Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, May 6, 2014

Các tổ chức xã hội dân sự yêu cầu VN tôn trọng quyền tự do lập hội


Các tổ chức xã hội dân sự yêu cầu VN tôn trọng quyền tự do lập hội

Ông Đinh Đăng Định, Nguyễn Đan Quế, Đinh Nhật Uy, Phạm Chí Dũng, Phạm Bá Hải và vợ ông Định - bà Đặng Thị Dinh, hình chụp ngày 16/2/2014 (http://fvpoc.org)
  • Tin liên hệ
  • Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc tế Mỹ đề nghị đưa VN vào danh sách CPC
  • Hoa Kỳ thêm 8 nước vào danh sách vi phạm tự do tôn giáo
  • Dân biểu Mỹ đáp trả sự chỉ trích của báo chí Việt Nam
  • Nghe Bs Nguyễn Đan Quế được đề cử Giải Nobel Hòa Bình và Giải Nhân quyền Gwangju 2014
  • Nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung hối tiếc vì nhận tội, xin khoan hồng
  • Các nhà hoạt động VN tới Mỹ vận động cho tự do báo chí
  • Ai đã vận động cho tự do của tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ?
CỠ CHỮ 
05.05.2014
Các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam ra Tuyên bố chung yêu cầu nhà nước tôn trọng quyền tự do lập hội của công dân theo đúng Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế mà Hà Nội đã tham gia ký kết.

Tuyên bố ngày 4/5 của 13 tổ chức trong nước được đưa ra sau khi Hội Cựu Tù nhân Chính trị bị an ninh sách nhiễu và yêu cầu phải chấm dứt hoạt động.

Thành viên ban điều hành Hội Cựu Tù nhân Chính trị, cựu tù nhân lương tâm Phạm Bác Hải, nói với VOA Việt ngữ:

“Chúng tôi muốn nhấn mạnh quyền tự do lập hội cho các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam và quyền không bị quấy nhiễu. Chính quyền không thể cứ tiếp cận gia đình những người bất đồng chính kiến, quấy nhiễu và áp lực để những người bất đồng chính kiến ngưng các hoạt động bảo vệ nhân quyền. Đó là hai ý chính trong bản Tuyên bố chung chúng tôi vừa đưa ra.”

Ông Hải cho biết an ninh Việt Nam cáo buộc hoạt động của Hội là bất hợp pháp vì không xin phép nhà nước. Về vấn đề ‘đăng ký’ và ‘xin phép’ đối với các tổ chức xã hội dân sự trong nước, ông Hải nói:

“Việt Nam không hề có luật về lập hội, dường như không hề có cơ hội cho các tổ chức độc lập ngoài nhà nước được hình thành và hoạt động. Cụ thể như Hội Bạch Đằng Giang, sau khi tôi ra tù, tôi đã cố gắng đăng ký với nhà nước, nhưng rõ ràng không những họ không cho phép mà còn quấy nhiễu những thành viên tham gia đứng đơn đăng ký. Cho nên, với Hội Cựu Tù nhân Chính trị, theo cơ chế hiện hành, cũng sẽ không bao giờ có cơ hội để đăng ký, cho nên chúng tôi vẫn tiếp tục hoạt động.”

Tuyên bố chung của 13 tổ chức xã hội dân sự  trích dẫn điều 21 trong Công ước quốc tế về Quyền Chính trị và Dân sự được Việt Nam ký năm 1982 nêu rõ ‘quyền hội họp ôn hòa phải được công nhận’ và ‘không bị hạn chế’.

Tuyên bố cũng đề nghị quốc hội Việt Nam khẩn trương ban hành luật lập hội để các tổ chức xã hội dân sự trong nước có thể tiến hành các thủ tục hoạt động theo quy định.

Các tổ chức xã hội dân sự đồng ký tên trong Tuyên bố khẳng định họ bác bỏ yêu cầu của nhà cầm quyền buộc họ phải chấm dứt hoạt động.

Họ cảnh báo rằng nếu tiếp tục bị gây sức ép hoặc bị sách nhiễu, họ sẽ xét tới việc khiếu nại lên các cấp thẩm quyền trong nước và quốc tế.

Đây là lần đầu tiên các tổ chức xã hội dân sự độc lập trong nước đồng ký tên vào một Tuyên bố chung phản ứng trước các vi phạm về quyền tự do lập hội của người dân giữa bối cảnh xã hội dân sự tại Việt Nam đang manh nha phát triển.

Mỹ thúc đẩy Việt Nam tôn trọng tự do ngôn luận của người dân

Nghệ sĩ Kim Chi và ông Ngô Nhật Đăng
Nghệ sĩ Kim Chi và ông Ngô Nhật Đăng
@thanhnienconggiao

Tú Anh

Trong những tuần qua tại Hoa Kỳ và Việt Nam diễn ra hàng loạt sự kiện trong chiều hướng tranh đấu nhân quyền, tự do ngôn luận và báo chí độc lập. Phía chính quyền Việt Nam cũng có một số cử chỉ thiện chí tuy chỉ mang tính biểu tượng, thả một số nhà dân chủ như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi. Hà Nội cũng có một số động thái kêu gọi « hòa giải » nhưng thực hư chưa rõ ra sao.

Nhà báo Phạm Trần từ Washington

05/05/2014

More


Các động thái « trao đổi này » mang ý nghĩa gì ? Chính phủ và Xã hội dân sự Mỹ làm gì để giúp hình thành hệ thống thông tin đa chiều tại Việt Nam?
Từ Washington, nhà báo Phạm Trần phân tích :
Nếu nhìn lại chặng đường gần 20 năm bang giao Việt-Mỹ thì trong 5 tháng đầu năm 2014 phải được coi là thời gian thành công nhất của Hoa Kỳ trong nỗ lực đòi thả tù chính trị và tăng cường áp lực để Việt Nam phải nhìn nhận quyền tự do ngôn luận của người dân.
Hai nữ dân biểu Loretta Sanchez và Zoe Lofgren và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã thành công trong việc đưa được một số Blogger và nữ nghệ sĩ Kim Chi đến Washington để họ trình bày về thực trạng tự do ngôn luận ở VN.
Mặt khác, hai công ty Google và Access của Mỹ chuyên về cung cấp các phương tiện truyền thông đã hứa sẽ giúp cho các Blogger Việt Nam phương tiện để hoạt động ngay trên lãnh thổ của mình để hướng tới một nền báo chí độc lập, bên cạnh nền báo chí của nhà nước…”
Có thể nói Hoa Kỳ trong thời gian gần đây đã thành công trong việc thúc đẩy Nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, ông Vi Đức Hồi và anh Nguyễn Tiến Trung,nhưng cái giá mà Hoa Kỳ sẽ phải "đáp lại thiện chí của Việt Nam" có thể giúp Việt Nam gia nhập Hiệp ước Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP (Trans-Pacific Partners) hay không….? "

Xung đột về đất đai và sở hữu toàn dân

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-05-05

000_Hkg6934575-600.jpg
Căn nhà của gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bị đập phá trong ngày chính quyền tiến hành lệnh cưỡng chế 10/2/2012. Ông Đoàn Văn Vươn hiện đang bị tù.
AFP photo

Cuối tháng tư, gần đến ngày mà lý thuyết cộng sản trên thực tế phủ lên trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thì tại một làng quê không xa thủ đô Hà Nội, gần 1000 người của lực lượng công quyền dẹp tan sự kháng cự cuối cùng của vài gia đình nông dân, và thế là hoàn tất việc trưng thu đất đai mà nhà nước cho là để phục vụ các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Làng quê đó tên là Dương Nội, cũng như nhiều làng quê khác từ bắc chí Nam, trong những năm qua đã chứng kiến những xung đột giữa nông dân và chính quyền trong chuyện đất đai. Xung đột đó đôi khi dẫn đến đổ máu như ở Tiên lãng Hải phòng cách đây vài năm, hay vụ Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình hồi năm ngoái.

Danh sách các làng quê đó ngày càng dài, hai làng mới nhất mà người ta ghi nhận sự hiện diện của bạo lực, là Bắc Sơn tại tỉnh Hà Tĩnh, và Sơn Hải tại tỉnh Ninh Thuận. Tại Bắc Sơn, dân làng chống việc lấy đất “của họ” làm nghĩa trang cao cấp. Tại Sơn Hải, dân làng chống việc lấy đất “của họ” để khai thác khoáng sản, tàn phá môi trường trong lành.

Điều trớ trêu là về nguyên tắc những người nông dân được hình ảnh một lưỡi liềm vàng rất đẹp đại diện cho họ trên lá cờ của đảng cộng sản. Nay những đội quân đứng dưới lá cờ này lại kéo nhau đến những làng quê ấy lấy đi những miếng đất mà người nông dân cho là “của họ.”

Nguyên nhân của sự trớ trêu đó chính là nguyên tắc công hữu về tư liệu sản xuất của chủ nghĩa cộng sản, mà trong trường hợp những người nông dân, chính là đất đai. Đất đai ấy thuộc về toàn dân chứ không phải là “của họ.”

Tuy nhiên trên thực tế người nông dân vẫn xem những miếng đất mà họ cày cấy nhiều thế hệ là “của họ” và họ sẽ để lại cho con cháu, và đó cũng là những mảnh tài sản đất đai mà tổ tiên để lại cho họ. Một người dân ở Sơn Hải, Ninh Thuận nói về những mảnh đất “của họ” bị lấy để khai thác quặng titan:
Nói chung đất đó là của tổ tiên ông bà, nhưng mà người ta về người ta khai thác quặng titan. Họ cứ làm cái công ty khai thác cát đen, vô trong xã làm giấy tờ với xã vậy thôi à.”

Sở hữu toàn dân về đất đai ở Sơn Hải như vậy được ủy ban xã Sơn Hải đại diện. Và kết cục là khu nhà của công ty khai thác quặng bị đốt cháy, vài trăm người dân xuống đường bạo động, vài người bị cầm giữ vì tội gây rối trật tự công cộng.

Đương nhiên gây rối trật tự công cộng thì phải bị trừng phạt, nhưng phải chăng là phải tìm cho được nguyên nhân nào dẫn đến chuyện liên tục dân chúng gây rối trật tự công cộng đến nỗi bị cầm tù.
Khát khao có quyền sở hữu
000_Hkg8584638-250.jpg
Nông dân Dương Nội trong một lần lên thành phố Hà Nội khiếu kiện về đất đai. AFP photo
Một làng quê khác là Trịnh Nguyễn tại tỉnh Bắc Ninh cũng chứng kiến sự xung đột giữa cơ quan công quyền và những người nông dân giữ đất. Nỗ lực giữ đất cuối cùng đã bị dẹp tan vào tháng 10 năm 2013. Nhiều nông dân cũng bị bỏ tù. Người ở tù lâu nhất là ba tháng trao đổi với chúng tôi về quyền sở hữu ruộng đất sau khi ông ra tù:
Dân mất đất rồi, hết đất rồi. Đúng ra nếu nói cái quan điểm trong vấn đề làm chủ ruộng đất, thì khi người ta làm chủ ruộng đất thì đó là cái sự sinh nhai, là quyền lợi sống. Người nông dân chỉ có ít đất để sống thôi. Thế thì cái quyền lợi đấy người dân phải được.”
Sự khát khao ấy về quyền sở hữu trên chính mảnh đất nuôi sống bao thế hệ nông dân đã một lần nữa bị phủ nhận bằng Hiến pháp 2013. Hiến pháp này không công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Người nông dân làng Trịnh Nguyễn nói tiếp với chúng tôi về cái ông cảm nhận được từ pháp luật và Hiến pháp:
Nhân dân làm chủ thì cái góc độ nhân dân và nhà nước nó giới hạn như thế nào. Làm chủ mà có giới hạn, người ta không có quyền gì so với thực tế. Thế cho nên tôi mới thấy là không có sự logic trong cái Hiến pháp để mà hai bên thỏa thuận, hai bên rõ ràng, vì thế nên mới sinh ra đụng độ.”

Khi bản Hiến pháp 2013 được ra đời, Tiến sĩ xã hội học Trịnh Hòa Bình nói với đài RFA về mối nguy hại khi quyền sở hữu tư nhân về đất đai không được công nhận:
“Ở nông thôn chúng tôi gọi là vấn đề dân cày cách nay hàng mấy chục năm đã được xới lên và vẫn chưa kết thúc. Còn ở thành thị, không phải là ruộng cày nhưng miếng đất để cư trú, đồng thời cũng là tài sản lớn nhất và liên quan đến quyền sở hữu của người dân thì chính là khâu tôi nghĩ rằng là 1 bài toán đang rất bức xúc, đòi hỏi phải có lời giải”.

Một trớ trêu nữa của lịch sử chiến tranh và cách mạng ở Việt Nam là những người nông dân đã từng ủng hộ đảng cộng sản trong quá khứ chính vì khẩu hiệu ruộng đất cho dân cày. Ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên kỳ cựu cho chúng tôi biết như thế lúc còn sinh thời.
Nữ nghệ sĩ Kim Chi, người có mặt tại thủ đô Hoa Kỳ vào tháng tư năm nay để vận động cho nhân quyền và tự do báo chí nói với chúng tôi về quyền sở hữu đất đai cho người nông dân trong một cuộc phỏng vấn:

“Người ta phải dùng cả mạng sống của mình để đòi lại đất đai các thứ. Và tôi thấy rằng là một chế độ gì mà kỳ như vậy, người nông dân người ta phải có cái sở hữu. Chính cái hình ảnh đó ghim vào đầu tôi làm tôi đau lắm. Hay như hàng ngày tôi đi qua con đường Thanh Niên tôi thấy dân oan đeo cái biển Trả đất cho tôi. Ai đẩy họ ra đường như vậy? 

Và bà cũng cho rằng quyền sở hữu đó là quyền tự nhiên của mọi người.
Một quốc gia thất bại là thế nào?
000_Hkg9106943(1)-250.jpg
Một gia đình nông dân Hmong ăn trưa trên cánh đồng. AFP photo
Tháng năm 2013, Nhà xuất bản Trẻ tại TP HCM xuất bản quyển sách mang tựa đề Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail?) của hai tác giả là Daron Acemoglu và James Robinson từ đại học MIT hàng đầu của Hoa kỳ. 

Trong quyển sách này các tác giả cho rằng các quốc gia nghèo khó, kém phát triển vì mô hình kinh tế xã hội của họ theo kiểu khai thác cạn kiệt, loại trừ mọi sáng kiến (Extractive). Một điểm chung của nhiều quốc theo mô hình này là không có quyền sở hữu tư nhân, trong đó có các quốc gia cộng sản.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong những người thành lập tổ chức tư vấn độc lập đầu tiên tại Việt Nam, là tác giả của một trong số các bản dịch của quyển sách này. Ông nói rõ hơn về hai mô hình kinh tế xã hội được nêu:

Một thể chế gọi là bao hàm, dung nạp, coi trọng người dân, làm cái gì cũng kéo người dân vào, và phục vụ cho người dân. Nói chung đó là thể chế của những nền dân chủ hiện đại, có một nền pháp trị nghiêm minh. Còn chế độ kia gọi là khai thác, khai thác tất cả các tài nguyên. Ví dụ như kiểu chế độ Liên xô trước đây chẳng hạn.
Hai tác giả đã đưa ra những dẫn chứng lịch sử cả trăm, thậm chí cả ngàn năm để cho thấy các quốc gia giàu có là theo chế độ dung nạp, còn chế độ khai thác thì làm cho quốc gia nghèo khó. Nó cũng có thể phát triển trong một lúc nào đó nhưng không thể bền vững được.”

Quyền định đoạt là động lực của phát triển
Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng giải thích thêm về sự quan trọng của quyền sở hữu, và tại sao quyền sở hữu lại được xem là thành phần quan trọng của các thể chế làm cho các quốc gia trở nên giàu có.
Quan trọng của vấn đề sở hữu, mà nói toạc ra là sở hữu tư nhân về tài sản, về tư liệu sản xuất, về đất đai, về máy móc, về nhà máy. Những thể chế có tính năng ấy thì chưa chắc đã làm cho chế độ trở nên dung nạp, nhưng mà nếu không có thì chắc chắn là không.
Sở dĩ vấn đề sở hữu nó quan trọng là vì trong bất kể nền kinh tế nào, dù người kinh doanh là cá nhân, là gia đình, hay là một công ty thì nếu cái sở hữu tư nhân của người ta được tôn trọng thì người ta được khuyến khích, được một động lực rất là lớn, làm cho tài sản sinh sôi nảy nở ra. Còn ở các chế độ không coi trọng quyền sở hữu thì nó sẽ không khuyến khích những người làm kinh tế, vì người ta không có quyền định đoạt dù người ta làm vất vả.”

Giải thích của Tiến Sĩ Nguyễn Quang A về quyền định đoạt thực sự giống với lời nói của người nông dân làng Trịnh Nguyễn sau khi được trả tự do vì xung đột đất đai.

Tuy nhiên cho đến nay, chính phủ Việt Nam vẫn thường xuyên nêu cao vai trò của thành phần kinh tế nhà nước làm chủ đạo, và thế là sự can thiệp của nhà nước là rất lớn trong định chế kinh tế xã hội của Việt Nam. Nhưng mặt khác, chính phủ Việt Nam thường lên tiếng với các quốc gia đối tác quan trọng như Hoa Kỳ, yêu cầu sự công nhận của họ rằng Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Điều này thể hiện rõ qua câu khẩu hiệu khó hiểu: Kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Một chuyên gia kinh tế từ Hà Nội là Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong dường như cố gắng giải thích câu khẩu hiệu đó khi ông cho rằng “kinh tế nhà nước gồm cả những phần tài sản liên quan tới tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tài nguyên trên trời cũng như dưới lòng lãnh hải của Việt Nam”
Điều ông Nguyễn Như Phong phát biểu hòan toàn đúng theo Hiến pháp 2013, nói rằng đất đai là sở hữu toàn dân.
Lịch sử quyền tư hữu ở Việt Nam và tương lai
000_Hkg9232650-250.jpg
Một nông dân ở Hà Nội. AFP photo
Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng trong quá khứ người nông dân Việt Nam cũng đã từng có quyền sở hữu đất đai của mình.
Chúng ta xem xét luật Hồng Đức (đời nhà Hậu Lê) chẳng hạn thì có sự quy định rất chi tiết. Có đất gọi là đất công, của nhà nước hay là của Vua. Có đất thuộc cộng đồng tức là thuộc làng, thuộc dòng họ. Và có đất tư nhân. Nếu ai đó nói rằng Việt Nam thời quân chủ không có sở hữu đất tư nhân thì không đúng.”

Không hoàn toàn đồng ý với ý kiến này về lịch sử của quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam, ông Dương Trung Quốc, hiện là đại biểu quốc hội tỉnh Đồng Nai nói:

Tôi nghĩ rằng trong chế độ phong kiến thì các cơ cấu xã hội chủ yếu nằm ở làng xã. Về mặt nguyên lý thì đất là của Vua. Người ta phải giải quyết quan hệ đất công tư trong các làng xã. Nó không giải quyết được mối quan hệ đó cho nên nó mới thực hiện chế độ quân điền. Tức là khi sở hữu tư nhân phát triển đến mức độ nào đó tạo nên mâu thuẫn xã hội đụng đến lợi ích quốc gia nên phải có chuyện điều chỉnh lại trong các làng xã. Vì thế qui định của luật Hồng Đức cũng chỉ là nguyên tắc thôi.”

Điều ông Dương Trung Quốc đưa ra về sở hữu ruộng đất dưới chế độ phong kiến như vậy cũng giống nhận định của hai tác giả quyển sách Tại sao các dân tộc thất bại? khi hai ông dẫn chứng về các chế độ chuyên chế phương Đông. Và đó cũng là các chế độ đi đến ngõ cụt, không phát triển được như lịch sử đã chứng minh về sự gục ngã của đế chế Trung Hoa.
Điều đáng nói là sở hữu của nhà nước hay của Vua ấy được lập lại trong Hiến pháp 2013 khi qui định đất đai sở hữu toàn dân. Hơn nữa còn lại ghi thêm rằng nhà nước có quyền thu hồi vì những dự án phát triển kinh tế xã hội. Ông Dương Trung Quốc nói:
Trong luật còn qui định nhà nước có quyền thu hồi đất cho lợi ích công cộng, thế nhưng lợi ích kinh tế phát triển là như thế nào thì mỗi người giải thích một cách khác nhau, nó đụng chạm đến lợi ích của những người đang sử dụng mảnh đất ấy.”
Thực tế các vụ xung đột về đất đai chính là do cái gọi là lợi ích kinh tế phát triển ấy. Tại làng Trịnh Nguyễn là nhà máy xử lý nước thải trong khu dân cư, tại Dương Nội là khu đô thị mới, tại Sơn Hải là lợi nhuận khai thác quặng titan,…tất cả đều được mang cái áo khoác phát triển kinh tế xã hội.
Nếu thực sự sở hữu đất đai của người nông dân Việt Nam trong quá khứ là đúng như ông Quốc nói thì sẽ càng dễ giải thích hơn nữa sự khát khao về sở hữu tư nhân của họ hiện nay. Ông Dương Trung Quốc nói tiếp:
Tôi cho đó là điều dễ hiểu vì bên cạnh sự phát triển tự thân của quốc gia thì còn có sự hội nhập vào các mô hình các giá trị của thế giới nữa.
Các quốc gia có mô hình sở hữu tư nhân về đất đai người ta vẫn tìm ra cách để giải quyết mâu thuẫn giữa  sở hữu tư nhân và lợi ích công để mà phát triển.”
Trong tình hình Việt Nam hiện tại, nhà nước là sở hữu của toàn bộ đất đai, người quyết định thế nào là lợi ích kinh tế xã hội cũng là nhà nước, xử lý những xung đột đất đai lại là bộ phận tư pháp hoàn toàn không độc lập trong nhà nước ấy.
Xung đột đất đai và hình ảnh dân oan mất đất có lẽ sẽ không biết mất trong thời gian gần.



Mấy trăm triệu đô la chỉ là “một tí”



On Tuesday, 6 May 2014 1:34 PM, Nhat Lung <> wrote:
 


Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 05.5.2014 
 
                              Mấy trăm triệu đô la chỉ là “một tí”

Trước khi bước vào đề tài hôm nay, tôi xin ngỏ lời khâm phục ông Thủ tướng Hàn Quốc Chung Hong-wo đã từ chức sau khi vụ sau thảm họa chìm phà SEWOL làm hàng trăm người thiệt mạng.

                                                 
                        Thủ tướng Hàn Quốc tuyên bố từ chức, chịu trách nhiệm trong vụ chìm phà Sewol

Ngày 27/4/14, dưới áp lực của dư luận trong việc xử lý chậm trễ vụ lật phà Sewol hôm 16/4 làm hơn 300 người chết và mất tích trong đó phần lớn là học sinh trung học ông Chung tuyên bố từ chức. Ông ngậm ngùi cúi đầu nói trước quốc dân:
"Việc tôi giữ chức vụ là một gánh nặng quá lớn đối với chính phủ, điều đúng đắn tôi cần làm là nhận trách nhiệm và từ chức ".

Trên thế giới, chuyện từ chức của các nhà lãnh đạo đã từng xảy ra như một thứ “văn hóa thông thường” của những con người tự trọng. Chỉ cần một lỗi lầm nhỏ như trường hợp Thủ hiến New South Wales Úc, ông Barry O ' Farrell, đã từ chức vì không khai báo món quà ông nhận được, chỉ là một chai rượu hiệu Penfolds Grange trị giá 3000 đô. Với sự việc này, người ta có thể quên và dễ dàng biện minh và có thể được tha thứ, nhưng người tự trọng không làm như vậy.
Tiếc rằng thứ “văn hóa từ chức” đó còn quá hiếm hoi ở VN. Tôi nghĩ chẳng cần có một nghị quyết hay nghị định nào “cho phép” cái quyền “tự trọng” đó, tất cả phải do ý thức của mỗi người. Không vì bị tín nhiệm nhiều hay ít, không vì đại hội này hay ủy ban kia áp lực “được từ chức”, nói đúng ra đến khi đó phải gọi đúng tên là “bị từ chức”. Như thế sự từ chức không thể hiện được tính tự trọng của chính mình nữa. Gọi là “từ chức” cho đỡ… mất mặt thôi.

Một ước mơ lẩm cẩm

Tôi kính trọng ông Chung Hong-wo vì trong thời gian này ở VN cũng có vài vụ gây chết hàng trăm người nhưng chẳng có ai chịu trách nhiệm cả. Cứ như chuyện ở trên trời rớt xuống đầu ai nấy chịu vậy. Còn “đổ vấy” cho nhau, dân bảo tại quan, quan bảo tại trời, cấp trên đổ thừa cho cấp dưới, cấp dưới đổ thừa cho thiếu phương tiện và trăm thứ “khó khăn” khác nữa…
Cứ cái bài ca cũ rích ấy lặp đi lặp lại hoài mấy chục năm không biết chán. Tôi bỗng có cái ý nghĩ lẩm cẩm rằng: “Giá như trong dịp dịch sởi lây lan làm chết hơn trăm trẻ em, một vị nào đó trong Bộ Y tế có can đảm đứng ra nhận trách nhiệm và từ chức thì hay biết mấy”.
Và… vẫn là “giá như” bà Bộ Trưởng Y tế mà từ chức và thẳng thắn nhận trách nhiệm trước nhân dân như ông Thủ Tướng Hàn Quốc thì… đẹp biết bao”. Những gia đình mất con chắc cũng bớt oán hờn, bớt đau đớn hơn nhiều. Nhưng tiếc rằng cái ước mong của tôi vẫn chỉ là “giá như” thôi, chuyện đó chưa thể xảy ra trên đất nước này. Tôi tự hỏi “Tại sao vậy?”. Câu trả lời tưởng như quá khó nhưng thật ra quá dễ.

                                                 
                                 Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến chưa có ý định từ chức trong lúc này

Có hàng chục lý do tại sao người ta không muốn từ chức, chẳng cần kê khai bạn đọc cũng có thừa hiểu rồi. Nói như thế tôi không có ý “xúi” hay yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim Tiến “ra đi” như một vài độc giả trên các báo VN đã từng nêu ra lời “đề nghị” này. Nhưng chiều 29-4, Chính phủ VN tổ chức cuộc họp báo thường kỳ tháng 4-2014. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo chí về việc bộ trưởng có nghĩ đến chuyện từ chức vào lúc này hay không, bà Tiến nói: “Tôi không thể từ chức vào lúc này”. Người ta đành nghĩ: Thôi thì để…lúc khác vậy!

Đình chỉ chức vụ chứ không được từ chức

Trong tuần vừa qua, ông Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải (GTVT) Đinh La Thăng được nhắc đến nhiều nhất bởi ông đã có một quyết định rất bất ngờ. Ông đã thẳng tay đình chỉ chức vụ của ông Nguyễn Hữu Thắng Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam – Một trong những chức vụ lớn và uy quyền nhất của Bộ GTVT. Nguyên nhân vì ông Nguyễn Hữu Thắng đã phát ngôn không đúng và thiếu trách nhiệm khi trả lời báo chí về những vấn đề liên quan đến dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông phải điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư.

                                                  
                                                    Cục trưởng Nguyễn Hữu Thắng vừa bị đình chỉ chức vụ

Xin nó rõ hơn là Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông (Hà Nội) được Bộ GTVT giao Cục Đường sắt Việt Nam làm chủ đầu tư, với tổng mức đầu tư dự án là 8.770 tỷ đồng tương đương 552,86 triệu USD (tính theo thời giá năm 2008).

Mới đây, dự án này bị đội giá 339 triệu USD (tăng 62%) khiến dư luận bất bình. Nhiều chuyên gia lĩnh vực đường sắt cho rằng đây là mức tăng quá cao và thiết kế chưa sát với thực tế. Thật ra, người dân không còn xa lạ gì với những “trò đội giá” nửa chừng nửa chừng nửa đoạn của nhiều dự án khổng lồ. Người ta cứ đấu thầu, cứ làm rồi tà tà xin điều chỉnh lên gấp đôi và không ít dự án đã được chấp thuận. Đó là cách làm, cách kiếm tiền giữa nhà thầu và bên chủ đầu tư. Nói trắng ra, đó là cách moi tiền của ngân sách tức là tiền đóng góp của nhân dân tương đối dễ dàng nhất. 

Trò đội giá lần này lên đến 62% là quá “nặng” vậy mà ông Nguyễn Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam trách móc dư luận rằng “… điều chỉnh một tý đã rùm beng cả lên” (!?) Hãy thử tính 339 triệu USD, tức là khoảng 7 ngàn tỉ VNĐ, thế mà ngài cục trưởng chỉ coi như “một tí” thì quả là các ngài xài đô la sang hơn cả chính phũ Mỹ. Phát ngôn này đã gây sốc nhất trong tuần vừa qua khiến nhân dân ngao ngán. Bạn Nguyễn Duy Xuân đã viết trên báo Dân Trí:
“Cũng đúng thôi, các ông làm dự án lớn, quen xài tiền đô, không phải dăm ba tờ lẻ mà là hàng trăm triệu. Nhưng tiền đó không phải móc từ túi mình ra nên các ông không xót. Cho nên, ba trăm chứ ba tỉ USD có lẽ các ông cũng cho là chuyện… nhỏ, nhằm nhò gì mà thiên hạ cứ làm toáng cả lên?
Nhưng thưa ông Cục trưởng kính mến! Khi ông cho 7 ngàn tỉ đồng chẳng nhằm nhò gì thì cũng có nghĩa là ông coi rẻ đồng tiền lắm rồi (!?) Mà đồng tiền của nhà nước dù bằng nguồn vốn nào thì cuối cùng cũng chỉ quy về một mối: Nhân dân. Không phải cá nhân ông, cũng không phải một ai khác làm ra hàng ngàn tỉ ấy. Mà là nhân dân, hàng chục triệu con người góp gió thành bão từ những đồng thuế nhỏ nhoi của mình thành ngân sách quốc gia. Không phải cá nhân ông, cũng không phải một ai khác gánh được món nợ do các dự án từ nguồn vốn ODA để lại, ngoài nhân dân. “Một tí…” thế cũng đủ “chết” dân rồi, thưa ông Cục trưởng !”.

Mỗi người dân VN đang gánh nợ 886,59 USD

Nói đến chuyện vốn ODA, từ lâu vẫn được xem là "chùm khế ngọt". Ngọt với các quan có quyền sử dụng số tiền này. Nhưng lại rất đắng với người dân, đó là món nợ của người dân VN, trả đến đời con cháu cũng chưa hết. Đây là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, là một hình thức đầu tư nước ngoài. Ngoài một phần viện trợ không hoàn lại, nguồn vốn này cũng phải hoàn trả theo lộ trình nhất định, nên nếu không sử dụng hợp lý và tiết kiệm thì sẽ là có tội với thế hệ mai sau. Theo tính toán của các chuyên gia, nợ công Việt Nam đang ở mức 80.092.622.951 USD, và với dân số 90.525.901 người, hiện tại, mỗi người dân đang gánh 886,59 USD nợ công. Kể cả già trẻ, lớn nhỏ, trai gái đều phải nai lưng ra làm đầu tắt mặt tối để trả nợ!

Nhưng rồi sau tất cả những băn khoăn này, kế hoạch điều chỉnh dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông vẫn có thể vẫn sẽ được phê duyệt, bởi “đã đâm lao phải theo lao”, không thể để công trình đang làm bị ngưng trệ, và cũng như nhiều vụ lùm xùm khi sử dụng vốn ODA khác, chẳng có ai phải chịu trách nhiệm cả.
Ngay cả khi tòa án xử sai, phải bồi thường cho người bị oan sai lên đến hàng chục tỉ đồng, nhưng cá nhân vị sử sai đó vẫn bình chân như vại.

Chính nguyên Chánh thanh tra, thẩm phán Tòa án tối cao Đỗ Văn Chỉnh đã khẳng định trong một lần trả lời báo chí: "Trong ngành tòa án tôi chưa biết có trường hợp cán bộ nào bị truy tố trước pháp luật vì xử oan sai cho người vô tội cả. Họ chỉ bị kỷ luật ở mức khiển trách, cao nhất là chậm tái nhiệm...".

Rõ ràng, thiệt hại là có thể cân đong đo đếm được bằng các khoản chi ngân sách thể hiện trên giấy trắng mực đen, nhưng mức hoàn trả thì lại được giới hạn một cách rất khó hiểu. Để rồi, nhiều cán bộ công chức đã chọn “quyền vô trách nhiệm” cả khi thi hành công vụ và cả khi khắc phục hậu quả của nó.
Ngân sách nhà nước thì cứ nai lưng chịu trận cho mọi tắc trách, sai lầm, dân thì cứ xót xa cho việc tiền của mình bị thất thoát vô lý. Còn những người liên quan trực tiếp thì cứ thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Thế mới lạ!

Tăng mấy trăm triệu đô: Nói “một tí” cũng... đúng

Thật ra ông Thắng cũng có lý do để nói rằng “mới chỉ có một tí đã làm rùm beng lên” bởi ông là người trong cuộc nên ông biết rõ đã từng có quá nhiều vụ điều chỉnh như thế rồi chứ chẳng phải chỉ có mỗi vụ này thôi. Ông có xin điều chỉnh cũng là “học tập” các dự án đàn anh mà thôi. Hãy kể những vụ “điều chỉnh” đã từng xảy ra gần đây:

                                                
                                               Đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh-Hà Đông bị đội giá 339 triệu USD

- Ở Hà Nội, dự án đường 5 kéo dài trên địa bàn quận Long Biên và huyện Đông Anh,  chủ đầu tư là Ban quản lý dự án Hạ tầng Tả ngạn, dự trù thực hiện từ 2005, tổng mức đầu tư ban đầu hơn 3.500 tỷ đồng. Ba năm sau, điều chỉnh lên gần 6.700 tỷ đồng, tăng hơn... 3.100 tỷ!
- Dự án đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội do Pháp, ADB và Ngân hàng Đầu tư châu Âu đồng tài trợ, dự kiến ban đầu là 783 triệu euro, điều chỉnh lên 1,275 tỷ euro, tăng 492 triệu euro.

                                           
                      Đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình có nhiều sai phạm trong xây dựng, tổng mức đầu tư của dự án
                      đã tăng từ 3.734 tỷ đồng lên 8.974 tỷ đồng.

- Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình tổng chiều dài 56 km, dự toán ban đầu hơn 3.700 tỷ đồng năm 2004, đến 2010 điều chỉnh lên gần 9.000 tỷ, tăng hơn 5.000 tỷ đồng.
- Năm 2012, dự án cải tạo sông Tích tăng tổng mức đầu tư từ 1.600 tỷ đồng lên 3.100 tỷ đồng.
- Dự án đường sắt đô thị Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, điều chỉnh từ 19.000 tỷ lên 51.000 tỷ đồng.
- Dự án đường vành đai I, đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục tăng từ 3.400 tỷ lên 5.500 tỷ đồng.
- Dự án cầu Nhật Tân phê duyệt 2006 đến 2009 khởi công đội thêm hơn 6.000 tỷ đồng.

                                              
                                Dự án cầu Nhật Tân được phê duyệt năm 2006 nhưng mãi tới tháng 3/2009 mới khởi công
                                hạng mục đầu tiên và bị đội giá hơn 6.000 tỷ đồng

- Ở Hưng Yên, dự án củng cố nâng cấp đê tả sông Hồng 48 km, dự toán ban đầu năm 2009 hơn 1.500 tỷ đồng, sang năm sau tăng hơn 1.200 tỷ đồng.
- Ở Sài Gòn, năm 2008, dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 Bến Thành - Suối Tiên từ 17.400 tỷ ban đầu (2007) đến 2012 điều chỉnh lên hơn 47.300 tỷ, tăng khoảng 30.000 tỷ đồng.
- Dự án Vệ sinh môi trường TP.Sài Gòn lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè theo kế hoạch hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 2008, nhưng phải gia hạn đến hết năm 2011, tăng từ 200 triệu USD lên 320 triệu USD.
- Công trình bờ kè sông Cần Thơ 10km, tổng mức đầu tư năm 2007 hơn 711 tỷ đồng, khởi công vào tháng 5/2010, tăng thêm hơn 1.000 tỷ đồng.
- Trong năm 2012, theo Báo cáo của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND TP Sài Gòn, có 69 dự án tăng tổng vốn đầu tư thêm gần 2.900 tỷ đồng.
- Một báo cáo của Bộ GTVT cho biết, trong vài năm qua tổng mức đầu tư của các dự án tăng trung bình 180% so với tổng mức được duyệt…
Như thế xin điều chỉnh đã thành một kiểu “làm ăn truyền thống” của hầu hết những công trình lớn. Ông Thắng nói có phần đúng chứ không hoàn toàn sai. Không thể bắt người dân không được quyền nghi ngờ rằng trong những vụ này, “đôi bên cùng có lợi”. Chỉ cần dính vào một dự án điều chỉnh thôi, cũng có thể mua cái biệt thự loại sang ở giữa thủ đô Hà Nội, sắm vài cái xe hơi chục tỉ, cho con đi du học Tây, mua nhà sẵn làm nơi dưỡng già hoặc kiếm cô chân dài xinh xắn làm vợ bé mua cho căn nhà vài tỉ như anh em Dương Chí Dũng. Dính vào vài vụ điều chỉnh thì đô la chẳng biết đếm đến bao giờ cho hết. “Chùm khế ngọt” đó vẫn cứ treo lơ lửng trên đầu như những chiếc đèn lồng đỏ chót, khiến anh nào cũng muốn với tay vào. Chỉ đến khi bị cháy tay như vụ Dương Chí Dũng mới biết sợ

Trước cái chết, anh nào cũng sợ

Trở lại chuyện thời sự về vụ án Dương Chí Dũng. Vụ án này còn rất nhiều tình tiết lằng nhằng và những cuộc “cãi vã” giữa các quan cùng các nhân viên trước đây đã từng là đồng bọn với nhau. Trong những ngày xét xử ở tòa phúc thẩm vừa qua, có quá nhiều sự việc từ nhỏ nhất đến lớn nhất, quá rối rắm không thể một bài mà tường thuật hết được và dù hầu hết các báo ở VN tường thuật trực tiếp từng ngày, từng giờ, từng lời nói của các bị cáo, từng lý lẽ của các luật sư biện hộ, các lời buộc tội và chất vấn của các quan tòa, không ai có thể theo dõi đầy đủ và tường tận những gì đã xảy ra.
Tuy nhiên tạm thời có thể nhìn ra một số diễn biến chính.

Hai sếp lớn thù ghét nhau vẫn có thể thông đồng ăn hối lộ

Tại phiên xét xử sơ thẩm hồi cuối năm ngoái, Tòa án Hà Nội đã tuyên phạt bị cáo Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc mức án tử hình vì hai tội Tham ô tài sản và Cố ý làm trái về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Bị cáo Trần Hải Sơn nhận: 22 năm tù; Trần Hữu Chiều: 19 năm; Mai Văn Khang: 7 năm tù; Lê Văn Dương: 7 năm tù; Huỳnh Hữu Đức: 8 năm tù; Lê Ngọc Triện: 8 năm tù; Lê Văn Lừng: 8 năm tù.

                                          
                    Nụ cười tươi và cái chắp tay cảm tạ của Dương Chí Dũng từ “xe thùng”, chứng tỏ họ đã có thể tin vào
                    “cái phao” nào đó sẽ không bị tử hình.

Tuy nhiên vụ án vẫn còn được hoãn và đưa ra tòa phúc thẩm vào tháng 4 này. Tòa án vẫn giữ nguyên quan điểm buộc tội và các luật sư được trực tiếp tranh cãi tại tòa cũng như việc truy hỏi các bị cáo và nhân chứng.
Chính từ những cuộc truy hỏi này đã lộ ra nhiều chuyện bí ẩn như chuyện hai sếp lớn tưởng là thân mật đậm đà lắm, đến nay mới biết họ là “kẻ thù không đội trời chung” với nhau ngay từ khi còn làm chung một cơ quan. Đó là “tình đồng đội” giữa Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc. Họ chán nhau, thù nhau đến nỗi không muốn nhìn mặt nhau lần nào.  Hai sếp cùng một cơ quan mà “đấu” với nhau như thế thì làm sao cơ quan đó ngóc đầu lên được. Anh làm, anh phá, các đàn em cấp dưới lãnh đủ. Được sếp này khen thì chết với sếp kia.
Ấy thế nhưng họ lại vẫn có thể thông đồng với nhau ăn hối lộ. Tuy không bàn trực tiếp nhưng có các đàn em “bàn giùm”.

Mánh lới của các quan này thật cao tay ấn, ít có bộ tham mưu của cơ quan nào sánh kịp. Thông thường thì khi muốn “ăn quả lớn”, các sếp phải chụm đầu lại bàn tính với nhau rất kỹ. Thật ngưỡng mộ cho sự “thù ghét” này của hai sếp ngành hàng hải. Thù ghét mà vẫn ăn chia đều của đút lót.

Lòng tham không đáy

Một điểm “đặc sắc” khác nữa là lòng tham không bờ bến của các gia đình bị cáo. Ngay cả Huyền Như phạm tội lừa đảo rành rành, cả hai mẹ con cô này cũng cố đấm ăn xôi thuê luật sư xin lại căn nhà 43 tỉ đồng. Quả là không biết ngượng.

                                           
                                Bà Phương vợ Dương Chí Dũng hôn gió tạm biệt chồng đang ngồi trên xe trở vào nhà tù.

Còn bà vợ Dương Chí Dũng thì khỏi nói, ngoài tài làm thơ tặng chồng ở tù còn cái tài thu vén gia đình rất hay. Bà xin lại mấy căn nhà đang ở và xin luôn cả hai căn nhà ông chồng đã mua cho nhân tình. Bà không ngần ngại khai rằng đó là tiền riêng của bà chạy vạy “xất bất xang bang” mới có tiền đưa cho chồng mua nhà cho nhân tình. Một thứ “đạo lý ngược” được bà giải thích rằng vì không có con trai nối dõi nên để cho chồng “tự do”. Người dân khó có thể tin vào sự rộng lượng này. Máu tham của họ chẳng biết bao giờ mới dừng lại. Thế nhưng bà này lại tình nguyện bán hết gia sản, dù có phải đi vay nợ bà cũng lo cho chồng thoát án tử hình. Thì ra người ta chỉ sợ khi đứng trước cái chết.

Dương Chí Dũng cũng xin được sống

Sáng 29/4, đại diện Viên kiểm sát tối cao cho biết sau hai ngày quay lại phần xét hỏi nhận thấy không có tình tiết mới để thay đổi bản chất vụ án nên giữ nguyên 6 căn cứ xác định cựu chủ tịch HĐQT Vinalines Dương Chí Dũng cùng cựu tổng giám đốc Mai Văn Phúc, phó tổng giám đốc Trần Hữu Chiều và Trần Hải Sơn (nguyên Tổng giám đốc Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines) đã chia nhau số tiền tham ô 1,66 triệu USD (hơn 28 tỷ đồng).
Được nói lời sau cùng, bị cáo Dương Chí Dũng mong Hội đồng xét xử công minh phán xét để không xảy ra cảnh “quýt làm cam chịu”. "Nếu có tội, bị cáo không ân hận, nhưng oan mà chết thì không nói với ai được. Nếu chưa chứng minh được bị cáo vô tội thì xin cho bị cáo được sống".
Bị cáo Phúc mong HĐXX minh xét cho cả hai tội, xem xét khách quan bối cảnh bị cáo mới về nhận chức tổng giám đốc thì xảy ra chuyện. Bị cáo Chiều cho rằng "oan ức" khi bị kết tội tham ô, đề nghị giảm nhẹ hình phạt ở tôi Cố ý làm trái.
Nói gì thì nói, dư luận đều cho rằng gia tài của vợ chồng Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc thừa sức nộp lại số tiền tham ô như luật định cũng chẳng cần vay mượn ở đâu hết cho mệt. Có thể “gia tài của mẹ để lại cho con” gấp trăm lần tiền đền bù.
Thế cho nên đối với các quan vài trăm triệu đô chỉ là “một tí” cũng chẳng có gì lạ.

Đó là vài hình ảnh nổi bật trong vụ “đại án” đầy những chi tiết vòng vo lằng nhằng này. Và đến ngày 7-5 tòa mới tuyên án, nhưng nhìn vẻ mặt tươi cười của cả 2 bị cáo Dũng và Phước sau những phiên xử vừa qua, người ta có thể nghĩ họ đã nắm được “cái phao cứu sinh” nào nên có thể không bị tử hình. Tôi sẽ thông tin đến bạn đọc khi phiên tòa cuối cùng có kết quả.
Văn Quang
~~~~~~~~~~~~~~~~
*Trang "Lẩm Cẩm Saigon thiên hạ sự" của Văn Quang


1-​
Cà phê Trung Nguyên (từ Việt Nam):

dối trá và độc hại

trungnguyen

Cách đây ít lâu, người viết bài tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó nói rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê “đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được
Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.
Để mở đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá . Từ đây, loại cà phê nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.
Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.
Thêm vào đó, cà phê Trung Nguyên đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin. Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu – bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên cà phê Trung Nguyên đã xử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương.
Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.
Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê cà phê Trung Nguyên được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.
Và như thế, không ngoa khi nói rằng, cà phê Trung Nguyên đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.
P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê cà phê Trung Nguyên bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.
Ký ninh từ lâu đã được dùng gây đắng trong thực phẩm, và với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh được xử dụng trong cà phê cà phê Trung Nguyên nói riêng và tất cả cà phê ở Việt Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng 0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin.
Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độ ký ninh, bao gồm dị ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm sức nghe và nhiều triệu chứng phụ kèm khác.
Còn chuyện bạn hỏi về “tại sao không có ai lên tiếng” – well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyện này – nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và luôn luôn có một kênh nào đó để “bịt”. Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích những người mình biết không uống cà phê.
Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế .
Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.
So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.
Một ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra trong chừng ấy nước đá.
Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc: tăng đắng cho cà phê, tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.
Cách chế biến như sau: Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang. Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ. Còn để tăng độ sánh, người ta dùng đường nấu ra caramel.
Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn “cà phê ngon” mà thôi.
Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn, thì sự giả dối nghiễm nhiên thành chân.
Về phía các nơi sản xuất, thì họ nghĩ – khi những chỉ tiêu chất lượng quan trọng bậc nhất của cà phê – độ đắng, mùi hương, độ sánh – đều là hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì?
Về phía người uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề.
Và thế người Việt, đa số, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và nghĩ rằng họ đang uống thứ cà phê ” có văn hoá đặc biệt nhất “.
Đến đây chính là một ngõ cụt – Ngõ cụt dối trá.
Câu hỏi cuối – chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó? Sự dễ dãi của người uống? Sự xu thời của Trung Nguyên? Hay là trình độ quản lý chất lượng thực phẩm của Nhà nước ?
P/S: Một điểm cuối , bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ.
TTN
THEO SỐNG NEWS

Thời Đại Hồ Tặc

Văn minh thời Hồ Tặc
Việt cộng như con c..
Gần bốn mươi năm rồi
Người Việt phải cúi mặt!

T,Phạm



Thư giãn cuối tuần
QLB
alt
Tấm hình nói lên tất cả!

 
alt
Xè xè nước chảy bên lề
Có con nhái nhỏ thấy mê nhảy vào


Xè xè xối xả bên đàng
Ểnh ương cứ tưởng cái hang chui vào!.




alt
Tóc ông Hai Say


alt
Buồn đời gãi chút, bướm tung bay


alt
Đi chợ mua bưởi về cúng

Thích hình chẳng biết để đâu
Gởi lên trên mạng, lâu lâu ghé nhìn



alt
Đọc nàm sao?

alt
Ngủ quên!


alt
Cảm ơn UBND Huyện Vũ Thư
alt

Cấm bò đái nhưng CSGT thì được

alt


alt

alt

alt



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link