Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, June 12, 2014

Mỗi người dân một hành động, một tiếng nói bảo vệ Biển Đông


Mi người dân mt hành đng, mt tiếng nói bo v Bin Đông

Khánh Phương

Tình hình cù cưa dng dai trên Bin Đông vn tiếp tc vi vic Trung Quc đưa giàn khoan ra v trí khác, vn nm trong vùng bin đc quyn kinh tế 200 hi lý ca Vit Nam. Trung Quc vn uy hiếp và đâm hư hng tàu cnh sát bin Vit Nam, tn công và đâm chìm thuyn cá ca ngư dân Vit Nam, bên cnh đó công khai trên truyn thông cái gi là “kế hoch tn công Vit Nam” bng quân s. 

Còn Vit Nam, ngoài mt s vin tr v vũ khí, thiết b trang b cho cnh sát bin nhn t Nht và Hoa Kỳ như mt món quà nhân đo mà hai cường quc này không n “thy k yếu mà không tương tr”, đến nay chưa h có mt đng thái nào rõ rt đ kh dĩ làm thay đi tình hình Trung Quc xâm ln Bin Đông.

 Các cuc biu tình yêu nước trong nước đu b thng tay dp tt. Lòng dân hoang mang trước nhng tuyên b “trng đánh xuôi, kèn thi ngược” ca các v lãnh đo cp cao, và chng my chc s tr nên th ơ, chán nn.

Có mt thc tế là đến gi phút này Vit Nam đã không bo v được ch quyn Bin Đông, bi không ngăn chn được “lãnh th biết đi” Haiyang 981 ca gic Tàu. Tiếp sau Haiyang 981 s là nhiu bước leo thang khác ca gic Tàu tiến chiếm Bin Đông và khai thác tài nguyên trong vùng.

 S bt đng và chia r trong ngày hôm nay là báo hiu mt tương lai nguy kch ca Vit Nam khi phi đương đu vi nhng hành đng xâm lược trng trn hơn, toàn din và bo lc hơn ca Trung Quc.

Hơn lúc nào hết, người dân Vit cn vng lòng, đoàn kết bên nhau, nht tâm to thành mt khi vì và ch vì mc tiêu bo v lãnh th, lãnh hi, sinh mng, quyn con người, và tài sn ca nhân dân. Ch nhân dân mi có quyn quyết đnh vn mnh ca đt nước trong lúc này, ch không phi bt kỳ phe nhóm li ích nào.

Nếu đ gic Tàu tung hoành tác quái trên Bin Đông như và hơn nhng ngày qua, thit hi ca Vit Nam v kinh tế và con người là vô cùng to ln. Mt tàu cá hng trung bình ca ngư dân Vit Nam có giá thành lúc đóng là khong 2-4 t đng (khong 100-200 ngàn USD) nếu b Trung Quc đâm chìm, ngoài sinh mng hàng chc ngư dân b đe da, s tin đó cũng b cướp trng. 

Nếu gic Tàu khng chế toàn b Bin Đông, s có ít nht 30 triu người dân Vit mt vic làm và không còn phương tin sinh sng. 

Kinh tế bin chiếm 45% GDP ca Vit Nam hin nay. Mi người Vit, nếu không t góp mt mt hành đng hay mt tiếng nói đ bo v Bin Đông mà còn làm ngơ, trông ch “người khác s làm thay” (hoc vì “không liên quan quyn li ca tôi”), thì tình trng mt ch quyn, mt mi quyn đi vi Bin Đông s tr thành hin nhiên không th chi cãi. 

Tôi vn thường nh đến ni canh cá chua bà ni tôi nu bng cá bin mà mt ngày rt có th s không còn na, cho con và cháu ca chúng ta.

 Nếu còn im lng, bt đng và chia r, người Vit Nam đang đ mt đi cơ hi sng còn ca mình trên Bin Đông.
K. P.
Tác gi gi BVN.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Wednesday, June 11, 2014

VAI TRÒ CỦA Ý THỨC HỆ Vạch trần bộ mặt thật của đảng cộng sản Việt Nam

VAI TRÒ CỦA Ý THỨC HỆ

Vạch trần bộ mặt thật của đảng cộng sản Việt Nam



   Gần đây báo Cánh Én www.cánhen.com có đăng bài của Trần hồn Việt mang tựa đề « Vai trò của ý thức hệ đối với cách mạng dân chủ Việt Nam ». Ông  viết :

   «  Nhân đọc bài viết Phải chăng Việt Nam hiện nay cần một ý thức hệ của Chu chi Nam_đăng trên www.doithoai.com ngày 10/9/2006 và Cách mạng tự do dân chủ đã chín mùi chưa dăng trên www.vietnmexodus.orgvào ngày 13/9/2006 của luật sư Đinh thạch Bích, dựa vào các chủ đề trên, tôi xin tham gia đối toại trên diễn đàn để tìm ra chân lý chứ không nhắm vào mục đích phê phán. »

   Nay tôi cũng xin đóng góp thêm để tìm ra chân lý, nhất là về phần ý thức hệ.

   Tuy nhiên trước tiên, tôi xin nhắc lại lập trường của tôi là nếu trong tương lai chế độ cộng sản bị sụp đổ, ý thức hệ Mác Lê bị vứt bỏ, Việt Nam có một hiến pháp mới, không còn kiểu như hiến pháp cộng sản ngày hôm nay, với Lời Mở Đầu : « Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lê ….. », thì Việt Nm vẫn không cần một ý thức hệ, vì rút tỉa kinh nghiệm lịch sử trong quá khứ với ba cuộc cách mạng lớn trên thế giới : Cách mạng Hoa Kỳ 1776, Cách Mạng Pháp 1789, Cách mạng Cộng sản Nga 1917. Cuộc cách mạng thành công nhất là cuộc cách mạng Hoa Kỳ, không mang một ý thức hệ nào cả, mà chỉ mang những nguyện vọng thực tế  của người dân, như về việc chống xiu cao thuế nặng, quyền tự do căn bản, quyền độc lập. 

Ngay hiện nay nước Hoa Kỳ là nước phát triển nhất cũng không có một ý thức hệ nào. Cuộc cách mạng nửa thành công, nửa thất bại là cuộc cách mạng Pháp 1789 ; thành công là nó đã nói lên được những quyền căn bản của con người ; thất bại vì nó quá kéo dài và lâm vào cảnh cách mạng ăn thịt con, như giết nhà bác học Lavoisier, một trong những nhà sáng lập của nền hóa học hiện đại ; và nhà giáo dục, kinh tế học Condorcet, cha đẻ của nên giáo dục hiện đại. 

Khi Lavoisier lên đoạn đầu đài có người đã thương tiếc ông, có viết : «  Ba giây đồng hồ đủ làm rơi đầu Lavoisier ; nhưng để tạo ra một bộ óc như Lavoisier, nước Pháp phải cần đến 300 năm. » Cuộc cách mạng thất bại nhất, hậu quả giết nhiều ngưới nhất, cả trăm triệu người và vẫn còn dai dảng cho tới ngày hôm nay mà dân Việt Nam vẫn còn hứng chịu, đó là cuộc cách mạng cộng sản 1917, mặc dầu khi thực hiện cuộc cách mạng này chỉ có 7 người chết và 50 người bị thương như chính Trotski, ngược thực hiện cuộc cách mạng tuyên bố.

   Trong ba cuộc cách mạng này, cuộc cách mạng có một ý thức hệ đầy đủ nhất chính là cách mạng cộng sản Nga 1917.

   Tôi vẫn nghĩ mai sau cộng sản sụp đổ, Việt Nam không cần một ý thức hệ, vì tôi đồng quan điểm với K. Popper, một người được nhà bác học A. Einstein coi như là nhà phê bình phương pháp luận lý và khoa học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 ; và theo ông, thì : «  Xã hội con người biến chuyển từng ngày từng giờ, trong đủ mọi lãnh vực ; nay chủ trương áp dụng cho nó một ý thức hệ, chẳng khác nào bắt nó không tiến bộ, đóng khung nó trong lồng kính ý thức hệ. »

   Trần hồn Việt có viết :
«  Hiểu được nội dung Biện Chứng Pháp một cách đầy đủ để vận dụng đúng đắn vào công việc nghiên cứu lại hết sức phức tạp. Có nhiều người bàn về Biện Chứng Pháp nhưng họ chỉ có thể nhìn được cái vẻ bề ngoài của Biện Chứng Pháp chứ không mấy ai nắm được linh hồn của nó. Ngay cả cha đẻ của Chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng ( K. Marx) vận dụng Biện Chứng Pháp còn vấp phải sai lầm khi cho ra đời học thuyết Chủ Nghĩa Cộng sản hoàn toàn phản khoa học. Vì vậy có một tác giả mà tôi quên tên nói rằng : «  Ai làm chủ Biện Chứng Pháp thì có thể làm chủ thế giới !" « 

   Đây là một thái độ đề cao Biện Chưng Pháp quá độ, coi Biện Chứng Pháp như một bửu bối, ai có nó thì có tất. Thực ra Biện Chứng Pháp chỉ là một phương pháp lý luận, lúc đầu nó có nghĩa là đối thọi. Chữ Biện Chứng Pháp được dịch từ chữ Dialectique ( Pháp) hay Dialectic ( Anh) bắt nguồn từ chữ Latin Dialegein có nghĩ là nói, là lý luận. 

Sau đó được những người của trường phái Ngụy Biện ( Sophisme) Hy Lạp dùng như một phương pháp lý luận, có mục đích tìm ra sự mâu thuẫn của đối phương, để chiến thắng họ. Vào thế kỷ 18,  Hégel, trường phái Ý Tưởng ( Idéalisme), dùng Biện Chứng Pháp dưới dạng : Đề ( Thèse) - Phản Đề ( Anti-Thèse) - Tổng Đề ( Synthèse), áp dụng cho quan niệm về tiến trình tư tưởng của con người và tiến trình lịch sử. 

Theo Hégel thì ý tưởng con người đi từ Đề rồi tới Phản Đề, rồi tới Tổng Đề, có nghĩa là khi tôi có một ý tưởng (Đề), tôi nói chuyện với người khác, tôi gặp sự chống đối của người khác ( Phản Đề) ; hai ý tưởng đó đối chọi nhau, đưa ra một tổng hợp ( Tổng Đề). Rồi Tổng Đề này lại trở thành Đề gặp ý tưởng phản bác khác ( Phản Đề), rồi cho ra Tổng Đề.

Tiến trình tư tưởng của con người, theo Hégel, là như vậy. Nó đi từ chủ quan đến khách quan, được nhiều người công nhận.

    Marx, Engels và những người duy vật lấy phương pháp biện chứng áp dụng vào chủ nghĩa duy vật. Engels viết ;
   «  Người ta không thể tách rời tư tưởng khỏi vật chất suy tư. Vật chất này là bản chất của tất cả những thay đổi sau đó «  ( Engels dẫn bởi Staline ở phần Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng và Chủ nghĩa Duy Vật Lịch sử, trong quyển Histoire du Parti communiste de l’U.R.S.S. – trang 124 – Nhà Xuất Bản Norman Béthume – Paris 1971).
   Biện chứng áp dụng cho tiến trình thay đổi của tư tưởng, theo Hégel, chúng ta còn có thể hiểu được. Nhưng biện chứng áp dụng cho sự thay đổi vật chất của trường phái duy vật, thì không hiểu nổi.
   Một câu hỏi đến với những người duy vật : Vật chất ( la matière) biến chuyển theo biện chứng là biến chuyển thế nào ? Vật chất theo hiểu nghĩa bình thường là con người, cây cối, cục đá, cục đất v.v.. ; nếu như vật mà biến chuyển theo biện chứng là Đề - Phản Đề - Tổng Đề, thì cái gì là đề, con người chăng, cục đá chăng ? 

Cái gì là Phản Đề, sông ngòi chăng, cây cỏ chăng ? Cái gì là Tổng Đề, con vật chăng ? 

Đó là vật cất hiểu theo nghĩa bình thường. Vật chất hiểu theo nghĩa khoa học, trước phát minh ra nguyên tử, thì nhà triết học duy vật, người Hy Lạp,  Démocrite ( 460 – 370 trước Tây lịch) định nghĩa vật chất là cái gì nhỏ nhất, không thể phân chia được. Đã là nhỏ nhất không thể phân chia được, thì còn đâu Đề - Phản Đề - Tổng Đề, để biến chuyển một cách biện chứng. Sau này, vào năm 1913, nhà bác học Niels Bohr phát minh ra nguyên tử ( l’atome) gồm những electron, potron và neutron. Vật chất theo khoa học hiện đại là nguyên tử. Người ta lại hỏi, nếu theo những nhà duy vật, vật chất là nguyên tử,thì vật chất biến chuyển theo biện chứng pháp là thế nào ? 

Cái gì là Đề, Potron hay Neutron ? 

Cái gì là Phản Đề, Electron hay Neutron ? Cái gì là Tổng Đề, Neutron ?
    Đây là câu hỏi mà những người duy vật sau Marx không thể trả lời được.

   Trần hồn Việt viết :
   «  Trong « Đối Thoại năm 2 000 », Trần Khuê cũng đã hết lời ca tụng Hồ chí Minh, người có thể nắm vững cái thần của chủ nghĩa Marx chính là Phép Biện Chứng. »

   Bảo rằng Hồ chí Minh nắm vững cái thần của chủ Nghĩa Marx chính là Phép Biện Chứng, điều này còn phải xem xét lại. Một con người với trình độ học vấn lớp sáu, lơp bảy bây giờ hay lớp đệ thất, đệ lục trước năm 1975, tức mới rời bậc tiểu học, làm sao có đủ trình độ để hiểu biện chứng pháp. Chính Hồ chí Minh cũng nói : «  Tôi chỉ là con người thực tiễn.

 Lạt mềm buộc chặt » hay «  Tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ. Hai con người này không bao giờ lầm. » Tôn 2 đao phủ thủ của nhân loại, một tên giết hơn 30 triệu dân Nga, theo nhà sử học Stéphane Courtois, một tên giết hơn 70 triệu dân Tàu, theo 2 nhà nghiên cứu Chang Jung và John Halliday, điều này chứng tỏ con người Hồ chí Minh là như thế nào rồi. 

Bảo rằng Hồ chí Minh cướp được chính quyền vào ngày 19/8/năm 1945 là biết vận dụng biện chúng pháp, tôi cũng không tin như vậy. Hồ chí Minh cướp được chính quyền là nhờ vào hoàn cảnh sau Đệ Nhị Thế Chiến, và nhờ Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản đưa về, giúp đỡ để cướp chính quyền. 

Ngay cả Lénine cũng vậy, nếu không có Bộ Tham Mưu Đức đưa từ Thuỵ Sỹ về, lúc gần hết Đệ Nhất Thế Chiến, rồi giúp đỡ tiền bạc, phương tiện để cướp chính quyền, thì Lénine cũng không làm được cuộc cách mạng 1917. Sở dĩ có hiện tượng này vì lúc đó Đức đang phải đương đầu với 2 mặt trận, mặt trận đông bắc với Nga và mặt trận tây nam với Pháp. Đức muốn dồn lực vào mặt trận tây nam, nên đưa Lénine về, vì Lénine chủ trương «  Hòa Bình bằng bất cứ giá nào. 

Nhượng Đất để có quyền. » Ngày hôm nay Cộng sản Việt Nam nhượng đất cho Trung Cộng để giữ quyền cũng là nằm trong lịch sử cộng sản. Mao trạch Đông, khi tiếp tướng Mountbatten, Tư lệnh quân đội Đồng Minh tại Đông Nam Á vào Đệ Nhị Thế Chiến, đã nói rấtt rõ : «  Nếu không có Đệ Nhị Thế Chiến, Chiến tranh Trung Nhật, thì đảng Cộng Sản không có đưộc chính quyền ở Tàu. »

   Biện chứng pháp nó chẳng phải là một bửu bối, «  Ai làm chủ được nó thì có thể làm chủ thế giớỉ « , mà nó chỉ là một trong những phương pháp lý luận. Một cách tổng quát, có 2 phương pháp lý luận : phương pháp tổng thể ( synthétique) và phương pháp phân tích ( analytique). Biện chứng pháp nằm trong phương pháp phân tích.

Phương pháp phân tích hay đúng nghĩa hơn là phương pháp thực nghiệm được bắt đầu vào thế kỷ 13 với Roger Bacon ( 1214-1294), một nhà bác học kiêm tu sỹ dòng Franciscain, người Anh. Ông chỉ trích nặng nề phương pháp tổng hợp tức diễn dịch, nhất là tam đoạn luận của Aristote. Theo ông tam đoạn luận chỉ là luận lý hình thức, không nói lên bản chất thực của sự vật, vì câu :
    Tất cả mọi người đều chết ; Socrate là người ; vậy Socrate cũng chết.
     Nếu chúng ta đổi câu tiền đề :
     Tất cả mọi người đều không chết ; Socrate là người ; vậy Socrate không chết.
   Câu trên, đứng về luận lý hình thức, vẫn đúng ; nhưng về nội dung thì sai.
    Theo Roger Bacon, phương pháp diễn dịch, đi từ tổng quát ( général) tới cá biệt ( Particulier) dễ đi đến sai lầm vì khó kiểm chứng. Ngược lại phương pháp phân tích hay qui nạp ( Induction) đi từ cá biệt đến tổng quát dễ đúng vì chúng ta có thể kiểm chứng nhiều trường hợp cá biệt rồi mới đi đến kết luận tổng quát.

   Phương pháp thực nghiệm hay qui nạp đã được tu bổ bởi Francis Bacon ( 1561-1650), cũng người Anh, trong quyển sách Novum Organum ; và được tăng cường bởi Descartes, người Pháp, với quyển Discours de la Méthode ( Luận về Phương pháp). 

Descartes đưa ra 4 nguyên tắc về phương pháp luận : 1) Đi từ nhỏ tới lớn, đi cụ thể tới trừu tượng ; 2) Chia vấn đề hay khó khăn ra nhiều phần nhỏ khác nhau và giải quyết từng phần nhỏ một, để đi đến toàn diện ; 3) Không bao giờ chấp nhận là chân lý ; ngoại trừ những điều hiển nhiên hay đã được kiểm chứng ; 4) Một khi đã chia nhỏ vấn đề ra để giải quyết, thì đừng bao giời quên một phần nhỏ của toàn bộ.

   Từ đó xuất hiện 2 trường phái ở bên Tây phương : 1) Trường phái Duy lý (  le Rationnalisme) với Descartes và Hégel ( ( 1770-1831), theo đó mọi chân lý ở trên đời này phải qua sự kiểm nghiệm của ký lẽ, lý luận. Lý lẽ, lý luận là tiêu chuẩn chính của chân lý ; và trường phái Thực nghiệm (  le Positivisme) với Auguste Comte ( 1798-1857), theo đó tất cả mọi học thuyết, nếu muốn có giá trị đều phải dựa trên sự hiểu biết được kiểm chứng bằng kinh nghiệm, kinh nghiệm là tiêu chuẩn của chân lý.

   Đỉnh cao của chủ nghĩa duy lý là Hégel và thực nghiệm là với Marx ( 1818-1883). Hégel viết : «  Tất cả cái gì hữu lý đều hiện thực «  ( Tout ce qui est rationnel, est réel). Marx lấy câu này và lật ngược lại : «  Tất cả những gì hiện thực đều hữu lỷ ( Tout ce qui est réel, est rationnel). Cả 2 người đều dùng biện chứng để áp dụng vào tư tưởng của mình và nhất là lịch sử. Cả 2 đều lấy thời kỳ lịch sử Cách mạng Pháp 1789 làm thí dụ để cắt nghĩa tiến trình lịch sử qua biện chứng.

Hégel cho rằng chế độ phong kiến Pháp là Đề ; Đệ Tam Dân ( Tiers Etat) là Phản Đề, để đi đến Tổng Đề, đó là Napoléon. Marx cho rằng chế độ tư bản là Đề, Vô sản ( les prolétaires) là Phản đề, Tổng đề là hình ảnh của Ba Lê Công xã 1948. Kết quả 2 thế kỷ 19 và 20 chúng ta thấy gì ? 

Tổng Đề và là kết thúc tiến trình lịch sử của Hégel chỉ là độc tài quân phiệt Napoléon, gây tang tóc và chiến tranh cho Âu châu suốt đầu thế kỷ 19. Tổng Đề và cũng là kết thúc tiến trình lịch sử của Marx là chế độ độc đảng, độc tài cộng sản, gây tang tóc và đau thương cho nhân loại suốt gần thế kỷ 20, với cả trăm triệu nạn nhân, mà hậu quả còn dai dảng cho tới ngày hôm nay như ở Việt Nam.

   Suốt 2 thế kỷ qua nhân loại đã nhìn rõ sự sai lầm của Thần Khoa học và Thần Luận Lý. Khoa học có giới hạn của nó ; và nêu khoa học mà không có lương tâm thì chỉ là sự hủy hoại của tâm hồn ( Science sans conscience n’est que la ruine de l’âme). Luận lý, nhất là phương pháp phân tích và biện chứng, bề ngoài có vẻ khách quan, nhưng thực chất cũng chủ quan ; vì Tổng Đề sẽ biến đổi tùy theo Đề và Phản Đề, cũng chẳng khác nào như tam đoạn luận, tùy thuộc ở tiền đề. 

Đấy là chưa nói việc Marx nói phương pháp của ông là khoa học, đi từ cụ thể tới trừu tượng, từ cá thể ( particulier) tới tổng quát ( général). Thực ra ông đi từ cái gì trừu tượng nhất, tổng quát nhất, ông đi từ một lời tiên tri ( prophétie), tiên tri rằng nhân loại sẽ đi đến cộng sản, làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu, không còn tư hữu, không có giai cấp ; rồi từ đó ông cố nghiên cứu, bẻ cong những dữ kiện lịch sử, kinh tế, xã hội để theo đúng lới tiên tri của ông. 

Đó là tính chất phản khoa học của lý thuyết Marx. Ở đây tôi không thể đi vào chi tiết, mong Quí Vị coi những bài phê bình Marx của tôi trên các báo Việt ngữ hải ngoại. Người cộng sản nói một đằng, làm một nẻo, bắt đầu từ Marx. Hô hào xã hội không giai cấp ; nhưng thực tế xã hội cộng sản là xã hội phẩm trật nhât. 

Hô hào xã hội không có cảnh người bóc lột người ; nhưng một khi có quyền, người cộng sản là người bóc lột dân nhất. Chính vì vậy mà có sử gia cho rằng chế độ cộng sản là một cuộc lừa đảo lớn nhất của thế kỷ 20 vừa qua. Không cần nhìn đâu xa ; chúng ta chỉ cần suy ngẫm việc làm của đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta sẽ rõ.

   Hết rồi, thời của thần khoa học, thần ý thức hệ, thần luận lý, thần biện chứng ! Ngày hôm nay nhân loại nhìn ra rất rõ giới hạn của khoa học, của ý thức hệ, của kuận lý và biện chứng. Khoa học, luận lý cũng chỉ là những phương tiện để phục vụ con người, chứ không phải là những cứu cánh để con người phục vụ. Phần lớn những nhà trí thức, triết gia, tư tưởng hiện đại đều nhận thấy rằng phương pháp luận lý phân tích, nhất là biện chứng pháp, có tính cách cục bộ, chia rẽ, mang mầm mống nội loạn, chiến tranh qua quan niệm « Đề - Phản Đề « , và  trở về phương pháp tổng hợp có tính cách toàn thể, sự khác biệt không có nghĩa là kình chống, mà có nghĩa là hổ tương, kiểu : « Âm dương tương hòa. Cao thấp tương khuynh. Dài ngắn tương hình. »

                                             Paris ngày 18/10/2006

                                                      Chu chi Nam


              VAI  TRÒ CỦA TRÍ THỨC VÀ VĂN NGHỆ SĨ TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH       
                           TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN CHO TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CHUNG TA


Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của chúng ta ngày hôm nay là một cuộc chiến toàn dân, toàn diện. Toàn diện vì nó liên quan đến mọi lãnh vực : chính trị, văn hóa, ngoại giao, kinh tế, thông tin, tuyên truyền v..v.. Toàn dân vì hiện nay đại đa số dân Việt đang sống lầm than, thiếu tất cả mọi quyền tự do căn bản, duói chế độ độc tài cộng sản. 

Lầm than vì chỉ nhìn vào một vài con số chúng ta cũng đã thấy rõ : 44% dân Việt bị nhiễm bệnh lao, theo báo cộng sản Nguòi Lao Động dẫn bá cáo của Chuong Trình phòng chống lao tại Việt Nam, trình bày tại Đại Hội chống lao, tổ chức tại Hà Nội ngày 24/3/03. 40% trẻ em thiếu dinh duõng. Việt Nam là một trong những nuóc nghèo đói nhất thế giới. 

Trong 227 nuóc trên thế giới, mà trong đó phải không kể ít ra la trên 30 nuóc quá nhỏ về dân số cũng như diện tích, Việt Nam đứng vào hàng thứ 186 về sản luọng hàng năm tính theo đầu nguòi với 397$ , trong khi đó Nam Hàn là 10 000$, Đài loan là 14 000$, Thái Lan là 2 000$ ( Theo Nouvel Observateur- Atlas 2003). Theo Nguyễn đình Bin, Thứ Truỏng Bộ Ngoại giao CS Việt Nam, thì là 420$, theo chuyên viên Ngân Hàng Quốc Tế, thì với mức tăng truỏng hiện nay, Việt Nam phải cân 30 đến 40 năm mới bắt kịp Thái Lan.

Dân Việt hiện nay sống duói áp bức vì nhà nuóc cộng sản Việt Nam hiện nay là một trong những chính quyền đàn áp nguòi dân nhất thế giới, mọi quyền tự do căn bản của con nguòi đều bị cấm đoán. Theo Hội Phóng Viên Không Biên Giới ( Journalistes sans frontières), một cuộc nghiên cứu về sự đàn áp báo chí trên thế giới vào đầu năm 2003 cho biết : 3 nuóc đàn áp báo chí nhất thế giới đó là Việt Nam, Bắc Hàn và Irak của Saddam Hussein, lúc ông này còn tại chức. 

Nông đức Mạnh là 1 trong 43 nhà lãnh đạo đàn áp tự do ngôn luận nhất thế giới. Nhưng vụ xử án cha Nguyễn văn Lý, Lê chí Quang, Phạm hông Sơn và nhiều nguòi nữa cho ta thấy rõ điều đó.

Bất cứ một chế độ độc đoán, độc tài nào từ xưa tới nay, dù là tả hay hữu, dù là phát xít hay cộng sản, cũng đều dựa trên 2 cột trụ chính. Đó là : 1) Bộ máy kìm kẹp công an, mật vụ, 2) Bộ máy thông tin tuyên truyền bưng bít và bóp méo sự thật.

Để giật sập một chế độ độc tài, chuyện chính là phải vô hiệu hóa, phá vỡ 2 cột trụ này.

Vì vậy vai trò của trí thức, văn nghệ sĩ nói lên sự thật sẽ giữ một vai trò trọng yếu trong việc đấu tranh chống độc tài hiện nay.

Thật vậy, mục đích công cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện nhằm lật đổ chế độ dộc đoán, độc tài CS hiện nay để xây dựng một nuóc Việt hòa bình, tự do, dân chủ, ấm no và phồn thịnh, một nuóc Việt mà trong đó mọi nguòi có cơm ăn áo mặc, không có sự chống đối giai tầng, không có cảnh con đấu bố, vợ tố chồng, nguòi này nghi kỵ nguòi kia, một xã hội đa khuynh, đa đảng, trong đó mọi tư tuỏng triết học, mọi tôn giáo đuọc chấp nhận, mọi truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta dày công kiến tạo đuọc phục hồi và duy trì, mọi tiến bộ tư tuỏng và khoa học đuọc truyền bá ; một xã hội mà trong đó CON NGUÒI THỰC SỰ LÀ CỨU CÁNH CỦA CON NGUÒI, chứ không pải là con vật hy sinh cho một thiên đàng không tuỏng, hay là nạn nhân của một bộ máy kìm kẹp, đuọc dựng lên để phục vụ một thiểu số nguòi, tự mạo nhận mình là đại diện cho toàn thể thợ thuyền, cho toàn dân ; công cuộc đấu tranh đó đòi hỏi ở giới trí thức, văn nghệ sĩ một sứ mạng to lớn.

Sứ mạng đó là diễn tả trung thực cuộc sống cơ cực mà dân Việt đã và đang chịu hiện nay, cuộc sống cải tạo gông cùm trong đó con nguòi bị kiểm soát từ miếng cơm manh áo, bị theo dõi từ lời nói tới buóc đi, cuộc sống của những đứa bé lang thang trên hè phố bán vé số, những đứa trẻ phải bán thân nuôi miệng, những nguòi bị xuất cảng lao động, phải sống vào thời nô lệ, mặc dầu chúng ta đang ở thế kỷ 21, thời của văn minh dân chủ, tự do, tri thức, điện toán.

Sứ mạng đó là nói lên sự phản đối, cuộc kháng chiến âm thầm, nhưng bền bỉ mãnh liệt của toàn dân chống lại bạo quyền, vì kháng chiến là một phản ứng tất nhiên của một dân tộc sống trong nghèo đói và áp bức. Sự nghèo đói, áp bức , bóc lột càng mạnh, sức kháng cự càng cao.

Sứ mạng đó là nêu cao những mục đích cao đẹp của cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ hiện nay.
Sứ mạng đó là bảo tồn văn hóa Việt và cũng đồng thời thâu nhận những tinh hoa của văn hóa, văn minh the giới. 

Dân Việt đã lập quốc từ lâu. Văn hóa Việt là một nền văn hóa cổ kính, từ lâu mang nhiều tính chất :
Trọng lẽ phải, trọng sự thật : «  Nói phải Ông Vải cũng phải nghe ».
Tự do, dân chủ và nền nếp : « Phép vua thua lệ làng. »

Nhân bản, trung hậu, lấy con nguòi, lấy gia đình làm gốc : « Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa. », «  Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nưuoóc trong nguồn chảy ra. »
Có tính chất dân tộc, không phân biệt nam nữ : «  Nhiễu điều phủ lấy giá guong. Nguòi trong một nuóc phải thuong nhau cùng. », Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh. »

Nhưng vẫn có tính chất tiến bộ, quí cái hay cái đẹp của mình, mà vẫn trọng cái tốt của nguòi : «  Ở nhà nhất mẹ, nhì con. Ra đuòng chán vạn kẻ còn hơn ta. », « Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. »

Trong công cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện, cho tự do, dân chủ, nhằm lật đổ bạo quyền ngày hôm nay, giới trí thức và văn nghệ sĩ hãy ý thức rõ ràng hơn bao giờ hết rằng bảo tồn văn hóa là đồng thời có nghĩa là sáng tạo văn hóa, bảo tồn văn minh là sáng tạo văn minh, bằng cách chống lại quan niệm cho rằng để sáng tạo văn hóa, văn minh mới, thì phải hủy diệt văn hóa, văn minh cũ.

Giới trí thức, văn nghệ sĩ hãy trở về nguồn, bằng cách :
Nêu cao tinh thần trọng sự thật, trọng lẽ phải, trọng điều thiện, và cũng có nghĩa là chøống lại những cái gì dối trá, lừa bịp, ác ôn.
Nêu cao tinh thần tự do, dân chủ, đa khuynh, đa đảng, và cũng có nghĩa là chống lại những cái gì độc đoán, độc tài, độc khuynh, độc đảng, áp bức, bóc lột, đến bất cứ từ đâu, tả cũng như hữu, bằng cách cổ võ văn hóa cởi mở, tự do, và cũng đồng thời có nghĩa là chống lại văn hoâ dịch, giáo điều.

Bằng cách nêu cao tiønhâ thần nhân bản, trung hậu, trọng công bằng, và cũng có nghĩa là chống lại cái gì bất công, vô nhân bản, thất đức, bất nhân.

Nêu cao tinh thần dân tộc, và cũng có nghĩa là chống lại cái gì phi dân tộc, mang dân đi phục vụ những ý đồ bành truóng ngoại bang
Trở về nguồn, nhưng cũng đồng thời biết phóng tầm mắt ra xa, không để cho trái tim và khối đóng khung trong những thành kiến, tập quán, những giáo điều của những lý thuyết lỗi thời cách đây cả hàng trăm ngàn năm, mà nguọc lại biết để trái tim và khối óc đi tìm những chân trời mới, sẵn sàng đón nhận những ý kiến, tư tuỏng mới, tinh thần lý luận và đầu óc khoa học cận đại, là để trái tim và khối óc biết hòa nhịp buóc theo kịp đà tiến bộ của nhân loại.loại

Mục đích của công cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện, cho tự do, dân chủ hiện nay là lật đổ chế độ độc đoán, độc tài CS, để xây dựng một xã hội Việt hòa bình, tự do, dân chủ, tiến bộ và phồn thịnh.

Đó là một cuộc cách mạng.

Mọi cuộc cách mạng đều bắt đầu bằng cách nói lên sự thật, chỉ trích, đả phá những thói hư, tật xấu, những bất công, tệ hại của xã hội đuong thời, và đồng thời đưa ra những đuòng huóng, kế hoặch để xây dựng xã hội tuong lai tốt đẹp hơn.

Nói lên sự thật và chỉ trích những tệ nạn xã hội, những bất tài, bất luong của giới lãnh đạo và của trật tự xã hội hiện thời là điều kiện căn bản và đầu tiên củạ 
Vì vậy vai trò của trí thức và văn nghệ sĩ rất quan trọng trong cách mạng.

Nguọc dòng lịch sử, nguòi ta thấy trong bất cứ một cuộc cách mạng nào, một cuộc vận động lịch sử to lớn nào, những nhà trí thức, văn nghệ sĩ đều giữ một vai trò tiên phong. Chính nhờ họ mà nguòi dân thấy rõ những bất công của trật tự đang thờI, thấy rõ những lỗi lầm, cố chấp, thối nát của giới lãnh đạo.

 Cũng chính nhờ họ mà nguòi dân thấy rõ đâu là trật tự mới, những giá trị mới, đi đúng dà tiến bộ của nhân loại, hợp lòng nguòi, thuận lòng dân.

Dân Việt hiện nay đang âm thầm làm một cuộc cách mạng, một cuộc vận động lịch sử, nhằm lật đổ bạo quyền cộng sản độc đoán, độc tài, đi nguọc lại quyền lợi của dân, đi trái với đà tiến bộ của văn minh nhân loại, để thay thế trật tự bất công hiện hành bằng một trật tự mới, công bằng hơn, để xây dựng một nuóc Việt hòa bình, tự do, dân chủ, ấm no và phồn thịnh.

Bất cứ một cuộc cách mạng và vận động lịch sử nào cũng bắt đầu bằng cuộc cách mạng và vận động lịch sử văn hóa. Vì vậy vai trò của trí thức, văn nghệ sĩ không kém quan trọng.

Giới trí thức, văn nghệ si hôm nay cũng đã bắt đầu ý thức đuọc trách nhiệm quan trọng của mình. Và họ đang làm một cuộc bắt đầu. Bắt đầu bằng tiếng chuông cảnh tỉnh, phơi bày sự thật dã man, ác ôn của chế độ, đồng thời nói lên cuộc kháng chiến âm thầm, nhưng kiên cuòng của dân tộc, ở hải ngoại cũng như ở trong quốc nội. Bắt đầu bằng hồi chuông báo tử : báo tử cho bạo chúa, bạo quyền, những kẻ đi nguọc lòng nguòi, phản lòng dân, hại quốc gia, phản dân tộc.

                                       Âu châu ngày 8/7/2003

                                      Trực Ngôn Chu chi Nam



                                               THẾ TẤT THẮNG CHO CUỘC ĐẤU TRANH
                                                      DÂN CHỦ - NHÂN QUYỀN VIỆT NAM

   Trước sự đàn áp của bạo quyền cộng sản đối với những nhà đấu tranh dân chủ - nhân quyền, với thời gian 30 năm qua, nhiều người bi quan cho rằng cuộc đấu tranh vì dân chủ - nhân quyền rồi cũng sẽ đi đến thất bại. Có phải thế không ?

   Thật ra không phải thế. Ba mươi năm là dài so với 1 đời người, nhưng không là bao so với dòng dài lịch sử của một dân tộc ; nhất là với dân tộc Việt có cả 4 000 năm lịch sử, đã từng đánh Tống, bại Chiêm, kháng Minh, đuổi Thanh. Cuộc đấu tranh cho dân chủ - nhân quyền Việt Nam đang có nhiều thế tất thắng, nếu chúng ta nhìn toàn bộ và theo chiều dài lịch sử Việt.

   - Thế tất thắng thứ nhất đó là sự thật càng ngày càng được phơi bày, chứng tỏ chế độ cộng sản chỉ là một cuộc lừa đảo lớn nhất của thế kỷ 20, như một nhà sử gia đã nói ; kẩu hiệu cộng sản đưa ra : «  Chế độ cộng sản là chế độ đại diện cho thợ thuyền, bảo vệ và đấu tranh cho công nông « ; nhưng thực tế, người dân dưới chế độ này bị bóc lộ nhất. 

Hình ảnh hai chế độ Bắc Hàn và Nam Hàn cho chúng ta thấy rất rõ. Nam Hàn hiện là cường quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới, sản lượng tính theo đầu người hàng năm là 15 000$ ; trong khi đó người dân Bắc Hàn dưới chế độ cộng sản, thì đang chết đói. Người cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo, như chính cựu Tổng Bí Thư đảng cộng sản Liên sô, ông Mikhail Gorbatchev tuyên bố : «  Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản. 

Nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng người cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo. » Người Nga có câu : «  Sự thật nặng hơn quả địa cầu «  , và chính câu nói này đã được những người dân chủ dùng làm khẩu hiệu cho công cuộc đấu tranh giật sập chế độ độc tài, nói láo cộng sản Liên Sô, vào cuối thập niên 80, đầu 90. Nó đã được coi như một trong những lý do chính đưa đến thắng lợi của những người đấu tranh cho dân chủ nhân quyền Nga. 

Thật vậy, sức mạnh của bạo lực, của dối trá, tuyên truyền có thể thắng trong ngắn hạn ; nhưng sức mạnh của dài hạn vẫn là sức mạnh của sự thật. Trở về lịch sử để chúng ta nhìn rõ hơn. Cách đây 2006 năm, nước Do Thái bị đô hộ bởi đế quốc La Mã, dân Do Thái bị lầm than, chính vì vậy mà có cuộc nổi dậy của Đức Chú Jésus. Viên toàn quyền La Mã lúc bấy giờ là ông Ponce Pilat dẹp hoài không xong, bị triệu về Rome hạch hỏi. 

Ông đã thẳng thắng trả lời : «  Thưa César ( Bệ hạ), tôi có thể chiến thắng tất cả ; nhưng tôi không thể nào chiến thắng lời nói sự thật và việc làm nhân đạo của Jésus. » Hành động của cộng sản Việt Nam, ăn gian, nói dối, gian manh quỉ quyệt, không có một chút gì là lương tâm, lương tri con người ; ăn uống, chơi bời hả hê, thừa múa, đánh những canh bạc cả triệu đô la ; trong khi đó thì đại đa số dân không có một đồng để sống, ngay cả những người đã hy sinh cho đảng cộng sản, bị tật nguyền ; những hành động đó, nếu «  chiến thắng », thì cũng chỉ là nhất thời, sớm muộn sẽ phải nhường chỗ cho sự thật, cho lương tâm, lương tri, cho tình con người. Đó mới là chiến thắng lâu bền.

   Một trong những sai lầm lớn của K. Marx khi ông cho rằng ý thức con người là do hoàn cảnh xã hội tạo nên. 

Và từ đó, những người cộng sản tin rằng có thể dùng hoàn cảnh và thông tin tuyên truyền nhồi sọ để thay đổi sự suy nghĩ, nhận xét của con người. Nhưng thực ra, con người khi sinh ra nó đã đuợc Trời phú cho lương tâm, lương tri, tất nhiên cũng có những trường hợp thiểu số, ngoại lệ. Với lương tâm, lương tri, con người dù trong hoàn cảnh nào chăng nữa, nó vẫn có thể phân biệt đâu là phải, đâu là trái, cái gì là thiện, cái gì là ác, cái gì nên làm, cái gì không nên làm, đâu là dối trá, đâu là sự thật.

 Ở đây tôi chỉ lấy một vài thí dụ cá nhân điển hình, nổi tiếng để dễ hiệu : Trường hợp nhà bác học Sakharov, cha để của bom nguyên tử Liên Sô, hai ba lần đưọc giải thưởng Lénine ; quả là một người con cưng của chế độ. Nhưng rồi ông thấy chế độ làm những điều sai trái, phản dân chủ, phản nhân quyền, ông đã thẳng thắn chống đối, đến nỗi phải vào tù. Những người như ông Gorbatchev và Etlsine, một người là Tổng Bí Thư, một người là Ủy viên Bộ Chính trị, đặc trách đảng ở Moscou, những người này, nếu bảo là do hoàn cảnh, giáo dục và tuyền truyền làm nên, thì họ là hoàn toàn như vậy, không những họ bị nhồi sọ, mà họ còn là người nhồi sọ kẻ khác. 

Nhưng đến một lúc lương tâm thức tỉnh, lương tri trở lại, họ sẵn sàng từ bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi, đứng dậy nói lên tiếng nói của lẽ phải, của sự thật, của lương tâm, lương tri ; như câ u :«  Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo ( Gorbatchev), «  Làm gì có tự do dân chủ dưới chế độ cộng sản. Ngay ở trong đảng, khi ông Tổng Bí Thư dơ tay là mọi đảng viên phải răm rắp dơ theo. Nếu không thì bị khó dễ hay bị bỏ tù sau này. Đối với đảng viên còn vậy, hưống chi đối với người dân » ( Etlsine). 

Không nói đâu xa, chúng ta trở về Việt Nam, những người như ông Hoàng minh Chính , cựu Viện Trưởng Viện Mác Lê, đại tá Phạm quế Dương, nhà văn Dương Thu Hương, đây cũng là những người do hoàn cảnh, giáo dục và tuyên truyền cộng sản nhào nặn lên. Nhưng đến một lúc, trước cảnh đảng đi ngược lại lòng người, trái với lòng dân, phản sự thật, không còn tình người, họ can đảm đướng lên chống đảng, nói lên tiếng nói của sự thật, của lương tâm, luơng tri.

   - Thế  tất thắng thứ nhì, đó là cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền đang đi hợp lòng dân, lòng người, đi đúng chiều hướng của lịch sử Việt, mặc dâu bị đàn áp, nhưng những ngưới đấu tranh chống lại bạo quyền càng đông và càng được dân hậu thuẫn.

   Một khi sự thật càng ngày càng được phơi bày, người dân càng ngày càng thấy rõ bản chất thật của người cộng sản, của chế độ, thì họ càng hưởng ứng đông. Có một nhà báo hỏi một vị Đại Sứ Tây phương ở Lỗ Mã Ni ( Roumanie) vào cuối thập niên 80, khi chế độ độc tài của 2 vợ chồng Ceausescu bị sụp đổ : Tại sao một chế độ với một cơ quan công an, tình báo, cơ quan tuyên truyền mạnh như vậy mà sụp đổ một sớm một chiều. 

Vị đại sứ không ngần ngại trả lời rằng khi sự thật được phơi bày, khi sự sợ hãi đã đổi chiều, người dân không còn sợ hãi nửa, thì chế độ sụp đổ. Có lẽ đây là qui luật để đưa đén sự sụp đổ tất cả mọi độc tài, vì bất cứ một chế độ độc tài nào cũng dựa trên hai cột trụ chính : bộ máy thông tin tuyên truyền bôi bác sự thật, bộ máy công an kìm kẹp dọa nạt làm cho người dân sợ phải theo. Khi hai cột trụ này bị gãy, thì chế độ sụp đổ.

   Chính vì vậy mà vào năm 1978, khi mới lên ngôi, Đức Giáo Hoàng Jean Paul I I, trở về thăm Ba Lan, còn dưới chế độ độc tài cộng sản, Ngài đã tuyên bố : «  Hãy can đảm !Đừng sợ sệt. Và hãy hy vọng !" Câu nói này là một trong những nguyên do chính đưa đến sự sụp đổ chế độ cộng sản Ba Lan sau này.

   Thật vậy, dân Việt ngày hôm nay muốn thoát khỏi chế độ độc đài để có hy vọng sống một cuộc sống tự do, tốt đẹp hơn thì hãy can đảm đứng lên đấu tranh. Đấu tranh chống lại những bất công mà mình đang chịu, như việc cướp đất đuổi nhà, như việc bị quan quyền địa phương ức hiếp, bị xiu cao thuế nặng, không đủ tiền nuôi thân, nuôi gia đình, cho con đi ăn học. Can đảm đứng lên và càng đông càng tốt thì sự sợ hãi sẽ đổi chiều.

   - Thế tất thắng thứ ba đó là thế giới độc tài cộng sản đã sụp đổ, những nuớc độc tài cộng sản còn lại trong đó có Việt Nam chỉ là những cành khô, củi mục chôi lềnh bềnh trên đại dương dân chủ - nhân quyền thế giới.

   Cộng sản Việt Nam, đã từ xưa thường ca tụng : «  Liên Sô thành trì cách mạng cộng sản. Đông Đức thiên đàng cộng sản.  Hiện tại của Liên Sô, của Đông Đức là ngày mai, là tương lai của Việt Nam. » Nay Liên Sô, Đông Đức sụp đổ, cộng sản Việt Nam mất định hướng, phải bám vào Trung Cộng, mặc dầu trước đây hết lời chửi rủa Trung Cộng : «  Kẻ thù liền sông, liền núi, liền trời và liền biển. Kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam. »

Cộng sản Việt Nam hiện nay và Trung Cộng là 2 kẻ « Đồng sàng dị mộng « . Trung cộng từ ngàn xưa vẫn là kẻ bành trướng, xâm chiếm và không bao giờ quên lời của Đặng tử Bình : «  Cộng sản Việt Nam là kẻ ăn cháo, đái bát », sẽ tìm cách lợi dụng, lấn đất, cướp biển càng nhiều càng tốt. Vì vậy, dân Việt nhìn thấy rất rõ ngày hôm nay là ngày nào còn chế độ cộng sản, ngày đó chủ quyền quốc gia không còn, và càng bị lệ thuộc Trung Cộng. 

Tuy nhiên cả 2 chế độ cộng sản này cộng với Cu Ba và Bắc Hàn, ngày hôm nay, chỉ là những cành khô củi mục trôi lềnh bền trên đại dương dân chủ, chỉ là một thiểu số lành đạo cai trị dân bằng khẩu súng và cái còng, «  Danh là bá thiên hạ ; nhưng thực là mất lòng mọi ngườỉ « , sớm muộn sẽ bị sóng đại dương nhấn chìm. Nói như Đức Trần hưng Đạo : «  Quân như thuyền và dân như nước. Nước có thể chở thuyền ; nhưng nước cũng có thể làm đắm thuyền. »

 - Thế tất thắng thứ 4 đó là chế độ càng ngày càng lún sâu vào vũng bùn tham nhũng, hối lộ, nội tình đảng Cộng sản Việt Nam đang phân tán, chia rẽ trầm trọng.

   Sự thật càng ngày càng được phơi bày, chứng tỏ đảng cộng sản lệ thuộc ngoại bang, tham nhũng hối lộ, tạo nên một xã hội vô cùng bất công, không chỉ với người dân thấp cổ bé họng, mà ngay với cả những thương binh, quả phụ đã bỏ cả cuộc đời đấu tranh cho cộng sản, nghĩ rằng cộng sản là công bằng ; nhưng trên thực tế, cộng sản là bất công, phẩm trật, quan liêu, phong kiến nhất. 

Chính vì vậy mà nhiều quân cán chính cộng sản đã rời bỏ hàng ngũ, hay nếu không, thì trong lòng cũng không còn tin gì nơi chế độ. Trường hợp ông Hoàng Minh Chính, Phạm quế Dương là trường hợp điển hình và nhiều người biết tới, nhưng còn cả bao nhiêu người khác nữa, nhất là giới trẻ, ngày hôm nay qua báo chí, mạng internet, thông tin, cộng sản không dễ dàng bưng bít như xưa,  nói dối sẽ bị giới trẻ lật tẩy dễ dàng ; và như tôi đã nói ở trên, dù hoàn cảnh thế nào, nhưng trong thầm kín, tâm tư mỗi con người, đều có lương tâm và lương tri. Lương tâm và luơng tri này đã làm cho phần lớn dân Việt, bằng cách này hay cách khác, công khai hay âm thầm, đều bất mãn chế độ.

Thêm vào đó chế độ càng ngày càng lún sâu vào vũng bùn hối lộ, tham nhũng. Hối lộ, tham nhũng như bệnh ung thư của một chế độ xế chiều, nếu chữa nó, thì phải cắt dần cắt mòn những bộ phận của cở thể, đến lúc kiệt sức rồi cũng chết. Nếu không chữa, nó ăn dần ăn mòn cơ thể, rồi cũng chết. 

Chúng ta cứ nhìn cảnh chợ chiều, chúng ta sẽ rõ : ai cũng vội vã bốc hốt, giành giựt, bán tháo, bán đổ để về nhà. Lịch sử chúng ta có thể nhìn dưới nhiều con mắt khác nhau ; nhưng chúng ta cũng có thể lấy quan niệm lịch sử lập lại, khi ta nhìn sụp đổ của những đế quốc hay triều đại. Triều đại nhà Tống bên Tàu ; dù có dùng Bao Công, một ông quan tòa xử án công minh đến đâu chăng nữa ; nhưng càng xử án, đưa cả phò mã, con rể vua ra xử, càng làm chế độ yếu dần đi, cho đến lúc sụp đổ. 

Ở Việt Nam, cuối thời nhà Trịnh, cuối thế kỷ thứ 18, bệnh kiêu binh, bệnh hối lộ đã là làm tiêu tan nhà Trịnh. Gần đây, nếu chúng ta quan sát sự sụp đổ của đế quốc cộng sản Liên Sô, thì ai cũng đồng lòng rằng tham nhũng hối lộ là một trong những nguyên nhân chính đưa đến chế độ sụp đổ. 

  - Thế tất thắng thứ 5 đó là cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền Việt Nam đang đi đúng chiều hướng tiến bộ của văn hóa văn minh nhân loại.
   Nếu chúng ta nhìn lịch sử một cách lâu dài, theo một số sử gia và nhà một số nhà kinh tế, nhân chủng học, thì lịch sử nhân loại chia ra làm 5 nền văn minh : Văn minh trẩy hái lúc đầu, con người hái cây quả, săn bắn xúc vật quanh hang hốc của mình để sống. 

Nhưng rồi từ từ cây trái, xúc vật cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để kiếm ăn, con người bước sang nền văn minh du mục. Văn minh du mục tiêu biểu là đế quốc Mông Cổ thời Thành cát Tư Hãn. Dù đi xa, cây trái và xúc vật cũng không còn nhiều một cách tự nhiên, con người phải nuôi xúc vật, trồng cây để sinh sống, con người bước sang văn minh định cư, nông nghiệp. 

Văn minh định cư nông nghiệp tiêu biểu và to lớn đó là văn minh ai Cập, Ấn Độ, phát xuất từ châu thổ những con sông lớn, vì đất phù sa phì nhiêu, sông có nước để tưới cây, cho xúc vật và người uống. Với nền văn minh này, con người đã có thể thỏa mãn những nhu cầu cần thiết. Một khi nhu cầu cần thiết được thỏa mãn, con người nghĩ đến nhu cầu xa xỉ, như khi nó có thể dệt vải để mặc, nhưng nó thích mặc lụa, thì nó trao đổi với người dệt lụa. 

Đó là văn minh thương mại.Con đường Tơ Lụa nối liền đông tây là một trong những di tích của thời đại này.

Trong thời kỳ văn minh thương mại, con người đã phát minh ra máy hơi nước, máy nổ, téléphone, rồi máy điện tóan. Với téléphone và máy điện tóan, con người không cần đi xa để trao đổi buôn bán, con người bước sang nền văn minh tri thức điện tóan, chính là văn minh ngày hôm nay.

Thật vậy, con người đã thóat khỏi 4 thời kỳ văn minh trước, để bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ nhất bằng cách dùng máy hơi nước, để khai thác tài nguyên thiên nhiên, cách mạng phương thức sản xuất, từ đầu thế kỷ thứ 18 tới cuối thế kỷ thứ 19. Sang thế kỷ 20 và vào giữa thế kỷ này, con người dùng máy nổ để tăng cường sản xuất. 

Cuộc cách mạng thứ 3 là cuộc cách mạng hậu công nghiệp, bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 cho tới ngày hôm nay, với phát minh máy điện tóan, thô sơ lúc ban đầu, được dùng trong quân sự, rồi được thu nhỏ, hoàn hảo hơn và được dùng trong kinh tế và ngay cả tư nhân, như chúng ta thấy ngày hôm nay. 

Ở thời kỳ văn minh tri thức - điện toán này, sản xuất kinh tế đã được chuyển từ sức mạnh bắp thịt lên trí não ; yếu tố quyết định trong sản xuất kinh tế không còn là nhân công đông hay hầm mỏ nằm trong lòng đất, mà chính là nằm trong đầu óc con người, với những phát minh sáng kiến.

 Chính vì vậy mà nền văn minh này đòi hỏi một mô hình tổ chức xã hội thích hợp, đó là tự do, dân chủ và kinh tế thị trường ; vì chỉ dưới chế độ dân chủ con người mới có thể trao đổi dễ dàng những ý kiến, tư tưởng, những công trình nghiên cứu, và từ đó mới dễ phát minh. 

Quốc gia nào có mô hình tổ chức nhân xã dân chủ nhất, tôn trọng tự do, nhân quyền nhất, giúp con người có nhiều phát minh nhất, quốc gia đó có sức mạnh sản xuất kinh tế tốt nhất.

-         Thế tất thắng thứ 6 đó là cuộc đâu tranh cho dân chủ nhân quyền Việt Nam đang được cộng đồng người Việt và cộng đồng thế giới yêm trợ càng ngày càng mạnh.

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trong những thấp niên qua còn bị bận rộn về việc định cư, sinh sống, nay việc này đã tạm ổn, thêm vào đó, đã thành công trong việc dạy giỗ con em ăn học, nắm nhiều vai trò quan trọng trong những chính quyền địa phương. 

Và với cái nhìn tự do, dân chủ, đúng chiều hướng của văn minh nhân loại, phản lại độc tài, những con em này là những tiếng nói hữu hiệu cho cuộc đấu tranh dân chủ - nhân quyền Việt Nam đối với những chinh quyền quốc tế sở tại.

   Đó là những yếu tố thuận lợi khách quan. Còn yếu tố chủ quan tùy thuộc ở mỗi người Việt, mỗi tổ chức đấu tranh cho dân chủ - nhân quyền, ở quốc nội cũng như hải ngoại, có thể nắm bắt được thời cơ thuận tiện này hay không . Để nắm bắt thời cơ này, tất nhiên cần phải nhiều yếu tố ; nhưng hai trong những yếu tố căn bản, đó là sự thật và can đảm. 

Nói như Đức Giáo hoàng Jean Paul I I : «  Hãy can đảm ! Đừng sợ xệt !  Và hãy hy vọng ! « Can đảm đứng lên đấu tranh, nói lên tất cả những bất công, từ việc cướp nhà, cướp đất, cuộc sống cơ cực, bị bóc lột bởi tư bản đỏ trong nước, thông đồng với tư bản trắng quốc ngoại, trả nhân công rẻ mạt, đối xử tàn tệ với anh chị em công nhân Việt ; nói lên xiu cao thuế nặng, làm không đủ sống, không có tiền đi bác sĩ, nhà thương, hay cho con đi học ; trong khi đó thì đảng đoàn cán bộ tiêu tiền vứt qua cửa sổ. 

Can đảm đứng dậy, càng đông, càng tốt, nói lên sự thật, không những cho chính mình, mà cho nghững người chung quanh mình, cho con cháu thế hệ mai sau ! Chỉ như vậy thì công cuộc đấu tranh cho dân chu – nhân quyền mới sớm thành công, dân tộc, đất nước mới sớm thoát khỏi độc tài, khỏi cảnh nghèo đói, lầm than !

                                               Paris ngày 13/11/2006

                                                      Chu chi Nam


Từ nạn độc tài đến họa xâm lăng và thử thách của phong trào dân chủ


Từ nạn độc tài đến họa xâm lăng và thử thách của phong trào dân chủ



I. Bản chất của chế độ CSVN

Cho dù được tô điểm bởi bất kỳ mỹ từ nào chăng nữa, chế độ CSVN là một chế độ độc tài kể từ khi đảng này cướp chính quyền và cai trị cho đến nay.

Sự ra đời của đảng CSVN gắn liền với Hồ Chí Minh, là một người ngay từ đầu cho đến lúc chết vẫn luôn luôn thuần phục Tàu cộng. Yếu tố sống còn và khả năng độc quyền cai trị của đảng CSVN lệ thuộc vào Tàu cộng. Lệ thuộc từ đường lối chính trị, phương thức cai trị cho đến tài lực, vật lực lẫn kiến năng. Lệ thuộc từ trong khói lửa chiến tranh như Điện Biên Phủ, xâm lược VNCH sang đến những cuộc chiến mà kẻ thù là nhân dân như Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm... Tất cả, từ lãnh đạo cho đến mọi hoạt động, đều mang dấu ấn made in China.

Do đó, chế độ CSVN không chỉ là một chế độ độc tài. Nó là một thể chế vừa độc tài vừa nô lệ ngoại bang trong suốt chiều dài cuộc sống của nó.

Với bản chất độc tài và nô lệ, điều gì đã xảy đến với chủ quyền lãnh thổ Việt Nam?

Nếu sau thế chiến thứ 2, Hồng quân Nga tiến vào Đông Âu và thiết lập những nhà nước cộng sản bù nhìn thì sau khi Liên bang Sô viết sụp đổ, mỗi quốc gia Đông Âu đều có thể tranh đấu để khôi phục chủ quyền cho những vùng đất nếu vẫn còn bị Nga chiếm đóng. Những thể chế độc tài cộng sản còn sót lại như Bắc Triều Tiên, Cu Ba dù tồi tệ đến bao nhiêu vẫn chưa để một tấc đất của tổ quốc họ rơi vào tay ngoại bang.

Ngược lại, đối với Việt Nam, điều tệ hại là những mất mát không phải vì bị cướp, hoặc vì hết lòng chiến đấu mà không đủ sức bảo vệ. Tổ quốc Việt Nam bị mất đất, mất biển là do chính đảng CSVN ký kết nhường, đổi chác, bán. Những ngòi bút ký của lãnh đạo đảng CSVN vào Công hàm 1958, Hiệp định Biên Giới Việt Trung, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, Tuyên bố chung về Boxit Tây Nguyên... và còn nhiều văn bản khác vẫn nằm trong vòng bí mật đã công nhận nhiều phần lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam thuộc về Tàu cộng. Những chữ ký "đại diện quốc gia" này đã trao cho Tàu cộng một sức mạnh gấp ngàn lần xe tăng, đại pháo, sư đoàn trong cuộc bành trướng của đại Hán: "thu tóm mà không cần phải xâm lăng"Những chữ ký này sẽ làm cho dân tộc Việt Nam gặp khó khăn gấp trăm lần khi phải tranh đấu để lấy lại những gì bị mất vì chính phủ ký kết xác nhận nó thuộc về ngoại bang, so với nỗ lực đứng lên giành lại những gì bị mất vì hành vi xâm lược.

Do đó, chế độ CSVN không chỉ là một chế độ vừa là độc tài vừa nô lệ cho ngoại bang. Chính xác hơn, nó là một chế độ độc-tài-bán-nước. Đây là bản chất, là căn cước của cộng sản Việt Nam. Và thực chất của tình trạng mất đất, mất biển đã không đến từ xâm lăng mà đến từ một cuộc buôn bán đổi chác dài hạn. Thủ phạm chính không phải là người mua, kẻ nhận mà chính là kẻ bán, người dâng.

II. Độc-tài nuôi bán-nước và bán-nước nuôi độc-tài

Độc-tài nuôi bán-nước: Nếu Việt Nam là một nước dân chủ, đa đảng, tam quyền phân lập thì đã không có Công hàm bán nước 1958, Hiệp định Biên giới, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ và nhiều ký kết khác. Sẽ không có Tổng bí thư một đảng cùng với mười mấy tên trong Bộ Chính trị toàn quyền quyết định tương lai của dân tộc và tùy tiện sắp xếp biên giới của quốc gia với ngoại bang. Sẽ không có những văn kiện với chữ ký của 2 tổng bí thư của 2 đảng, là những người không được dân bầu, nhưng lại toàn quyền quyết định những vấn đề có tầm ảnh hưởng lên cả quốc gia. Sẽ không có một Quốc hội bù nhìn toàn là đảng viên cộng sản ngồi đọc và chỉ biết được nội dung sau khi văn kiện đã được ký. Sẽ không có tình trạng cả nước không biết rõ toàn bộ nội dung những hiệp định được ký kết, không nắm chắc đất nước đã bị mất những gì, mất bao nhiêu. Do đó độc tài dẫn đến mất nước vì độc tài cai trị đã nắm vị trí độc quyền bán nước.

Bán-nước nuôi độc-tài: Đảng CSVN sẽ không thể độc tài cai trị cho đến ngày nay nếu trong suốt nhiều thập niên liền không sống bằng những hỗ trợ trên mọi phương diện từ Tàu cộng. Đảng không tồn tại nếu không mang căn cước bán-nước bên cạnh tờ khai sinh độc-tàiĐể độc tài, cộng sản Việt Nam phải bán nước. Lý do:

Một guồng máy độc tài với những lãnh đạo, cán bộ không có thực tài, thiếu khả năng, đầy bằng cấp giả, cộng thêm tham nhũng, hối lộ thì không thể nào tự họ làm cho đất nước hưng thịnh. Do đó, đảng CSVN sẽ không đủ khả năng để ngăn chận sự nổi loạn của quần chúng nếu không bắt tay với Tàu cộng để người dân có miếng ăn, có áo mặt, có điện, có xăng, có xe, có mọi thứ mặt hàng gia dụng... Các lãnh đạo và cán bộ đảng sẽ không thể nào đi từ vô sản không bằng cấpthành tiến sĩ tư bản đỏ bằng con đường với sức mình sỏi đá cũng thành cơm. Bài toán giải quyết và kết quả là một nền kinh tế hoàn toàn lệ thuộc vào Tàu cộng - từ công trình xây dựng, nhiên liệu, điện lực đến giao thông, hàng hóa, thực phẩm... Do đó, bành trướng Bắc Kinh không cần phải được thực hiện bởi những sư đoàn tinh nhuệ vượt biên giới Việt Tàu mà là những công trình, công nhân Tàu giàn trải khắp Việt Nam. Phương tiện xâm lược của Tàu cộng không cần phải là AK47, chiến đấu cơ Chengdu J-20, tên lửa DF-31A mà là những cú phôn, những quyết định bằng lời có thể dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, cúp điện cả nước và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đi vào hỗn loạn. Nếu nói rằng cai trị là nắm quyền quyết định hay ảnh hưởng lên vận mạng của một quốc gia thì đảng CS Việt đã từng bước trao cho đảng CS Tàu quyền cai trị Việt Nam. Bắc Kinh không cần phải có một chính phủ người Tàu đóng đô ở Ba Đình để thống trị nước ta. 

Đem giao cả nền kinh tế và biến nó thành một nền kinh tế nô lệ cho Tàu cộng vẫn chưa đủ. Đảng CSVN đã "hòa tan" những hoạt động của quốc gia với Tàu cộng trên mọi lãnh vực. Từ lãnh vực quân sự với đường dây nóng, với các khóa đào tạo sĩ quan, sang đến lãnh vực tình báo, pháp luật, an ninh xã hội, tòa án, hành chính... Tất cả đều có bóng dáng chỉ đạo của đảng cộng sản Tàu. Việt Nam đã và đang bị cai trị bởi Bắc Kinh - chỉ có điều là ở mức độ nào? 50%, 70%...? - không ai có thể biết chính xác. 

III. Xâm lược HD981: cơ hội cho độc tài

Ở một nước "độc tài bình thường" nguy cơ ngoại bang tấn công hay xâm lược là cơ hội cho những nhà độc tài "kết hợp lòng dân", kêu gọi quần chúng "đồng lòng cùng chính phủ" và gạt qua những bất đồng chính trị để đoàn kết chống ngoại xâm. Điều đó đã xảy ra ở Serbia vào năm 1999 khi NATO thả bom Serbia vì độc tài Slobodan Milosevic từ chối triệt thoái quân ra khỏi Kosovo.

Nếu những quả bom của NATO rải thảm thủ đô Belgrade vào năm 1999 là một món quà cho Milosevic thì giàn khoan HD981 của Tàu cộng là một món quà cho những nhà độc tài CSVN. Khác với Serbia, nơi mà Slobodan Milosevic là một nhà độc tài nhưng không bán nước, tại nước "độc tài bất bình thường" Việt Nam, đảng cầm quyền đã nhiều đời mang căn cước độc-tài + bán-nước. Vì thế, HD981 là cơ hội để những nhà độc tài bán nước CSVN đeo mặt nạ yêu nước và làm người ta có thể quên đi "hành trình bán nước từ lúc mới ra đời" của họ. Đối với quảng đại quần chúng, chiêu bài độc lập dân tộc được tung ra. Hình ảnh một lãnh tụ "sáng giá" phun châu nhả ngọc chống ngoại xâm được tung hô. Một chiến dịch dân vận để trình chiếu bộ phim trong đó mọi bộ phận, cơ chế của nhà nước cùng đồng lòng, nhân dân cả nước cùng đồng lòng. Một chiến dịch đồng lòng khắp hang cùng ngỏ hẻm đã được khua chiên, gõ mỏ, cho dù phải đem ngư dân ra để làm "tài tử" chính cho bộ phim "đảng, nhà nước và nhân dân đồng hành cùng ngư dân bám biển, bảo vệ tổ quốc".

Dàn khoan HD981 là cơ hội cho độc tài giả dạng "yêu nước" và cũng là thời cơ để độc tài chụp lên đầu những ai chống lại lãnh đạo "yêu nước" là thành phần phản quốc.

IV. Những thử thách của phong trào dân chủ

Trong "cơn sốt sơn hà nguy biến", những nỗ lực tranh đấu chống độc tài hình như trở thành lạc quẻ. Những công việc tranh đấu của phong trào dân chủ trước đó bây giờ hình như trở nên nhỏ lẻ và vô nghĩa. Chuyện tranh đấu tự do cho blogger Anhbasam, Lê Thị Phương Anh, đấu tranh chống lại Điều 258 hình như đang giống như chuyện đi nhặt rác trong một căn nhà đang cháy. Nhiều người choáng ngợp đến bất động vì hiểm họa ngoại xâm và có cảm giác cá nhân mình quá nhỏ bé, vô vọng trước tình hình thời cuộc.

Trong "cơn sốt sơn hà nguy biến" cộng với thủ đoạn mị dân của những nhà độc tài chụp bắt cơ hội, lực lượng dân chủ cũng bắt đầu phân tán vì những khuynh hướng khác nhau - giữa khuynh hướng đồng lòng cùng chính phủ, kỳ vọng vào những lời tuyên bố của một nhà độc tài mang mặt nạ yêu nước và khuynh hướng vừa chống độc tài vừa cứu nước.

Đó là tình trạng của phong trào dân chủ trong những ngày qua kể từ hôm 18.5.2014 khi cuộc biểu tình yêu nước bị Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh ngăn cản, cấm đoán và bắt giam một số người.

Nếu trước đây, phong trào dân chủ có một phương hướng chung trên con đường độc đạo là đấu tranh dẹp bỏ độc tài, xây dựng dân chủ, bảo vệ và phát triển nhân quyền thì "cơn sốt sơn hà nguy biến" đã bật ra 3 ngả rẽ:

1. Kỳ vọng vào đảng độc tài thoát khỏi vòng nô lệ của Tàu cộng. Tên thời thượng là Thoát Trung.

2. Kỳ vọng vào một lãnh đạo "sáng giá nhất" của đảng đứng lên lãnh đạo một cuộc cách mạng nhung để thoát ách nô lệ Tàu cộng và hy vọng người này đứng về phía nhân dân để cởi trói độc tài.

3. Kiên trì tranh đấu để chấm dứt độc tài và xây dựng dân chủ và xem đó là điều kiện nền tảng để có được sức mạnh toàn dân nhằm bảo vệ tổ quốc.

Chọn lựa thứ nhất dành cho những người không thấy được toàn bộ bản chất cốt lõi độc-tài-bán-nước của đảng CSVN, không nhớ hay không muốn nhớ đảng này là thủ phạm dẫn đến tình trạng đất nước ngày hôm nay như đã trình bày ở trên. Chọn lựa này cũng dành cho những người chấp nhận kết quả rút khỏi biển Đông của giàn khoan HD981 nhưng đảng CSVN vẫn tiếp tục "sứ mạng" độc-tài để bán-nước và bán-nước để tiếp tục độc-tài.
Chọn lựa thứ hai thuộc về những người xem việc người dân Việt Nam có thể tự làm nên một cuộc cách mạng là vô vọng. Do đó họ phải đánh cược số phận của đất nước vào niềm tin dành cho một người đang nằm trong bộ máy độc tài, người mà: (1) từ trước đến giờ thành tích nói và không bao giờ làm đã không thua bất kỳ ai; (2) sự nghiệp chính trị và vị trí lãnh đạo bị lệ thuộc vào tập đoàn tay chân mà những mất mát về quyền lợi, cũng như phải đối diện với những đe dọa nếu chống Tàu sẽ quay sang chống lại thủ lĩnh của họ; (3) cá nhân vẫn nằm trong sự chi phối của một cơ chế tập thể lâu đời mà thành phần thân Tàu đang chiếm đa số. 

Chọn lựa thứ 3 là chọn lựa khó khăn nhất. Nếu 2 chọn lựa đầu chỉ phải chống ngoại xâm và được sự hỗ trợ hay ít ra được yên thân bởi đảng độc tài thì chọn lựa thứ ba là phải chống nội xâm lẫn ngoại xâm. Chọn lựa thứ ba này đối diện với nhiều phản biện:

- Lực lượng dân chủ còn quá yếu, sẽ bị tiêu diệt từ trứng nước.

- Sẽ không được sự ủng hộ nồng nhiệt từ quần chúng vì tâm lý sợ hãi lâu đời và họ đang có chọn lựa an toàn với cá nhân của họ hơn. Đó là đứng cùng với đảng (chọn lựa 1), hay ủng hộ một lãnh đạo "sáng giá" của đảng độc tài (chọn lựa 2).

- Đấu tranh chống độc tài bây giờ sẽ giúp cho Tàu cộng thêm cơ hội tràn qua xâm chiếm Việt Nam.

Hai điều ban đầu đã hiện hữu mà không cần phải chờ đến biến cố HD981 mới có. Nó cũng là thử thách của mọi đất nước bị độc tài cai trị cho đến ngày cách mạng thành công.

Điều thứ ba là ngụy biện của đảng và những người chọn lựa thái độ đồng lòng hay mong đợi ở đảng. Trên thực tế: Tàu cộng không cần xâm lăng VN. Tàu cộng không thể lấy một lý do gì để tràn qua chiếm trọn VN trong thời đại này. Và sự xâm lăng cho dù có đi nữa sẽ không có hiệu quả bằng sự chấp nhận ký kết sang nhượng chủ quyền của tập đoàn tay sai như đã trình bày ở trên. Xin đọc thêm bài "Trung cộng: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!!!???"

Tuy nhiên, khi độc tài chụp lấy cơ hội "kết hợp lòng dân" và những thành phần quan tâm đến vận mạng đất nước đi vào 3 ngả rẽ thì phong trào dân chủ phải đối diện với những thử thách mới, chồng chất lên những thử thách vốn đã có.
Làm thế nào để vượt qua?
Chúng ta cần phải nhìn lại toàn bộ những nỗ lực vừa qua, lượng giá tình hình chủ quan và khách quan để từ đó có một hướng chiến lược tổng thể phù hợp với tình hình mới đang rất là đen tối. 

Đây cần là một nỗ lực chung của nhiều người và xin hẹn các bạn trong một loạt bài kế tiếp.





Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link