ con của tôi : « Sao không có tên con trong gia phả ? »

May mắn thay, sau đó đàn ông của dòng họ tôi đã thay đổi cách ghi gia phả, và đưa tên của  tất cả những người con gái vào cuốn sổ của dòng họ.

Chúng ta không thể chối bỏ thực tế là đàn ông vẫn đang là lực lượng chủ chốt quyết định gần như mọi hoạt động của xã hội này. Chúng ta cứ nhìn danh sách của những người lãnh đạo hàng đầu đất nước, những chức vụ quan trọng nhất : Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, sẽ thấy. Đã bao giờ có người phụ nữ Việt Nam nào đứng ở cương vị đó chưa ? Chúng ta chưa có ai ở vị trí của bà Angela Merken (thủ tướng Đức), của Margaret Thatcher (thủ tướng Anh), của Yingluck Shinawatra (thủ tướng Thái Lan) ? Có phải là vì phụ nữ Việt Nam bất tài hơn đàn ông ? Hay vì cơ chế và tâm lý xã hội không cho phép phụ nữ đứng ở những vị trí đó ? Dĩ nhiên để trả lời câu hỏi này đòi hỏi phải có những nghiên cứu xác thực, là điều mà tôi không thể làm được trong những bài viết dạng này, những bài viết ngắn gọn chỉ nhằm đưa ra một vài ý tưởng chủ đạo.

Phụ nữ Việt Nam, trong đa số trường hợp, còn là nạn nhân của bạo lực đàn ông. Theo một nghiên cứu, gần 60% phụ nữ Việt Nam từng bị chồng bạo hành.

Vậy, theo tôi, trong bối cảnh quyền lực về cơ bản còn nằm trong tay đàn ông như hiện nay, trong bối cảnh quyền quyết định đối với các vấn đề xã hội và gia đình vẫn còn chủ yếu nằm trong tay đàn ông, người đàn ông phải chịu trách nhiệm nhiều hơn đối với các vấn nạn xã hội ở Việt Nam. Nhưng điều này không có nghĩa là phụ nữ được miễn trừ trách nhiệm.

Dù nhìn vấn đề ở góc nào, tôi cũng đồng ý với Dạ Thảo Phương ở điểm này : với tất cả khác biệt về giới tính, phụ nữ cũng là công dân trong xã hội và vì thế phải đảm nhận các trách nhiệm công dân của mình, đồng thời cũng phải được hưởng các quyền lợi công dân của mình, như mọi công dân khác.

Và vì không thể đổ trách nhiệm cho một mình đàn ông, nên cũng không thể đổ trách nhiệm cho một mình giới lãnh đạo được. Nếu nhà nước có thể lãnh đạo theo cách hiện nay, thì bởi vì hầu như tất cả mọi người chấp nhận cách lãnh đạo đó, không bộc lộ ý kiến, không bộc lộ thái độ, mà trái lại, nhiều trường hợp còn khai thác sự yếu kém (tự nhiên và cố tình) của bộ máy lãnh đạo để thủ lợi cho bản thân

Tóm lại, để công bằng thì phải nói : nếu để mất nước, nếu để xã hội hỗn loạn, mất nhân tính, mất tình người, thì không chỉ Đảng và Nhà nước phải chịu trách nhiệm, và tất cả các công dân trên đất nước này đều phải chịu trách nhiệm, dù là nam giới hay nữ giới.

Sài Gòn, 26/3/2014
Nguyễn Thị Từ Huy
Nguồn:QuêChoa                                                                                                                           http://www.ttdq.de/node/1272 



Wednesday, March 26, 2014

Bất công xã hội là nguồn gốc của cách mạng lật đổ

Bất công xã hội là nguồn gốc của cách mạng lật đổ










Le Nguyen (Danlambao) 


- Bất công bộc lộ qua nhiều hình thái. Bất công xã hôi là nguyên nhân đấu tranh cách mạng qua mọi thời đại nhằm lật đổ các tổ chức cai trị thô sơ của thời bộ lạc man rợ đến các tổ chức cai trị quy mô lúc loài người văn minh biết thiết lập bộ máy nhà nước. Ngày nay bất công xã hội vẫn là “chân lý không bao giờ thay đổi” của nguồn gốc tác động lên các cuộc cách mạng lật đổ những nhà nước không tạo được công bằng xã hội cho người dân... Đó là chưa nói đến nguyên nhân độc tài tàn bạo của chế độ gây ra bạo loạn lật đổ.
Trải nghiệm từ thực tiễn đời sống đến lịch sử của các mô hình tổ chức xã hội loài người giúp cho con người hiện đại nhận ra nền tảng để điều hòa trong xây dựng, phát triển nhằm giảm thiểu bất công - vì không thể triệt tiêu bất công. Điều kiện tiên quyết để bảo vệ công bằng xã hội, chống áp bức bất công phát tác cho mọi mô hình tổ chức nhà nước là quyền con người phải được tôn trọng, công lý phải được thực thi và quyền bình đẳng trước pháp luật áp dụng cho mọi công dân phải được thực hiện trong hiện thực đời sống! 

Những điều kiện tiên quyết như quyền con người, công bằng, công lý... giúp giảm thiểu bất công, không hề tồn tại trong đời sống thực tiễn của người dân Việt Nam. Quyền con người, công bằng, công lý... chỉ tồn tại trên các văn kiện pháp lý, chính xác hơn là chỉ nằm trên các con chữ vô hồn và nằm trong các tờ giấy vô tri của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam. 

Ở Việt Nam hiện nay, quyền con người bị chà đạp thô bạo, công lý nằm trên thanh gươm, lá chắn của lực lượng công an còn đảng, còn mình và công bằng thực chất chỉ hiện diện trên các bài diễn văn, thông điệp dầy đặc chữ của các lãnh đạo đảng, nhà nước trong các sự kiện chính trị “quan trọng” của cộng sản Việt Nam.

Chính vì nguyên nhân đó, nên bất công xã hội trong nước Việt Nam ở thế kỷ 21, thế kỷ hòa bình được nhân loại ưu ái gọi là thế kỷ của ánh sáng văn minh và chế độ cộng sản vẫn còn “man rợ” trong cai trị, “rừng rú” trong việc thực thi luật pháp khiến bất công xã hội không những không được cải thiện, không bị đẩy lùi mà ngày càng hoang dã, nghiêm trọng, đáng sợ hơn. 

Ngay thời điểm này, nhân loại đều biết kinh tế quốc doanh, kinh tế chỉ huy nói chính xác hơn là kinh tế cộng sản “rừng rú” với kinh tế tư doanh, kinh tế tự do còn được gọi là kinh tế tư bản “hoang dã” không có khả năng đem đến công bằng xã hội cho con người trên phương kinh tế- xã hội. 

Dù vậy ai cũng biết, kinh tế tư bản hoang dã đã biết tự điều chỉnh, dần dần loại trừ “hoang dã” ra khỏi đời sống kinh tế văn minh của các nhà nước dân chủ tiên tiến thời hiện đại. Theo nhận xét khách quan không bị cảm tính chi phối và là người lương thiện, công chính không ai có thể phủ nhận hiệu quả của cặp phạm trù chính trị dân chủ - kinh tế tự do trong quản trị điều hành nhà nước, thực thi công bằng xã hội qua mỗi bước phát triển của lịch sử loài người rất ấn tượng. Dù cặp phạm trù này chưa thật sự hoàn hảo nhưng cũng đã đáp ứng được nguyện vọng tự do, ấm no, hạnh phúc của người dân và thịnh vượng của quốc gia thời hiện đại.

Mọi người đều thấy, trong lúc kinh tế tư bản hoang dã đã có những bước chuyển đổi ngoạn mục ngày càng rời xa hoang dã như khi nó mới sinh ra đời. Thế mà kinh tế quốc doanh, kinh tế cộng sản “rừng rú” vẫn sai lầm nối tiếp sai lầm, hoang tưởng chồng chất lên hoang tưởng và kinh tế cộng sản đã chết lâm sàng, đã phá sản trong thực tế, nó chỉ còn lại cái xác cồng kềnh hôi thúi, là gánh nặng khổ nạn của nhân loại nhưng cộng sản Việt Nam vẫn sử dụng để tiếp tục lừa gạt những kẻ ngu tối, mê cuồng cộng sản. 

Hiện nay loài người văn minh, nhất là những lãnh đạo chính trị lương thiện, khôn ngoan có tầm nhìn trí tuệ... một lòng vì dân vì nước, vì tương lai hùng cường thịnh vượng cho dân nước mình nên họ đã thẳng tay gạt bỏ mô hình kinh tế chỉ huy, kinh tế cộng sản rừng rú ra khỏi đời sống kinh tế của đất nước họ. Bên cạnh đó, những lãnh đạo lương thiện, khôn ngoan họ cũng không buông lỏng quản lý, họ tận lực quản lý quốc gia theo cách khoa học, trí tuệ để không cho kinh tế tư bản hoang dã đội mồ sống lại với loài người văn minh thời hiện đại.

Hầu hết các lãnh đạo chính trị của các nước văn minh trên thế giới đều có tư duy tầm nhìn, có phát ngôn hành động với cùng tầng số lương thiện, khôn ngoan biết làm điều gì mang lợi ích tốt nhất cho dân cho nước họ! Thế nhưng lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam từ bé tới to, ngoài đặc tính nói láo không ngượng mồm, vẫn cứ lải nhải thứ tư tưởng giẻ rách “lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo” là nguyên nhân gây tàn dân hại nước lẫn bất công xã hội tràn lan, trầm trọng như căn bệnh ung thư giai đoạn cuối mà ai cũng thấy. 

Cụ thể cho tư tưởng giẻ rách này là lời phát biểu trong diễn văn do kẻ khác soạn buộc phải đọc của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

“Đảng không bao giờ bỏ chức năng lãnh đạo kinh tế. Mấy năm vừa rồi không có Ban Kinh tế song chức năng tham mưu, đề xuất, giám sát kinh tế vẫn giao cho Văn phòng Trung ương Đảng. Khi đó, nhận thức muốn gọn bộ máy mới giao cho Văn phòng chứ không phải bỏ.”(*)

Không khó để nhận ra, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thoi thóp thở, sự sống tùy thuộc vào lòng “nhân đạo” “hảo tâm” của các nước “tư bản giẫy hoài không chết” nhưng các lãnh đạo cộng sản vẫn cứ thi nhau leo lên diễn đàn nói láo trơ trẻn không biết xấu hổ. Không riêng gì ông thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, xếp hàng sau lưng ông Dũng nói láo còn có ông Vũ Đức Đam, Phạm Vũ Luận, Phạm Bình Minh... và cụ thể là lời phát biểu của ông phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong buổi lễ tổng kết 30 đổi mới kinh tế theo kiểu ăn nói đánh tráo khái niệm của dân anh chị xã hội đen “không có đảng không có đổi mới” của ông Đỗ Mười, nguyên tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam:

“...Sau gần 30 năm đổi mới, các yếu tố cấu thành cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được tạo lập và đi vào hoạt động, từng bước hoàn thiện.

Những thành tựu đổi mới về kinh tế cùng với đổi mới về chính trị đã tạo nên bầu không khí dân chủ mới trong xã hội; tạo nên động lực mới, đưa đất nước không chỉ thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội mà còn vươn lên nhóm nước có mức thu nhập trung bình, làm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế - xã hội của đất nước...”

Chúng ta đã đạt được những thành tựu nổi bật về xoá đói giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên rõ rệt so với thời kỳ trước đổi mới...”(**)

Thực tiễn đời sống kinh tế của người dân trong nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã lột trần bộ mặt gian trá trong phát ngôn của các lãnh đạo cao cấp có trách nhiệm trong đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam. Không cần các thế lực thù địch dựng chuyện, phỉ báng nói xấu các chính sách xây dựng, phát triển đã tạo ra bất công xã hội vượt xa thời tư bản hoang dã lẫn thời thực dân đế quốc do các chính sách rừng rú của đảng cộng sản gây ra. Để nhận diện rõ hơn cần nhìn vào các chính sách gây bất công xã hội phát sinh từ nền kinh tế quốc doanh, cụ thể là điện, nhiên liệu...

Độc quyền kinh doanh điện, nhiên liệu nhưng các công ty độc quyền này cứ lỗ năm này qua năm khác và phẩm chất hàng hoá, dịch vụ phục vụ người tiêu dùng, ngày càng kém hơn chứ không được cải thiện. Điều này có thể nhìn thấy qua các lưới điện dầy đặc chi chít như các tổ nhện năm sau nở to hơn năm trước nằm trong các thành phố và giá thành điện không rẽ, nếu không nói giá cả cao quá sức chịu đựng của thành phần lao động nghèo. 

Về tài nguyên xăng dầu, khoáng sản nhập khẩu hoặc trong lòng đất các tập đoàn quốc doanh độc quyền được nhiều ưu đãi, chỉ có việc tổ chức phân phối, tổ chức đào bới, hút lên bán gần như cạn kiệt và giá bán ngang ngửa, thậm chí cao hơn giá bán của các nước trong khu vực nhưng các công ty quốc doanh vẫn cứ lỗ... lỗ hoài lỗ mãi rất trái khuấy dễ gây bức xúc trong lòng người dân! 

Điều trái khuấy gây bức xúc, phẫn nộ hơn nữa là trong lúc các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế nhà nước, có một số công ty bị xóa tên, có một số nợ nần chồng chất mất khả năng chi trả, đời sống công nhân viên nghèo khổ lương không đủ sống, gia đình nheo nhóc. Trong khi đó, không ít các lãnh đạo trung, cao cấp của các tập đoàn nhà nước này than thở lương không đủ sống nhưng tài sản của chìm của nổi rải rác, từ trong nước lẫn theo chân các đứa con du sinh của họ ra nước ngoài không hề nhỏ.

Có thể nói, tất cả các cán bộ đảng viên lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nhà nước do đảng cơ cấu, chỉ định hay bổ nhiệm đều có cùng chung một mẫu số là chuyên môn kém, dù một số có bằng cấp cao ngất ngưỡng và ông bà nào cũng đều có khả năng ăn cắp, ăn trộm siêu tinh vi nhưng không ai chịu trách nhiệm cả. Đó là một trong nhiều nguyên nhân khiến cho nền kinh tế cộng sản đi từ lụn bại đến sụp đổ như nó đang là...

Dù hô hào kinh tế thị trường để đủ điều kiện gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế nhưng đảng cộng sản không hề từ bỏ độc quyền. Chúng độc quyền tất, không chừa thứ gì và khi hô hào kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng mở rộng độc quyền, chuyển giao độc quyền từ đảng đến các đảng viên tay chân, con cháu của các cụ cả... Thực chất bọn này chỉ có khả năng bóc hốt, phá hoại chứ không có khả năng đưa đất nước vươn ra biển lớn, vượt lên ngang tầm thời đại như có thời hệ thống tuyên truyền của đảng ra rả ngày đêm và đã từ từ giảm tầng suất rồi chìm nghĩm theo các quả đấm thép Vina, các tập đoàn kinh tế quốc doanh. 

Khác với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của độc tài cộng sản, nền kinh tế thị trường minh bạch của thể chế dân chủ đa đảng, là các cá nhân leo lên lãnh đạo các công ty, tổng công ty, tập đòan kinh tế của nhà nước hay tư nhân phải bằng chính tài năng thật sự, trong môi trường sàn lọc, cạnh tranh đấu tranh gay gắt với nhiều tài năng khác của thị trường tự do, cạnh tranh minh bạch lành mạnh mới có thể ngoi lên vị trí lãnh đạo.

Ở các nước theo chính thể dân chủ có kinh tế thị trường thì các ngành, không riêng điện, xăng dầu... nhà nước không giành độc quyền, và nếu như có tham gia vào kinh doanh các mặt hàng này, các công ty tư nhân được quyền cạnh tranh bình đẳng với công ty công ty quốc doanh, có luật pháp bảo vệ trong thực tế đời sống luật pháp của nước họ. Tuy nhiên với tổ chức nhà nước khoa học, thông minh không nhà nước dân chủ nào giành độc quyền kinh doanh các thứ vớ vẩn, vụn vặt với tư doanh như các nhà nước độc tài cộng sản. Chúng độc quyền lãnh đạo cả nhà máy sản xuất giấy đi cầu... để kém đến mức, không đủ cung cấp cho thị trường tiêu dùng, cho nhu cầu vệ sinh như trường hợp của nhà nước xã hội chủ nghĩa Venezuela của Nam Mỹ xảy ra mới đây! 

Qua quan sát phân tích với cái đầu tỉnh táo khoa học và tâm lý chung trên nền tảng con người. Không khó để nhận ra rằng, cha chung không ai khóc, không ai thương con mình bằng mình, không ai sót của của kẻ khác và đánh bạc bằng tiền của người khác ít ai thấy run tay. Chính vì tâm lý chung đó, khiến cho kinh tế quốc doanh sụp đổ, dù cho các nước xã hội chủ nghĩa cố gắng hết sức với nhiều biện pháp, phương thức đưa vào thí nghiệm đều thất bại.

Các nhà nước dân chủ hiện đại họ không hoàn toàn xóa bỏ quốc doanh, họ vẫn giữ lại một số ngành liên quan đến an ninh quốc phòng, kinh tế chiến lược... và những ngành nghề nào mà tư doanh vì lý do nào đó không thể tham gia được. Nhà nước dân chủ tham gia kinh tê hay can thiệp kinh tế chỉ nhằm điều tiết nền kinh tế vĩ mô, nhất là giám sát nền kinh tế phát triển minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và sử dụng biện pháp “kỹ thuật” nhà nước để điều chỉnh khoảng cách giàu nghèo không quá xa, bất công xã hội không trở thành nguy cơ đấu tranh cách mạng, bạo loạn lật đổ chế độ.

Để không phạm vào những sai lầm như khẩu hiệu của lý tưởng cộng sản “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu... công nhân làm chủ nhà máy, nông dân có ruộng cày... đảng lãnh đạo nhân dân làm chủ nhà máy quản lý...” xem ra rất tốt cho công bằng xã hội nhưng cộng sản không thực hiện được bởi độc quyền quyền lực chính trị, lãnh đạo tuốt tuồn tuột không chừa thứ gì kể cả chuyện yêu, chuyện cưới, chuyện sinh đẻ của người dân.

Đối lập với nhà nước độc tài cộng sản, nhà nước dân chủ đa đảng cho người dân làm chủ mọi mặt đời sống, tự quyết định cuộc đời của họ từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ trọng tài liêm chính để giữ nhịp phát triển công bằng xã hội, quản lý điều hành nguồn thu từ thuế khóa cũng như lợi nhuận tài nguyên quốc gia và phân bổ ngân sách hợp lý, phục vụ phát triển bền vững của quốc gia.

Cụ thể là mức thu nhập của người công nhân ở các nước có nền kinh tế thi trường với chính trị dân chủ so với lãnh đạo, với chủ nhân của các công ty có mức chênh lệch khá xa nhưng mức sống của thành phần lao động nghèo, nếu tính về nhu cầu vui chơi giải trí, ăn uống, chỗ ở khá thoải mái. Nhất là con cái của họ có rất nhiều cơ hội phát triển trong môi trường xã hội bình đẳng để vươn lên đời sống trung lưu thượng lưu, kể cả trở thành nhà khoa bảng lẫn chủ nhân hảng xưởng, công ty. Điển hình là không hiếm người thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba của người Việt tị nạn cộng sản đã vươn lên nắm giữ những vị trí danh giá trong xã hội, trong chính quyền của các nhà nước dân chủ.

Các nước dân chủ họ không giành độc quyền kinh tế, thể hiện nhà nước thông minh ở tầm cao bởi nhà nước không cần bỏ vốn, không quản trị điều hành công ty, không lo lời lỗ nhưng nếu các công ty tư doanh làm ăn có lời to nhà nước sẽ được chia từ 1/3 đến ½ tiền lời do các công ty này kiếm được qua hệ thống thuế khóa quy định từ 30% đến tối đa 45%. Với cách này còn hơn bỏ vốn hùn hạp chia lời, không sợ bị lỗ, không sợ bị cán bộ đảng viên ăn cắp, ăn trộm của công làm của riêng. 

Thế cho nên các nhà nước dân chủ không ngu dại “lấy quốc doanh làm kinh tế chủ đạo” nên mức sống của người dân ngày càng cao, càng giàu... Ngoài ra các nhà nước dân chủ thông minh cũng biết sử dụng vũ khí thuế khóa để thực hiện công bằng xã hội, để giữ bất công xã hội ở mức có thể chấp nhận được và thuế khóa cụ thể là thuế thu nhập cá nhân cũng là vũ khí để ngăn chận, đẩy lùi tham nhũng hiệu quả.

Nói chung ở các nước độc tài cộng sản, công bằng xã hội không có, bất công xã hội không được ngăn chận, đẩy lùi khiến mọi tầng lớp nhân dân bức xúc phẫn nộ nên ngày càng nhiều người dân tham gia các phong trào quần chúng tự phát “...tuyên truyền chống phá... âm mưu lật đổ ...” bởi bất công xã hội không thể bưng bít, không thể che dấu do nhà nước độc tài bao che nuôi dưỡng. Với tình hình này, sớm hay muộn cách mạng lật đổ chế độ cộng sản Việt Nam sẽ xảy ra bởi bất công xã hội là nguyên nhân, là nguồn gốc phát sinh cách mạng đấu tranh thay đổi thể chế chính trị đã diễn ra trong lịch sử phát triển xã hội loài người.





Khi cán bộ chính trị kiềm tỏa người tri thức


Khi cán bộ chính trị kiềm tỏa người tri thức





LMHT (Danlambao)


 


- Câu chuyện về thạc sĩ Nhã Thuyên và luận văn của cô đang bị hội đồng chấm lại một cách bí mật dưới sức ép từ trên xuống đang - đã và sẽ gây ra nhiều tranh cãi. Nó làm cho không ít người nhớ lại cuộc kiểm điểm bài Dư Âm (nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí), một Nhân văn - Giai phẩm của cái thời kỳ “cách mạng sôi nổi” ấy, hay gần đây nhất là một “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Sở dĩ có sự liên tưởng tương đồng như thế là vì tất cả đều có sự tham gia phát giác, đấu tố của các cán bộ chính trị trong các vấn đề mang tính học thuật, khoa học xã hội.

Cho nên mới có chuyện, những nhà phê bình văn học lại sử dụng luận điểm “phản lại chế độ” để chấm dấu hết cho cả một công trình nghiên cứu.

Cho nên mới có chuyện, cho điểm tuyệt đối, rồi ba năm sau lại xóa bỏ toàn bộ điểm dành cho một luận văn, loại bỏ những người từng chấm bài thi trước đó đã cho thấy sự can thiệp thô bạo của chính trị bấy lâu nay trong địa hạt học thuật.

Sự xâm phạm trắng trợn đó của cán bộ chính trị vào học thuật để làm cho cả nền học thuật bị đì, đặc biệt nền học thuật xã hội. Nó vẫn bị chi phối một cách giáo điều trong cái khuôn khổ được đặt ra về mặt tư tưởng, nó vẫn bị Marx - Lenin & chế độ XHCN bao vây, mọi yếu tố muốn thoát ra đều bị xử lý, xóa bỏ. Mọi thứ đã thay đổi, nhưng vẫn có những con người, vẫn có những giáo điều không bị thay đổi.

Báo Nhân Dân & Quân Đội Nhân Dân đã làm rất tốt trong việc làm sống dậy các câu từ đậm chất triệt tiêu giai cấp, đậm chất cách mạng đỏ như: “Nhân danh nghiên cứu để ca ngợi thứ "thơ" rác rưởi” [1]; “Một “góc nhìn” phản văn hóa và phi chính trị” [2]... Nó có khác gì so với những câu chữ của hàng chục năm về trước?, “Lật bộ áo "Nhân Văn - Giai Phẩm" thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm”.

Rất chân thực, rất thành công và đầy tính đấu tố tư tưởng/giai cấp. Những nhà phê bình văn học, những giảng viên đại học/ cao đẳng, những cử nhân văn học, hội viên hội Nhà văn đã trở thành những tuyên huấn lúc nào không hay, họ đem ngòi bút và cách nhìn đầy tính chính trị vào trong đánh giá học thuật thay vì là tri thức và sự tìm tòi - khám phá lẫn tính nhân bản. Để rồi con đường cuối cùng là quy kết vào cái gọi là “động cơ chính trị”. Tôi gọi đó là sự nhân danh tri thức hay lấy tri thức làm bình phong để đả phá tri thức của những công cụ chính trị.

Sự tồi tệ đó không phải là mới đây, mà ngay những năm 1956 (thế kỷ 20) ông Đào Duy Anh cũng đã từng cảnh báo: “Trong địa hạt khoa học tự nhiên, sự xâm phạm của những cán bộ chính trị vào địa hạt chuyên môn như thế cố nhiên là rất trở ngại cho công tác chuyên môn, nhất là công tác nghiên cứu khoa học. Trong địa hạt khoa học xã hội thì mối tệ cũng không kém”. [3]

Chính khi cán bộ chính trị vào giáo huấn tri thức về cách hành văn, nghiên cứu đề tài thì cũng là lúc hình ảnh trần trụi xơ xác của nền giáo dục Việt Nam phi nhân bản, rập khuôn, phục vụ chính trị lại trở nên rõ nét hơn cả. Đó là, cái trường ĐHSP Hà Nội (con chim đầu đàn của nền giáo dục Việt Nam, nơi đào tạo mỗi năm hàng ngàn nhà giáo, cử nhân) đã ra cái quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan. Tiếp đó, sự cúi rạp người của người tri thức đi đến đề nghị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều” và cho nghỉ hưu non đối với người hướng dẫn đề tài là PGS TS Nguyễn Thị Bình.

Như vậy, về bản chất khung tri thức khoa học bấy lâu nay không hề có sự thay đổi. Do đó, khi người ta đặt ra cái tính chính danh của Hội Đồng thì tôi nghĩ nên đặt ra câu hỏi về bản chất và cả tính chính danh của trường ĐHSP Hà Nội, của nền giáo dục Việt Nam là gì? Nếu không phải là cái công cụ dành cho cán bộ chính trị. Tư tưởng chính trị đã đè bẹt tư tưởng tự do học thuật.

Để rồi, “chính cái tư tưởng không tin và coi rẻ trí thức đã dẫn đến sự ứng dụng lệch lạc cái nguyên tắc rất đứng đắn về quyền lãnh đạo của chính trị, do đó công tác học thuật của chúng ta, về khoa học tự nhiên cũng như về khoa học xã hội, gặp nhiều cản trở mà vẫn bị hãm vào tình trạng lạc hậu.” [3]

Nền giáo dục khai phóng mà dân tộc đang cần, những nhà tri thức đúng nghĩa đang mong mỏi từ bấy lâu nay vẫn là một con đường xa ngái như PGS-TS Hoàng Dũng đã từng nhận định trong một bài viết trên Vietnamnet [4].

Sự an ủi dành cho những nhà tri thức giờ đây chính là tình yêu và sự kính của Thoan dành cho cô Bình cũng như cách sống thẳng, lòng nhiệt huyết, sự cởi mở và cả tôn trọng đối với lựa chọn của học trò mà cô Bình đã dành cho Thoan là câu trả lời quý giá nhất.

Chúng ta dung dưỡng điều đó để chờ một ngày giáo dục được khai phóng thực sự, thoát khỏi mọi sự kiềm tỏa của cán bộ chính trị. Đó cũng là ngày mà luận văn về nhóm “Mở miệng” được tôn vinh.





Chữ “Được” dưới thời Xã Nghĩa


Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) 




- Mấy hôm rày, đọc tin nhà giáo Đinh Đăng Định “được đặc xá” và Đại Úy Nguyễn Hữu Cầu “được thả”, tôi lại hồi tưởng đến “cụm từ” ngày xưa còn bé thường nghe trong vùng Việt Minh, “được đóng thuế nông nghiệp” hay “được đi dân công”, mà tội nghiệp cho chữ “Được” dưới thời xã nghĩa bị Kách Mạng hãm hiếp, Đảng bề hội đồng cực kỳ dã man. 

Trước hết là chữ “Được” trong trường hợp “Nhà giáo Đinh Đăng Định được đặc xá” và “Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu được thả”.

Ai cũng biết, một cách nôm na, khi nói được cái này, được thế kia là người ta nghĩ đến hai “đối tác”: bên cho và bên nhận. “Bên cho” là bên có cái gì đó, có một cách hợp tình hợp lý và hợp pháp. Một bầy ăn cướp xông vào nhà người ta, dí súng bắt trói chủ nhà lại, lấy hết tiền bạc báu vật, đến khi cảnh sát đến, phải trả lại của, cởi trói, thì không thể gọi là nạn nhân được cướp thả ra, song phải nói là bọn cướp phải thả nạn nhân. Bọn cướp có gì để mà cho, sao gọi việc nạn nhân lấy lại những gì thuộc về mình bị chúng tước đoạt là “Được”?. 

Hành động tương tự như đám cướp, Kách Mạng có quyền gì để tước đoạt hết quyền tự do của công dân Đinh Đăng Định, Nguyễn Hữu Cầu đã được ghi rõ ràng trong Hiến Pháp do chính Kách Mạng lập ra và đặt tay lên long trọng tuyên thệ chấp hành nghiêm túc. Đến nay, vì bị Quốc tế can thiệp, thấy không thể tiếp tục giam cầm hành hạ người ta, Kách Mạng buộc phải trả lại Tự Do cho ông Cầu và ông Định, như bọn cướp phả trả lại tài sản và cởi trói chủ nhà, nên không thể gọi là “được đặc xá” hay “được thả”. 

Đó là chữ “được” Kách Mạng được giữa trời, khi không mà có. Dưới thời Xã Nghĩa còn có chữ “được” bị dùng kiểu xỏ lá ba que để đâm vào mắt chọc vào tai thiên hạ. Đó là chữ “Được” trong “cụm” từ “Được đóng thuế, Được đi Dân Công.” 

Mời bạn chịu khó đọc những lời từ miệng loa Kách Mạng dưới đây vẫn còn văng vẳng bên tai Cu Tèo dù đã trên 60 năm, rồi nhâm nhi những chữ “Được” giữa một lô những “Bị”, “Phải”, “Phạt”, “Xử lý” trong đó: 

“A lô! A lô! Đồng bào nghe đây: Lệnh của Ủy Ban Nhân Dân xã: những ai có tên trong danh sách được đóng thuế nông nghiệp năm nay mau mau phải đóng trong ba ngày kề từ hôm nay. Ai nạp sau ngày quy định sẽ bị phạt; chẳng những phải đóng đầy đủ mà còn phải đóng thêm phần thuế phạt nhiều ít tùy theo thời gian trễ. Còn những ai không nạp sẽ bị xử lý nghiêm theo luật pháp, A lô, A lô.” 

“A lô! A lô! Đồng bào nghe đây: Lệnh của Ủy Ban Quân sự xã: những ai có tên trong danh sách được bình bầu đi Dân Công phải tập trung tại... đúng... giờ ngày để lên đường khẩn trương. Ai trốn tránh sẽ bị xử lý nghiêm chỉnh. A lô! A lô!” 

Đó là điển hình cho những chữ “Được” trong tiếng Việt dưới thời Xã hội Chủ nghĩa. Ngẫm mà phục cho con đường Kách Mạng Bác đi mà bọn chống phá tổ cò bảo là con đường bác đi nó làm bi đát đến cả chữ nghĩa Việt Nam. 




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link