Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, June 5, 2014

Giặc đã vào nhà, lấy gì mà đánh?


Chúng là cướp, khg giết chúng thì chúng cũng giết mình. Chúng đặt ách đô hộ thêm 1000 năm nữa. Đã 1055 năm rồi! Dân tộc VN muốn đàng nào? Giản dị có thế! Bọn dâng nước cho TC chính là vgcs. Để chúng bán nước mãi được khg? Hãy hỏi bọn QĐ nhân dân 1 triệu người tướng tá đầy đủ, sau 30-4-75 khoe nhặng lên là đánh tan 3, 4 đế quốc xâm lược. 

Giờ TC đặt dàn khoan, chiếm đất, lại câm sao, nằm ngủ sao? Hèn thế thì khoe khoang khg sợ xấu hổ?
Nên nhớ rằng TC rất khinh bỉ những thằng dâng nước cho TC nhưng lại kính phục người yêu nước. Kẻ dâng nước thì thua súc vật xa, hết ý kiến, dù là thằng giặc hố! Nó hố to rồi!

BX







* Chỉ cần chuyên viên tuyên bố Nguyễn Tấn Dũng rung chuông, dùng đúng tín hiệu, là người dân Việt "hồ hởi phấn khởi" (thật chẳng còn chữ nào tả đúng hơn nữa) để lại nhắm mắt tin tưởng, hy vọng,  mà không cần nhìn lại, không cần suy nghĩ. 

Cũng những con người ấy, cũng cái đảng ấy, đã đưa dân tộc đến vực thẳm ngày hôm nay, cớ gì họ bỗng chốc có khả năng đổi khác? Họ đã hứa những gì và họ đã làm được những gì? (TQ)

Giặc đã vào nhà, lấy gì mà đánh?

Thục Quyên

Trung Cộng chỉ đang đi những bước tiếp trong mưu đồ bành trướng xâm lăng của họ.

Không có gì lạ. Biết như vậy, nhưng tin người lính kiểm ngư Việt Nam bị thương và máu dân Việt đã đổ trên Biển Đông vẫn đến như một tiếng sét ngang tai.

Nhà cầm quyền cộng sản trong thế thần phục đàn anh đã kéo cả dân tộc vào thế kẹt của họ, khi Trung Cộng  lạnh lùng khinh bỉ dẫm lên cái vương miện 16 chữ vàng 4 tốt mà họ trân trọng đội lên đầu bấy lâu, để ra mặt giết người, cướp nốt những gì Trung Cộng chưa lừa lọc, mua rẻ, lén lút xâm lấn được của Việt Nam.

Giặc đã không những vào nhà mà giết con mình rồi.
Dân tộc Việt còn gì trong tay để đánh đuổi chúng?
Chúng ta còn súng đạn, chúng ta còn những lực lượng quân sự?
Chúng ta còn tài năng ngọai giao?
Chúng ta còn thế đứng chính trị?
Chúng ta còn đồng minh?

Điều chắc chắn là Trung Cộng đã tự đặt ra những câu hỏi này về chúng ta từ  lâu và đã không bất động trong mấy chục  năm vừa qua trong việc  soi mòn mọi khả năng chống đỡ của Việt Nam.

Trung Cộng đã họp hành ký kết biết bao chục bao trăm lần với những lãnh tụ đảng Cộng sản mà cũng là những người liên tiếp cầm quyền tại Việt Nam từ 69 năm nay. 

Thử hỏi đã nắm hoàn toàn nền kinh tế Việt Nam trong tay, đã đặt biết bao trung tâm lớn nhỏ để dân của họ sinh sống rải rác khắp Việt Nam tại những khu vực họ đã mua, thuê, âm thầm chiếm đóng, mà người Việt không có quyền bén mảng tới, họ đang hưởng bao lợi nhuận, tha hồ sai xử không bị chống đối, việc gì nay lại phải lộ ra mặt kẻ cướp ở Biển Đông?

Còn có gì dễ dàng hơn khi tiếp tục vờ cho Việt Nam hợp tác như mọi "hợp tác về thương mại, khai thác rừng mỏ..." khác? Bao năm nay nhà cầm quyền Việt Nam cấm dân biểu tình, không dám chính thức kết đồng minh với Nhật, với Philippines, với Mỹ, chẳng phải vì họ chỉ mong chờ có bấy nhiêu sao?

Nếu không phải là Trung Cộng cạn tàu ráo máng vì đã chắc chắn nắm dao đằng chuôi? Về thực trạng cũng như về luật pháp quốc tế?

Trung Cộng biết là Việt Nam trong tình thế hiện nay không còn đường nào để "binh" nữa cả. Và cũng để cho đàn em Cộng sản VN một cái tát nẩy lửa cho chừa tội không chịu học bài học rõ ràng khi họ cắt cáp tầu Bình Minh : vẫn còn tìm cách, một mặt nịnh bợ chữ Vàng chữ Tốt, nhưng cù cưa không tuân thủ những điều đã ký kết bán, mà manh tâm đem quốc tế ra doạ để đòi kiếm chác ăn thêm.

Nếu nhà cầm quyền cộng sản VN không đã bị cột chặt bằng những thỏa thuận bán đất, bán rừng, bán mỏ, bán quyền lợi của Việt Nam, thì những câu tuyên bố còn chút liêm sỉ dân tộc của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuần qua, cả cái chính phủ này đã phải nói và nhất là LÀM từ nhiều năm trước.
Không phải chỉ có văn bản tán thành chủ quyền và hải phận của Trung Quốc liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa!
Nếu chỉ có nó thì chắc từ lâu các ông lớn đã cãi là 1958 Hoàng Sa Trường Sa là của Việt nam Cộng Hoà, một quốc gia độc lập và có chủ quyền, như bây giờ họ đang làm. Vì đâu phải bây giờ họ mới biết điều này?

Nhưng không phải chỉ có thế.

Tháng giêng năm nay (ngày 18/01/2014), sau khi chủ tịch nước Trương Tấn Sang 6 tháng trước đó đã mang một bản sao bức thư của ông Hồ chí Minh gởi Tổng thống Harry Truman khi xưa  mong mỏi "hợp tác đầy đủ" với Hoa Kỳ cho Tổng thống Obama, họ lại vội vàng  trịnh trọng khánh thành đền thờ ông Lê Duẩn để không "ai" có thể quên Việt Nam đã đánh Mỹ cho Liên Xô và cho Trung Quốc. Mong đợi bịt mắt ai ?

Lãnh đạo một quốc gia mà nói ngang nói dọc, giở những trò ấu trĩ,  thì chờ đợi quốc tế coi mình là loại người gì, đối xử với mình ra sao?

Trung Cộng tỏ ngay thái độ khinh khi và ra tay: ngày 1/05/2014 họ cắm dàn khoan HD-981 tại  Biển Đông thách thức .
Trước sự tỉnh dậy của dân Việt,  và cũng vì chuyện mất Biển Đông rành rành trước mắt quốc tế không thể nào còn có thể ém nhẹm nói quanh co như chuyện bán đất, bán rừng như từ mấy chục năm nay, nhà cầm quyền Việt Nam ra ngón cuối cùng là để ông Thủ tướng đi tuyên bố. Cương quyết...........tuyên bố.

Thế giới đánh giá nguyện vọng và sức lực đạt tới nguyện vọng đó của dân tộc Việt Nam như thế nào?

Trung Cộng có vẻ đánh giá đạo đức và khả năng dân tộc Việt qua con người những cấp lãnh đạo đất nước, nên họ yên bụng là thời điểm đã tới để thôn tính cho xong. Không phải thôn tính đây là xua quân vào chiếm thành chiếm tỉnh, xóa tên Việt Nam khỏi bản đồ. Họ đã có rồi, có sẵn chân tay, họ sẽ chỉ lấy vài vùng họ muốn, rồi cho Việt Nam có tiếng là được tự trị. Từ tình trạng tự trị không chính thức hiện nay, cái mà dân Việt tưởng là độc lập, sẽ bước qua tự trị chính thức.

Nga cũng đánh giá đạo đức và khả năng dân tộc Việt Nam qua chính những  người "bạn thân" của họ: những cấp lãnh đạo của Việt Nam.

 Lẽ dĩ nhiên Nga đã thông minh đạt được tình trạng tốt nhất cho mình: Mặc dù đã cùng sát cánh với Trung Quốc để thành lập "Tổ chức Hợp tác Thượng Hải" (Shangai Cooperation Organisation SCO), mà một trong những mục đích chính, theo truyền thông tây phương, là để đối trọng với NATO và Hoa Kỳ, Nga vẫn mang đến cho nhà cầm quyền và dân VN niềm tin họ sẽ sát cánh bảo vệ nền độc lập của Việt Nam. Nga đã bán vũ khí tân tiến nhất cho Trung Cộng mà vẫn đem lại sự vui mừng biết ơn của Việt Nam khi Việt Nam đổ hàng chục tỷ Mỹ kim đánh đổi lấy những loại vũ khí kém hơn (và chưa nắm vững cách sử dụng cũng như bảo trì).  (1)

Chẳng biết có đúng như một chuyên gia đã lưu ý, hệ thống tàu ngầm, vũ khí......mua của Nga không thể tương ứng với hệ thống của Mỹ nếu một mai "bỗng nhiên" Việt Nam  cần sát cánh với những nước dùng hệ thống Mỹ để chống lại Trung Cộng .

Tờ "Nhân dân nhật báo" ,cơ quan của Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc   khi tường thuật về SCO năm 2006 đã viết : "tín hiệu đáng chú ý nhất được đưa ra bởi Hội nghị thượng đỉnh là các nước thành viên SCO có khả năng và trách nhiệm để bảo vệ an ninh của khu vực Trung Á, và các nước phương Tây nên rời khỏi Trung Á".

Vậy bây giờ, năm 2014, nếu Mỹ và Âu Châu xen vào việc Trung Cộng bành trướng tại Biển Đông, thì không biết Nga từ Cam Ranh và Ninh Thuận sẽ làm gì? Nga có giữ vị thế đối trọng với Trung Cộng như Việt Nam mong muốn, hay bây giờ đã ngã ngũ  trên bàn cờ quốc tế là Nga và Trung Cộng đang có giải pháp tốt đẹp cho cả đôi bên: họ chia phần với nhau?

Mỹ, Âu Châu và các nước dân chủ tại Á Châu, cũng vì lợi ích của chính họ, có thể mong muốn ngoài chính phủ VN có một lực lượng dân tộc nào khả dĩ có tầm vóc để họ "nói chuyện", vì thủ tướng Nguyễn tấn Dũng mới đây vẫn trả lời trong một cuộc phỏng vấn của Hãng tin AP (Mỹ) và Reuters (Anh) :

"Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào để chống lại một quốc gia khác. Đây là chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam. Chúng tôi đã công khai về điều này rất nhiều lần với thế giới.“

Thế nhưng không những trong nước không có một sức mạnh đối lập nào với nhà cầm quyền độc đảng độc tài đương thời, mà ở hải ngoại sau 39 năm chống đối cũng chưa thấy một chính phủ lâm thời hay một nhóm đảng nào thực sự hoạt động và được một số người đáng kể ủng hộ. Vậy, thí dụ có muốn chăng nữa, thì Việt Nam còn  có ai để Mỹ tin tưởng, chịu làm đồng minh, bàn tính chính sách chiến lược và sát cánh chống Trung Cộng?

Chúng ta có còn một dân tộc đoàn kết, một dân trí đủ cao để đối phó với thực trạng đất nước?

Nhắc tới ông thủ tướng Nguyễn tấn Dũng thì phải nghĩ tới hiện tượng phản xạ có điều kiện nơi người Việt Nam.
Phản xạ có điều kiện là một hiện tượng mà Ivan Pavlov, người đoạt giải Nobel sinh lý và y khoa năm 1904 đã quan sát khi làm thí nghiệm với những con chó của mình.

So sánh với những con chó mới sinh hay không được ông ta huấn luyện,  Ivan Pavlov thấy chỉ những con chó do mình huấn luyện, uốn nắn lâu dài, mới tiết dịch vị (dịch trong dạ dày) khi phát hiện các tín hiệu báo sự xuất hiện của thức ăn.

Thức ăn là điều mà mọi sinh vật cần để tồn tại,  không có ăn là chấm dứt, là chết. Nên sử dụng sức mạnh của thức ăn cho phép ông Pavlov chứng minh dễ dàng là một sự huấn luyện lâu dài sẽ đẩy sinh vật bị huấn luyện vào một trạng thái tùy thuộc sâu tới nỗi trở thành phản xạ. Không còn cần có thức ăn thật, chỉ có vài hình ảnh hay tiếng động quen thuộc là đủ gây trạng thái tin tưởng có thức ăn.

Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng là người trung thành và luôn luôn cố gắng hoàn thành vai trò đảng CS giao cho ông. Năm 2012 ông đã xác định rõ ràng trước quốc hội Gần suốt cuộc đời tôi theo Đảng, tôi không chạy, xin hay thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì Đảng giao.

Đảng cũng đã luôn luôn sáng suốt nhìn thấy những bực bội, chờ đợi của dân chúng, và Thủ tướng Dũng là người của những tuyên bố đúng thời đúng chỗ.

Năm 2006, ông tuyên bố kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu không chống được tham nhũng ông sẽ từ chức ngay. Và để chống tham nhũng ông đã thay mặt đảng đưa ra những sách lược Bauxite, Điện hạt Nhân, Vinashin, Vinaline...

Bây giờ, thay mặt đảng, để đáp ứng sự giận dữ đang trào dâng vì máu dân Việt đã đổ tại Biển Đông, không còn cách nào để tiếp tục màn kịch "dĩ hoà vi qúi" mất dần núi, rừng, đất, biển, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có lời tuyên bố hùng dũng không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng lấy hữu nghị vin vông!

Ông Phạm văn Đồng đã chết, nên việc đánh đổi chủ quyền thiêng liêng lấy hữu nghị vin vông của ông Đồng bây giờ bị đảng Cộng sản chối bỏ, gạt phắt. Nhưng những người ký những hữu nghị viễn vông khác còn sống sờ sờ, Trung Cộng sẽ lần lượt lôi ra, xử thế ra sao bây giờ?

Việt Nam Cộng Hoà có thể cứu nguy để ra khỏi cái phản phúc ngày xưa, nhưng muốn gỡ kịp họa rước voi về giày mã tổ ngày nay thì có lẽ  ngay cả giải thể đảng Cộng sản tức khắc sợ cũng không đủ để giải quyết vấn đề.

Vấn đề sâu hơn nhiều lắm.

Vì cơ nguy bị Hán hoá mà không chống cự không phải từ những lời tuyên bố "thùng lon rỗng" của Thủ tướng Dũng. Chính cái phản xạ có điều kiện nơi người dân Việt mới trói chân trói tay chúng ta, đặt chúng ta lên bàn mổ chờ ngày bị thọc tiết.

Chỉ cần chuyên viên tuyên bố Nguyễn Tấn Dũng rung chuông, dùng đúng tín hiệu, là người dân Việt "hồ hởi phấn khởi" (thật chẳng còn chữ nào tả đúng hơn nữa) để lại nhắm mắt tin tưởng, hy vọng,  mà không cần nhìn lại, không cần suy nghĩ. Cũng những con người ấy, cũng cái đảng ấy, đã đưa dân tộc đến vực thẳm ngày hôm nay, cớ gì họ bỗng chốc có khả năng đổi khác? Họ đã hứa những gì và họ đã làm được những gì?

"Trạng thái tùy thuộc" sâu đến nỗi đã thành phản xạ.

Cứ nhìn những cuộc biểu tình Cờ Đỏ tại hải ngoại là nơi nhà cầm quyền Việt Nam không thể cấm đoán. Ấy vậy mà chỉ nghe một câu "khẳng định chắc nịch" là hàng ngàn người đổ ra đường,  thay vì biểu dương cho Trung Cộng thấy nhà cầm quyền Việt Nam có bất tài bất lực đi chăng nữa  dân tộc Việt sẽ không hèn nhát, thì họ lại nhắn tin cho Trung Cộng, chúng tôi quyết đứng sau lưng chính phủ chúng tôi.

Đứng sau lưng làm gì? Để 25 ngày sau khi Trung Cộng đã ngang nhiên đâm tàu kiểm ngư Việt Nam và cướp chủ quyền Biển Đông mới hùng dũng  "xem xét nhiều biện pháp phòng vệ khác nhau, bao gồm các hành động pháp lý phù hợp với luật pháp quốc tế“ .

Có chính phủ nào trong vùng Đông nam Á  đối diện với mưu đồ bành trướng của Trung Cộng suốt bao năm nay mà ngồi chờ bị đánh rồi mới xem xét những biện pháp phòng vệ không?

Vậy mà nghe được. Vậy mà tôn sùng. Vậy mà phục tùng.
Cũng như thái độ không cần lo, để nhà nước lo , chính là do sự tích cực uốn nắn dân mất hết mọi khả năng suy nghĩ, của nhà nước cộng sản 69 năm qua.

Làm sao còn đủ sắc bén để nhận diện được 3X, 4S hay T Lú thì cũng chỉ là Đảng?

Đoàn kết dân tộc là sự kêu gọi thường trực từ nhiều cửa miệng, chính vì ai cũng biết đó là điều Việt Nam cần và Việt Nam không có.

Dân trong nước không được đi biểu tình nên không biểu lộ được ý muốn của họ. Chỉ có thể phỏng đóan là nếu nhà cầm quyền hãi sợ và trấn áp không nương tay thì đa số dân chắc là không theo họ. 

Nhưng không theo thì muốn và có khả năng làm gì? Một thiểu số trí thức bất đồng ý kiến với chính sách của nhà cầm quyền thì một mặt e ngại một cuộc tranh chấp trong tình hình đất nước đang bị ngoại xâm nhưng một mặt khác họ chỉ nhìn sự thất bại ngày hôm nay là do cái mà họ gọi là sự tha hóa của con người cộng sản. 

Nghĩa là con người cộng sản khi xưa là tốt là hay.

 Họ không nhận cái mà họ gọi là tinh thần cách mạng cao cả khi xưa của họ chỉ lả một giấc mơ lý tưởng đặt nhầm chỗ.

Lý thuyết và thực hành đã xa nhau vạn dậm.

Đó là hàng rào ngăn cản sự đoàn kết của mọi thành phần dân tộc trong cuộc chiến chống Trung Cộng.

Vì còn một thiểu số khác, thiểu số của những  người Việt đi tỵ nạn cộng sản đang thành công tại hải ngoại và nhất là đang sống quen tại những quốc gia có dân chủ, thì lẽ dĩ nhiên không bao giờ đồng ý đứng dưới trướng của một nhà cầm quyền độc đảng độc tài cộng sản, dù họ có đang nóng lòng và muốn đóng góp tranh đấu cho dân tộc. 

Gương của những đảng phái bị ông Hồ chí Minh khi xưa thanh toán, sự biến mất của lực lượng bình phong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngay sau khi miền Nam bị thôn tính, là những bằng chứng hiển nhiên cho thấy họ có lý.

Cay đắng bao nhiêu thì cũng phải nhận thức sự thất bại của dân tộc Việt trong vấn đề đoàn kết. Cả một dân tộc đằng đẵng 39 năm đã không tách được Dân tộc khỏi đảng Cộng sản, tách vấn đề đoàn kết Dân tộc ra khỏi cái đoàn kết với đảng Cộng sản, thì dĩ nhiên đã không thể có một biểu tượng Tổ quốc chung, như một lá Cờ Tổ Quốc, để tất cả những người Việt có cơ hội đứng với nhau và khẳng định :
Không có ý thức hệ ngọai lai nào có thể chia rẽ và ngăn cản những người con của Mẹ Việt Nam cùng chung sức chống giặc ngọai xâm bảo vệ Tổ Quốc .

T.Q.


Wednesday, June 4, 2014

BẢN CHẤT NHỮNG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN


                   
                     BẢN CHẤT NHỮNG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Cưỡng chế Dương Nội: Côn an đông như quân Nguyên, đánh dân tàn bạo


Nhìn vào tất cả những chế độ cộng sản, từ chế độ đầu tiên do Lénine thành lập năm 1917, qua những chế độ Đông Âu tới những chế độ còn rơi rớt lại như Trung cộng, cộng sản Việt nam, người ta đều thấy có những tính chất chung. Đó là : 1) Đều do ngoại quốc dựng lên ; 2) Độc đoán, độc tài, đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, đó là tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền ; 3) Đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của quốc gia dân tộc ; 4) Đó là một chế độ bất bình thường, chủ trương bạo động lịch sử, giết chết giai tầng trí thức và trung lưu, xương sống của một xã hội. Đó là một chế độ diệt chủng.

   I )  Chế độ do ngoại quốc dựng lên

   Người ta có thể nói tất cả những chế độ cộng sản, ngay cả chế độ đầu tiên ở Liên sô, cũng là đều do ngoại quốc dựng lên; và đều được dựng lên vào thời chiến tranh. Chính vì vậy mà Đức Đạt Lai Lạt ma đã nói: “ Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh xôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời.”

   Thật vậy, ở đây tôi không đi sâu vào chi tiết lịch sử, ngoài những chế độ cộng sản Đông Âu là được dựng lên dưới gót giày quân đội chiếm đóng Liên sô, 3 chế độ cộng sản tiêu biểu còn lại là Liên Sô, Trung cộng và Việt Nam cũng là do ngoại quốc dựng lên, và là đều dựng lên vào cuối thời kỳ 2 cuộc thế chiến.

   Thế Chiến thứ Nhất ( 1914-1918) gồm 2 phe: 1) Phe Pháp đứng đằng sau là Anh, Nga, thời Nga hoàng Nicolas I I, sau là chính quyền của đảng Dân chủ, xã hội, thợ thuyền do Kérenski cầm đầu, sau đó có Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến; 2) Phe Đức đứng đằng sau là đế quốc Áo Hung và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Vào gần cuối thế chiến, Đức nhận thấy không thể nào đối đầu với 2 mặt trận lớn cùng một lúc, mặt trận đông bắc với Nga và mặt trận phía tây nam với Pháp, muốn dồn lực vào mặt trận chính tây nam. 

Lénine đang sống ở Thụy Sỹ, đã đưa ra khẩu hiệu: “ Hòa bình bằng bất cứ giá nào. Ngay dù phải nhượng đất để có quyền .” Chính vì vậy mà Bộ Tham mưu Đức đã liên lạc với Lénine, đưa Lénine từ Thụy sỹ về Nga, trong một toa xe lửa bọc sắt, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để cướp chính quyền. Người ta có thể nói chính quyền Lénine là do ngoại quốc, Bộ Tham Mưu Đức lập nên (1).

   Chính quyền Trung Cộng của Mao trạch Đông cũng không khác.

   Đảng cộng sản Tàu được thành lập năm 1921, đứng đầu là Trần độc Tú, Lý khả Siêu, nhưng đức đằng sau là người của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. Tôn dật Tiên và Lénine ký Hiệp ước thân thiện năm 1923, trong đó có điều khoản là để được giúp, thì người của đảng Cộng sản cũng có thể đồng thời là người của Trung hoa quốc dân đảng. Lénine chết năm 1924, một năm sau đó thì Tôn chết. Tưởng giới Thạch lên thay. Ý thức được sự nguy hiểm của chế độ cộng sản, Tưởng quyết định tiêu diệt cộng sản. 

Chính vì vậy có cuộc Vạn lý trường chinh; và trong cuộc trường chinh này, Mao đã được đưa lên làm Tổng bí thư vào tháng 1/1935. Trong cuộc trường chinh, đảng Cộng sản Tàu mất liên lạc với Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, sau đó, khi đã đặt được căn cứ ở Diên an, thì liên lạc được thiết lập lại. Vào tháng 7/1935, Đại hội 7 của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản họp ở Moscou, thay đổi chiến lược, thay vì chống đối giai cấp, thì là “ hợp tác “ giai cấp để chống Phát xít. Nên nhớ lúc này là phát xít Ý Mussolini đã lên nắm quyền từ cuối năm 1922, Phát xít Hitler đã lên nắm quyền ở Đức năm 1933.

   Cũng chính từ chiến lược của Đại hội VI I Đệ Tam Quốc tế Cộng sản mà liên hệ giữa lien sô và đảng Cộng sản Tàu được tăng cường. Đảng Cộng sản Tàu nhận được một ngân phiếu 300 000$ thời đó, tương đương với 4 triệu $ thời nay, nhận ký bởi Mao, đề ngày28/4/1938, do một người Nga tên Mikhailov, đưa ( Theo quyển sách Mao – trang phụ lục hình 30, của Jung Chang và Jon Halliday – nhà xuất bản Pháp ngữ Gallimard – 2006).

   Thế rồi Chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ 1933, tiếp liền sau đó là Thế Chiến ( 1939-1945). 

Ngày 15/8/1945, Nhật đâu hàng Đồng Minh, Liên sô ngầm giúp đảng Cộng sản Tàu, chiếm Mãn Châu, giúp đỡ Tàu rất nhiều về súng đạn, tiền bạc và uy thế, một hành động tiêu biểu là chính quyền cầm đầu bởi ông vua Phổ Nghi, do Nhật lập lên ở Mãn châu, bị bắt bởi Liên sô, sau không được trao trả cho chính quyền chính thức cuả Tưởng giớI Thạch mà bề ngoài Staline tỏ ra rất thân thiện, nhưng bề trong tìm cách lật đổ, bằng cách giúp đảng Cộng sản Tàu. 

Ông vua này đã được trao cho đảng cộng sản Tàu. Được sự giúp đỡ của Liên sô, chiếm được Mãn Châu, đảng Cộng sản Tàu được uy thế và sức mạnh, đây là một trong những nguyên do chính, giúp Mao cướp được chính quyền năm 1949.

   Chính quyền cộng sản Việt Nam cũng được thiết lập lên do do bàn tay ngoại quốc Trung Cộng và Liên Sô. Hồ chí Minh được thâu nạp vào Đệ Tam quốc tế Cộng sản, học ở trường cộng sản Đông phương, chờ thời cơ cướp chính quyền. 

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào năm 1930, mỗi năm vào thời đó nhận được sự giúp đở 1 500 phật lăng Pháp tương đương với cả trăm lương của một người tri huyện vào khoảng từ 15 đến 20 phật lăng. Lương của Hồ chí Minh vào thời đó mà đã là 100$. Trong khi đó tất cả những đảng quốc gia thì không có một sự giúp đỡ nào ngoài việc bị Pháp trù dập.

   Cũng từ quyết định của Đại hội VI I Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, đảng Cộng sản Việt Nam cũng được chỉ thị sửa soạn cướp chính quyền.Tháng 7/1936, Lê hồng Phong chủ tọa buổi họp Trung Ương đảng ở Thượng hải. ( Theo Chủ tịch Hồ chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp – Nhà xuất bản Sự thật- Hà nội -1980 – trang 85). 

Hồ chí Minh cũng tìm cách về nước qua đường Trung Cộng, ở Diên An, căn cứ của Mao vào cuối năm 1938; “ Từ tháng 2 đến tháng 7/ 1939, chủ tịch Hồ chí Minh đã viết 9 bài báo đề là Thư từ Trung quốc, gửi về nước và đăng trên báo Notre Voix ( Tiếng nói của chúng ta), tuần báo công khai của Đảng ta xuất bản tại Hà nội “ ( Sách đã dẫn- cùng trang 85).

   Đảng cộng sản Việt Nam với sự giúp đỡ, chỉ bảo của ngoại quốc, tất nhiên phải nghe lời ngoại quốc, chính vì vậy mà mới ngay sau khi thành lập, Quốc tế cộng sản cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1930 đang đưa tư bản vào chỗ “ dãy chết” đã ra lệnh cho các đảng cộng sản đàn em phải nổi dậy, trong đó có đảng Cộng sản Việt Nam, trong vụ Nghệ An, Hà tĩnh năm 1930, đã đi đến thất bại. 

Sau này, khi Thế Chiến Thứ Hai vừa bùng nổ, Lỉên Sô cũng nghĩ tư bản sẽ cắn xé nhau, đưa nhau đến chỗ dãy chết, cũng ra lệnh cho các đảng đàn em nổi lên. Chính vì vậy có vụ nổi lên ở Hóc môn, Bà điểm. Chủ toạ buổi họp Trung ương đảng vào tháng 11/1939, để lấy quyết định này chính là Lê Duẫn. ( TheoLịch sử Việt Nam- tập I I- Nhà xuất bản Kgoa học xả hội- Hà nội – 1985 – trang hình, không đề số ). 

Ở điểm này, có một số ngưòi cho rằng Lê Duẫn, trước khi ra ngoài Hà nội làm Bí thư thứ nhất năm 1956, rồi Tổng bí thư năm 1960, chỉ là một anh cộng sản trung cấp, tầm thường. Họ đã sai. Lê  Duẫn đã là nhân vật thứ ba của đảng vào thời đó, chỉ sau có Nguyễn văn Cừ, tổng bí thư và Lê hồng Phong, nhân vật thứ nhì. Lần nổi dậy thứ hai này củng thất bại, Nguyễn văn Cừ, Nguyễn thị Minh Khai, Lê Duẫn đều bị bắt, sau chỉ còn Lê Duẫn sống xót.

   Lợi dụng những người thân Liên sô bị bắt, Hồ chí Minh, với sự trợ giúp của đảng Cộng sản Tàu, trực tiếp qua Chu ân Lai, đã triệu tập Hội nghị Trung ương đảng lần thứ VI I I, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, đưa Trường Chinh lên Tổng Bí thư. Chúng ta cũng nên nhớ là chính Chu ân Lai, trên con đường Vạn lý trường chinh, cũng triệu tập Trung Ương đảng Cộng sản Tàu, đưa Mao lên Tổng bí thư, vào tháng 1/1935. Nay bổn cũ xao lại với việt Nam.

   Ngày 6 và 8/9/1945, hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Nhật. Ngày 15/8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Quân Nhật ở ViệtNam như rắn mất đầu. Ngày 7/8, chính phủ Trần trọng Kim từ chức.

 Lợi dụng khoảng trống chính trị, và đoàn công chức biểu tình đòi tăng lương ở Hà nội, đảng cộng sản Việt Nam đã trà trộn người vào đoàn biểu tình, lúc đầu chiếm một vài công sở, sau đó cướp chính quyền. 

Ngày 2/9/1945, Hồ chí Minh đọc “ Bản Tuyên Ngôn Độc lập “; nhưng thực tế họ Hồ đã đặt đất nước chúng ta vào trong gông cùm cộng sản, biến dân Việt thành nạn nhân, nước Việt thành bãi chiến trường.

   Nhìn lại lịch sử tất cả những chế độ cộng sản từ trước tới nay, đều là do sự giúp đỡ của ngoại bang, dưới hình thức này hay hình thức khác, đều là do cướp chính quyền mà ra, chứ không có một chế độ nào do dân bầu mà có. Về sau có những cuộc bầu cử, nhưng đều là những cuộc bầu cử giả dối, kiểu “Đảng cử, dân bầu “.

   Hơn thế nữa, tất cả những chế độ cộng sản đều tìm cách tiêu diệt những thành quả dân chủ đã có từ trước, do những phong trào, tổ chức, đảng phái quốc gia đã lập nên.

   I I )  Chế độ đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loạu là tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền.

   Thật vậy, tất cả những chế độ cộng sản đều là chế độ độc tài, bắt đầu bằng chế độ của Lénine. Sau khi được Bộ Tham Mưu Đức đưa về cướp chính quyền, Lénine có tổ chức một cuộc bầu cử quốc hội lập hiến, hy vọng rằng sẽ thắng; nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại, đảng của Lénine bị rơi vào thiểu số. Quốc hội này chỉ họp có một ngày, rồi bị Lénine giải tán ngày 18/1/1918.

   Theo dõi sát những hành động của Lénine, bà Rosa Luxembourg, bạn của Lénine, cùng hoạt động trong Đệ Nhị Quốc Tế Cộng sản, người mà đảng Dân chủ Xã hội Đức hiện nay coi như là ân nhân và nhà sáng lập, đã không ngần ngại viết thư cho ông ta trước khi bà chết vào năm 1919, trong Nhật Ký của bà :

   “ Cái đảng và nhà nước độc tài mà anh thành lập ra, anh bảo nó phục vụ thợ thuyền và nhân dân. Nhưng thực tế nó chẳng phục vụ một ai cả; vì nó đã đi ngược lại những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội. Đó là tôn trọng tự do và dân chủ.” 

 Đây cũng là một trong những lý do đưa đến sự sụp đổ của những chế độ cộng sản sau này, vì nó đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại. Đó là tôn trọng tự do, dân chủ và nhân quyền.

   I I I )   Chế độ đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của quốc gia dân tộc

   Không những chế độ cộng sản đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, mà nó còn đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
   Thật vậy, áp dụng lý thuyết của Marx, chủ trương đoạn tuyệt tận gốc rễ với truyền thống dân tộc, những chế độ cộng sản tìm cách tiêu hủy tôn giáo, phá nhà thờ, phá chùa, đốt sách. Marx viết:
   “ Cách mạng cộng sản là sự đoạn tuyết tận gốc rễ với chế độ tư hữu cổ truyền; không có gì ngạc nhiên, nếu trong sự phát triển của nó, cách mạng cộng sản đoạn tuyệt tuyệt đối với những ý tưởng cổ truyền.” ( Le manifested u Parti communiste  - trang 44 – Union générale d’Editions-Paris-1962).

   I V )   Đó là một chế độ bất bình thường, chủ trương bạo động lịch sử, giết chết giai tầng trí thức và trung lưu, xương sống cũa một xã hội.   Một chế độ diệt chủng !

   Có thể nói, hai người hiểu rõ sự tàn độc của chủ nghĩa và chế độ cộng sản ở Á châu là cụ Phan bội Châu và tướng Tưởng giới Thạch.
   Cũng vào những năm đầu của thập niên 20, trong khi Hồ chí Minh ở bên Pháp lao đầu đi theo cộng sản, mà chưa rõ Đệ Nhị và Đệ Tam là gì, thì cụ Phan bội Châu, cũng được người của tổ chức này chiêu dụ ở bên Tàu, đưa nội qui của tổ chức cho cụ đọc, cụ ý thức rất rõ là nếu theo thì phải từ bỏ chủ quyền quốc gia, truyền thống dân tộc. Cụ còn nói thêm: “ Tôi chẳng duy vật, tôi chẳng duy tâm, tôi chỉ duy dân.”
   Người thứ hai, đó là tướng Tưởng. Ông được Tôn dật Tiên, sau hiệp ước thân thiện Trung Sô vào năm 1923, gửi sang Liên sô để học. Theo nguyên tắc, ông phải ở bên đó lâu. Nhưng ông về ngay sau mấy tháng. Người ta hỏi: “ Tại sao tướng quân không ở bên đó lâu để học ? “, thì ông trả lời:
   “ Tôi không có gì để học ở bên đó ". Sau ông nói tiếp :
   “ Một con người không có xương sống, thì suốt đời chỉ nằm và bò, không bao giờ đứng dậy được. Xương sống của một xã hội là giai tầng trí thức và trung lưu. Cộng sản chủ trương tiêu diệt trí thức và trung lưu. Nên xã hội cộng sản không bao giờ đứng dậy được "

   Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan có tuyên bố:

   “ Lịch sử nhân loại có nhiều trang đẫm máu và tang thương. Nhưng chưa có những trang nào đẫm máu và đau thương như những trang sử cộng sản. Nga sô và các dân tộc Đông Âu đã can đảm đứng lên lật qua những trang sử đẫm máu và tang thương của mình, để viết những trang sử mới tốt đẹp hơn. Những dân tộc còn lại hãy bắt noi gương các dân tộc Nga và Đông Âu, can đảm đứng lên để lật qua trang sử cộng sản, để viết trang sử mới, cũa tự do, dân chủ, của ấm no, hạnh phúc "
   Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi.
   Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.

                             Paris ngy 2/5/2009

                                 Chu chi Nam


.Báo TQ vừa dụ vừa dọa, xuyên tạc, bôi nhọ: Việt Nam ôm chân Mỹ.




Date: Tue, 3 Jun 2014 16:10:08 -0500
Subject: Báo TQ vừa dụ vừa dọa, xuyên tạc, bôi nhọ: Việt Nam ôm chân Mỹ & Hoa Kỳ kết liễu sự mập mờ của Trung quốc về đường chín đoạn
From: lienhoasac.b

.Báo TQ vừa dụ vừa dọa, xuyên tạc, bôi nhọ: Việt Nam ôm chân Mỹ.

Published on June 2, 2014    NGUYENTANDUNG-BenjaminCardin
Thượng nghị sĩ Mỹ Benjamin Cardin vừa đến thăm Việt Nam
 
Tờ “Nhật báo kinh tế Cam Túc” Trung Quốc ngày 30 tháng 5 có bài viết cho rằng, thượng nghị sĩ Mỹ Benjamin Cardin vừa thăm Việt Nam, đã được Việt Nam hoan nghênh (bài báo cho ông là “chúa cứu thế”), ông Cardin được rất nhiều quan chức cấp cao Việt Nam như Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng tiếp kiến, truyền thông thì tích cực đăng tải sự ủng hộ đối với ông, cho biết, thượng nghị sĩ Mỹ phê phán hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo bài báo, thời điểm ông Benjamin Cardin thăm Việt Nam đúng vào lúc “tranh chấp Biển Đông giữa Trung-Việt” (thực chất là Trung Quốc xâm lược vùng biển chủ quyền của Việt Nam) nóng lên nhanh chóng, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam mà bài báo vu vạ cho rằng chính quyền Việt Nam dung túng, đã “không dọa được hoạt động (trái phép) giàn khoan Trung Quốc ở Biển Đông”, trái lại, bài báo cho là kinh tế và hình ảnh của Việt Nam bị tổn thương, do đó Việt Nam cần gấp một “ân nhân cứu mạng” (?).

Theo báo chí Việt Nam, các đại biểu Quốc hội Việt Nam đã yêu cầu chính phủ công bố kế hoạch để doanh nghiệp, người dân tìm hiểu cách thức ứng phó của chính phủ đối với tác động ảnh hưởng từ căng thẳng trên Biển Đông. Phó Thủ tướng Việt Nam tuyên bố, Việt Nam đang tích cực kiểm soát tình hình.
 
Trung Quốc luôn bố trí lượng lớn tàu xung quanh giàn khoan Hải Dương 981 hạ đặt trái phép ở vùng biển chủ quyền của Việt Nam, trong đó có tàu quân sự, hải cảnh, tàu cá…

Bài báo dẫn bình luận của 1 “học giả” cho biết, kế hoạch ứng phó Trung Quốc của chính quyền và các nhà chiến lược Việt Nam gồm: Một là “lôi kéo” (hợp tác) Mỹ, Nhật Bản và Philippines cùng tạo ra môi trường quốc tế để Trung Quốc phải đối mặt với áp lực. Hai là theo đuổi “bảo đảm triệt tiêu lẫn nhau” giống như thời kỳ Chiến tranh Lạnh – báo Trung Quốc thêm lời xuyên tạc.

Học giả Trung Quốc Tôn Tiểu Nghênh ngày 28 tháng 5 cho rằng, Việt Nam đã có chút “hoảng sợ”, theo đuổi “bảo đảm triệt tiêu lẫn nhau” sẽ chỉ làm hao tổn bản thân, chỉ cần Trung Quốc giữ kiên định, Việt Nam “ôm chân ai” đều không có tác dụng – báo Trung Quốc tiếp tục tuyên truyền xuyên tạc xấu về Việt Nam.

Việt Nam coi trọng sự ủng hộ của Mỹ

Bài báo dẫn lời người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh ngày 29 tháng 5 cho rằng, từ ngày 2 tháng 5 đến nay, Việt Nam đã điều nhiều loại tàu tiến hành “quấy rối” (thực ra là chấp pháp) đối với hoạt động của giàn khoan (trái phép) Trung Quốc tại “vùng biển quần đảo Tây Sa” (thực chất là vùng biển chủ quyền của Việt Nam).

Cảnh Nhạn Sinh lớn tiếng và trịch thượng dọa nạt rằng, quân đội Trung Quốc đang thực hiện “chức trách bảo vệ lao động hòa bình của nhân dân” (thực chất là đi cướp biển của nước khác), sẽ “căn cứ vào việc triển khai thống nhất của nhà nước, làm tốt các công việc liên quan”, rằng “quyết tâm và ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển quốc gia của quân đội Trung Quốc là kiên định, không thay đổi, trong vấn đề này tuyệt đối không có chỗ cho mặc cả, cũng quyết không cho phép bất cứ hành vi khiêu khích nào”.

Bài báo xuyên tạc cho rằng, thượng nghị sĩ Mỹ Benjamin Cardin đến thăm được truyền thông Việt Nam đăng tải như là “Việt Nam tìm được chỗ dựa”. Theo bài báo, trong nhiều ngày qua, tranh thủ tiếng nói ủng hộ trong và ngoài nước liên quan đến “tranh chấp Biển Đông” là đặc sắc lớn nhất của các phương tiện truyền thông Việt Nam”.


Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki gọi việc Trung Quốc lắp đặt giàn khoan dầu khí ở vùng biển tranh chấp là “khiêu khích và nguy hiểm”.

Theo nhận định xằng bậy của bài báo, truyền thông Việt Nam đã chú ý đăng tải hình ảnh bắt tay giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với thượng nghị sĩ Mỹ Benjamin Cardin. Trong cuộc gặp này, Thủ tướng Việt Nam đã cảm ơn phía Mỹ đã bày tỏ thái độ phản đối Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đồng thời hy vọng Mỹ tiếp tục có hành động mạnh mẽ phản đối hành vi nói trên của Trung Quốc.

Thượng nghị sĩ Mỹ Benjamin Cardin cho biết, ông sẽ tham dự Đối thoại Shangri-La và sẽ đưa ra sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 và tiến hành thảo luận về các vấn đề như tình hình căng thẳng biển Hoa Đông. Đối với cuộc gặp này, báo chí Việt Nam cho rằng, Việt Nam mong muốn thúc đẩy hợp tác toàn diện với Mỹ.

Theo tuyên truyền có chủ ý xuyên tạc của báo Trung Quốc thì Đài tiếng nói nước Nga ngày 28 tháng 5 dẫn lời học giả Viện khoa học Nga Vinogradov cho rằng, “Mỹ có ý định lợi dụng tranh chấp khu vực để tối đa hóa lợi ích của họ, Mỹ cho rằng không thể để điểm nóng ở châu Á-Thái Bình Dương mất đi tính gay gắt”.

Theo bài báo, dựa vào Mỹ chỉ là một trong những cách thức để Việt Nam thoát khỏi tình hình khó khăn hiện nay. Vào ngày 27 tháng 5, cựu Đại sứ Việt Nam tại Liên hợp quốc đề nghị, Việt Nam cần nhanh chóng đưa vấn đề giàn khoan 981 của Trung Quốc lên Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên hợp quốc. Nhưng, ông cũng dự kiến, là một thành viên của Hội đồng Bảo an, Trung Quốc có thể tiến hành phủ quyết và cũng sử dụng vai trò ảnh hưởng của họ tại Đại hội đồng.

Ngày 28 tháng 5, Phái đoàn Đại diện Thường trực nước ta tại Liên hợp quốc đã gửi thư cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đề nghị lưu hành Công hàm của Bộ Ngoại giao nước ta gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc, phản đối Trung Quốc không chịu chấm dứt các hoạt động vi phạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế của VN theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên.

Ngày 28 tháng 5, các phương tiện truyền thông Việt Nam đưa tin, Việt Nam đã làm tốt công tác chuẩn bị cho việc kiện Trung Quốc ở tòa án quốc tế.

Học giả Australia Carl Thayer ngày 28 tháng 5 nói với tờ “Học giả Ngoại giao” Nhật Bản rằng, một số nhà phân tích ở Việt Nam cho rằng, Trung Quốc đang tiến hanh một “cuộc chiến tiêu hao” không cân bằng ở Biển Đông với Việt Nam, tàu Việt Nam không thể địch nổi tàu Trung Quốc lớn hơn, theo tốc độ tổn hại hiện nay, Việt Nam có thể “không có đủ tàu” để chống Trung Quốc.

Việt Nam cũng đang cân nhắc hợp tác với Mỹ, một đề nghị là đẩy nhanh hợp tác giữa Cảnh sát biển hai nước. Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ (cảnh sát biển) có thể đến vùng biển Việt Nam để tiến hành huấn luyện liên hợp, hai bên có thể trao đổi quan sát viên.
Căn cứ vào hiệp định hợp tác quốc phòng tăng cường ký kết cách đây không lâu, máy bay trinh sát biển của hải quân Mỹ triển khai ở Philippines có thể lâm thời điều đến Việt Nam. 

Chúng có thể tiến hành diễn tập do thám trên biển liên hợp với phía Việt Nam. Nhân viên quân đội Mỹ có thể làm quan sát viên lên máy bay trinh sát của Việt Nam.
THEO GIÁO DC

Related

PHỦ NHẬN LIÊN KẾT VỚI MỸ CHỐNG TRUNG QUỐC: NƯỚC NHỎ TÌM LIÊN MINH ĐỂ CHỐNG NƯỚC KHÁC LÀ TỰ SÁT

PH NHN LIÊN KT VI M CHNG TRUNG QUC: NƯỚC NH TÌM LIÊN MINH Đ CHNG NƯỚC KHÁC LÀ T SÁT

In "Lãnh Th"
TQ vu cáo, đe dọa Việt Nam có thể nếm trải lại

TQ vu cáo, đe da Vit Nam có th nếm tri li "bài hc lch s"

In "Quc tế"
Asean phải kiềm chế thành viên

Asean phi kim chế thành viên

In "Quc tế"




Hoa Kỳ kết liễu sự mập mờ của Trung quốc về đường chín đoạn
Published on June 2, 2014   ·   No Comments

Lần đầu tiên Hoa Kỳ đã bày tỏ một cách rõ ràng rằng đường chín đoạn do Trung quốc và Đài loan vẽ ra trên Biển Đông là trái với luật pháp quốc tế. Trong buổi tường trình trước Uỷ Ban Đối Ngoại của Quốc hội Hoa Kỳ, trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương Danny Russel đã nói: “Theo luật pháp quốc tế, các đòi hỏi chủ quyền ở biển Biển Đông phải dựa trên các yếu tố từ đất liền.

Tất cả những tuyên bố chủ quyền từ “đường chín đoạn” của Trung quốc mà không dựa trên các quyền chủ quyền trên đất liền đều trái với luật pháp quốc tế. Cộng đồng thế giới yều cầu Trung quốc phải giải thích, nếu không thì phải điều chỉnh những tuyên bố chủ quyền dựa trên đường chín đoạn, để tuân thủ theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.”

Với diện tích rộng hơn 1,4 triệu dặm vuông, Biển Đông có hàng trăm các đảo và quần đảo nhỏ, các rặng san hô, mà phần lớn là không có người ở hay không đủ điều kiện sinh sống. Trung quốc thừa hưởng ý tưởng về đường chín đoạn từ chính quyền quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đó là một đường vẽ mập mờ bao quanh tất cả các hòn đảo ở Biển Đông, mà vùng nước trong đó Trung quốc đòi hỏi chủ quyền. 

Dựa theo Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (U.N. Convention on the Law of the Sea – UNCLOS), được thương thảo vào những năm 70 và 80, các quốc gia ven biển được yêu sách quyền độc quyền khai thác các nguồn tài nguyên ngư nghiệp và khoáng sản trong “vùng đặc quyền kinh tế” (Exclusive Economic Zones – EEZ), đó là vùng nước rộng 200 hải lý tính từ bờ biển hay xung quanh các hòn đảo có người ở. 

Không có điều luật nào trong công ước UNCLOS cho phép đòi hỏi quyền chủ quyền mà không dựa vào nguyên tắc tính từ đất liền này. Dựa trên nguyên tắc này của UNCLOS, Hoa Kỳ xem các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông mà không dựa trên các hòn đảo có người sinh sống là hoàn toàn vô giá trị. Tuyên bố của trợ lý ngoại trưởng Russel đã làm rõ luận điểm này của Hoa Kỳ.

Có thể thấy rõ sự quan tâm của Hoa Kỳ dưới chính quyền của Tổng thống Obama đến tình hình Biển Đông. Chỉ dấu đầu tiên của sự quan tâm đó là tuyên bố được biết đến rộng rãi của Ngoại trưởng Clinton tại một hội nghị quốc tế tại Hà nội vào năm 2010, trong đó bà nêu ra các nguyên tắc trong chính sách của Hoa Kỳ ở Biển Đông: đó là tôn trọng tự do hàng hải, giải quyết các bất đồng một cách hoà bình, tự do thương mại, thương thuyết để tiến tới thành lập một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (Code of Conduct – COC) nhằm giải quyết các bất đồng, và vấn đề liên quan ở đây, là các đòi hỏi chủ quyền vùng ở các vùng biển phải dựa trên các chủ quyền hợp pháp trên đất liền. 

Tuyên bố của bà Clinton đã đụng chạm đến một chủ đề rất mập mờ mà trước đó ít được nhắc đến, nó làm cho Biển Đông trở thành một điểm nóng về ngoại giao, một chủ đề tranh luận giữa các nhà phân tích và các chuyên gia về an ninh quốc gia, và trong một vài trường hợp, nó làm cơ sở cho các tranh cãi của các bên đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Trong khi các nước Đông Nam Á như Việt Nam. Philippines, Malaysia, và Brunei nhiệt liệt ủng hộ, tuyên bố này làm Trung quốc rất tức giận.


Ngoại trưởng Clinton đã đưa ra tuyên bố này để phản hồi cho những bất an ngày một gia tăng giữa các nước láng giềng của Trung quốc về việc nước này đang ngày càng mạnh bạo hơn trong các đòi hỏi chủ quyền thông qua các phương cách chính trị và quân sự, trong một môi trường thiếu vắng các cơ chế ngoại giao để làm giảm thiểu các căng thẳng.

 Trong khoảng giữa năm 1994 và 1995, đã có một giai đoạn căng thẳng tương tự khi Trung quốc tiến hành xây dựng các công trình ở rặng san hô Mischief nằm trong quần đảo Trường Sa mà Philippines tuyên bố chủ quyền. 

Những đổ vỡ mang tính hệ quả trong mối quan hệ giữa Trung quốc và các nước Đông Nam Á đã làm cho các lãnh đạo Trung quốc khi ấy, mà dẫn đầu là ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham, phải thương thảo với các nước ASIAN một bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declaration of Conduct – DOC), và một cam kết rằng các bên sẽ không có những hành động làm thay đổi nguyên trạng. Mặc dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ tấn công tàu cá do một trong các bên, hoặc một trong những quốc gia liên quan, mà chủ yếu là Việt Nam, cho phép các công ty thăm dò dầu khí trong vùng tranh chấp, những biến cố này đã không châm ngòi cho các cảnh báo chiến tranh.

Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, đã có những lo ngại gia tăng trong vùng và ngay tại Hoa Kỳ là Trung quốc đã không còn thích thú với các giải pháp ngoại giao nữa, mà nay đang quay sang sử dụng các phương cách quân sự và luật pháp để thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Các tuyên bố nhắm vào giới ngoại giao Hoa Kỳ là Trung quốc xem Biển Đông như một “quyền lợi cốt lõi” mà liên quan nó Trung quốc sẽ không chấp nhận sự can thiệp làm tăng căng thẳng từ bên ngoài.

 Trong năm 2012, Trung quốc đã xua đuổi ngư dân Philippines ra khỏi ngư trường truyền thống của họ nằm xung quanh bãi cạn Scarborough, nằm cách các đảo lớn của Philippenes ít hơn 125 dặm, rồi từ đó cho cảnh sát biển liên tục kiểm soát. 

Cũng trong năm 2012, Trung quốc thiết lập một đơn vị hành chánh và quân sự bao gồm nhiều phần của quần đảo Hoàng sa. Ngay khi vừa thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông vào cuối năm 2013, người phát ngôn bộ ngoại giao Trung quốc tuyên bố ý định thành lập một vùng nhận dạng phòng không tương tự ở Biển Đông, chắc chắn sẽ chồng lấn với ít nhất vài khu vực đã được thiết lập bởi các nước khác.

Biển Đông là một vấn đề phức tạp đối với Hoa kỳ. Chúng ta không có đòi hỏi nào trong vùng đó. Chúng ta đã không, và sẽ không nên ngả theo phe nào trong các tuyên bố chủ quyền. Cho dù bất kỳ nước nào thiết lập được khả năng phát huy sức mạnh từ các đảo ở Biển Đông cũng sẽ khó lòng mà đe doạ được tàu bè và quân đội Hoa kỳ hoạt động trong vùng. Mặc dù có những đánh giá về tiềm năng dầu hoả và khí đốt, khả năng khai thác thương mại là không thể trong tương lai gần.

Tuy nhiên, Hoa kỳ có các mối quan tâm trọng yếu ở biển Biển Đông. Đó là:
• Để bảo đảm tự do hàng hải, không phải vì quyền lợi của bất cứ nước cụ thể nào, mà đó là một quyền quốc tế quan trọng trong một khu vực mà 50% các tàu chở dầu phải đi qua, một hải lộ lớn của kinh tế thế giới, và là nơi mà các tàu hải quân Hoa kỳ được gửi đến và hoạt động thường xuyên theo luật pháp quốc tế.

• Để ngăn chặn việc sử dụng sức mạnh hay áp bức để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay hàng hải.

• Để bảo vệ cho việc tuân thủ các nguyên tắc và luật pháp quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề như vậy.

• Để bảo đảm tất cả các quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ, được quyền khai thác các nguồn lợi ngư nghiệp và khoáng sản bên ngoài các vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp.

• Để ngăn chặn một đồng minh của Hoa Kỳ là Phillippenes khỏi bị bắt nạt hay bị tấn công bằng sức mạnh.

• Để đảm bảo rằng quyền lợi của tất cả các quốc gia, chứ không phải chỉ có nước lớn, phải được tôn trọng.

Có những áp lực giữa các yếu tố khác nhau trong quyền lợi của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không muốn thấy Trung quốc đạt được quyền kiểm soát trong khu vực thông qua việc áp bức. Nhưng cùng lúc, Hoa Kỳ không muốn Biển Đông trở thành nơi đối đầu hay xung đột giữa Mỹ và Trung quốc. Sự thách thức các đòi hỏi của Trung quốc, nếu không tuân theo các thông lệ quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc của Hoa Kỳ, có thể kích thích chủ nghĩa dân tộc Trung hoa và sự hoài nghi nhắm vào chủ đích của Hoa Kỳ, và thậm chí kích thích các hành xử hung bạo hơn của Trung quốc trong vùng nhắm vào các bên tranh chấp khác nếu như Hoa Kỳ không có những đáp trả hiệu quả. Mặt khác, một Hoa kỳ thụ động sẽ làm lu mờ các quan tâm kể trên, và sẽ làm cho các bên tranh chấp khác tin rằng Hoa Kỳ bỏ rơi họ và cả những nguyên tắc của mình, qua đó có thể làm cho chính sách “xoay trục” của chính quyền Obama về Châu Á trở thành trò hề, làm mất đi sự đón nhận của khu vực đối với sự hiện diện và ảnh hưởng của Hoa Kỳ.

Qua việc công khai không chấp nhận đường chín đoạn, trợ lý ngoại trưởng Russel và chính quyền Obama đã vạch ra một sự giới hạn đúng chỗ. Họ đã làm rõ là những phản đối của chúng ta dựa trên nguyên tắc, dựa trên luật pháp quốc tế, chứ không phải chỉ để nhắm vào Trung quốc. Nếu cách tiếp cận của chúng ta với vấn đề Biển Đông vẫn tiếp tục dựa trên nền tảng của nguyên tắc và luật pháp quốc tế, Hoa Kỳ có thể đạt được những mục tiêu đề ra, bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp mà không phải đối đầu với Trung quốc trong vấn đề chủ quyền.

Những việc gì khác mà Hoa Kỳ nên làm? Rất nhiều thứ:
• Hoa Kỳ nên đảm bảo rằng cách tiếp cận của mình không bị xem là đơn phương. Đôi khi các quốc gia khác ngoài mặt thì im lặng nhưng bên trong vẫn ủng hộ. Chính quyền Hoa Kỳ nên làm rõ với các bên tranh chấp khác, cũng như các nước ASIAN khác như Singapore và Thái Lan, là chúng ta kỳ vọng ở họ một sự phản đối công khai đối với đường chín đoạn theo luật pháp quốc tế.

• Hoa Kỳ nên thảo luận với Đài Loan để làm rõ quan đểm của họ về đường chín đoạn, làm rõ rằng những đòi hỏi của họ phải dựa theo UNCLOS.

• Hoa Kỳ nên tiếp tục nỗ lực cho việc đàm phán để tạo ra một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (COC) giữa Trung quốc và các nước ASIAN, như chúng ta đã và đang làm từ lúc ngoại trưởng Clinton thông báo về mục tiêu đó ở Hà nội. Thực tế là, quyết định gần đây của Trung quốc và các nước ASIAN trong việc bắt đầu các cuộc đối thoại về COC là một thắng lợi từ tuyên bố của ngoại trưởng Clinton.

• Hoa Kỳ nên khuyến cáo Trung quốc không thành lập bất cứ một vùng nhận dạng phòng không mới nào trên Biển Đông. Mặc dù việc làm rõ quan điểm về vấn đề này một cách công khai là cần thiết, các cuộc đối thoại ngoại giao kín dường như có tác dụng ảnh hưởng hơn với Bắc Kinh.

• Hoa Kỳ nên thảo luận với tất cả các bên tranh chấp về những đồng thuận khả thi trong việc khai thác khoáng sản và ngư nghiệp mà không liên quan đến chủ quyền, bao gồm việc hợp tác đầu tư giữa các công ty.

• Thượng nghị viện nên chuẩn thuận UNCLOS. Điều đó sẽ cho phép Hoa Kỳ có thêm tính chính danh khi tham gia một cách chủ động và hiệu quả vào các quyết định về tương lai Biển Đông. Tất cả các ngoại trưởng tiền nhiệm của Hoa Kỳ đều ủng hộ một quyết định như vậy. Hải quân Hoa Kỳ cũng như các nguyên soái hải quân và tư lệnh Thái Bình Dương, cũng như phần lớn các công ty Hoa Kỳ có liên quan, cũng đều ủng hộ. Thay vì nói, chúng ta hãy bắt tay vào làm thôi.

Liêm Nguyên chuyển ngữ theo brookings.edu:
The U.S. and China’s Nine-Dash Line: Ending the Ambiguity

Related
Mỹ đòi TQ giải thích yêu sách chủ quyền
In "Quốc tế"


Đường chín đoạn
In "Lãnh Thổ"


Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ: Đường lưỡi bò là một thách thức ở Biển Đông
In "Quốc tế"


Read more: http://www.ttxva.net/hoa-ky-ket-lieu-su-map-mo-cua-trung-quoc-ve-duong-chin-doan/#ixzz33T7CEajJ
--


 
Minhhà

Trung Quốc”: cái tên cần xét lại




Date: Tue, 3 Jun 2014 15:30:22 -0700
From: quatloiphong
Subject: Trung Quốc”: cái tên cần xét lại

Trung Quốc”: cái tên cần xét lại

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Trong bối cảnh Tàu Khựa đem vào vùng Đặc quyền Kinh tế của VN dàn khoan H(ôi) D(ầu) 981 đang khiến người Việt trong lẫn ngoài nước phản đối quyết liệt và thế giới lên tiếng tố cáo đích danh, cái tên gọi quốc gia thảo khấu là Trung Quốc cần phải xét lại.

Trung Quốc: Trung tâm thế giới ? Theo “giáo sư” Gu Gồ: “Trung Quốc” viết theo kiểu giản thể ngày nay là 中国, còn kiểu phồn thể truyền thống là 中國. Nếu chiết tự thì là một trục cắt giữa một hình chữ nhật, biểu thị “ở giữa”; thuộc bộ “vi” () để chỉ một lãnh thổ có bao bọc, chữ nhất là một bức tường, và chữ qua là một lưỡi “qua”; nôm na là “vùng đất ở giữa”; nghĩa bóng là “quốc gia ở dưới gầm trời” (“thiên hạ”), ý nói Trung Quốc là trung tâm thế giới và có sức mạnh văn hóa và quân sự hơn hẳn các nước chung quanh”.(*)

“Trung Quốc là trung tâm thế giới…” Đó là tên do “người anh cả của VN” của “Hòa thượng” cháu rọt bác Hồ Thích Chơn Quang “tự sướng” gọi, chứ không phải ai khác.

Nay VN cũng gọi Tàu Khựa là Trung Quốc thì có nghĩa là ta đồng tình và công nhận China là cái rốn của vũ trụ.

Nếu đã công nhận đó là cái rốn của vũ trụ, mặc nhiên chẳng riêng gì VN mà mọi nước khác kể cả Mỹ chỉ là vệ tinh, cứ thế mà quay theo…China.

China “quay” dàn khoan HD 981 vào Biển Đông, dù là lãnh hải của mình nhưng VN chống lại thì rõ ràng là phản động. Phản động! cái khoản “phản động” lại là thứ Kách Mạng VN kỵ nhất.

Thành thử, VN muốn chống Tàu Khựa “hôi dầu” thì không nên gọi phường thảo khấu phương Bắc là Trung Quốc, nhưng phải gọi là Trung Cộng, tức Trung Hoa CS, mới chính danh.

Nếu có “đồng chí” nào chưa “giải Lú” được, cứ khư khư gọi Tàu Khựa “Trung Quốc”, thì nên động não “liên hệ” với chuyện “Đừng gọi anh bằng chú”: Chú nào lại đi ghẹo cháu.

image
Dân Làm Báo
Preview by Yahoo



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link