Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, June 20, 2014

Biển Đông đã mất? - Phần 1: Đừng để người ta cười


Biển Đông đã mất? - Phần 1: Đừng để người ta cười

BÀI GIẢNG VỀ HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC RÚNG ĐỘNG THẾ GIỚI CỦA LINH MỤC NGUYỄN NGỌC TỈNH


Phạm Hồng Sơn - "...Vấn đề Biển Đông trong những năm qua cho thấy chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo ở Việt Nam vẫn rất mạnh.

Khi vụ Giàn khoan HD198 xảy ra, khi báo đài của Đảng mới đổi giọng cao lên một chút, đã có nhiều người bày tỏ sẵn sàng vác súng ra trận bất biết đó sẽ là cuộc chiến vệ quốc hay lại vệ đảng (?).


Chỉ bằng một phát biểu có tính dân tộc chủ nghĩa, một ông thủ tướng bạo quyền đã rất nổi tiếng về hứa đẹp và chỉ hứa đẹp vẫn làm chao đảo dư luận, vẫn làm nhiều thức giả ngưỡng mộ, kỳ vọng ngất ngây..."

 

*

 

Hổ thẹn

 

Tôi đồ rằng những vị như Tiến sỹ Nguyễn NhãThạc sỹ Hoàng Việt hay Giáo sư Cao Huy Thuầnchưa đọc kỹ hai văn bản này: (1) Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2) Công hàm ngày 14/9/1958 của chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa thuộc chính thể Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

 

Theo tôi, bất cứ ai có trí tuệ bình thường đã đọc kỹ hai văn bản này và là người có lòng công bằng, bất thiên vị, vẫn thừa nhận tính chính đáng của chính thể cộng sản Việt Nam đều phải công nhận:

 

Hoàng Sa, Trường Sa cùng những chủ quyền liên quan theo luật quốc tế hiện nay là thuộc Trung Cộng – tức Trung Hoa cộng sản, quốc gia vừa từng là “anh em răng môi”, vừa vẫn là “bạn vàng bốn tốt”, “đối tác chiến lược toàn diện” của Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam (tức Đảng Lao động Việt Nam vào lúc Công hàm của chính thể Hồ Chí Minh được công bố – chính thể Việt Nam hợp pháp duy nhất từ năm 1945 tới nay dưới nhãn quan của Đảng Cộng sản Việt Nam.)

 

Bởi vì:

 

- Một: Ta không thể tự mâu thuẫn khi vẫn thừa nhận tính chính đáng, tính đại diện của một nhà nước, một chính phủ lại vừa phủ nhận hành động của nhà nước đó, chính phủ đó khi tự xác định “có trách nhiệm tôn trọng triệt để” tuyên bố công khai của một chính phủ khác khi chúng ta đã hoàn toàn im lặng vào lúc cam kết đó được lập nên.

 

- Hai: Việc cố diễn giải nhằm bác bỏ tính ràng buộc của một cam kết (có tính khế ước) của một tổ chức mà ta thừa nhận tính chính đáng của nó, và khế ước đó còn tiếp tục được minh định thêm nhiều lần khác, bằng nhiều cách khác của chính tổ chức đó, không chỉ là sự ngạo ngược với tinh thần Pháp trị phương Tây, phỉ báng chữ Tín phương Đông.

 

-Ba: Người còn liêm sỷ không thể vẫn coi một chính thể là “Ngụy” – tức bác bỏ tính chính đáng của chính thể đó – nhưng lại dùng những phát ngôn, hành động của chính chính thể (bị coi là) “ngụy” đó để biện hộ cho sự “chính đáng” của bản thân.

 

Tất nhiên, cứ có kẻ cầm quyền thì có biện sỹ - những người nhiều kiến thức, giỏi biện luận, chuyên phò tá kẻ quyền thế để mưu bổng tước bất chấp đúng sai, đức nghĩa. Tuy nhiên cái lý trí cùng đạo đức sơ đẳng của con người đều phải biết không thể nào tuyên bố chấp nhận một toàn thể, rồi sau đó lại phủ nhận phần tử của cái toàn thể đó; người ta cũng không thể kiện, không thể đòi lại vật đã bán, đã cho bằng việc nại ra những hình ảnh về sở hữu vật đó trước khi bán hay cho. Những kiểu lý luận này chỉ là lối biện luận phi logic một cách ngang ngược mà dân gian đã đặt tên: cãi chày cối lấy được.

 

Biện sỹ là nghề đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm nay cả ở Đông lẫn Tây, sự sai lầm của con người càng không mới, nhưng đến thời này mà chúng ta vẫn thấy hạng biện sỹ đó còn đất dụng võ thì thật kỳ lạ, lối biện luận đó ta lại thấy ở những danh sỹ khoa bảng thì thật hãi hùng.

 

Vô ơn

 

Nhìn vào quan hệ của hai chính thể cộng sản Việt, Trung, ngoại trừ một giai đoạn khoảng hơn 10 năm (1979-1990), người ta không thể không thấy bao trùm lên quan hệ đó là sự gắn bó thân tình đặc biệt của hai nước láng giềng và Trung Cộng là bên đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Nam cộng sản. Ngắn gọn có thể nói, mỗi thành tựu quan trọng của chính thể Việt Nam cộng sản trước năm 1990 đều không thể thiếu sự trợ giúp của Trung Cộng.

 

Tư trang, quân dụng cho tất cả những người lính miền Bắc vào những thời kỳ đó, đặc biệt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ-Ngụy”, từ lính tới tướng, từ đầu tới chân, từ trong ra ngoài, cho tới cái ba-lô, bi-đông, lương khô, thuốc tăng lực, v.v. đều của Trung Hoa. Tình hữu nghị Việt-Trung còn được hiện thân vào những ca từ , những điệp khúc thiết tha, hào hùng: “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng đông…Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông. Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông.”

 

Ngay năm 1979, giữa lúc quan hệ hai đảng xuống tới mức thấp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ:

 

“Năm 1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp… Nhân dân Trung Quốc, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm đầu của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược… những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Quốc viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã“chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, v.v… “.[i](tôi-PHS nhấn mạnh những chỗ tô đậm)

 

Đó chỉ là góc nhìn hẹp từ phía Việt Nam. Vậy, một người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa sẽ nghĩ gì về những người Việt Nam hôm nay vừa ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam vừa bác bỏ Công hàm Hồ Chí Minh 1958, vừa lớn tiếng hô hoán cáo buộc Trung Cộng xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa?

 

Nguy hiểm

 

Như đã thấy, nếu căn cứ vào lý, tức đưa vụ việc ra kiện tụng, chắc chắn Trung Hoa cộng sản (Trung Cộng) sẽ có lý hơn – tức sẽ thắng Việt Nam (cộng sản). Còn nếu tranh cãi cứ tiếp tục leo thang, kể cả chỉ bằng phương pháp chính trị-ngoại giao và không phải là đóng kịch, nguy cơ xung đột quân sự vẫn rất có thể xảy ra. “Chiến tranh chỉ là sự tiếp tục của một chính sách chính trị bằng một phương tiện khác thôi.” (Clausewitz)[ii]

 

Chưa kể, hai chính thể toàn trị cộng sản Việt và Trung đều có những nhu cầu tự thân trong việc cải hóa tính chính đáng đang có chiều sa sút. Mà chiến tranh luôn là một vị có thể phải gia thêm trong thang thuốc bốc cho độc tài bất an.

 

Tuy nhiên, dù chưa bàn đến chênh lệch sức mạnh giữa hai quốc gia cũng như các yếu tố quốc tế, một cuộc chiến trên những cơ sở như thế, dù ở mức độ nào, chắc chắn không thể mang lại được ích lợi gì cho dân Việt Nam, ngoại trừ kẻ chuyên quyền.

 

Như vậy bất kỳ ai vừa thừa nhận tính chính đáng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (chính là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) lại vừa cố đòi chủ quyền Biển Đông liên quan tới Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, họ vừa không chỉ tự mâu thuẫn, chống lại công lý mà còn có nguy cơ đẩy xung đột đi tới chỗ chém giết lẫn nhau, tai hại thêm cho lợi ích quốc gia của chính Việt Nam. Còn nếu tranh cãi chỉ dừng ở kiện tụng, đó cũng sẽ là những cuộc kiện tụng tốn kém tiền bạc, công sức của dân với một phán quyết gần như chắc chắn: Việt Nam (cộng sản) ít lý hơn.

 

Xấu hơn

 

Với lòng tự tôn dân tộc chúng ta có thể vẫn không tin, không chấp nhận thực trạng u ám trên đây. Nhưng sự thật tồn tại đâu cần sự đồng ý của chúng ta. Những văn bản, luận cứ bất lợi cho chủ quyền Việt Nam, như đã biết hoặc chưa biết, có thể đều đang nằm trong tay chính quyền Trung Cộng.

 

Cũng trong sách đã dẫn, tháng 10/1979 Đảng Cộng sản Việt Nam tiết lộ thế này:

 

“Những người cầm quyền Trung Quốc đã nhận ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam… Mặt khác họ đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập, tự chủ của mình, từ bỏ chủ quyền của mình đối với các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới đi vào bàn bạc các vấn đề khác.”[iii] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

 

Một dấu hỏi: Hội nghị Thành Đô 1990 chỉ là bước kế tiếp sau “điều kiện tiên quyết” vừa nói đã được thỏa mãn? Không ai có thể trả lời được nghi vấn này, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết một chi tiết khác:

 

“…Không có gì đáng ngạc nhiên là họ đã khước từ một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo hiệp định này về nguyên tắc đến tháng 6 năm 1965, phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam. Nhưng…”[iv] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

 

Như thế, không thể loại trừ Trung Cộng đã thủ đắc nhiều chứng cứ khác kiểu “Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng” (sic)?

 

Vụ bạo động xảy ra một cách bất ngờ trong mấy ngày liên tiếp ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Áng trong tháng Năm vừa qua còn cho thấy một viễn cảnh xấu hơn. Dù nguyên nhân gốc từ đâu, như một số nhà phân tích đã nêu, do tình báo Trung Cộng giật dây hay do chính quyền Việt Nam cố tình tạo ra để lấy cớ dẹp biểu tình, chúng đều chỉ rõ: hoặc Việt Nam đã bị Trung Cộng thâm nhập, kiểm soát rất sâu tới mức chính quyền bất lực, hoặc chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam rất sắt máu với dân – sẵn sàng chịu một tổn thất không nhỏ cả về kinh tế lẫn chính trị (đối ngoại) để có cớ phòng và đè bẹp những nhen nhúm dân chủ đối lập còn rất nhỏ và yếu.

 

Vô âm

 

Vấn đề Biển Đông trong những năm qua cho thấy chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo ở Việt Nam vẫn rất mạnh.

 

Khi vụ Giàn khoan HD198 xảy ra, khi báo đài của Đảng mới đổi giọng cao lên một chút, đã có nhiều người bày tỏ sẵn sàng vác súng ra trận bất biết đó sẽ là cuộc chiến vệ quốc hay lại vệ đảng (?).

 

Chỉ bằng một phát biểu có tính dân tộc chủ nghĩa, một ông thủ tướng bạo quyền đã rất nổi tiếng về hứa đẹp và chỉ hứa đẹp vẫn làm chao đảo dư luận, vẫn làm nhiều thức giả ngưỡng mộ, kỳ vọng ngất ngây.

 

Quá lo lắng cho quyền lợi dân tộc Việt đã khiến cả những người có trí tuệ không tầm thường chấp nhận một khẩu hiệu có nhân sinh quan cạn hẹp dễ khích động tha nhân: “Thoát Trung”.

 

Nhưng chủ nghĩa dân tộc không phải là thứ có thể độc quyền. Những người Hoa dân tộc chủ nghĩa quá khích chắc chắn không thể không thấy những phản ứng kể trên của người Việt. Họ cũng không thể không thấy những hiện tượng lạ lùng khác: Truyền thông nhà nước gọi nhân sỹ, trí thức đi biểu tình là “phản động”người của Đảng đi biểu tình bị đạp mặt; những nhân vật nhưLê Chí Quang vẫn trong vòng kiểm soát, Điếu Cày còn gần chục năm tù, Anh Ba Sàm chắc sẽ phải tù lâu, còn Bùi Hằng “hoa hậu biểu tình” sắp hầu tòa, v.v.

 

Quan sát như thế và lại nghe thấy “Thoát Trung”, những người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa không thể không nộ khí:

 

“Chúng mày đang bị chính chúng mày trói chân, trói cả tay cả đầu, thế mà vẫn còn hùng hổ 'Thoát Trung'. Ai cho thoát? Thoát đi đâu? Ngàn đời còn khổ các con ạ!”

 

Đó có thể là tưởng tượng phóng đại, quá khích, ác khẩu. Nhưng không thể lấy một chủ nghĩa dân tộc mù quáng để chống lại một chủ nghĩa dân tộc (lớn hơn nhiều) cũng mù quáng. Không thể tìm kiếm công lý, an bình cho dân tộc mình bằng sự trí trá, chà đạp một công lý khác.

 

Luồn vào chính sách uốn éo của cường quyền lệ thuộc phản trắc để đối phó với xâm lăng sẽ vừa vô ích, vừa rót thêm hoang mang vào lầm than của dân chúng, vừa dễ mắc bẫy, lại vừa bị người ta cười. Tất nhiên, không ai cười thành tiếng.

 

-Việt Nam phải câm lặng, chịu mất Biển Đông?- ○

 

(Còn tiếp)


Phạm Hồng Sơn
http://nhucaytrevn.blogspot.com/2014/06/bien-ong-mat.html

 

* Bài đọc thêm:


Giàn khoan Trụ đồng – điều kiện của hy sinh

Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận”

 

 

 

Báo Trung Quốc: Bắc Kinh sẽ cho đăng ký quyền sử dụng đất ở Hoàng Sa và Trường Sa


Phúc Duy (TNO) - Tờ Economic Observer (trụ sở tại Bắc Kinh) tiết lộ chính quyền Trung Quốc sẽ áp dụng một hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 

Economic Observer dẫn các nguồn tin từ Văn phòng Đăng ký Bất động sản thuộc Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc cho biết nước này sẽ công nhận quyền sở hữu và sử dụng “bất động sản” trên biển và đảo thuộc "chủ quyền lãnh thổ" của Trung Quốc, theo trang tin Want China Times (Đài Loan) ngày 18.6.

 

“Bất động sản” cụ thể ở đây là “đất, vùng biển và đảo, nhà ở, những tòa nhà, rừng cây và các vật thể bất di bất dịch”, theoEconomic Observer.

 

Các nguồn tin còn xác nhận bất kỳ người dân hay doanh nghiệp Trung Quốc nào cũng có thể đăng ký quyền sở hữu và sử dụng đất, nhà ở, vùng biển ở những đảo và quần đảo trên biển Đông, bao gồm các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 

Want China Times cho rằng hệ thống đăng ký quyền sử dụng bất động sản mới này cho thấy Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng trong chiến lược bành trướng lãnh thổ của nước này ở biển Đông.

 

Economic Observer cho hay hệ thống đăng ký quyền sử dụng bất động sản mới sẽ được áp dụng vào năm 2018.

 

Căng thẳng ở biển Đông leo thang kể từ khi Trung Quốc hồi tháng 5.2014 đưa giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trái phép vào vùng biển Việt Nam, gần quần đảo Hoàng Sa. Tàu Trung Quốc còn ngang ngược đâm, bắn vòi rồng vào tàu lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, đâm chìm tàu cá Việt Nam.

 

Thời gian gần đây, Trung Quốc còn tăng cường các hoạt động xây dựng trái phép bao gồm: xây dựng trường học phi pháp tại đảo Phú Lâm nằm trong quần đảo Hoàng Sa và xây đảo nhân tạo ở bãi đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

 

Đài Loan cũng chi 100 triệu USD xây dựng cầu cảng trái phép ở đảo Ba Bình thuộc Trường Sa của Việt Nam.

 

Trang tin Focus Taiwan News Channel (Đài Loan) dẫn lời nhà làm luật Đài Loan Lin Yu-fang cho rằng một hạm đội 6 tàu Đài Loan đã đem thiết bị, vật liệu đến Ba Bình vào ngày 18.6 để tiến hành các hoạt động xây dựng phi pháp.

 

Phúc Duy (TNO)

 


http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140618/bao-trung-quoc-bac-kinh-se-cho-dang-ky-quyen-su-dung-dat-o-hoang-sa-va-truong-sa.aspx

Muốn thoát Trung phải thoát mọi chế độ độc tài


'Việt Nam cần tôn trọng công hàm Phạm Văn Đồng'


image

Thoái Đảng để cứu nước, bỏ Đảng để cứu Dân Tộc !


Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai năm 1958.
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • TQ sẽ hạ đặt thêm giàn khoan thứ hai gần bờ biển Việt Nam
  • Trung Quốc bác tố cáo của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế
  • TS Hà Vũ: ‘TQ chiếm nốt Trường Sa, chính thể VN thay đổi mới có liên minh quân sự Việt-Mỹ’
  • Trung Quốc nói sẽ không đưa tàu chiến ra bảo vệ giàn khoan
  • TQ đưa sách giáo khoa VN ra làm chứng về chủ quyền Biển Đông

Ðường dẫn

CỠ CHỮ 
19.06.2014
Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc nói rằng Hà Nội phải thi hành nghĩa vụ pháp lý đã được vạch rõ trong công hàm ngoại giao của Việt Nam, công nhận quần đảo Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa và quần đảo Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa, là của Trung Quốc.

Chiều ngày 18 tháng Sáu, báo này  tố cáo rằng giàn khoan dầu Trung Quốc đang hoạt động bình thường, khoan dầu trong các vùng biển ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc hôm 2 tháng Năm thì trở thành “nạn nhân”, bị các tàu Việt Nam dùng vũ lực và biện pháp bất hợp pháp để quấy nhiễu.

Bài báo đòi Hà Nội phải quay lại với lập trường mà phía Trung Quốc cho là Việt Nam đã có từ lâu là công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc, dựa trên công hàm ngoại giao của Việt Nam do Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai hồi năm 1958.

Báo chí Trung Quốc tiếp tục viện dẫn tài liệu ngoại giao này và nói rằng trước năm 1974, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa không bao giờ tuyên bố chủ quyền tại hai quần đảo này, mà ngược lại, dưới nhiều hình thức cả trên văn bản lẫn những lời tuyên bố, đã công nhận hai quần đảo này là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Tờ báo tố cáo rằng Việt Nam chỉ thay đổi lập trường sau khi hai miền Nam-Bắc tái thống nhất, và từ đó tới bây giờ đã làm đủ mọi cách để diễn giải sai lạc, hoặc chối bỏ lập trường chính thức đã được thể hiện trong văn thư thường được gọi là công hàm Phạm Văn Đồng.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã, trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ -VOA mới đây, đưa ra một cái nhìn khác về lập trường của Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.  Tiến sĩ Nhã nói sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã thống nhất không theo ý của Trung Quốc, và Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ủng hộ lãnh tụ Kmer Đỏ Pol Pot của Campuchia, rốt cuộc đưa đến chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tiến sĩ Nhã nói rằng sau 30 tháng Tư năm 1975, trong tư cách là một nước thống nhất, Việt Nam đã lập tức khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Ông cho rằng vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong thềm lục địa Việt Nam là một thách thức lớn, nhưng cũng là thời cơ để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Tiến sĩ Nguyễn Nhã nói:

“Vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 là một thời cơ thoát Trung bởi vì Trung Quốc đã đẩy Việt Nam đến chân tường và dĩ nhiên là không có cách nào khác. Tôi nghĩ khả năng thoát Trung có thể rất là cam go nhưng tôi thấy đây là thời cơ tốt nhất vì Việt Nam không cô đơn.”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã là một nhà chuyên gia về lịch sử Biển Đông, ông từng là Chủ Nhiệm kiêm Chủ bút của Tập san Sử Địa tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn trước năm 1975. Năm 2003, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, hệ thống hóa nhiều bằng chứng lịch sử xác minh chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nguồn: People's Daily, VOA's interview.



Trung Quốc đưa giàn khoan dầu thứ hai xuống Biển Đông


Giàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)
Giàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)

Trọng Nghĩa

Bất chấp tình hình căng thẳng tiếp tục gia tăng sau khi cho kéo giàn khoan HD-981 xuống cắm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và buộc Hà Nội không được phản đối, Trung Quốc có dấu hiệu lấn lướt thêm. Chính quyền Bắc Kinh vừa xác nhận là họ đã cho kéo một giàn khoan thứ hai xuống hạ đặt gần bờ biển Việt Nam.

Trong một thông báo đăng trên trang web của mình, được hãng tin Mỹ AP đọc thấy vào hôm nay, 19/06/2014, Cục Hải sự Trung Quốc đã cho biết là họ đang di chuyển một giàn khoan dầu thứ hai đến gần bờ biển Việt Nam.
Theo thông báo này, giàn khoan mang tên Nan Hai Jiu Hao – trước đây gọi là Nam Hải 9 – đang được kéo xuống vùng biển phía Đông Nam. Thông báo cho biết giàn khoan dài 600 mét này sẽ đến vị trí quy định vào ngày thứ Sáu 20/06, và yêu cầu tàu thuyền trong khu vực dãn ra để nhường chỗ cho giàn khoan này.
Báo chí Việt Nam cũng đã nêu bật tin trên và cho biết thêm chi tiết là giàn khoan Nam Hải số 9 được kéo từ phía Nam đảo Hải Nam, tiến về hướng Tây Nam, đến gần phía giàn khoan Hải Dương-981 vốn đang được hạ đặt trái phép trong vùng biển Việt Nam. Hiện chưa rõ giàn khoan này sẽ nằm trên Biển Đông trong bao lâu.
Nếu HD-981 là giàn khoan thuộc sở hữu của Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc CNOOC, thì Nam Hải 9 là một giàn khoan đã được CNOOC bán lại cho Công ty dịch vụ mỏ dầu Trung Hải (COSL). Dẫu sao thì việc đưa giàn khoan thứ hai xuống Biển Đông, là một hành động khiêu khích mới của Trung Quốc, vào lúc tác động của việc hạ đặt giàn khoan thứ nhất không thuyên giảm.
Hãng tin Mỹ AP nêu bật sự kiện là quyết định của Trung Quốc tăng cường giàn khoan tại Biển Đông được đưa ra vào lúc tình hình đang rất căng thẳng sau vụ Bắc Kinh cho triển khai giàn khoan HD-981 trong vùng biển tranh chấp với Việt Nam, gây nên tình trạng đối đầu thường xuyên giữa tầu thuyền hai bên.
Quyết định này lại được loan báo vào lúc quan chức hai nước xác nhận rằng đàm phán về vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan thứ nhất không đạt được tiến bộ nào. Bắc Kinh vẫn tố cáo Hà Nội cản trở hoạt động giàn khoan đầu tiên đó và làm tổn thương quan hệ hai bên.
Việt Nam ngược lại đã tố cáo Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, trong lúc rất nhiều nước trên thế giới đã gọi hành động của Bắc Kinh là một hành vi khiêu khích, có nguy cơ làm tình hình khu vực mất ổn định.



Muốn thoát Trung phải thoát mọi chế độ độc tài

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-06-19

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
06192014-to-free-fr-cn.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Chủ tịch
 nước Việt Nam Trương Tấn Sang cúi chào tại buổi lễ chào đón khi ông đến thăm Trung Quốc tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 19 tháng 6 2013
Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang cúi chào tại buổi lễ chào đón khi ông đến thăm Trung Quốc tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 19 tháng 6 2013.
AFP






Sự kiện giàn khoan HD 981 và viễn ảnh lệ thuộc Trung Quốc như một chư hầu khiến cho giới trí thức Việt Nam đặt vấn đề “thoát Trung”. Câu hỏi đặt ra Việt Nam có thể thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc mà vẫn duy trì ý thức hệ Cộng sản hay không.
Giải Cộng
Đặt vấn đề muốn thoát Trung phải giải Cộng như một điều kiện tiên quyết, thì dễ thấy mục tiêu này có khoảng cách khá xa với thực tại. Nhưng các sử gia đã dẫn chứng những trường hợp thoát Cộng, từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa đã nhiều lần diễn ra trên thế giới. Điển hình là sự sụp đổ Liên bang Xô viết năm 1991, khi tình hình còn chưa ngã ngũ thì một số nước Cộng hòa, từng bị ép đi theo con đường Cộng sản đã nhanh chóng tuyên bố độc lập và sau đó người dân bầu chọn chế độ chính trị dân chủ đa đảng. Sự từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn tất ở tất cả 15 nước Cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết, kể cả Liên bang Nga.
Nếu Liên Xô cái nôi của chủ nghĩa Cộng sản phải mất 70 năm mới tan rã thì Campuchia lại khác, Xứ Chùa Tháp bị nhuộm đỏ nhanh chóng sau năm 1975 và cũng nhanh chóng thoát Cộng trong vòng 15 năm. Cho nên đối với những ai dị ứng với chế độ Cộng sản, vấn đề giải Cộng ở Việt Nam cũng không phải là chuyện viễn tưởng.
Theo tôi, về lâu về dài không có con đường nào khác phải thoát khỏi chế độ toàn trị này, xây dựng một chế độ dân chủ thực sự trong đó có đa nguyên đa đảng, đảm bảo các quyền con người và chỉ có trên cơ sở ấy thì mới có cơ hội để thoát ra những cái ràng buộc với Trung Quốc
TS Nguyễn Quang A
Trò chuyện với chúng tôi, TS Nguyễn Quang A thuộc nhóm chủ trương Diễn đàn Xã hội Dân sự từ Hà Nội trình bày ý kiến của ông:
“Tôi nghĩ rằng, thoát khỏi Trung Quốc là một vấn đề rất bức thiết. Nhưng cũng là một vấn đề không thể vội vàng làm ào ào được. Theo tôi, về lâu về dài không có con đường nào khác phải thoát khỏi chế độ toàn trị này, xây dựng một chế độ dân chủ thực sự trong đó có đa nguyên đa đảng, đảm bảo các quyền con người và chỉ có trên cơ sở ấy thì mới có cơ hội để thoát ra những cái ràng buộc với Trung Quốc và những ảnh hưởng không có lợi của Trung Quốc đối với Việt Nam.”
Các nhà lãnh đạo cộng sảng Việt Nam, (hàng đầu từ phải) Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Các nhà lãnh đạo cộng sảng Việt Nam, (hàng đầu từ phải) Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Tuy vậy, TS Nguyễn Quang A nhấn mạnh rằng người Việt Nam cần hết sức thận trọng, tránh bài học thoát Cộng nhưng vẫn không thoát độc tài. Ông nói:
“Người ta nói rằng phải thoát Cộng, tôi cũng đồng ý như thế nhưng cái đó chỉ mới là một nửa thôi. Có thể không có Cộng sản nhưng mà lại có một chế độc độc tài khác, một đất nước không thể phát triển được trên cơ sở chế độ độc tài. Cho nên tôi nghĩ rằng phải thoát cái gọi là toàn trị, thoát cái độc tài và đấy là một quá trình không thể ngày một ngày hai. Tôi nghĩ là không có biện pháp nào nói rằng ngày mai, hay hai năm nữa, hay sáu tháng nữa mà có thể đạt được. Bởi vì nếu mà còn một chế độ độc tài như thế này, thì thực sự Việt Nam không có bạn, trơ trọi và như thế khó mà có thể vươn lên được và có thể có mối quan hệ bình thường giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc được.”
Cũng có những ý kiến quan ngại sự giải Cộng hay xóa bỏ chế độ Xã hội Chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam sẽ có xáo trộn rất lớn. Hơn nữa không phải người dân Việt Nam nào cũng muốn giải cộng, giải tán chế độ hiện tại. Luồng ý kiến này lập luận rằng Việt Nam hiện có 3,6 triệu đảng viên cộng sản, mỗi gia đình trung bình 4 người, kéo theo họ hàng quyến thuộc và những kẻ ăn theo, tổng số người chịu ảnh hưởng quyền lợi nhờ chế độ Cộng sản hiện nay có thể lên tới mười mấy, hai chục triệu người. Thật ra để biết được người dân Việt Nam thực sự nghĩ gì, mong muốn gì đối với việc lựa chọn thể chế chính trị thì có lẽ phải có một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức nghiêm túc. Đây là điều Đảng Cộng sản Việt Nam không muốn phải đối mặt, do vậy mà mấy chục năm Quốc hội Việt Nam không hình thành được Luật Trưng cầu Dân ý hay Luật Biểu tình. Dù bản Hiến pháp nào của Việt Nam cũng đều có qui định các quyền  công dân này.
Thoát Trung?
Đáp câu hỏi của chúng tôi là để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc rất nặng nề cả về chính trị và kinh tế, có ý kiến cho là Việt Nam phải cải tổ để có một chế độ dân chủ thực sự thì mới có thể không còn ngán ngại trong việc bảo vệ chủ quyền. TS Trần Đình Bá, thành viên Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam từ Hà Nội nhận định:
Tình hình bây giờ khác với thời kỳ 1979....Ngay bây giờ, thí dụ TQ mà xâm lược Việt Nam ở trên bộ thì người dân VN sẽ đoàn kết lại bất kể Chính phủ như thế nào. Chuyện ấy đụng tới vấn đề xâm lược, nhưng mà như thế không có nghĩa là thoát Trung. Sau năm 1979, thì đâu có thoát
TS Nguyễn Quang A
“ Không, theo tôi không cần thiết. Tôi nghĩ bây giờ ở các cơ chế đa phương, các quốc gia đều được tự do bình đẳng về quyền lợi quốc tế của mình, tất cả các hiệp định của quốc tế. Tôi nghĩ mỗi quốc gia có thể chế riêng của mình không sao cả, các nước ASEAN cũng thế thôi.”
Nhà nước Cộng sản Việt Nam trong quá khứ là đồng chí môi hở răng lạnh với Trung Quốc và nhận viện trợ về vũ khí và nhân sự rất lớn từ Trung Quốc. Thế nhưng sau khi Bắc Việt Cộng sản chiến thắng thống nhất đất nước thì đến năm 1979 thì Trung Quốc lại mở cuộc tấn công xâm lăng, gây ra cuộc chiến khốc liệt ở biên giới Việt-Trung.
Với ý kiến cho rằng, nước Việt Nam độc tài đảng trị nhưng vẫn đẩy lùi được quân xâm lược Trung Quốc bảo vệ chủ quyền vào năm 1979. Tình hình lấn chiếm hiện nay qua vụ giàn khoan HD 981 có thể xem là lịch sử đang tái diễn hay không. TS Nguyễn Quang A phân tích:
“ Tôi nghĩ tình hình bây giờ khác với thời kỳ 1979 và lúc ấy Trung Quốc xâm lược ở trên bộ, còn bây giờ ở xa ngoài biển và chuyện đó khác xa. Ngay bây giờ, thí dụ Trung Quốc mà xâm lược Việt Nam ở trên bộ thì người dân Việt Nam sẽ đoàn kết lại bất kể Chính phủ như thế nào. Chuyện ấy đụng tới vấn đề xâm lược, nhưng mà như thế không có nghĩa là thoát Trung. Sau năm 1979, thì đâu có thoát mà ảnh hưởng Trung Quốc từ xa xưa lắm rồi và tôi nghĩ không thể có một biện pháp đơn giản nào để làm việc này có kết quả ngay lập tức.”
Thoát Trung mà phải từ bỏ xã hội chủ nghĩa, từ bỏ vai trò lãnh đạo toàn diện Việt Nam chắc chắn không phải chọn lựa của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản. Nhà nước sẽ làm gì để thoát khỏi ảnh hưởng lệ thuộc Trung Quốc. Người dân Việt Nam rất mong muốn được thông tin về vấn đề này.

Hoa Kỳ sẽ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN?

RFA-18-06-2014


Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Ông Ted Osius, đại sứ Mỹ tương lai tại Việt Nam
Ông Ted Osius, đại sứ Mỹ tương lai tại Việt Nam
Twitter



Trong buổi điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng Viện vào ngày hôm qua, ông Ted Osius, ứng viên tân đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam khẳng định với Thượng Viện Mỹ rằng chính phủ Việt Nam phải có tiến bộ rõ rệt trong vấn đề nhân quyền nếu muốn được Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho nước này.
Ông Ted Osius cho biết trong 9 lĩnh vực mà Hoa Kỳ quan tâm, Việt Nam đã có tiến bộ trong một vài lĩnh vực như quyền của người lao động, chăm sóc người khuyết tật, cho phép nhiều không gian hơn trong Xã hội dân sự cũng như gia tăng các sinh hoạt tôn giáo.
Mặc dù những tiến bộ của Việt Nam là rất khiêm tốn nhưng ứng viên tân đại sứ này cho rằng đã đến lúc xem xét lại lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Ông Ted Osius đề nghị đây là cơ hội để Hoa Kỳ thúc đẩy Việt Nam cải thiện nhân quyền khi nước này cần tham gia vào TPP cũng như chiến lược đối phó với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.
Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Hà nội trong khi hướng tới quan hệ toàn diện giữa hai nước.
Ted Osius là một nhà ngoại giao kỳ cựu đã phục vụ tại Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan và Philippines. Để được bổ nhiệm làm đại sứ tại Việt Nam phải có xác nhận của Ủy ban Đối ngoại và toàn bộ Thượng viện.


__._,_.___

Posted by: hung vu 

VỤ GIÀN KHOAN HD 981: NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CÓ ĐẤU TRANH NHẦM ĐỐI TƯỢNG?


VỤ GIÀN KHOAN HD 981: NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CÓ ĐẤU TRANH NHẦM ĐỐI TƯỢNG?

TS. Hoàng Chí Hiếu

Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế


Thc tế đã và đang din ra
Đã hơn một tháng nay, việc Trung Quốc đặt giàn khoan HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã làm nóng dư luận trong và ngoài nước. 

Từ trong hang cùng ngõ hẽm, quán cà phê, quán nhậu, bờ ruộng … đến nghị trường quốc hội, đâu đâu cũng bàn luận sôi nổi tưởng chừng như không khí chiến tranh đã sắp đến. Giới chuyên gia, học giả, nhà làm luật, … hăng hái thảo luận các phương thức đòi Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam và trả lại quần đảo Hoàng Sa. Các cuộc xuống đường của người Việt diễn ra khắp nơi trong (nhưng nhanh chóng bị nhà nước dập tắt) và ngoài nước phản đối Trung Quốc xâm lược.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lớn tiếng trên các diễn đàn quốc tế về sự thiêng liêng và tối thượng của chủ quyền quốc gia, … Nhiều học giả, nhà chính trị quốc tế lên tiếng hoặc lấy làm lo ngại về việc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc hoặc thẳng thắn chỉ trích hành động đơn phương hạ đặt gian khoan trái phép trong vùng biển của Việt Nam, … Trên thực địa, các lực lượng chấp pháp Việt Nam cùng ngư dân ngày đêm kiên trì và dũng cảm bám địa bàn đấu tranh với các lực lượng xâm lược Trung Quốc, …

Nhưng đến nay, dường như tt c nhng hot đng đó đu vô hiu. HD 981 vn trơ trơ, thm chí còn ngang nhiên t do di chuyn v trí như trong nhà ca mình. Hơn 100 tàu thuyn các loi, k c tàu chiến và máy bay vn thường xuyên túc trc trong vùng bin Vit Nam. Thm chí, hành đng ngăn cn tàu ca lc lượng chp pháp Vit Nam ca Trung Quc ngày càng hung hăng hơn và tàu cá ca ngư dân Vit Nam đã b tàu Trung Quc đâm chìm. 

Câu hỏi nóng bỏng đặt ra: Tại sao Trung Quốc lại không chịu rút giàn khoan HD 981 ? Phải chăng Trung Quốc bất chấp sự phản đối của dư luận hay sự phản ứng của Việt Nam là chưa đủ mạnh? Trong trường hợp này, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng sở dĩ Trung Quốc vẫn chưa chịu rút giàn khoan bởi một lẽ đơn giản, Việt Nam đã nhầm đối tượng đấu tranh.

Đi tượng đu tranh ca Vit Nam là ai?
Câu trả lời thật đơn giản. Giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển Việt Nam thì Việt Nam phải đấu tranh với nó để đuổi nó ra. Tuy nhiên, giàn khoan lại là vật vô tri vô giác, nó không thể tự chạy vào vùng biển Việt Nam được mà phải có người đưa nó vào. Về mặt chính thức, giàn khoan HD 981 thuộc sở hữu của Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC). Bản thân công ty này cũng không thể ngang ngược đem giàn khoan vào vùng biển của nước khác được nếu như nó không được sự bảo trợ của chính phủ Trung Quốc.

 Trên thực tế, CNOOC chính là công cụ của chính phủ Trung Quốc trong tham vọng bành trướng thị trường dầu toàn cầu và việc chính phủ nước này huy động một số lượng lớn tàu và máy bay các loại nhằm bảo vệ hoạt động của giàn khoan đã nói lên điều đó. Việt Nam hơn một tháng qua chưa thể đẩy đuổi được giàn khoan này ra khỏi vùng biển của mình bởi một lẽ đơn giản là đã đấu tranh nhầm đối tượng. 

Việc huy động lực lượng chấp pháp đấu tranh trên thực địa là cần thiết song việc không thể tiếp cận sát giàn khoan (luôn bị tàu Trung Quốc chặn xa ở khoảng cách trên 6 hải lý) đã khiến việc đấu tranh này không đạt được mục đích. 

Mặt khác, dù có tiếp cận được giàn khoan đi nữa thì những lời tuyên truyền được phát ra từ các tàu chấp pháp cũng không thể đuổi nó đi được nếu như nó không được lệnh từ chính phủ Trung Quốc. Hàng ngày, thấy các phương tiện truyền thông trong nước đưa tin tại hiện trường mà đau lòng. 

Ngay trên vùng bin ca mình, lc lượng chp pháp Vit Nam b xua đui, b đâm húc, b phun vòi rng mà không th (hay không dám) đáp tr. Ri đài báo h h xem vic vòng tránh (thc cht là b chy) ca các tàu chp pháp Vit Nam trước k cướp là thng li !?

Rõ ràng, việc duy trì một số lượng khá lớn (lên tới vài chục chiếc) thường xuyên tại hiện trường của Việt Nam (dù còn ít hơn của Trung Quốc) lâu dài cũng sẽ là gánh nặng về tài chính, chưa kể ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của nhân viên công vụ trên các tàu. Việc thực hiện các chương trình phát động ủng hộ lực lượng chấp pháp trên biển đã phản ánh phần nào thực tế này. Đã đến lúc, Việt Nam cần phải chuyển hướng đấu tranh, hướng vào đối tượng chính là chủ nhân của giàn khoan này, tức là chính phủ Trung Quốc thay vì đấu tranh với giàn khoan.

Đu tranh bng cách nào?
Khi những biện pháp thông thường không những không có hiệu quả mà sự ngang ngược và hung hãn của Trung Quốc ngày càng lên thì việc tính đến các biện pháp mạnh hơn là cần thiết. Chiến tranh là điều khó có thể xảy ra. Tuy nhiên, điều khó hiểu là cho đến nay, việc tập hợp sức mạnh toàn dân tộc vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước dường như bị bỏ qua.

 Nhiều chương trình truyền hình hướng về biển đảo nhằm khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân được tổ chức. Việc làm này chủ yếu là đối nội nhưng chợt nhớ từ thế kỉ XIII, trong Hịch tướng sĩ, Trần Hưng Đạo đã cảnh báo do “mê tiếng hát” nên khi giặc Mông Thát tràn sang, “tiếng hát hay không chọc thủng được tai giặc”.

 Các cuộc xuống đường, mít-tinh, thậm chí là phải mít-tinh ngay chính trước Đại sứ quán Trung Quốc chính là sự biểu dương sức phản đối lớn nhất lại không được phép tiến hành. Việc triệu hồi đại sứ Trung Quốc đến để phản đối cũng không diễn ra (một phần do Trung Quốc đang trong thời gian thay đại sứ) mà thay vào đó là “mời” Đại diện sứ quán Trung Quốc lên trao công hàm phản đối và Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh mời Tổng lãnh sự Trung Quốc Sài Văn Duệ đến để phản đối. Đó dường như là sự phản ứng cho có. Phát biểu của tướng Phùng Quang Thanh tại hội nghị Shangri La biểu hiện sự mềm yếu trong bảo vệ chủ quyền. Việc kêu gọi các tổ chức khu vực và quốc tế ủng hộ là cần thiết.

 Tuy nhiên, việc cần làm nhất là Việt Nam cần có những hành động kiên quyết hơn. Chủ quyền quốc gia bị xâm phạm mà mình không dám lên tiếng phản đối thì làm sao có thể kêu gọi quốc tế ủng hộ mình được? Hiệu quả nhất có lẽ là việc khởi kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế (đây mới chính là đối tượng cần đấu tranh để buộc giàn khoan HD 981 phải rút) thì chính phủ Việt Nam đến nay đã không (hoặc không dám) thực hiện. 

Cũng như nhiều lần trong lịch sử (ngoại trừ Hội nghị Diên Hồng thời Trần), trước họa ngoại xâm, chủ quyền quốc gia lại phụ thuộc “tập thể vua Bộ Chính trị”. Đến bao giờ Việt Nam mới khởi kiện Trung Quốc? Người dân Việt Nam đòi hỏi có câu trả lời.

H.C.H.
Tác giả gửi BVN
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link