Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, June 9, 2014

Thoát Trung: Việt Nam chỉ có một con đường: THAY ĐỔI HAY LÀ CHẾT!


Thoát Trung: Vit Nam ch có mt con đường: THAY ĐI HAY LÀ CHT!


Gen yêu nước của chúng ta vẫn luôn khỏe mạnh và vượt trội để thoát ra khỏi cái bóng Trung Hoa đang đè lên mọi mặt cuộc sống hôm nay.

     

Phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép Hải Dương 981 trên Vùng biển Việt Nam

1. Lý do đặt vấn đề về Thoát Á, Thoát Hán hay Thoát Trung

- Một câu hỏi được đặt ra một cách tự nhiên khi người ta quan sát thực tiễn đó là các quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…đạt được trình độ phát triển cao về mọi mặt như hiện nay dù mỗi nước theo cách riêng của mình nhưng đều đã lần lượt thoát ra khỏi mô thức phát triển tù túng, gò bó vốn tồn tại hàng ngàn năm trên lục địa này.



Ví dụ như Nhật Bản từ thời Minh Trị cách đây hơn 120 năm đã khởi xướng thành công quá trình “Thoát Á” mà về bản chất là quá trình rũ bỏ gông cùm của hệ tư tưởng phong kiến và lối sống tù túng, ngột ngạt kiểu Trung Hoa vốn đã giam hãm đất nước này trong lạc hậu, chậm tiến và yếu hèn. Những nội dung của trào lưu xã hội “Thoát Á” khi đó chúng ta có thể tìm đọc trong tiểu phẩm “Thoát Á luận” lừng danh của học giả Fukuzawa Yukichi. Cũng tại Nhật, gần như đồng thời với trào lưu “Thoát Á” là phong trào “Âu hóa” diễn ra sâu rộng dưới sự dẫn dắt của giới trí thức có tư tưởng cách tân và được chính quyền ủng hộ mạnh mẽ do giới lãnh đạo tinh hoa của Nhật đã nhìn thấy hiểm họa to lớn nếu đất nước tiếp tục “ngủ yên” trong mô thức Trung Hoa.

Tại Việt Nam, thời cụ Phan Châu Trinh cũng đã diễn ra trào lưu xã hội mang hơi hướng “Thoát Á” nhưng rất tiếc là giới trí thức Việt Nam lúc đó chưa đủ mạnh, chính quyền thực dân và triều đình phong kiến đã không vượt qua nổi tầm nhìn thiển cận và tham lam nên đã dập tắt phong trào đúng nghĩa là xã hội dân sự này.

- Vậy tại sao mô thức phát triển Trung Hoa lại bị các quốc gia lân bang phê phán và muốn từ bỏ?

Vì đó là mô hình xã hội toàn trị kiểu phong kiến, con người bị giam hãm trong mọi không gian: chính trị, kinh tế, văn hóa và riêng tư gia đình. Trong mô thức đó động lực cá nhân bị thui chột hoặc méo mó dẫn đến kết cục là cả xã hội bị trì trệ, khủng hoảng triền miên. Điều này giải thích vì sao phương Tây đã thắng thế trong cuộc chinh phục phương Đông trong hơn 100 năm qua và các quốc gia lạc hậu ở Châu Á đã nhận thức được rằng con đường đúng đắn phải là thoát Á (đồng nghĩa với thoát Trung Hoa) và học tập Tây phương. (các độc giả có thể tham khảo bài viết “Thoát Á mới có thể thoát thân” và “Quốc gia “tự nâng mình” theo chuẩn mực thế giới” của Phạm Gia Minh trên tuanvietnam).

2. Thế nào là thoát Trung đối với Việt Nam?

Câu trả lời có thể sẽ rất phong phú và đa dạng bởi lẽ nếu nói một cách văn hóa, nhẹ nhàng thì cái bóng của Trung Hoa đã từng phủ lên Việt Nam hàng ngàn năm nay trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và nhân chủng. Một cách trực diện và sát thực tế hơn thì móng vuốt của con sói Trung Hoa luôn muốn ghì chặt đất nước và dân tộc Việt này trong vòng tay lông lá của nó trong suốt chiều dài lịch sử.

Vậy thì thoát Trung đối với Việt Nam ta phải vừa làm sao để móng vuốt của con sói không dám đụng vào lãnh thổ vừa làm sao vượt ra khỏi sự che phủ của Trung Hoa lên mọi mặt cuộc sống để dân tộc được hưởng ánh sáng mặt trời.

Những cuộc kháng chiến thắng lợi quét sạch quân xâm lược phương Bắc đã góp phần gìn giữ nền độc lập dân tộc cũng chính là hành động đánh đuổi con sói, thế nhưng để ra khỏi cái bóng đen lừng lững của Trung Hoa thì dân tộc ta đã làm được chưa? Tôi xin đặt câu hỏi với các bạn tại đây.

Theo thiển ý của cá nhân tôi thì dân tộc ta chưa bao giờ thoát ra khỏi cái bóng đó trừ một vài thời khắc ngắn ngủi trong lịch sử. Dẫn chứng cụ thể là các vị anh hùng áo vải Việt Nam được nhân dân yêu nước ủng hộ tiến hành kháng chiến thắng lợi nhưng khi đã nắm quyền thì lại chưa hề biết xây dựng lên MÔ HÌNH XÃ HỘI TIẾN BỘ HƠN TRUNG HOA VỀ CHẤT và kết cục là MÔ HÌNH CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM DƯỜNG NHƯ LÀ MÔ HÌNH PHONG KIẾN TRUNG HOA THU NHỎ.

Và ngày nay thì Trung Quốc và Việt Nam là tương đồng về mô thức phát triển và thể chế kinh tế – chính trị – xã hội.

Do vậy THOÁT TRUNG ngày nay chắc chắn phải lấy nội dung CẢI CÁCH THỂ CHẾ làm mục tiêu hàng đầu.

Tuy nhiên bên cạnh sự tương đồng đó Việt Nam ta còn có thêm một số điểm yếu khác do hoàn cảnh lịch sử để lại đó là căn bệnh quan liêu – bao cấp kiểu Liên Xô và lề thói tư duy, hành động tiểu nông. Những căn bệnh này chắc chắn sẽ tạo thêm khó khăn cho quá trình THOÁT TRUNG.

3. Những bước đi của cải cách thể chế

Theo cách hiểu chính thống hiện nay thì thể chế là tập hợp những quy tắc cùng các chế tài được viết thành văn (chẳng hạn như Hiến pháp, các bộ Luật, quy chế, nghị định…) và bất thành văn (ví dụ như các quy tắc đạo đức, ứng xử chịu ảnh hưởng của văn hóa và truyền thống…) do con người lập nên, được chia sẻ trong cộng đồng nhằm hướng hành vi con người theo những lộ trình tương đối dễ tiên đoán, qua đó tạo ra một mức độ trật tự nhất định.

Người ta phân chia ra thành hai loại thể chế đó là:

- Thể chế bên trong: là hệ thống các quy tắc hình thành bởi kinh nghiệm lâu dài và được số đông trong cộng đồng chấp nhận, tuân thủ và trở thành truyền thống. Văn hóa là một thành tố quan trọng của thể chế bên trong.

- Thể chế bên ngoài: là hệ thống các quy tắc được thiết kế, được định rõ trong các bộ Luật, các quy định, đồng thời được áp đặt chính thức bởi một cơ quan quyền lực như Chính phủ chẳng hạn.

Giữa hai loại hình thể chế có mối tương tác, thực tiễn cho thấy hiệu lực của thể chế bên ngoài phụ thuộc vào liệu chúng có phù hợp, bổ trợ cho các thể chế bên trong không.

Như vậy để THOÁT TRUNG và hội nhập với cộng đồng các quốc gia văn minh, dân chủ và thịnh vượng thiết nghĩ cần có những biện pháp cụ thể nhằm

1/. Cải cách thể chế bên ngoài: đó là xây dựng bản Hiến Pháp tiên tiến và các bộ Luật đáp ứng đòi hỏi hiện nay như Luật Trưng cầu Dân ý, Luật về Hội, Luật biểu tình, Luật tiếp cận thông tin, v.v.

Việc xây dựng những bộ quy tắc mới, sửa đổi để hoàn thiện các quy tắc, Luật, biện pháp chế tài hiện hành là việc có thể làm được ngay trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nếu như các cơ quan công quyền có quyết tâm.

2/. Cải cách thể chế bên trong: quá trình này không thể có kết quả trong ngắn hạn vì nó chịu ảnh hưởng của tập quán, lối nghĩ và truyền thống văn hóa. Hơn thế nữa vai trò của các cơ quan công quyền trong việc tạo chuyển biến tích cực đối với lĩnh vực này sẽ rất hạn chế và đòi hỏi chi phí xã hội cao nếu như không biết kết hợp với các hoạt động phong phú của xã hội dân sự.

Người nông dân khi nhận thức được hiểm họa của việc đào gốc hồ tiêu, quế hay nuôi ốc bươu vàng, đỉa, v.v. đem bán cho thương lái Trung Quốc thì bằng những mạng lưới mang tính xã hội dân sự như cơ cấu dòng họ, đồng hương hay nhóm sinh hoạt tổ hưu, cựu chiến binh… sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống truyền thông xã hội lên nhiều lần.

Rõ ràng hiện nay đang có tình trạng “xơ cứng” ở thể chế bên ngoài thể hiện qua việc chậm ban hành hoặc thiếu các quy định mang hơi thở cuộc sống và chế tài đủ mạnh để ngăn chặn hành động phá hoại kinh tế của các thương lái Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực buôn bán tiểu ngạch qua biên giới, khai thác khoáng sản và nông, lâm, ngư nghiệp.

Đối với thể chế bên trong thì tâm lý “chuộng hàng ngoại” trong một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng đã và đang góp phần bóp chết sản xuất nội địa. Tật xấu thiếu tính hợp tác, nâng đỡ nhau trong giới doanh nhân Việt đã là nguyên nhân khiến hàng Việt khó trụ vững trên thương trường quốc tế. Và còn muôn vàn những ví dụ sinh động khác như tệ nạn đề đóm, cờ bạc, mê tín dị đoan, trọng hình thức mà coi nhẹ nội dung, trọng nam khinh nữ, thiếu tính kỷ luật, ăn cắp vặt, gây gổ, say rượu, v.v. cho thấy trong văn hóa truyền thống Việt Nam chúng ta còn có rất nhiều điểm hạn chế đang trở thành vật cản trên con đường THOÁT TRUNG để hội nhập với THẾ GIỚI VĂN MINH.

Thiết nghĩ để xây dựng thể chế bên trong tiến bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc góp phần THOÁT TRUNG một cách thiết thực và căn cơ, bền vững rất cần tới những hoạt động tự nguyện của các tổ chức xã hội dân sự mang tính lan tỏa, có chiều sâu, kiên trì và huy động được trí tuệ cộng đồng. Hãy phát huy TÂM và TÀI trong DÂN để tránh căn bệnh xơ cứng, nặng về hình thức và thành tích mà bấy lâu nay các tổ chức xã hội dân sự do Nhà nước điều hành vẫn mắc phải.

4. Kết luận


Trong lịch sử các quốc gia Châu Á, quá trình “Thoát Á” hay “Thoát Hán”, “thoát Trung” thành công thường phải đi kèm các điều kiện “Thiên thời – Địa Lợi – Nhân hòa”.

Thiên thời tức là hoàn cảnh quốc tế bên ngoài đòi hỏi phải có sự thay đổi trong nước. Ngày nay Việt Nam đã gia nhập nhiều tổ chức và ký kết nhiều công ước quốc tế (ví dụ như Công ước về Nhân quyền, Công ước về chống tra tấn…) và đang đàm phán TPP khiến chúng ta phải tự nhìn lại mình để thực hiện những thay đổi phù hợp. Sức ép từ quốc tế lên quá trình phát triển và hội nhập của Việt Nam là rất lớn.

Mặt khác Trung Quốc đã đánh rơi chiếc mặt nạ “trỗi dậy hòa bình” và công khai xâm lược vùng biển Việt Nam, bắt đầu bằng vụ đưa giàn khoan Hải Dương 981 và sẽ tiếp tục gây sức ép mọi mặt lên Việt Nam.

 Trước áp lực từ phương Bắc chúng ta chỉ có hai lựa chọn: một là phải tự thay đổi, phải củng cố an ninh, quốc phòng, kinh tế và dựa vào DÂN, thực lòng xây dựng một thể chế văn minh, dân chủ để tranh thủ được sự ủng hộ Quốc tế, hoặc là quy phục đầu hàng để chịu ách Bắc thuộc lần thứ hai và mãi mãi đánh mất chính mình.

Trước sức ép ghê gớm từ cả hai phía trên bình diện thời cuộc quốc tế, Việt Nam ta chỉ có một con đường:

THAY ĐỔI HAY LÀ CHẾT!


Địa lợi là yếu tố chưa bao giờ ủng hộ Việt Nam trong quá trình THOÁT TRUNG bởi lẽ Việt Nam luôn trong thế “núi liền núi, sông liền sông” với Trung Quốc. Tuy nhiên trong thế kỷ XXI này Trung Quốc không còn cái ưu thế cậy gần để một mình gây ảnh hưởng kinh tế, văn hóa và mang quân đi xâm lược như trước kia nữa.

Trong thế giới “phẳng” ngày nay, cự ly và khoảng cách do vậy cũng không có ý nghĩa to lớn như những thế kỷ trước. Việt Nam giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội với cả thế giới và nhân đây xin một lần nữa cảm ơn các bậc trí giả tiền nhân của chúng ta đã sáng suốt chấp nhận hệ thống ký tự Latinh làm cơ sở cho chữ quốc ngữ ngày nay. Người ta thường nói chữ viết là chiếc thuyền chở tư duy và tình cảm đến những bến bờ của nền văn hóa và nếu như vậy thì dân tộc Việt Nam từ hơn một thế kỷ nay (tính từ 1867) đã từ bỏ con thuyền nan Hán Nôm cũ kỹ để bước lên con tàu chạy động cơ lớn vượt đại dương.

Trong lĩnh vực văn hóa, nền tảng của thể chế bên trong, Việt Nam ta như vậy có ưu thế rất lớn để THOÁT TRUNG.

Khi đã xây dựng được thể chế bên ngoài tiến bộ trên cơ sở thể chế bên trong lành mạnh thì chúng ta sẽ tạo ra một môi trường thể chế có sức mạnh nội lực to lớn. Đó là sức mạnh sáng tạo của hơn 90 triệu người dân yêu nước được khuyến khích và động viên bởi bầu không khí dân chủ, tự do và khoa học. Đó còn là nguồn vốn đầu tư kinh doanh và nhân tài khắp bốn phương quy tụ về nơi mà thiên hạ vẫn gọi là “đất lành, chim đậu”.

Trong cuốn sách gây tiếng vang “Chiếc xe Lexus và cây Oliu”, nhà báo Mỹ Thomas Friedman lần đầu tiên đã đưa ra nhận định “thế giới ngày nay phẳng”. Đúng vậy, thế giới của chúng ta ngày một phẳng do không còn nhiều bức tường ngăn cản sự chuyển dịch dòng vốn và nhân lực. Tuy nhiên tôi xin thêm một nhận xét: “Thế giới ngày nay là một mặt phẳng nghiêng cho nên hiện tượng nước chảy chỗ trũng diễn ra mạnh mẽ và nhanh hơn trước”.

Khi Việt Nam chúng ta dám đột phá trong cải cách thể chế thì chắc chắn vốn đầu tư và nhân tài khắp nơi sẽ dồn về đây. Ngày nay các quốc gia đã qua thời cạnh tranh nhau bằng sản lượng mà đã chuyển sang cạnh tranh bằng THỂ CHẾ. Quy luật mới hình thành này có liên quan mật thiết tới đặc thù của nền kinh tế tri thức.

Cái cách mà Trung Quốc đang hung hăng khiêu khích và xâm lược lãnh thổ của các quốc gia láng giềng đã cho thấy lãnh đạo của đất nước 1,3 tỷ dân này vẫn chưa thoát ra khỏi lối tư duy Đại Hán đã rất lỗi thời mặc dù Trung Quốc đã soán ngôi nền kinh tế thứ hai thế giới của Nhật Bản về sản lượng. Và như vậy Trung Quốc chưa thể có môi trường thể chế lành mạnh chứ chưa nói tới mang tính cạnh tranh toàn cầu để thu hút các quốc gia khác. Trong bối cảnh đó, một môi trường thể chế dân chủ, tự do, thịnh vượng của Việt Nam sẽ làm nội bộ Trung Quốc phải nhìn lại chính mình.

Chúng ta không nên và không thể để thế giới nhìn Việt Nam và Trung Quốc là những chính thể đồng dạng hay “cá mè một lứa”. Việt Nam chỉ có thể được thế giới ủng hộ thực lòng khi chúng ta có thể chế lành mạnh.
Rõ ràng bài học “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy chí nhân để thay cường bạo” của tổ tiên để lại nếu được áp dụng trong thế kỷ XXI chính là vấn đề về THỂ CHẾ.

Nhân hòa hay yếu tố lòng dân luôn có vị trí thường trực trong suốt chiều dài lịch sử với bao thăng trầm. Chúng ta quen với lối nghĩ rằng dân ta yêu nước chống ngoại xâm mà đôi khi vẫn quên rằng thời nhà Hồ, khi giặc Minh tràn sang dân đã quay lưng với triều đình khiến đất nước rơi vào tay ngoại xâm với hơn 20 năm bi thương. Chúng ta cũng quên rằng chỉ vài chục tên lính lê dương mà quân Pháp đã lấy cả vùng mấy tỉnh Bắc Bộ bởi lẽ… “quân Pháp đi đến đâu, thì nhân dân, nam cũng như nữ, già cũng như trẻ đều chạy theo đến đó, níu lấy áo xin được quân Pháp che chở cho khỏi bị bọn quan tham ô lại hà hiếp bóc lột” (Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ. NXB Tp Hồ Chí Minh, 2000, trang 141).

Và có nhiều nhặn gì đâu những cái tên Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống hay Hoàng Văn Hoan đã đủ cho ta thấy thời nào cũng có bọn sẵn sàng bán nước cầu vinh hoặc quá hèn nhát trước cái thế trùng trùng binh mã của ngoại xâm phương Bắc.

Vì sao hiện có trên 90% các gói thầu những dự án quan trọng đều do Trung Quốc nắm?

Vì sao Trung Quốc thuê đất rừng đầu nguồn, mua ruộng của nông dân trên cả ba miền, thuê mặt nước “nuôi thủy sản” ngay sát đồn biên phòng Vũng Rô và đi lại trên đất Việt Nam như vào chốn không người, để đến khi bạo động ở Vũng Áng, Bình Dương làm lộ diện hàng chục ngàn người Trung Quốc “chui” thì các cơ quan chức năng mới biết?

Những bất cập hay “câu chuyện Mỵ Châu” thời nay có thể viết thành truyện 1001 đêm.

Và đó là điều rất có ảnh hưởng tới yếu tố nhân hòa.

Nhưng vượt lên trên tất cả sự nhu nhược, đớn hèn hay phản bội của số ít trong cộng đồng, lòng yêu nước của người Việt Nam cuối cùng vẫn chiến thắng. Phải chăng đó là mật mã của gen di truyền?

Nếu quả thực tồn tại gen yêu nước thì một khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi nó sẽ phát triển vượt trội để tạo nên những đột biến. Phải chăng với môi trường “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” thời Trần Hưng Đạo mà sự đột biến đã khiến giặc Nguyên Mông phải dừng bước trước một Việt Nam bé nhỏ?

Theo ngôn ngữ khoa học chính trị ngày nay thì môi trường tạo ra những đột biến xã hội chính là THỂ CHẾ. Khi thể chế lành mạnh lòng dân sẽ quy tụ quanh lãnh đạo, mọi quyền lợi hay tranh chấp nhỏ nhặt sẽ được dễ dàng bỏ qua để chung sức chung lòng đạt mục tiêu lớn. Khi thể chế suy đồi, hà khắc thì những gì đã xảy ra thời nhà Hồ và cuối triều Nguyễn là điều dễ hiểu…


Hy vọng rằng gen yêu nước của chúng ta vẫn luôn khỏe mạnh và vượt trội để thoát ra khỏi cái bóng Trung Hoa đang đè lên mọi mặt cuộc sống hôm nay.


Vợ con quan chức TQ 'phải về nước'


Vợ con quan chức TQ 'phải về nước'

Biểu Tình Tại Hà Nội 23/03/2014



Cập nhật: 09:54 GMT - chủ nhật, 8 tháng 6, 2014

Nhân vật từng rất quyền lực, Bạc Hy Lai, đã cho con sang Anh học
Một cuộc điều tra tại Trung Quốc tiết lộ rằng hơn 1.000 quan chức ở tỉnh Quảng Đông ở miền nam có vợ hoặc con sống ở nước ngoài.
Giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc muốn chấm dứt tình trạng này bởi họ tin rằng đây có liên quan tới tình trạng tham nhũng.

Các bài liên quan

Chủ đề liên quan

Việc có người nhà sinh sống ở nước ngoài không phải là điều bất hợp pháp, nhưng nó khiến cho các quan chức tham nhũng có thể gửi tiền kiếm được một cách bất hợp pháp ra nước ngoài.
Các quan chức Quảng Đông được yêu cầu phải đưa gia đình trở về, hoặc phải xin nghỉ việc, nếu không sẽ bị giáng cấp.

Gia đình hay công việc?

Hãng tin chính thức của nhà nước, Tân Hoa Xã, nói rằng đảng cộng sản tại Quảng Đông đã có cuộc điều tra kéo dài trong hai tháng đối với một nhóm được biết đến như "các quan chức không tài sản".
Tên gọi này được dùng cho các công bộc Trung Quốc có thành viên gia đình ra nước ngoài sinh sống. 

Một số người sau đó đã chuyển những khoản thu nhập bất chính cho thân nhân ở nước ngoài, khiến bản thân họ trở thành người không có mấy tài sản ở Trung Quốc.

Chừng 200 quan chức Quảng Đông đã yêu cầu gia đình trở về Trung Quốc, Tân Hoa Xã nói. Còn 866 người khác chấp nhận bị giáng chức, trong đó có chín quan chức cấp tỉnh.

Một người, họ Lưu, nói với Tân Hoa Xã rằng ông bỏ việc thay vì buộc vợ phải từ Hong Kong trở về, nơi có quy chế pháp lý độc lập với Trung Hoa đại lục.

"Tôi nói với cha mẹ và vợ về quy định mới của chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh, nhưng vợ tôi muốn sống ở Hong Kong hơn. Vì cuộc sống gia đình với tôi cũng quan trọng không kém, tôi quyết định ủng hộ vợ và từ bỏ công việc của mình," ông nói.
Các quan chức Trung Quốc trong nhiều năm đã cho người thân ra nước ngoài sinh sống và học tập.

Cựu ủy viên Bộ chính trị nay đã bị thất sủng, ông Bạc Hy Lai, đã cho con trai sang học tại trường tư danh tiếng và đắt đỏ của Anh, trường Harrow.
Ông Bạc hồi năm ngoái bị kết tội tham nhũng và lạm quyền.

Luật Biểu tình: Một cơ hội cho chính quyền Việt Nam

Biểu tình phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam, trước đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, 11/05/2014 - DR
Biểu tình phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam, trước đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, 11/05/2014 - DR

Tháng 5/2013, việc Trung Quốc đưa giàn khoan dầu khí vào thăm dò tại vùng thềm lục địa Việt Nam, làm bùng lên làn sóng phản đối chưa từng thấy ở trong nước và khiến nguy cơ xung đột trong khu vực dâng cao. Trong bối cảnh đó, chính quyền Việt Nam cuối tháng 5 đã có một quyết định, được một bộ phận công luận đánh giá là khá bất ngờ, khi đưa trở lại dự luật Biểu tình vào chương trình làm luật của Quốc hội, dự kiến sẽ được thông qua vào cuối năm tới 2015.

Theo mô tả của truyền thông trong nước, quyết định nói trên được đưa ra, một mặt là để thỏa mãn quyền căn bản của người dân, mặt khác để tạo thuận lợi cho việc quản lý của Nhà nước. Có một quan điểm khá phổ biến là chính việc thiếu luật Biểu tình đã khiến các cơ quan thực thi công lực không có đủ căn cứ pháp lý để xử lý các hành vi bạo động, bên lề các cuộc phản đối Trung Quốc tại một số khu công nghiệp nước ngoài.

Giới luật gia cũng như những người quan tâm suy nghĩ gì về quyết định nói trên của chính quyền ? Luật Biểu tình trong tương lai liệu có khả năng tạo thuận lợi cho việc thực thi quyền biểu tình hiến định ? Đâu là những trở ngại cho việc ra đời một luật Biểu tình thực sự bảo vệ nhân quyền căn bản, quyền của các công dân Việt Nam ?
Khách mời của tạp chí xã hội RFI tuần này là Luật sư Trần Thanh Hiệp (Paris), Luật sư Trần Quốc Thuận (Sài Gòn) và Luật sư Hà Huy Sơn (Hà Nội).

Trước hết Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho biết suy nghĩ của ông, sau khi Quốc hội Việt Nam quyết định đưa dự luật Biểu tình vào chương trình làm luật năm 2015.
Luật sư Trần Quốc Thuận (Sài Gòn)

04/06/2014

More










Luật sư Trần Quốc Thuận : Đó là những luật bị treo, những quyền cơ bản của người dân bị treo, cũng như luật Lập hội, luật Cung cấp thông tin, quyền tự do tư tưởng… Bây giờ luật Biểu tình đã được đưa vào, tôi cho rằng việc đưa vào thì hơi trễ, nhưng dù sao đó cũng là việc thực thi Hiến pháp 2013, mà trong đó có dành một chương để nói rõ là Việt Nam có nhân quyền… Trước đây ông Thủ tướng có đặt vấn đề là giao dự luật Biểu tình này cho Bộ Công an làm trưởng ban soạn thảo, từ đó rồi lặng thinh, bây giờ thì chính thức đưa vào chương trình làm luật.

Vấn đề biểu tình là nguyện vọng chính đáng, để thực hiện được việc đã được nêu rất nhiều trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, tức là kêu gọi người ta « phản biện ». Mà biểu tình cũng là một hình thức phản biện. Cho nên, tại sao không để người ta biểu tình ?
Chuyện này, tôi nghĩ là để xem. Các đòi hỏi của các đại biểu Quốc hội là cung cấp luật biểu tình của các nước tiên tiến trên thế giới, xem thực hiện quyền tự do dân chủ này như thế nào.

 Có điều kiện khảo sát, nghiên cứu, lúc đó mới có điều kiện tham gia ý kiến được. Còn bây giờ, tôi nghĩ là họ đưa ra đây, trước nhất cũng là một kiểu để « đáp ứng », để nói cho « hợp lòng dân». Bây giờ có nhiều người đang thực hiện chuyện đó lắm. Cũng chưa biết sự thật thế nào. Có điều, cái chữ « biểu tình » được người ta hưởng ứng, còn cái luật thì đang chờ, nhưng mà ta cũng cố gắng tham gia ý kiến để ngăn cản những cái bất hợp lý.

Luật sư Hà Huy Sơn, một người từ nhiều năm nay dành rất nhiều tâm lực để bảo vệ các nhà hoạt động nhân quyền, cũng có cùng quan điểm dè dặt như Luật sư Trần Quốc Thuận. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến nguy cơ bộ luật Biểu tình tương lai - cho dù tốt về nguyên tắc - bị vô hiệu hóa bởi các văn bản dưới luật.





































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Luật sư Hà Huy Sơn : Luật Biểu tình Quốc hội đã trì hoãn, đã treo quyền của công dân cũng đã lâu rồi, hơn 20 năm rồi, từ Hiến pháp 1992. Tôi chưa biết luật Biểu tình này như thế nào, tức là có triển khai trong thực tế hay không, hay là người ta chỉ đưa ra để giải quyết nhu cầu của dư luận thôi ? Tại vì trong thực tế, Quốc hội Việt Nam cũng ban hành rất nhiều luật không thể thực hiện được.
Theo tôi, luật này tối thiểu cũng phải theo các thông lệ, quy định về biểu tình của các nước trong khu vực hoặc là tiến bộ hơn là vận dụng các quy luật phổ quát của các luật biểu tình của các nước Phương Tây. Có thể quy định về thời gian, hay địa điểm được biểu tình, hoặc số người đăng ký biểu tình không bắt buộc phải lớn quá. Việc thời gian để được chính quyền, địa phương cho phép là một hoặc hai tuần là dài quá, trong khi vấn đề biểu tình cũng là xuất phát từ những tình hình thời sự trong nước, hoặc phát sinh như vấn đề giàn khoan HD981. Thời gian nên thực tế hơn là hai ngày, năm ngày hay chậm nhất là một tuần.
Về mặt pháp lý, theo Hiến pháp quy định là người dân đã có quyền rồi. Nhưng thường luật ở Việt Nam quy định không được cụ thể, nên khó cho các cơ quan chức năng và khó cho cả người dân. Thông thường người ta hay quy định thêm. Nghị định của chính phủ thì hướng dẫn chi tiết hơn, thậm chí chi tiết nữa là thông tư hướng dẫn của các bộ, ví dụ ở đây là Bộ công an được Chính phủ giao. Trong thực tế, các văn bản dưới luật (thông tư, nghị định) giới hạn các quyền theo luật và quyền trong Hiến pháp. Chuyện đó xảy ra ở Việt Nam rất nhiều.
Luật Biểu tình chưa ban hành, các thông tư, nghị định cũng chưa ban hành, nên tôi cũng chưa thể nói điều gì trước, nhưng theo kinh nghiệm thì ở một nước có một đảng lãnh đạo, về phía Nhà nước người ta cũng không cần luật Biểu tình này nhiều, nên khả năng nó bị hạn chế bởi các văn bản dưới luật là rất có thể xảy ra.
Về những nền tảng chính trị và pháp lý của luật pháp biểu tình tại các quốc gia dân chủ tiên tiến, sau đây là các nhận định của Luật sư Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền (C.E.V.I.D.O./Centre Vietnamien pour les Droits de l’Homme), có trụ sở tại Paris. Luật sư Trần Thanh Hiệp từng hành nghề luật sư tại Tòa Thượng Thẩm Paris và Tòa Thượng Thẩm Saigon trước năm 1975.
RFI Thưa Luật sư, như Luật sư biết, hiện tại ở Việt Nam, chính quyền có một số chuyển động theo hướng đáp ứng, về mặt nguyên tắc, những quyền tự do căn bản của con người. Một trong những chuyển động đó là việc Quốc hội Việt Nam cách đây ít ngày thừa nhận cần phải gấp rút ban hành luật về biểu tình, mà nhiều người coi đây là một « món nợ » của chính quyền đối với xã hội. Tuy nhiên, từ chỗ tuyên bố để đi tới một bộ luật bảo đảm nhân quyền căn bản này là cả một chặng đường dài, và nhiều người đặt câu hỏi, liệu những người nắm quyền có thực tâm ban hành một bộ luật thỏa mãn các đòi hỏi của nền dân chủ hiện đại ? Câu hỏi trước hết, xin được Luật sư cho biết, đối với các quốc gia dân chủ Phương Tây, việc xây dựng luật (hoặc các quy định tư pháp) về biểu tình dựa trên những cơ sở nào ?


Luật sư Trần Thanh Hiệp (Paris)

04/06/2014

More


Luật sư Trần Thanh Hiệp : Biểu tình, vào thời điểm những năm 2000, là một nhân quyền mang tính phổ quát, chẳng những ở Phương Tây mà cả ở Phương Đông. Điều này đã được lịch sử chứng minh. Cách đây ít hôm, tại Hồng Kông đã có một cuộc biểu tình để tưởng niệm vụ độc tài Trung Cộng đàn áp dân chủ tại Bắc Kinh cách đây 25 năm.
Vì là một nhân quyền nên biểu tình đã xuất phát từ hai nguồn gốc chính trị và pháp lý. Hay đúng hơn, phải nói khởi đầu, biểu tình là một quyền chính trị, rồi về sau, để được hành sử không gặp trở ngại, quyền chính trị này đã được đưa lên hàng một quyền pháp lý. Tức là quyền biểu tình đã được các quy phạm pháp lý công nhận và bảo vệ.
Do đó, nói chung, trên thế giới, biểu tình là một nhân quyền đặt dưới sự chi phối của Hiến Chương Quốc Tế về Nhân Quyền, gồm có Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền năm 1948, hai Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 và ba Hiệp Định Thư liên quan tới việc áp dụng hai Công ước quốc tế này. Ngoài ra, còn có những Hiến chương về Nhân Quyền riêng của các châu. Trong khuôn khổ cuộc phỏng vấn này, tôi sẽ chỉ bàn rất sơ lược về mấy văn bản pháp lý về nhân quyền ở châu Âu và ở nước Pháp.
RFI : Xin Luật sư cho biết một số ví dụ thành công trong vấn đề luật biểu tình, chẳng hạn như ở Châu Âu.
Luật sư Trần Thanh Hiệp : Văn bản pháp lý chi phối nhân quyền của người dân các nước ở châu Âu là Hiệp định Châu Âu về nhân quyền năm 1950 (Convention européenne des droits de l’homme) và luật quốc gia của mỗi nước. Quyền biểu tình của người dân châu Âu được dự liệu nơi điều 11 của Hiệp định này và của luật quốc gia của mỗi nước. Ở Pháp, ngoài điều 11 của Hiệp định Châu Âu nói trên, còn có Sắc-luật ngày 23 tháng 10 năm 1935 là văn bản chi phối việc hành xử quyền biểu tình. Theo văn bản này thì quyền biểu tình là một quyền tự do tập thể, không phải theo chế độ “Xin, Cho” như ở các nước độc tài, nhưng cũng phải khai báo trước về mục đích, thời điểm, địa điểm, lộ trình tuần hành của cuộc biểu tình dự kiến. Nhà chức trách có quyền ngăn cấm nếu nhận thấy cuộc biểu tình có triệu chứng bất lợi như gây rối loạn trong trật tự công cộng, làm phương hại đời sống của dân chúng v.v... Có một điểm cần nói rõ là việc ngăn cấm này không phải là một quyền độc đoán của nhà chức tránh tùy tiện ngăn cấm người dân biểu tình. Mà phải là biện pháp bảo vệ quyền lợi chung trong một nước dân chủ, như đã được ghi rõ trong bản văn được áp dụng.
Mặt khác, trong cả hai hình thức biểu tình hoặc tụ tập tại chỗ, hoặc tuần hành trên công lộ, tuyệt đối cấm không được mang theo vũ khí. Biểu tình nếu có võ trang sẽ bị công lực giải tán.
Lại nữa, quyết định của nhà chức trách cấm biểu tình phải được dẫn lý và chịu sự kiểm soát của tòa án quốc nội hay Tòa Án Châu Âu về Nhân quyền, nếu có khiếu nại.
Như vậy là những tranh chấp vì chính kiến bất đồng trong xã hội, kể cả trong những tương quan giữa dân và chính quyền - mà biểu tình là một hình thức - đã được giải quyết theo đường lối ôn hòa thay vì bằng bạo lực. Đó là một thành công đáng kể trong tiến trình của nhân loại đi tới ngày một văn minh. Trong sinh hoạt chính trị tại các nước dân chủ trên thế giới, và nhất là ở Tây Âu, ở Bắc Âu, thậm chí ở cả Đông Âu từ cuối thập niên 1990, biểu tình đã có một vai trò rất quan trọng.
RFI Xin Luật sư cho biết những trở ngại về mặt tư pháp cho một luật biểu tình thành công ?
Luật sư Trần Thanh Hiệp : Theo tin tức thời sự thì trong một tương lai không xa, Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ ban hành luật về biểu tình. Việc này đã được nêu lên, loan báo từ lâu nhưng quyền biểu tình của người dân ở trong nước chưa bao giờ được nhà cầm quyền cộng sản công nhận, tôn trọng nói gì tới thực thi. Đã đành rằng những diễn biến về mặt quốc tế cũng như về mặt quốc nội là những sức ép rất lớn buộc nhà cầm quyền đương chức ở trong nước phải cải thiện sâu rộng tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Nhưng nhà chức trách ở Hà Nội vẫn chưa thuyết phục được ai rằng họ thực tâm muốn từ bỏ đường lối đảng trị phi nhân quyền. Cả một bộ máy đàn áp khổng lồ đang được triển khai trên bình diện quy phạm cũng như trên bình diện định chế.
Như vậy, nếu ban hành cái gọi là luật biểu tình mà vẫn giữ nguyên vẹn cả một hệ thống cấu trúc phi nhân quyền như Hiến pháp, pháp chế, tòa án, công an, nhà tù, quốc hội, chính phủ bù nhìn v.v..., thì sẽ chỉ là ban hành thêm một hình thức cấm biểu tình mới. Biểu tình là một sản phẩm của văn minh nhân loại, vì nhân loại văn minh đã biết và dám nhìn nhận nó như là một nhân quyền chính trị được pháp lý hóa. Không thể có được một luật về biểu tình đích thực trong một chế độ phi nhân quyền. Đó là điều cảnh giác cho những ai muốn thấy có luật biểu tình ở Việt Nam phù hợp với quốc tế vè nhân quyền.
RFI : Các quốc gia dân chủ có những biện pháp nào về pháp lý để hạn chế các lạm dụng, tùy tiện của chính quyền trong việc ra quyết định cấm biểu tình, vì lý do này hay khác ?
Luật sư Trần Thanh Hiệp : Có 5 yếu tố đã làm cho việc chống lại những lạm quyền xảy ra trong khuôn khổ một chế độ dân chủ trở nên những biện pháp hữu hiệu.
Thứ nhất, tự trong bản thân chế độ dân chủ đã có sẵn những tự chế không được lạm quyền mà người ta không thể tìm thấy được trong một chế độ độc tài.
Thứ hai, những người cầm quyền trong một chế độ dân chủ có những nghĩa vụ pháp lý phải tuân thủ những quy phạm buộc tôn trọng nhân quyền.
Thứ ba, ngành hành pháp cũng như ngành lập pháp trong một chế độ dân chủ, dù muốn, cũng sẽ không thể che đậy được hết những hành vi lạm quyền, nhất là sự kiểm soát của tòa án, tự bản chất của nó, lại rất khách quan và công bằng.
Thứ tư, quyền tự do ngôn luận là một thứ thuốc hiện hình làm cho các hành vi lạm quyền phải phơi bày ra trước ánh sáng.
Thứ năm, việc hành xử những quyền tự do trong chế độ dân chủ, khác với việc hành sử trong chế độ độc tài, không bị lệ thuộc vào nguyên tắc phải xin phép trước mà chỉ cần khai báo trước. Nói cách khác, việc chỉ khai báo thôi mà không phải xin phép đã gián tiếp tước bỏ mọi hành vi lạm quyền. Sự khác biệt này cũng là một nguyên nhân ngăn giữ tự gốc lạm quyền khiến nó không xảy ra. Nói tóm lại, tất cả những ràng buộc tinh thần này đã giúp cho mức độ lạm quyền trong những chế độ dân chủ giảm thiểu tối đa. Và đó chính là văn minh".
---
Biểu tình – hay việc biểu thị quan điểm và thái độ một cách tập thể tại nơi công cộng – là một hiện thực hết sức phổ biến tại các quốc gia dân chủ tiến bộ. Biểu tình là một thước đo cho thấy sức sống của một xã hội dân chủ, nơi tất cả mọi người, về mặt nguyên tắc, đều có quyền bày tỏ quan điểm, và thông qua việc bày tỏ quan điểm tại nơi công cộng mà tìm cách giải quyết các mâu thuẫn, xung đột bằng con đường ôn hòa. Tại đa số các nước dân chủ, biểu tình còn được coi là một "quyền lực đối trọng". Là một hình thức thể hiện thái độ và quan điểm ở nơi công cộng, việc thực thi quyền tự do của người này có thể ảnh hưởng đến tự do của người khác, do đó chế độ pháp lý liên quan đến quyền biểu tình ở các nước dân chủ (còn được gọi là quyền tự do mang tính quan hệ/la liberté relationnelle) – phải đi kèm với các biện pháp bảo vệ trị an tương ứng - thường được hoàn chỉnh khá muộn so với một loạt các nhân quyền căn bản khác. Nhiều luật gia cho rằng, một cái mốc cho thấy quyền biểu tình của người dân được thực sự công nhận khi các cuộc biểu tình của công dân chỉ cần « báo trước », hay đăng ký trước với các cơ quan hành chính, chứ không cần được « cấp phép », và để ngăn chặn một cuộc biểu tình diễn ra, vì một lý do hết sức đặc biệt, cơ quan có thẩm quyền phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ các chứng cứ, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước tư pháp về quyết định cấm. 
Một số ý kiến mà các luật sư trình bày trên đây cho thấy, có rất nhiều nghi ngờ về khả năng trong năm tới Quốc hội Việt Nam thông qua được một đạo luật biểu tình thực sự làm cơ sở để bảo đảm cho quyền bày tỏ ôn hòa quan điểm của một tập thể tại nơi công cộng. Chế độ pháp lý hiện hành tại Việt Nam, đặc biệt là các văn bản dưới luật, về cơ bản vẫn có thiên hướng dành cho chính quyền quyền định đoạt những gì mà công dân được phép làm hay không làm. Việc bảo vệ người dân trước các đe dọa lạm quyền từ phía Nhà nước, hỗ trợ người dân thực thi các quyền căn bản vẫn là điều thường hết sức bị coi nhẹ.
Công chúng cũng có thể đặt nhiều câu hỏi : Trong thời gian chờ đợi luật Biểu tình mới ra đời, người dân thực thi quyền biểu tình hiến định như thế nào ? Ai phải chịu trách nhiệm, nếu như các quy định pháp lý bị khuyết thiếu ? Sau khi chuyển sang Quốc hội « trái bóng » làm luật vào thời điểm áp lực trong công luận gia tăng, phải chăng Chính phủ hiện nay hoàn toàn vô can ?...
Những ai chia sẻ cách nhìn của Luật sư Trần Quốc Thuận, một mặt hy vọng vào thiện chí của những người cầm quyền, mặt khác vẫn rất cảnh giác và sẵn sàng hành động để « loại bỏ những ngăn cản bất hợp lý » trong dự luật mới, ngăn chặn xu hướng lạm quyền phổ biến trong hệ thống chính trị Việt Nam. Nếu thành công, một luật Biểu tình ra đời theo hướng này có thể được coi là cơ hội cho chế độ chính trị Việt Nam hiện hành chuyển đổi một cách ôn hòa. Trong khi đó, đối với những ai đồng quan điểm với Luật sư Trần Thanh Hiệp, trong xu thế chính quyền Việt Nam, nếu « vẫn giữ nguyên vẹn cả một hệ thống cấu trúc phi nhân quyền » như hiện nay, luật Biểu tình tương lai sẽ « chỉ là một hình thức cấm biểu tình mới », và điều này như vậy triệt tiêu cơ hội hóa giải ôn hòa các xung đột xã hội tại Việt Nam.
RFI xin chân thành cảm ơn Luật sư Trần Thanh Hiệp, Luật sư Hà Huy Sơn và Luật sư Trần Quốc Thuận đã dành thời gian cho chương trình. 


Còn Đảng còn mình

  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • Dùng vn1975.info, vn3000.com, hoặc vn510.com để vào VOA hoặc Facebook nếu bị chặn
  • Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn….
  • Con đường nào cho Việt Nam để gỡ thế bí?
  • Chính khách và lãnh tụ
  • Những sự mất mát từ Biển Ðông
  • Chỉ là chiến tranh tâm lý
CỠ CHỮ 
02.06.2014
Câu khẩu hiệu “còn Đảng còn mình”, cho đến nay, chỉ xuất hiện trước các đồn công an và, từ đó, trở thành một đối tượng để phê phán của những người ngoài đảng và có tinh thần dân chủ và độc lập.

Kể cũng dễ hiểu.

Câu khẩu hiệu ấy sai đến dại dột và lố bịch. Trên thế giới, có lẽ không ở đâu người ta dại dột và lố bịch đến như vậy. Bởi, trên thế giới, từ lâu, người ta đã biết và đã thực thi nguyên tắc: Công an phải độc lập với đảng cầm quyền. Nhiệm vụ của công an không phải là để phục vụ và kiếm lợi từ cái đảng ấy. Nhiệm vụ của công an là bảo đảm an toàn và an ninh cho xã hội và chỉ tuân theo luật pháp.

Giới lãnh đạo Việt Nam, ngay trong ngành công an, có lẽ cũng hiểu điều ấy. Nhưng họ vẫn nói, hơn nữa, nói một cách công khai, đàng hoàng và dõng dạc, thành khẩu hiệu. Để làm gì? Như một lời hứa, một sự cam kết đối với công an.

Bởi vậy, câu khẩu hiệu trên phản ánh không những tình trạng đảng trị và phi dân chủ mà còn cả sự mua chuộc của đảng Cộng sản đối với lực lượng công an. Điều này, thật ra, đã được nhiều người nêu lên: Hiện nay, đảng Cộng sản bảo vệ thế đứng độc tôn của mình trên chiếc kiềng ba chân: một là quân đội, hai là công an; và ba là nền kinh tế quốc doanh, qua đó, đảng có thể vơ vét tài sản quốc gia và phân phối lợi nhuận cho những người trung thành, kể cả hai lực lượng nòng cốt vừa nêu: công an và quân đội.

Tuy nhiên, theo tôi, câu khẩu hiệu “còn đảng còn mình” không chỉ giới hạn trong lực lượng công an. Nó còn là nếp tư duy chung của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong giới lãnh đạo, nhất là trong quan hệ với những thử thách họ đang đối đầu.

Nói một cách vắn tắt, ít nhất cho đến thời gian gần đây, trước khi vụ giàn khoan HD-981 bùng nổ, tất cả những toan tính chiến lược của nhà cầm quyền Việt Nam không phải là bảo vệ đất nước mà, trước hết, bảo vệ quyền lực và quyền lợi của chính họ; và vì những quyền lực và quyền lợi ấy gắn bó với sự tồn tại, hơn nữa, tồn tại một cách độc tôn của đảng Cộng sản, do đó, hệ quả là, mọi người cứ lo chăm chắm bảo vệ đảng dù cái giá phải trả có khi là mất đi một phần lãnh thổ hay lãnh hải.

Có lẽ sự chọn lựa ấy được định hình thành chính sách sau cuộc hội nghị ở Thành Đô giữa giới lãnh đạo Việt Nam và giới lãnh đạo của Trung Quốc, ở đó, Việt Nam công nhận Trung Quốc là lãnh tụ độc nhất của khối xã hội chủ nghĩa, thay thế vị trí của Liên Xô trước đó; và Việt Nam thề thốt trung thành với con đường xã hội chủ nghĩa; điều đó cũng có nghĩa là trung thành với Trung Quốc.

Không phải chỉ trong lời nói. Việt Nam thành thực tuân theo các thỏa thuận ấy, xem Trung Quốc như một đồng chí tốt, hơn nữa, một thứ đàn anh tốt. Sự thành thực ấy không chỉ phản ánh trong lời nói, ở các diễn văn cũng như các khẩu hiệu tuyên truyền. Nó còn thể hiện qua việc làm: lúc nào cũng đề cao và nhường nhịn Trung Quốc. Hơn nữa, họ còn hết lòng tin tưởng Trung Quốc. Theo dõi ngân sách của Việt Nam cho lãnh vực quốc phòng, giới quan sát chính trị thế giới nhận ra một điểm đặc biệt: Việt Nam chỉ bắt đầu hiện đại hóa quân đội Việt Nam chỉ từ năm 2004, tức là 14 năm sau hội nghị Thành Đô, khi âm mưu xâm lấn của Trung Quốc đã quá rõ rệt và khi dân chúng đã quá bức xúc trước những âm mưu xâm lấn đó.

Ngoài ngân sách, sự tin cậy và lệ thuộc vào Trung Quốc cũng thể hiện rất rõ qua vô số cách hành xử của giới lãnh đạo Việt Nam, ví dụ, trong việc thả lỏng cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm, từ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên đến việc thuê dài hạn rừng núi, ngay cả ở những khu vực có vị trí chiến lược về quân sự, việc nhắm mắt để công nhân Trung Quốc ào ạt sang làm việc một cách trái phép, việc để cho người Trung Quốc di trú và hoạt động bất hợp pháp ở những nơi được xem là hiểm yếu của Việt Nam như hải cảng quân sự Cam Ranh, việc để cho các công ty Trung Quốc thành công trong phần lớn các cuộc đấu thầu liên quan đến các dự án có tầm vóc quốc gia, việc lơ đễnh để báo chí, bản đồ, thậm chí, cả sách giáo khoa, thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của… Trung Quốc, v.v…

Không ai bày tỏ quan điểm bảo vệ đảng bằng mọi giá như Trần Đăng Thanh, đại tá, giáo sư tiến sĩ, thuộc Học viện chính trị Bộ quốc phòng. Phát biểu trước các cán bộ lãnh đạo trong ngành giáo dục vào tháng 12 năm 2012, ông Thanh thể hiện tư tưởng ghét Mỹ và bài Mỹ qua nhận định “Người Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả”.  Ngược lại, với Trung Quốc, ông nhấn mạnh: “Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc”.  Cuối cùng, ông kêu gọi mọi người hãy trung thành với Đảng với lý do thiết thực: “Hiện nay các đồng chí đang công tác chưa có sổ hưu nhưng trong một tương lai gần hoặc một tương lai xa chúng ta cũng sẽ có sổ hưu và mong muốn mỗi người chúng ta sau này cũng sẽ được hưởng sổ hưu trọn vẹn”.  Nói một cách đơn giản: Nếu đảng còn thì sổ hưu của các “đồng chí” còn!

Những người chủ trương trang Bauxite Việt Nam phải thốt lên một lời nhận định đầy cay đắng: “Chưa bao giờ những lời rao giảng về lý tưởng xã hội chủ nghĩa lại 'thực dụng' đến như thế và cũng... thảm thiết đến như thế!”

Chính cách tư duy “còn đảng còn mình” và “còn đảng còn sổ hưu” ấy chi phối thái độ và chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam đối với Trung Quốc: Cho dù lấn hiếp Việt Nam đến mấy thì Trung Quốc cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa; Việt Nam chỉ cần nhường nhịn Trung Quốc là có thể bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nghĩa là bảo vệ vị thế lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản. Chúng cũng chi phối thái độ và chính sách của Việt Nam đối với Mỹ và Tây phương nói chung: Các quốc gia ấy lúc nào cũng đòi hỏi dân chủ và nhân quyền tức là lúc nào cũng âm mưu “diễn tiến hòa bình” để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.  Mà tất cả những kẻ nào có ý định lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa đều bị xem là “lực lượng thù nghịch”.

Nói cách khác, dưới mắt giới lãnh đạo Việt Nam, những kẻ bị xem là “thù nghịch” không phải là những kẻ mưu toan lấn chiếm vùng biển và hải đảo Việt Nam mà chính là những kẻ muốn Việt Nam được dân chủ hóa. Nói cách khác nữa, với họ, việc bảo vệ đảng quan trọng hơn việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải.

Dân chúng hiểu rõ điều đó cho nên lâu nay vẫn truyền tụng một câu nói thật thông minh và sắc sảo, thể hiện thế lưỡng nan của nhà cầm quyền Việt Nam: “Đi với Trung Quốc thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng.” Mà hình như không phải là “lưỡng nan”. Bởi không chừng nhà cầm quyền Việt Nam đã có chọn lựa rõ ràng: “Thà mất nước hơn là mất đảng”, cũng theo cách nói của dân chúng.

Hy vọng sau biến cố giàn khoan HD-981, giới lãnh đạo Việt Nam sẽ thức tỉnh.
 



Chỉ hy vọng vu vơ vậy thôi chứ cho đến nay cũng chưa thấy có dấu hiệu nào về sự thức tỉnh ấy cả. Buồn.



__._,_.___

Posted by: hung vu 

Lựa chọn


 
Lựa chọn

Lê Phan
1405271711492436
Ðối với tất cả chúng ta trên thế giới, ngày 4 tháng 6 năm 1989 đã in hằn vào ký ức với những hình ảnh vừa uy hùng vừa thương tâm. Ngoại trừ ở chính Trung Cộng, trên toàn thế giới, tấm hình một thanh niên, tay cầm một cái túi nylon, đứng chặn một đoàn xe tăng, vẫn là tiêu biểu đẹp đẽ nhất của sự can đảm đứng trước bạo lực. Nhưng ở Âu Châu sự hiện diện của Tổng Thống Barack Obama ở nghi thức kỷ niệm 25 năm cuộc bầu cử của Ba Lan vốn đã thúc đẩy sự chấm dứt của chế độ cộng sản trên toàn khối Liên Xô, đã nhắc nhở cho người dân Âu Châu một ngày 4 tháng 6 khác, một ngày đầy hy vọng.

Cuộc bầu cử mà Ba Lan kỷ niệm lần thứ 25 năm nay thực sự không hoàn toàn tự do vì đó chỉ là một cuộc bầu cử cho Quốc Hội khóa thứ 10 của Cộng Hòa Nhân Dân Ba Lan và là cuộc bầu cử thứ 11 ở Ba Lan Cộng Sản. Không phải tất cả các ghế tại Quốc Hội được tự do tranh đua, nhưng chiến thắng vượt bực của khối Ðoàn Kết đối lập tại những ghế được tự do tranh cử đã mở đường cho sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Ba Lan.

Sau cuộc bầu cử, Ba Lan trở thành quốc gia đầu tiên trong khối Ðông Âu trong đó những vị dân cử do dân trực tiếp bầu lên dành được thực quyền. Tuy cuộc bầu cử không hoàn toàn dân chủ, nó mở đường cho việc thành lập Chính Phủ Tadeusz Mazowieki và việc chuyển đổi hòa bình sang dân chủ, không những ở Ba Lan mà còn ở các nơi khác trên toàn vùng Trung và Ðông Âu.

Nhưng như Giáo Sư Timothy Garton Ash, một sử gia chuyên về chế độ cộng sản của viện đại học Oxford, đã nhắc lại trong một bài trên nhật báo Financial Times, là chính vụ Thiên An Môn đã ảnh hưởng đến tình hình ở Ðông Âu đến mức nào.

Ông kể lại lúc đó còn là một sinh viên, đã trở về văn phòng của một tờ báo ở thủ đô Warsaw, cùng với những bạn Ba Lan đang ăn mừng sung sướng, thì đột nhiên thấy trên màn ảnh truyền hình những hình ảnh lờ mờ từng đống thi thể của các sinh viên biểu tình ở Trung Quốc được chở trên những cái cáng thô sơ dọc theo các đường phố của Bắc Kinh.

Ông giải thích là từ hôm đó, bóng ma của Thiên An Môn ám ảnh Ðông Âu. Từ Berlin đến Sofia, người ta thì thầm bảo nhau, “Hãy nhớ Thiên An Môn!” “Nếu chúng ta đi quá xa chuyện đó có thể xảy ra ở đây.” Thành ra theo ông, thảm kịch của Trung Quốc đã là món quà cho Âu Châu. Thí dụ kinh hồn của Thiên An Môn giúp Âu Châu bám chặt con đường bất bạo động, điều đình và dung hòa.

Nhưng rồi ảnh hưởng lại đi ngược về Trung Quốc. Các lãnh tụ cộng sản học bài học sụp đổ của chế độ ở Ðông Âu. Một người trong các nhà lãnh đạo đó đã nhắc lại hồi năm 2004: “Chúng ta có thể tìm được những hiểu biết thật sâu xa từ bài học đau đớn mất quyền của các đảng cộng sản của Liên Bang Xô Viết và Ðông Âu.”

Và bài học đó là: Ðem lại tăng trưởng kinh tế; đừng mất liên lạc với sự suy nghĩ của quần chúng; đưa ra sự thay đổi bình thường hàng lãnh đạo tối cao; chọn vào đảng của mình những sinh viên ưu tú nhất, bất kể giai cấp. Và đàn áp bất cứ cố gắng nào để tự tổ chức hội đoàn xã hội hay hành động tập thể - bởi đó chính là điều đã làm các đồng chí ở Âu Châu thất bại. Bản thân Chủ Tịch Tập Cận Bình đã từng công khai nhớ lại sự sụp đổ của Liên Xô.

Theo Giáo Sư Timothy Garton Ash, cả hai con đường đều dẫn đến thành công trong một phần tư thế kỷ qua. Trung Quốc đã trải qua những tăng trưởng kinh tế vượt bực và gia tăng đáng kể trong tự do cá nhân, ngày nào mà cá nhân chấp nhận sự chỉ huy tối cao của đảng. Các đài truyền hình nhà nước đã rất thích thú so sánh hình ảnh này với đổ máu và rối loạn ở Ukraine. Ðiều họ không cho thấy là một Ba Lan tự do, phồn thịnh và dân chủ.

Ðiều Ba Lan làm vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 là một điều mà ông Garton Ash bảo là “độc đáo đến kinh ngạc”: Họ đi tiên phong trong một khuôn mẫu thay đổi chế độ trong hòa bình. Những gì Ba Lan làm từ năm 1989 đến nay thì không có gì là độc đáo cả nhưng cũng không kém phần ngoạn mục. Hệ thống chính trị, kinh tế và pháp lý hiện nay của Ba Lan là một thứ pha trộn của những khuôn mẫu đã được thử thách của Âu Châu.

Ðiều xảy ra ở Trung Quốc vào ngày Lục Tứ không có gì là lạ cả. Ông Ðặng Tiểu Bình làm điều mà tất cả các lãnh tụ cộng sản và các nhà độc tài khác đều làm khi đối diện với việc nổi dậy tự phát đòi tự do của nhân dân: bắn họ, đàn áp họ. Ngược lại, điều mà Trung Quốc đã làm từ năm 1989 đến nay, theo ông Timothy Garton Ash, hoàn toàn độc đáo, kết hợp sự năng động của một nền kinh tế thị trường với chế độ độc đảng. Một thứ Tư Bản Lê-Nin-Nít. Ông giáo sư còn phê bình thêm, “Ðó là lý do tại sao Trung Quốc ngày nay, cho những người nghiên cứu về so sánh chính trị học, là nơi lý thú nhất trên địa cầu này. Bởi đây là một điều hiếm có trong chính trị: một thí nghiệm hoàn toàn mới, với tương lai hoàn toàn bất định.”

Ông bảo ông khá tin tưởng là mười năm nữa Ba Lan sẽ là một nền dân chủ cấp tiến Tây phương, cũng chẳng khác gì Anh, Pháp hay Ðức, mặc cho cố gắng cản trở của Tổng Thống Vladimir Putin của Nga.

Nhưng Trung Quốc thì sao? Liệu họ có thể lần mò trên cuộc hành trình không bản đồ này hay không? Như ông Ðặng đã diễn tả hết sức đúng “đi qua sông bằng cách lấy chân mò đá ngầm.” Hay là những mâu thuẫn giữa chế độ chính trị và kinh tế, và sự gia tăng căng thẳng đang xâm nhập xã hội, dẫn đến một cuộc khủng hoảng nữa?

Và nếu có khủng hoảng thì liệu nó có là chất xúc tác cho cải tổ chính trị hay là một thứ quốc gia chủ nghĩa để đánh lạc hướng sự bực tức của quần chúng - biểu lộ chẳng hạn qua phiêu lưu quân sự ở Biển Ðông? Hay là cái nọ dẫn đến cái kia? Hay còn có một cái gì kinh khủng hơn?

Những chuyện bất ngờ vẫn có thể xảy ra, như thi sĩ James Fenton đã buột miệng thành thơ trong tức giận, “They'll come again/To Tiananmen” (Họ sẽ trở lại, trở lại Thiên An Môn.) Những nạn nhân có thể được chào đón là những dũng sĩ ngay ở chính quảng trường Thiên An. Hồi năm 1979 mà ai có thể tưởng tượng được là 10 năm sau những lãnh tụ của cuộc nổi dậy ở Hung năm 1956 được cải táng và đem về chôn trong đại lễ khánh thành Quảng Trường Anh Hùng ở thủ đô Budapest. Ấy vậy mà điều đó đã xảy ra, chỉ vài ngày sau cuộc bầu cử lịch sử của Ba Lan.

Lịch sử đầy những chuyện ngạc nhiên. Và biết đâu câu chuyện của Trung Quốc cũng sẽ kết thúc đầy ngạc nhiên. Nhưng vào lúc này Trung Quốc có vẻ đang đi trên một con đường rất khác mọi người.

Ở Warsaw tuần này người Ba Lan kiêu hãnh ăn mừng ngày 4 tháng 6 của họ, với sự hiện diện của Tổng Thống Barack Obama. Ở Bắc Kinh, mọi sự về ngày Lục Tứ, ngay cả đến những sự kiện căn bản, hình ảnh, tên tuổi, và cả đám giỗ mà những bà mẹ đau khổ muốn làm cho đứa con yểu mệnh, cũng đã bị trấn áp. Ai đó vẫn còn sợ bóng ma của Thiên An Môn.

Một sử gia Á Châu bảo ông Ðặng Tiểu Bình, chào đời trong Cách Mạng Tân Hợi, lớn lên trong những năm xáo trộn sau cuộc cách mạng, sống qua Cách mạng Văn hóa, đã trở thành một người rất sợ chỉ có một điều “Loạn.” Ông tin chắc là “loạn” sẽ phá hoại hết mọi sự, sẽ tạo nên một sự rối loạn kinh hồn, sẽ biến Trung Quốc thành một quốc gia với vạn sứ quân, sẽ tiêu diệt mọi nền tảng của xã hội và sẽ để lại một đất nước tan tành, làm mồi cho thiên hạ xâu xé.

Chính vì vậy ông Ðặng đã lấy hết uy tín của mình, bất chấp sự chống đối của Tổng bí thư Triệu Tử Dương, của vị tướng tư lệnh Quân đoàn thủ đô, để buộc quân đội nổ súng bắn vào dân. Quyết định của ông đã tạo nên Trung Quốc ngày nay. Nhưng quyết định đó đã để lại những mâu thuẫn mà ngày càng sẽ đi đến một bế tắc.

Thực sự toàn thể thế giới, như Giáo Sư Timothy Garton Ash, đều cầu mong là Trung Quốc tìm được một con đường hòa bình để tiến tới. Nhưng Trung Quốc chỉ có thể đạt được một hệ thống ổn định khi nào mà họ dám công khai đối diện với quá khứ đầy khó khăn của vụ thảm sát Thiên An Môn.




__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link