Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, June 26, 2014

Dân chủ và Phát triển


Dân chủ và Phát triển

Tệ Nạn Buôn Người Tại Việt Nam - Những Cuộc Đời Bất Hạnh


Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2014-06-25

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
DDKT06252014.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Hkg9227925-305.jpg
Hình minh họa chụp tại TPHCM hồi tháng 11 năm 2013.
AFP





Từ mấy năm qua, dư luận chứng kiến một nghịch lý tại nhiều nơi, như Miến Điện, Thái Lan hay Trung Quốc về mối quan hệ giữa hai phạm trù dân chủ và phát triển với một kết luận được nhiều người cho là chân lý. Đó là dân chủ chưa chắc đã có lợi cho phát triển kinh tế, ít ra tại các nước chưa qua giai đoạn công nghiệp hóa như các nước Tây phương. Mục Diễn đàn Kinh tế lần lượt phản bác "chân lý" đó qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Chuyển hóa không dễ dàng

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, hôm Thứ Hai đầu tuần, Liên hiệp Âu châu quyết định hạn chế mối quan hệ với Thái Lan sau cuộc đảo chính của quân đội vào tháng trước. 

Dường như là nền quân chủ lập hiến theo thể chế dân chủ của Thái đang có vấn đề với hai cuộc đảo chính, vào Tháng Chín năm 2006 và Tháng Năm năm 2014, xen kẽ là hai cuộc bầu cử và nhiều năm hỗn loạn. Cùng giai đoạn ấy, xứ lân bang là Miến Điện cố chuyển hóa từ chế độ độc tài quân phiệt qua chế độ dân chủ mà chưa có kết quả sau ba năm vẫn đầy bất ổn.

 Trong khi đó, một xứ ai cũng nói là độc tài, kể cả người dân tại đặc khu kinh tế Hong Kong, là Trung Quốc lại có tiến triển vượt bậc về kinh tế. Khi thế giới bị khủng hoảng và Miến Điện bắt đầu thay đổi thì kinh tế Trung Quốc qua mặt kinh tế Nhật Bản, đến nay thì chuẩn bị vượt Mỹ để là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thưa ông, chúng tôi nhắc lại bối cảnh quốc tế vừa qua để hỏi ông một câu, rằng nền dân chủ có ích lợi gì cho kinh tế không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đây là đề tài có thể giúp ta nhìn lại Việt Nam, với hai điều kiện. Thứ nhất, về không gian thì hoàn cảnh mỗi nước mỗi khác nên ta cần thận trọng khi so sánh. Thứ hai, về thời gian thì nền dân chủ không là loại cỏ cứ gieo là mọc nên ta cần tính bằng nhiều thập niên.

Kết luận của tôi là dân chủ có ích cho kinh tế mà không là sự chuyển hóa dễ dàng. 

-Nguyễn-Xuân Nghĩa

Tôi xin nhấn mạnh tới nhận thức sai của nhiều người ở phương Tây về ưu thế của chế độ độc tài Á Châu trong công cuộc phát triển quốc gia. Người ta cứ ngợi ca thành tích Trung Quốc sau ba chục năm cải cách kinh tế, xen kẽ với nhiều vụ tàn sát và đàn áp chính trị, trong khi nóng ruột đợi phép lạ của Miến Điện sau có ba năm chuyển hóa. Kết luận của tôi là dân chủ có ích cho kinh tế mà không là sự chuyển hóa dễ dàng. Những gì xảy ra tại Bắc Phi sau mùa Xuân Á Rập cách nay ba năm có thể cho thấy khó khăn của sự chuyển hóa, nhưng chẳng vì vậy mà mình nên duy trì chế độ độc tài.

Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ khởi đi từ đó và xin đề nghị ông lần lượt giải thích cho ưu điểm của nền dân chủ cho công cuộc phát triển kinh tế sau khi trả lời cho một câu hỏi vì ông vừa nhắc đến. Tại sao nhiều người ở các nước dân chủ Tây phương lại cho rằng chế độ độc tài Á Châu hay tại nơi khác nữa lại có lợi cho công cuộc phát triển?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nhắc đến hiện tượng này là để cảnh báo thính giả của chúng ta tại Việt Nam là đừng nên hiểu lầm mà mang họa.

Tại các nước dân chủ Âu-Mỹ, giới trí thức thiên tả thường cho rằng nhà nước nên can thiệp vào kinh tế để điều tiết thị trường và bảo vệ lẽ công bằng xã hội. Nếu sống trong các xã hội này thì ta hiểu ra và chấp nhận điều ấy vì xứ sở đã có quyền tự do nên tranh luận về mức độ can thiệp của nhà nước để nâng cao phẩm chất của cuộc sống ở nơi ấy. Nhưng trí thức Tây phương trở thành duy ý chí khi cho là chế độ độc tài lại có ưu điểm là lấy quyết định sáng suốt và mau lẹ về phân bố tài nguyên quốc gia. Thí dụ được họ hay nêu ra là thành tích tăng trưởng của Trung Quốc.
000_Hkg9637658-250.jpg
Ảnh chụp tại Hà Nội hôm 24/03/2014. AFP PHOTO.
Cũng các nước dân chủ lại có một thành phần chuyên gia kinh tế hay tư tưởng xã hội xuất thân từ các nước nghèo. Họ đưa ra một quan điểm khác trong các đại học hay trung tâm nghiên cứu Âu-Mỹ. Đó là nền dân chủ vẫn có lợi nhất cho công cuộc phát triển.

 Lý do là vì họ đã sống trong thực tế lạc hậu và ý thức được cái giá của nạn độc tài mà giới trí thức sinh đẻ ở phương Tây không biết, nên mới cứ đề cao vai trò can thiệp của nhà nước trong các quốc gia đang phát triển.
Vũ Hoàng: Sau khi ông cảnh báo về hoàn cảnh khác biệt ở hai nơi, ta sẽ bắt đầu vào đề. Thưa ông, dân chủ là gì mà có lợi cho công cuộc phát triển hơn chế độc tài?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu thính giả để ý thì đã thấy là từ cả chục năm nay, tiết mục chuyên đề của chúng ta không đề cao dân chủ như một lý tưởng xa vời mà thần diệu như một khẩu hiệu sách động.

Trả lời cho câu hỏi "dân chủ là gì" thì thật vô ích nếu nói "dân chủ là thể chế chính trị đảm bảo quyền bình đẳng của mọi người dân trước hệ thống luật pháp do người dân góp phần xây dựng". Định nghĩa có vẻ trừu tượng ấy thật ra lại xa vời trước mối quan tâm thiết thực của nhiều người về sinh hoạt kinh tế. Vì thế, tôi xin nói về nội dung cụ thể của dân chủ.

"Không ai có độc quyền chân lý"

Vũ Hoàng: Như vậy, ta đi vào nội dung cụ thể đó. Thưa ông, dân chủ bao hàm những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, một xã hội chỉ có dân chủ khi được cởi mở tư tưởng.

Cởi mở là "không ai có độc quyền chân lý", tức là đưa ra một định nghĩa mà cả nước phải nghe. Tôi không nói đến chân lý "bốn tốt" và "16 chữ vàng" trong quan hệ mờ ám giữa Việt Nam và Trung Quốc mà người dân Việt phải tuân thủ. Đấy là một hình thái độc quyền chân lý, tất nhiên là cản trở dân chủ mà còn dẫn tới nạn lệ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc. Tôi xin nhắc đến một định nghĩa khác của một người có thẩm quyền.

Ông ta tốt nghiệp đại học, từng là Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh, hiện là Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Trung Quốc.

 Đấy là một chuyên gia kinh tế, Trung ương Ủy viên, con trai một lão đồng chí của Mao Trạch Đông là Trần Vân. Ông Trần Nguyên này phát biểu như sau, tôi xin trích nguyên văn: "Chúng ta là đảng Cộng sản và sẽ quyết định rằng chủ nghĩa cộng sản là gì."

Khi một đảng viên cao cấp mà nêu ra một chân lý như vậy thì đảng cũng có quyền định nghĩa về đà tăng trưởng, về quyền làm chủ tập thể hay về phát triển kinh tế. 

Với tình trạng độc quyền chân lý này thì chẳng có dân chủ mà phát triển cũng chỉ là chuyện ảo. Đó là nội hàm thứ nhất và điều kiện cần thiết của dân chủ: phải có cởi mở tư tưởng và giải trừ tình trạng độc quyền chân lý.

Vũ Hoàng: Như vậy, thưa ông, nếu có cởi mở tư tưởng thì phải có tự do thông tin và thị trường mới có dữ kiện vô tư và khả tín để lấy quyết định về kinh tế hay kinh doanh. Có phải vậy không?

Cởi mở là "không ai có độc quyền chân lý", tức là đưa ra một định nghĩa mà cả nước phải nghe.
-Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đúng như vậy mà còn phải hơn vậy.

Từ địa hạt tư tưởng đến pháp lý thì nền dân chủ phải đảm bảo được các quyền "tự do dân sự". Phạm trù này là chuyện tự nhiên trong các nền dân chủ mà không hiển nhiên cho những ai sống quá lâu trong chế độ độc tài. 

Khái niệm "tự do dân sự" có nghĩa là người dân phải có tự do mà nhà nước không thể hạn chế dù bằng luật lệ. Quyền tự do của người dân mang ý nghĩa đối lập với nhà nước và phải hạn chế quyền lực của nhà nước.

 Trong các quốc gia dân chủ thì nhà nước chỉ được làm những gì mà dân cho phép, trong khi người dân được quyền xây dựng và phát triển xã hội dân sự, tồn tại song song với nhà nước, để giải quyết yêu cầu thực tế của người dân.

Từ khái niệm tự do dân sự, ta mới có xã hội dân sự và các tổ chức hay hiệp hội của người dân để giúp dân. Vì thế, tự do dân sự mở ra tự do thông tin, tự do nghiệp đoàn, tự do giáo dục và đào tạo hay các cơ quan ngoài chính phủ có chức năng yểm trợ phát triển. 

Một thí dụ là Bộ Kế hoạch hay Ngân hàng Nhà nước mà muốn ban bố chính sách kinh tế hay tài chính thì phải tham khảo ý dân hay khảo sát thị trường qua các hiệp hội tư nhân, từ công đoàn đến phòng thương mại, nhờ vậy mà tránh được sai lầm hay liều thuốc đổ bệnh. Nói vắn tắt thì vì có sự giám sát và phản ứng thường trực của xã hội dân sự, quốc gia dễ tránh được chính sách sai lầm. Điếu ấy có lợi cho phát triển.

Vũ Hoàng: Thế còn những định chế mà người ta thường nói là cần thiết cho phát triển, như quyền tư hữu, quyền đầu tư và kinh doanh của tư nhân?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Những chuyện ấy dĩ nhiên cần thiết, nhưng chỉ xuất hiện và tồn tại sau khi đã có cởi mở về tư tưởng và tự do về dân quyền. Nếu nhà nước giữ độc quyền chân lý về phương hướng đổi mới và nói rằng các thành phần kinh tế đều có quyền hạn như nhau mà thực tế pháp lý lại thu hẹp quyền tư doanh hoặc đề cao chế độ công hữu thì quyền tư hữu hay tự do kinh tế trở thành vô nghĩa. Cũng từ tình trạng yếu kém về định chế này, nhà nước có toàn quyền quyết định về chính sách đầu tư hay tín dụng, chỉ nâng đỡ khu vực quốc doanh và tạo điều kiện cho tay chân nhà nước trục lợi. 

Đấy là liều thuốc dẫn tới tệ đầu cơ, tham nhũng, ô nhiễm môi sinh, bất công xã hội và tăng trưởng thiếu quân bình. Về dài thì dẫn tới khủng hoảng.

Vũ Hoàng: Ông nói "về dài", tức là trở lại khái niệm thời gian. Xin ông giải thích thêm cho rõ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin đi dần vào kết luận vì thời lượng của chúng ta có hạn.

Người ta nghiệm thấy trong các nước đang phát triển thì xứ nào có mức tự do và dân chủ cao hơn thì cũng có trình độ tăng trưởng khá hơn và sau nhiều thập niên thì trở thành một nước đã phát triển. Bên cạnh đó, các nước chuyển hóa từ chế độ độc tài sang dân chủ thì hay gặp dăm bảy năm khó khăn, với đà tăng trưởng giảm sút. 

Nhưng nếu kiên định theo hướng đó thì xứ sở sẽ có tương lai khá hơn về lượng lẫn phẩm. Thí dụ ở đây là Đài Loan, Nam Hàn, rồi Philippines hay Indonesia. Trường hợp khó khăn này nay của Miến Điện nên được xét trên cái trục thời gian đó.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, thế còn Việt Nam?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi có những đồng nghiệp là tư vấn kinh tế và tài chính tại Việt Nam lẫn nhiều nước đang cải cách để chuyển hóa, như Miến Điện hay Bangladesh. Họ đánh giá cao tinh thần cầu thị và cải sửa của người dân tại các xứ này trong khi phê phán tinh thần chủ quan tự mãn của Việt Nam. Đó là cái gì cũng làm như biết hết mà chẳng muốn cải cách, chỉ để duy trì đặc quyền và đặc lợi trong hệ thống mờ ám và thiếu trong sáng hiện nay.

Nhận xét của giới tư vấn được thực tế minh chứng khi các ngân hàng và giới đầu tư ngoại quốc đều lặng lẽ rút khỏi thị trường Việt Nam vì thất vọng với nạn thông tin thiếu minh bạch, trì hoãn cải cách và bảo vệ quyền lợi phe nhóm.

 Đã có kinh nghiệm làm ăn tại xứ độc tài và ít chú ý đến chính trị, họ vẫn coi ổn định chính trị tại Việt Nam chỉ là chuyện ảo! Nếu dám chuyển hóa qua dân chủ thì Việt Nam sẽ có thể phát triển - và ngay trước mắt thì còn bảo vệ được nền độc lập....


Vũ Hoàng: Thay mặt cho quý khán thính giả, xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo này.

Khi nào Việt Nam thay đổi?


 
Khi nào Việt Nam thay đổi?
Nguyễn Hưng Quốc

Một câu hỏi người Việt Nam thường đặt ra với bạn bè và với chính mình là: Khi nào Việt Nam thay đổi chế độ?

Trước hết, cần nói ngay: Một câu hỏi như vậy, không ai có thể trả lời được.

Cơ quan lập pháp của Việt Nam chỉ ra thông cáo về tình hình biển Đông, thay vì một nghị quyết như theo đề nghị của đại biểu. Hình: Nghị trường Quốc hội Việt Nam. Nguồn: AP, VOA

Trong chính trị, mọi tiên đoán đều rất phiêu hốt. Trước năm 1990, trong nhiều thập niên, nhiều người tiên đoán chế độ cộng sản nhất định sẽ sụp đổ. Nhưng nó vẫn tiếp tục vững mạnh và vẫn tiếp tục đe đoạ thế giới. Đến năm 1989, trong lúc mọi người đều không ngờ, nó lại sụp đổ, hơn nữa sụp đổ theo kiểu dây chuyền: từ Ba Lan và Hungary, nó lan sang tất cả các nước khác, ở Đông Âu, kể cả Đông Đức và Nga.

Ngay sau đó, người ta những tưởng chế độ cộng sản ở các nước còn lại, từ Trung Quốc đến Việt Nam, Cuba, Lào và Bắc Hàn sẽ sụp đổ. Nhưng không. Nó vẫn sống đến tận bây giờ. Cũng vậy, trước năm 2011, không ai, kể cả chính phủ Mỹ và Pháp, Anh, vốn có mạng lưới tình báo dày đặc ở Trung Đông, có thể tiên đoán được cuộc cách mạng Ả Rập làm nhiều chế độ độc tài phải cáo chung trong một thời gian rất ngắn.

Rút những kinh nghiệm ấy, tôi nghĩ, chúng ta cần dè dặt và khiêm tốn trong việc tiên đoán sự kết cuộc của chế độ cộng sản tại Việt Nam.
Ở đây, tôi chỉ phân tích một số khả năng có thể xảy ra. Còn việc lúc nào những khả năng ấy thành hiện thực thì không dám bàn.

Thứ nhất, liên quan đến việc Trung Quốc mang giàn khoan đến thềm lục địa của Việt Nam và liên quan đến tiến trình dân chủ hoá ở Việt Nam, theo tôi, có hai khả năng:

Một, nếu Trung Quốc chỉ đem giàn khoan ấy nhấp nhứ vài tháng rồi rút về; sau đó, lại mang giàn khoan đến một chỗ khác trên Biển Đông, dừng lại... chơi vài tháng rồi về, không gây ra một cuộc xung đột nào thật lớn, có thể uy hiếp đến chính quyền Việt Nam, rất có nhiều khả năng là chế độ độc tài ở Việt Nam sẽ trở thành cứng rắn và vững mạnh hơn: Họ sẽ viện cớ đoàn kết để chống các hành động gây hấn của Trung Quốc để dẹp tan mọi đòi hỏi dân chủ và nhân quyền, và để siết chặt sự kiểm soát dân chúng trên mọi phương diện.

Ngày 24 tháng Sáu, một ngày sau khi tàu Trung Quốc đâm vỡ nát mạn tàu kiểm ngư của Việt Nam, Bắc Kinh đổ lỗi cho rằng tàu Việt Nam chủ động tấn công, trong khi đoạn video tại hiện trường cho thấy điều ngược lại. Trong hình: Tàu kiểm ngư của Việt Nam bị biến dạng sau cứ đâm của tàu Trung Quốc. Hình chụp từ video quay tại hiện trường của nhóm phóng viên VTV.

Hai, nếu Trung Quốc lấn thêm một bước nữa, khiến nhà cầm quyền Việt Nam phải lo lắng, từ đó, đồng ý bắt tay với các quốc gia trong khu vực và ở Tây phương, đặc biệt là Mỹ để tạo thế liên minh hầu chống lại Trung Quốc, họ sẽ mở cửa một chút, chấp nhận tự do và dân chủ một chút, để một mặt, tranh thủ sự ủng hộ của thế giới; mặt khác, huy động sức mạnh của nhân dân hầu đương đầu với Trung Quốc.

Trong cả hai trường hợp kể trên, không có trường hợp nào Việt Nam có thể thay đổi chế độ và trở thành dân chủ hơn.

Thứ hai, liên quan đến tiến trình dân chủ hoá, ở Việt Nam, sẽ có hai khả năng:

Một, thay đổi từ bên trên, khi giới lãnh đạo hoặc một trong những người thuộc giới lãnh đạo Việt Nam quyết định thay đổi để vừa thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc vừa mở đường cho đất nước phát triển theo chiều hướng hiện đại hoá và dân chủ hoá. Khả năng thay đổi này chỉ xảy ra trong hai, hoặc một trong hai trường hợp:

Một, do người ta tự thức tỉnh và biết đặt quyền lợi của đất nước trên quyền lợi của chính mình; và hai, dưới sức ép của quốc tế, như một điều kiện để tạo nên liên minh chiến lược hầu chống lại Trung Quốc. Sức ép này, vừa tích cực vừa tiêu cực, đến từ hai nguồn: Tiêu cực, từ Trung Quốc và tích cực, từ Mỹ. Tích cực, từ Mỹ, tương đối dễ hiểu: Để giúp Việt Nam, chính phủ Mỹ cần sự đồng thuận của Quốc hội; để đồng thuận, các dân biểu và nghị sĩ Mỹ cần sự hậu thuẫn của dân chúng vốn là các cử tri trong địa phương. Tiêu cực, từ Trung Quốc, vì đương nhiên Trung Quốc không hề muốn Việt Nam dân chủ hoá; họ cũng không hề muốn Việt Nam thay đổi chế độ. Nhưng Trung Quốc có thể góp phần buộc Việt Nam phải thay đổi nếu họ đẩy chính quyền Việt Nam đến chỗ không còn chọn lựa nào khác ngoài việc ngả theo Tây phương.

Hai, thay đổi từ bên dưới, khi dân chúng đồng loạt đổ xuống đường biểu tình. Ở đây sẽ có hai khả năng: Nếu dân chúng chỉ xuống đường ít; sẽ không có gì thay đổi cả; nhưng nếu dân chúng xuống đường đồng loạt cả vài chục ngàn người, vấn đề sẽ khác hẳn. Về phía dân chúng, khi chỉ có vài trăm người xuống đường: ai cũng sợ; khi có vài ngàn người xuống đường: người ta sẽ bớt sợ; và khi có cả vài chục ngàn người thì sẽ không có ai sợ hãi nữa cả. Điều đó cũng có nghĩa là: sự tụ tập từ vài trăm đến vài ngàn: rất khó; từ vài ngàn đến vài chục ngàn: tương đối ít khó hơn; nhưng sự phát triển từ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn người, thậm chí, vài triệu người thì lại rất dễ: Tâm lý quần chúng bao giờ và ở đâu cũng giống nhau: đám đông càng lớn càng có sức thu hút lớn.

Về phía công an, trước vài trăm người, người ta rất dễ hành hung; trước vài ngàn người, người ta dè dặt hơn một chút; trước vài chục ngàn người, người ta sẽ đâm ra lưỡng lự; trước vài trăm ngàn người hoặc vài triệu người, người ta sẽ sợ hãi: Không ai dám áp bức cái đám đông khổng lồ ấy cả.

Cứ nhìn vào những gì xảy ra ở Trung Đông trong cuộc cách mạng Ả Rập vào đầu năm 2011 thì thấy.

Vấn đề là: Làm sao để biến số người xuống đường từ vài ngàn đến vài chục ngàn người? Câu trả lời, trên lý thuyết, rất dễ: Khi người ta không còn biết sợ. Nhưng trên thực tế, điều ấy lại rất khỏ xảy ra vì tâm lý quần chúng bao giờ cũng sợ hãi quyền lực. Để vượt qua những sự sợ hãi tự phát ấy, lý trí không, chưa đủ. Nghị lực không, cũng chưa đủ. Đối với quần chúng, sự sợ hãi chỉ có thể được vượt qua bằng một thứ cảm xúc khác: phẫn nộ. Cứ tưởng tượng một trường hợp: Khi dân chúng đang xuống đường biểu tình, công an đến dẹp. Như họ đã từng dẹp nhiều cuộc biểu tình trước đây. Nhưng khi lôi kéo, bắt bớ, và nhất là đánh đập những người biểu tình như thế, một viên công an nào đó mạnh tay một chút, khiến một người chết. Ngay tại chỗ. Trước mắt những người biểu tình khác. Trước ống kính của máy chụp hình hoặc máy quay phim. Tình hình lúc ấy sẽ khác hẳn.

Như những gì đã xảy ra tại Ai Cập trước đây: Một cái chết gây nên bão tố làm lật đổ một chế độ độc tài từng ngự trị cả hàng mấy chục năm.

Ở trên chỉ là những khả năng. Không ai biết trong các khả năng ấy, khả năng nào sẽ thành hiện thực; hoặc nếu thành hiện thực, khả năng ấy sẽ xảy ra vào lúc nào. Tôi không biết. Và tôi tin: Không ai biết cả. Ai nói biết, bạn tin tôi đi: Họ đang nói dối.


__._,_.___

Posted by: truc nguyen

Thời Cơ Cho TT Dũng

  
Thời Cơ Cho TT Dũng
Vi Anh
16 chữ vàng và 4 tốt
Cuộc khủng hoảng do TC đưa giàn khoan khổng lồ vào vùng đặc quyền kinh tế VN, là một khúc quanh làm cho Đảng Nhà Nước CSVN rơi vào một tình thế phải thay đổi: xa rời Trung Cộng và xích lại gần Mỹ. Và đó cũng là cơ hội bằng vàng cho Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng.

Hơn một tháng trời rồi. Kể từ ngày 2 tháng 5, TC đưa giàn khoan Hải Dương 981 giá 1 tỷ đô la và hàng trăm tàu quân sự, bán quân sự, dân sự võ sắt nghi trang và máy bay chiến đấu, trinh sát vào vùng biển đặc quyền kinh tế VN. 

Nhà Nước VNCS cũng tung 80 tàu cảnh sát biển ra ngăn chận, phá đội hình của TC. Dân chúng VN Bắc, Trung, Nam, hải ngoại biểu tình hàng mấy chục ngàn người. Công nhân VN đốt nhà xưởng của TC. Trí thức tổ chức hội luận, toạ đàm “Thoát Trung”, như thời tiền Cách mạng Dân Chủ 1789 ở Pháp.

Chỉ có Tổng bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng im lìm. Im lìm khi đi thăm cử tri. Im lìm ngay trong hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng vào ngày 8 tháng Năm, kéo dài cả tuần lễ. Mang tiếng mang tai quá, chỉ hé môi khi đại diện ngoại giao cao cấp TC Dương khiết Trì đến thăm một cách riêng tư thôi.

Không ai nghĩ Đảng và Nhà Nước phân công nhau, Đảng đóng vai bàn tay nhung mật đàm với đồng chí TC, Nhà Nước bàn tay sắt để Đảng làm bàn với TQ trong phòng mật nghị cửa đóng kín.

Trái lại từ đảng viên cán bộ CSVN dĩ chí những người theo dõi thời cuộc VN và phó thường dân VN, người Việt thầm lặng đều thấy một sự thật. Đó là hy vọng của Đảng CSVN hoà hợp với Đảng CS Trung Quốc để giảm bớt hành động gây hấn, xâm lược của TC là một thất vọng, là một sách lược thất bại.

Còn trong nội bộ Đảng, ngay những cán bộ đảng viên lập trường bảo thủ, tin tình đồng chí CS với nhau, chủ trương đi sát với TC, hy vọng TC sẽ giúp củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng thất vọng thấy TC muốn lật đổ nền móng của chế độ CSVN. Mà thực sự TC đang đập phá Đảng CS trước cái nhìn của người Việt.

Còn Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người từng đương đầu với Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng và bị Ông Tổng Trọng này “đì, bề hội đồng mút mùa lệ thuỷ” trong Đại Hội Đảng, tại Quốc Hội “đảng cử dân bầu”. Mà người CS “nam kỳ cục này” từ Cà mau “muổi kêu như sáo, đỉa lênh tự bánh canh” đi lên vẫn trụ được trên đôi chân. TT Dũng lên tiếng chống đối hành động xâm lược này của TQ ngày 11 tháng 5 trong hội nghị thượng đĩnh ASEAN ở Miến Điện.

 Rồi bay sang Phi luật tân hội đàm liên minh với TT Aquino để cùng nhau bảo vệ biển đảo. Ông long trọng tuyên bố, khẳng định VN luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nhất định không đánh đổi điều thiêng liêng này để lấy một thứ hòa bình viễn vông, lệ thuộc nào. 

Ông nói việc làm của TQ rất khác với lời nói. Ông tuyên bố ủng hộ Phi luật tân đưa TQ ra toà luật biển và VN cũng đã chuẩn bị và có thể làm như thế khi cần.

Trong khi đó, Chủ Tich Nước Trương tấn Sang người thường hay “nổ’ trong biến cố này lại hay nín. Còn câm như hến là Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng. Và chuyên né là Chủ Tich Quốc Hội Nguyễn sinh Hùng. Ba người này nắm phe đa số trong Bộ Chánh Trị 14 người.

Nhưng Thủ Tướng Dũng thực tế là người mạnh nhứt trong đại hội Đảng hay đại hội Ban Chấp Hành trung ương vì các trung ương uỷ viên, đại biểu đều có kiêm nhiệm chức vụ trong chánh quyền trung ương, địa phương mà Thủ Tướng là người có thực quyền đối với chánh phủ và guồng máy công quyền địa phương của cả nước.

Cuộc khủng khoảng giàn khoan là cơ hội giúp số đảng viên bảo thủ, thân TC thấy sách lược thân TC là thất bại, chuyển hướng lập trường của họ. Họ thấy đi với TC mất đất là cái chắc như đã thấy đã mất rồi, mất lòng dân, xa rời quần chúng là cái chắc. Đây là cơ hội cho họ thấy rõ phải “thoát Trung”, cùng với các nước nạn nhân của cuộc bành trướng của TC như Nhựt, Phi, Đài Loan, Mã Lai để bảo vệ giang sơn gấm vóc, tránh trở thành tội đồ thiên cổ của VN, rước voi về dày mả tổ.

Và đằng sau những nước có thể liên minh “phòng vệ tập thể” mà Nhựt đã kêu gọi đó là Mỹ như một lá chắn phòng chống TC. Và đi với Mỹ thì không bao giờ sợ mất đất như lịch sử thế giới cận đại cho thấy.

Và Mỹ đang để cửa chờ thành phần Đổi Mới lâu nay khá gần gũi với Mỹ. Ngoại Trưởng Kerry của Mỹ đã ngỏ lời mời Ngoại Trưởng VN Phạm bình Minh tới Washington DC bàn bạc. Ngoại Trưởng VN Phạm bình Minh là con trai của vi Ngoại Trưởng Nguyễn cơ Thạch, một người chủ trương và đã giúp cho VNCS bang giao và giao thương với Mỹ, được xem là một nhà ngoại giao xuất sắc của VN. Nhưng Ông là kẻ thù của TC vì Ông chống sách lược bá quyền của TC biến VN lệ thuộc TC. Sau hội nghị bí mật ở Thành Đô, Đảng CSVN dưới áp lực của TC, nặc lịnh từ dịch Ông năm 1991. Nhưng trong Đảng, Ông vẫn được trọng vọng. Vì lẽ đó một phần mà Nhà Nước cử Ô. Phạm bình Minh làm Bộ Trưởng Ngoại giao, một bộ trưởng ngoại giao không có chân trong Bộ Chánh trị trong một thời gian dài.

Và trong khủng hoảng này, người đồng nhiệm của Ông là Ngoại Trưởng Kerry đích thân điện thoại cho Ông “động viên tinh thần” và mời chính Ông sang Washington bàn bạc.

Nhưng con đường Hà nội-Washington không dễ dàng cho người đại diện ngoại giao cho Nhà Nước và nội các Nguyễn tấn Dũng. Không ít thành phần trong nội các TT Obama, một số tiểu bang Mỹ chủ trương tăng gia phát triễn đối tác với TC đang vươn lên. Cá nhân TT Obama và nội các của Ông cũng không muốn phiêu lưu ngoại giao nữa, cuộc bầu cử nửa nhiệm kỳ vào cuối năm nay.

 Vấn đề Afghanistan, Iraq, Iran, Syria, Ukraine đã quá nặng cho Mỹ rồi. Thêm một Đông Nam Á nữa là quá tải. Đệ thất hạm đội Mỹ không hăng hái lắm với những đảo san hô lởm chởm ở Biển Đông.

Đó là vấn đề quân sự, còn vấn đề chánh trị nữa.TT Nguyễn tấn Dũng dù sao cũng là con người Cộng sản. Ông không muốn dấn thân vào tiến trình tự do, dân chủ, như vấn đề phát triễn tự do ngôn luận, nghiệp đoàn, lập hội và tự do tôn giáo. Ông chỉ muốn phát triễn kinh tế, nâng mức sống của dân. Và từ đó, nhân quyền sẽ phát triễn.

Con đường sự nghiệp đã qua của TT Nguyễn tấn Dũng cho thấy Ông là một chánh trị gia linh hoạt, khéo léo và thành công. Từ một du kích của tỉnh tận cùng đất nước mà đi lên. Đã thoát qua nhiều trận đấu đá chánh trị sanh tử với phe Bảo Thủ trong Đảng tổ chức muốn làm thịt Ông. Mà Ông thoát được và đổi mới được kinh tế. Người dân sống khá hơn thời CS “bao cấp” nhiều. 

Thực tế hiện tại Ông là người có quyền lực nhứt nước VN. TC vô tình đang tạo cho Ông một cơ hội bằng vàng. Qua khủng khoảng giàn khoan TC làm cho hy vọng của phe bảo thủ dựa vào tình đồng chí CS Trung Quốc để mạnh trở thành thất vọng não nề. TC tạo cho phe Đổi Mới xích lại gần hơn với các nước tự do, dân chủ, tiêu biểu Nhựt, Phi, Mỹ để giữ nước. Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng không thể tái nhiệm.

 Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang rất thích chức Thủ Tướng có thực quyền lợi. Dũng Sang không khó dàn xếp với nhau nhờ nguồn gốc địa phương và khuynh hướng CS Nam bộ. Nguyễn sinh Hùng quá lép vế. Nguyễn tấn Dũng không khó vận động đại hội Đảng, Quốc Hội. 

Vì tất cả thánh viên đều có kiêm nhiệm chức vụ bên Nhà Nước, có ân tình, ân huệ của thủ tướng, không khó dành lá phiếu cho Nguyễn tấn Dũng, Chủ Tịch Đảng, kiêm Chủ Tich Nước, Kiêm Chủ tịch Quân Uỷ Trung Ương./.
_
Yahoo! Groups

.



__._,_.___

Posted by: truc nguyen

Wednesday, June 25, 2014

Thư của “quân Giải Phóng” gửi “Ngụy Quân”


 
Thư của “quân Giải Phóng” gửi “Ngụy Quân”
Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Nguyễn Bá Chổi vừa nhận được lá thư dưới đây của của một cựu bộ đội cụ Hồ. Nhận thấy nội dung liên quan đến “đại thắng mùa xuân” mà “đảng ta” đang chuẩn bị ăn mừng ngày kỷ niệm lần thứ 39, Chổi xin cho đăng lại nơi đây sau khi được sự đồng ý của tác giả bức thư với điều kiện dấu tên. Tiện thể, người nhận xin gửi nơi đây lời cám ơn đến anh cựu “giải phóng quân” Kách Mạng đã chia sẻ tâm sự phản tỉnh với cựu thù.

Anh Chổi,
Trước hết tôi xin thú thật, nhờ đọc những bài viết của anh suốt mấy năm nay, tôi biết được anh từng là một người lính trong Quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước 30 tháng Tư 1975, và tuổi anh với tôi cũng xêm xêm nhau. Tôi viết “xêm xêm” theo kiểu nói người Miền Nam các anh hay dùng để anh hay rằng tôi, một bộ đội cụ Hồ thập thành trước kia nay đã tự giác tự nguyện tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc trên con đường Ngụy-quân hóa và Mỹ-cút hóa. 

Ngụy quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều... hiện đại. Mỹ- cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ; còn đồng Hồ thì khỏi nói, như anh thấy tướng Phạm Quý Ngọ vừa rồi nhận hối lộ do Dương Chí Dũng giao nạp tới 1 triệu 510 ngàn đồng Đô, chứ đồng Hồ thì phải vận dụng cơ man nào là bao bố. 

Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẩm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ- cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép Pi Bớt Đê (Happy Birth Day), hể mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc Đá Nồ (McDonald), Bơ Gơ Kinh (Burger King), Ken Tơ Ky Phờ Rai Trích Cần (Kentucky Fried Chicken)... con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản... đó Anh.

Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh. Xin anh đừng buồn hay thấy bị xúc phạm khi tôi dùng chữ “Ngụy” trong thư này, lý do giản đơn là, một phần do quen mồm quen mép, một phần khác quan trọng hơn là, nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy... Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng, mà bây giờ nhờ đọc qua loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ của Đặng Chí Hùng kèm theo những hình ảnh tư liệu dẫn chứng, tôi mới biết được thực sự ai ngụy ai ngay, nhưng đây không phải là nội dung tôi muốn đề cập đến trong thư này.

Thưa anh Chổi, điều tôi muốn đề cập với anh hôm nay là cám ơn các anh đã... thua cuộc chiến tranh mà trước kia chúng tôi hăm hở gọi là “giải phóng Miền Nam”. Thực tế cho thấy đó là “giải phóng Miền Bắc”. Nói thế nghe ra là ”phản động”, nhưng thực chất là vậy. Nếu bác Hồ từng nói “Nước Việt nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” - cứ cho bác Hồ nói đúng đi, mặc dầu theo sách giáo khoa Cách mạng dạy thì Việt Nam ta không chỉ có một mà có tới 53 dân tộc (trong Nam các anh gọi là 53 sắc tộc, xem ra đúng hơn), thì ta cũng có thể nói, nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.

Thực tế đó là gì? Cũng giản đơn và dễ dàng như tòa án Hải Phòng xử phạt tù anh em Đoàn Văn Vươn là nạn nhân, và phạt tù treo đám thủ phạm tép riu, còn đám đầu sỏ chủ mưu thì hoàn toàn vô can, trong vụ cưỡng chế tài sản nhân dân mà chính Thủ tướng kết luận “hoàn toàn trái pháp luật”. 

Nếu các anh không thua cuộc chiến thì bộ đội cụ Hồ chúng tôi đâu có thu được hàng tỷ khối chiến lợi phẩm mang về làm náo nức nhân dân Miền Bắc, trong đó có cậu bé 13 tuổi quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh sau này là nhà báo Huy Đức ghi lại:
Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; Cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; Con búp bê nhựa - biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe - buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn. 

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh... được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày [1], Thép Đã Tôi Thế Đấy [2]... Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.” (Bên Thắng Cuộc).
Còn chính bộ đội cụ Hồ như chiến sĩ gái Dương Thu Hương háo hức bao nhiêu trên đường giải phóng Miền Nam thì sau 30/4/75, khi vào đến Sài Gòn đã... Ta thử đọc trích đoạn cuộc trao đổi giữa cô với nhà báo Đinh Quang Anh Thái (*)
- Đinh Quang Anh Thái: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trồ trước sự trù phú vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

- Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc. 
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy dẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói.

Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải. ”

Rồi chuyện ông bác sĩ bộ đội cụ Hồ mà anh gặp tại nhà người bạn chiến hữu của anh ở Tân Định ngay sau khi mới giải phóng Sài Gòn trông như người ngoài hành tinh mới đến, cứ ngơ ngơ ngáo ngáo, bảo “có vào đây mới biết đồng bào Miền Bắc ngoài đó quá khốn khổ.

Anh Chổi ơi, vài mẩu chuyện trên đây là của vài ba cá nhân lẻ tẻ nhưng là đại diện cho tâm trạng chung của tuyệt đại bộ phận đoàn quân “đại thắng mùa xuân” ngay sau khi mèo mù vớ được cá rán Miền Nam đó anh. Bây giờ xin tạm thôi những mẩu chuyện cá nhân để nhìn vào tổng thể sờ sờ trước mắt.

Giá như ngày đó Mỹ không chịu cút, Ngụy không chịu nhào và các anh cứ tiếp tục giữ vững Miền Nam với chế độ Tư Bản một mình thì chúng tôi, tức Miền Bắc, cứ vẫn xếp hàng cả ngày và chỉ được tiêu chuẩn “mỗi năm ba tấc vải thô, lấy gì che kín cụ Hồ em ơi”, Ba Ếch cứ tiếp tục trốn chui trốn nhủi trong rừng tràm U Minh, đêm du kích ngày chích mông, chứ làm gì có nhà thờ họ hoành tráng lừng lựng giữa Rạch Giá như bây giờ. 

Nói chung không nhờ Miền Nam các anh thua thì làm gì chúng tôi được nếm mùi bã Tư bản để được như ngày nay. Không nhờ các anh bỏ của chạy lấy người thì của đâu cho Cách Mạng lấy làm giàu như bây giờ. Không nhờ các anh thua cuộc thì ngày nay chắc chắn Miền Bắc chúng tôi còn tệ hơn nước anh em XHCN Bắc Triều Tiên của cậu Giun Kim Ủn bây giờ.

Nói túm lại, kỷ niệm ngày 30 tháng Tư 75 là để mừng cho Miền Bắc chúng tôi được giải phóng, chứ Miền Nam các anh thì bị một vố phỏng... nhớ đời này qua đời khác. Nhưng ở đời này, anh còn lạ gì, khốn nạn của người này có khi là hạnh phúc của người kia. Thôi thì Miền Nam các anh đã hưởng lâu rồi, nhiều rồi, nhường cho đồng bào Miền Bắc chúng tôi được giải phóng một ti, cho công bằng.

Cảm ơn anh đã đọc hết thư này của một người cựu thù cùng máu đỏ da vàng, cùng quê hương “ông bác” mà ngày nay mỗi lần nghe nhắc đến là tôi muốn độn thổ vì xấu hổ.

Trân trọng chào Anh,

Một cựu bộ đội cụ Hồ trong đoàn “giải phóng quân” 1975.
TB. Tôi bị “Ngụy hóa” đến nỗi văn phong của tôi cũng bị... Chổi hóa luôn!
Sài Gòn năm thứ 39 ngày Giải phóng Miền Bắc.



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link