Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, July 3, 2014

Từ Giàn Khoan HD-981: Việt Nam có thể sẽ “đón nhận” một “Hiệp định Da Beo” lần nữa!


Từ Giàn Khoan HD-981: Việt Nam có thể sẽ “đón nhận” một “Hiệp định Da Beo” lần nữa!

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

Kể từ ngày Trung cộng hạ đặt giàn khoan HD-981 xuống ngay lãnh hải của Việt Nam, thì đã có rất nhiều những bài viết của người ngoại quốc lẫn người Việt Nam đã “tiên đoán” về những tình huống có thể xảy ra cho Việt Nam; Trong đó, cũng có nhiều ý kiến: “phải làm gì để hóa giải công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng”.

 

Về phía đảng Cộng sản Việt Nam, thì gọi đó là “công thư chứ không phải là công hàm và không có giá trị, vì công thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng, chỉ công nhận 12 hải lý của Trung quốc, chứ không nói gì đến hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa”. Ngoài những điều ấy, Hà Nội cũng nói “sẽ kiện” Trung cộng.

 

Về phía Trung cộng, thì chẳng những đưa cái “công hàm” của ông Phạm Văn Đồng, mà còn trưng dẫn cuốn “sách giáo khoa” của Hà Nội ra làm “bằng chứng chủ quyền” của Trung cộng. Ngoài ra, Trung cộng còn khuyến cáo: “Việt Nam phải tôn trọng công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng.”

 

Với những sự kiện nêu trên, thì khoan nói tới cái “công hàm - công thư” của ông Phạm Văn Đồng, mà chỉ nói lên một sự thật hiển nhiên rằng: Nếu không có cái “công hàm - công thư” của ôngPhạm Văn Đồng,  thì Trung cộng lấy cái gì “làm bằng” để ngang nhiên hạ đặt giàn khoan HD-981 xuống lãnh hải của Việt Nam, và cho đến hiện giờ còn đưa thêm 02 hay có thể còn nhiều giàn khoan khác  xuống lãnh hải của Việt Nam???

 

Chỉ chứng đó thôi, cũng đủ chứng minh rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân đồng bào về cái “công hàm-công thư” của ông Phạm Văn Đồng “Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” có con dấu của “Chính phủ VNDCCH” đã gửi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958, bằng một câu có tính cách quyết định như sau:

 

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định chủ quyền của Trung quốc”. Như vậy, tất nhiên là bao gồm cả Hoàng Sa-Trường Sa của nước Việt Nam Cộng Hòa, mà cách đây hai năm, người viết đã nêu lên những sự kiện ấy, qua qua bài: Hoàng Sa-Trường Sa là của nước Việt Nam Cộng Hòa, nên ở đây, không cần phải viết thêm nữa.

 

Tuy nhiên, tất cả những gì đã xảy ra, thì đã xảy ra, nên cho dù là thánh cũng không thay đổi được quá khứ, mà phải tìm mọi kế sách hay giải pháp tốt nhất để thay đổi hiện tại và tương lai. Vì thế, tất cả những “diễn biến” bắt nguồn từ cái văn bản của ông Phạm Văn Đồng, đã do đảng Cộng sản “cột” vào “vận mệnh” của đất nước, thì tất nhiên chính kẻ cột phải biết cách để mở ra. Còn nếu như đảng Cộng sản Hà Nội không chịu “mở ra”, thì toàn dân sẽ bằng mọi cách, để “mở ra”, để cứu lấy đất nước và dân tộc thoát khỏi đại họa diệt vong!

 

Thế nhưng, cho đến thời điểm hiện nay, trước một tình huống khó lường trước mọi sự, thì đảng cộng sản Việt Nam nếu muốn  “mở ra”, thì phải “mở” bằng cách nào, vì khi “ông Chủ tịch nước” Hồ Chí Minh và cả “bộ chính trị” của Cộng sản Việt Nam vào ngày 14/9/1958, đã quyết định để cho “thủ tướng” Phạm Văn Đồng gửi cái “công thư-công hàm” cho Chu Ân Lai với nội dung mà hôm nay, không riêng người Việt Nam, mà cả thế giới đều biết.

 

Nên nhớ và nên biết, cá nhân ông Phạm Văn Đồng không dám, không có quyền tự ý quyết định khi viết và gửi văn bản này. Vì nếu tự ý, thì đảng Cộng sản Việt Nam phải dùng “đảng kỷ” để trừng phạt bằng những biện pháp cao nhất. Nhưng không, Phạm Văn Đồng vẫn ngồi trên chiếc “ngai” để cầm quyền cho đến khi chết thì vẫn có “Đại học Phạm Văn Đồng” và “đường Phạm Văn Đồng” trên khắp cả ba miền của đất nước, để tuyên dương cái công trạng  của ông Phạm văn Đồng, với một văn bản chính thức: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định chủ quyền của Trung quốc”!  

 

Người viết xin nhắc lại:

 

Ngày 14 tháng 9 năm 1958,  “thủ tướng” Phạm Văn Đồng  đã bất chấp cả luật pháp quốc tế, khi ngang nhiên nhân danh:

 

“Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kính gửi đồng chí Chu Ân Lai Tổng lý nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” để ký-gửi một bản văn mà xem như là dâng hiến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa cho Trung cộng. Một bản văn hoàn toàn bất hợp pháp; bởi vì theo nguyên lý thông thường, thì không một ai có quyền dâng, bán bất kể là một vật gì, dù nhỏ nhất của người khác, không thuộc quyền sở hữu của mình, và một người biết tôn trọng luật pháp, tôn trọng lẽ phải, thì không bao giờ chịu đi mua hay nhận  bất cứ một vật gì mà do một người không có quyền sở hữu đem dâng, bán cho mình.

 

Nhưng đây là chuyện giữa ba nước: Nước Việt Nam Cộng Hòa, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bản văn của Phạm Văn Đồng, là “Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” lại dám ngang nhiên ký một cái “công hàm”, có con dấu của “Chính phủ nướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”  để đem dâng-bán một phần biển, đảo của nước Việt Nam Cộng Hòa cho Trung cộng, thì không phải riêng người bán, mà kể cả kẻ mua cũng đều vi phạm luật pháp quốc tế.

 

Năm 1958, Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, Phạm Văn Đồng “Thủ tướng nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hòa”,  không có một chút quyền, không có một tư cách gì để ký-gửi một văn bản như thế cho được.

 

Phải nhắc lại như thế, để hiểu rằng, đảng Cộng sản Việt Nam không thể đương đầu với Trung cộng, mà chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mới đủ tư cách trước Công Pháp Quốc Tế, để giành lại hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Chính Hà Nội cũng thừa biết điều ấy, nhưng vì đã đặt quyền lợi riêng trên cả Tổ Quốc và Dân tộc, nên họ vẫn cứ thà mất nước, chứ không thể thay đổi thể chế chính trị!

 

Đừng ỷ vào ngoại bang

 

Mới đây, một câu nói của cậu Cộng con, không hề có một chút kiến thức về chính trị,  nên không muốn nêu tên vào đây làm gì. Tuy nhiên phải ghi lại câu trả lời khi được cô Trà Mi của đài VOA phỏng vấn như sau:

 

“Khi Việt Nam và Mỹ thực sự cần đến nhau thì không có việc bỏ rơi nhau. Mỹ và Việt Nam là bạn của nhau cùng hợp tác phát triển về mọi lãnh vực chứ không phải riêng về Kinh tế”.

 

Câu trả lời này, đã chứng tỏ đây là một con người hoàn toàn không hề biết gì về chính trị và thủ đoạn chính trị cả. Những người có tham vọng chính trị, đều cần phải nghiên cứu thật kỹ về những thủ đoạn chính trị và những thành bại của các nhân vật nỗi danh khắp năm châu, cũng như những cuộc cách mạng đã xảy ra trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, dù có đổ máu hay «cách mạng nhung».

 

“Mỹ không bỏ rơi Việt Nam”; Nhưng chính Mỹ đã tạo dựng ra cái Hiệp định Paris,1973, mà mọi người thường gọi là “Hiệp định Da Beo”; bởi theo cái Hiệp định này, đã buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận “ngưng bắn tại chỗ”, ở những vùng đất do phía nào kiểm soát, thì vẫn cứ duy trì, không thay đổi. Nghĩa là cho phép quân đội Bắc Việt được “sống chung” tại miền Nam. Và  nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị mất vì cái Hiệp định này!

 

Là người Việt Nam, có ai không biết đến Hiệp định Geneve, 20/7/1954 và Hiệp định Paris, 1973 về Việt Nam, với những nước đã ngồi vào, cùng ký bằng những lời “cam kết vàng ngọc” như thế nào. Thế nhưng, những gì đã xảy ra sau đó, dẫn đến tang thương, máu lệ suốt bao nhiêu năm qua, cũng như thảm trạng ngày nay trên đất nước Việt Nam, thì các nước đã từng tham gia và ký kết vào cái Hiệp định quái ác này có lên tiếng hay không???

 

Trong chính trị, vốn không có sự thỏa hiệp nào vĩnh cửu ; bởi một khi muốn “xóa bỏ” những “cam kết” trước đó, nếu một chính phủ với nội các mới lên thay quyền lãnh đạo đất nước, thì chính phủ ấy có toàn quyền để quyết định, giữ lại phần nào, hay xóa bỏ, nếu xét thấy có lợi cho quốc gia hơn.

 

Tiếc thay, những người đã và đang “tranh đấu” mà luôn luôn “đội” các cường quốc Âu-Mỹ lên đầu. Những điều ấy, đã chứng tỏ một cách chắc chắn: Các “nhà tranh đấu” theo kiểu này, họ không bao giờ đặt quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc lên hàng tối thương!

 

Nhân đây, người viết muốn nói thêm một cách chắn chắn rằng, Hoa Kỳ cũng như các cường quốc khác không bao giờ đưa quân đi đánh Trung cộng, để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa cho Việt Nam, và đừng nghĩ Hoa Kỳ sẽ làm như những lời tuyên bố: “Nếu Trung quốc đánh chiếm đảo Điếu Ngư, thì Hoa Kỳ sẽ đánh chiếm lại cho Nhật Bản”. Điều này, hoàn toàn khác, vì Nhật Bản không có gửi cái “công hàm-công thư công nhận chủ quyền của Trung quốc” cho Trung cộng giống như cái công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Vì vậy, chỉ có chính người Việt Nam phải đứng lên tự cứu lấy Quê Hương đất nước của mình. Và xin đừng quên: Không có một cường quốc nào thương một dân tộc khác, mà tất cả chỉ vì quyền lợi của họ mà thôi!

 

Về việc kiện Trung cộng ra Tòa án Quốc tế. Nói thì dễ, nhưng làm thì thiên nan, vạn nan, vì trước hết chính Hoa Kỳ đã lên tiếng rằng: “Hoa Kỳ đề nghị Việt Nam và TQ cùng rút hết tàu về” và “Trung quốc đừng hung hăng trên biển Đông”. Nên nhớ, Hoa Kỳ chỉ nói đến “Biển Đông” và đề nghị hai bên rút hết tàu về, chứ không nhắc đến Hoàng Sa-Trường Sa.

 

Mới đây, ông Jean-Vincent Brisset, cựu Tướng không quân của Pháp nay là Giám đốc nghiên cứu Viện quan hệ quốc tế và chiến lược của Pháp nói: “Việt Nam nên kiện Trung Quốc” ; Nhưng ông không nói rõ Việt Nam phải kiện như thế nào, để “thắng”, trong khi Trung cộng đã trưng dẫn công hàm của ông Phạm Văn Đồng đã gửi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958, để làm bằng chứng “chủ quyền” của họ. Ngoài ra, Trung cộng cũng thách thức: “Nếu Việt Nam đi kiện, thì nhớ đem theo công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng”.

 

Cho tới thời điểm hiện nay, đảng Cộng sản Việt Nam đã “công nhận” hai Bia Chủ Quyền của Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa và Trường Sa là “di tích lịch sử”; và cũng nói rằng “vào  năm 1958 Hoàng Sa - Trường Sa do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa quản lý”.

 

Đó là những điều hiển nhiên, mà bây giờ đảng Cộng sản Hà Nội không thể nào chối cãi được, là đã biết Hoàng Sa-Trường Sa là của nước Việt Nam Cộng Hòa, mà đảng Cộng sản Hà Nội đã ngang nhiên viết và gửi cái công hàm có con dấu của “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định chủ quyền của Trung quốc”.

 

Vậy thì, cái gì của Việt Nam Cộng Hòa, thì hãy trả lại cho Việt Nam Cộng Hòa, để Việt Nam Cộng Hòa có đủ tư cách trước Công Pháp Quốc Tế mà đòi lại Hoàng Sa-Trường Sa. Và chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mới có những hành động quyết liệt như: Đoạn giao với Trung cộng, đóng cửa biên giới Việt-Trung, như Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã từng làm đối với người Pháp. Đến lúc đó, thì không cần phải “trục xuất”, thì những đoàn quân Mã Viện, đã được ngụy trang dưới lớp vỏ bọc như “Học viện Khổng Tử” và các “Đặc khu kính tế” của Tầu cộng ở Hải Phòng, Vũng Áng, Cam Ranh, Tây Nguyên, Đà Nẵng, Bình Dương… cũng phải lo cuốn gói, “chui ống đồng” chạy khỏi nước Việt Nam. Còn nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” hậu thân của nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” không thể đối đầu với Trung cộng, dù bất cứ một tòa án Quốc tế nào, để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa!

 

Chính vì những lẽ ấy, đừng bao giờ ỷ lại vào ngoại bang, mà người Việt Nam phải tự quyết định lấy tương lai của đất nước, vì nếu ngoại nhân “thương” những dân tộc nhược tiểu, thì Tân Cương và Tây Tạng không đến nỗi phải nằm trong bàn tay sắt máu của Trung cộng như cả thế giới này đã chứng kiến, cho dù máu của người Tân Cương và Tây Tạng đã đổ, bao nhiêu người đã gục ngã, họ đã tự đốt chết thân mình với hy vọng là đòi lại đất nước của họ. Những hành động hy sinh ấy thật đáng thương, đáng phục. Nhưng tiếc thay, tất cả đều vô ích, vì chẳng có Quốc tế nào đưa quân đi đánh Tầu cộng, để giành lại đất nước cho người Tân Cương và Tây Tạng ; bởi quyền lợi của các cường quốc không có ở trên đất của Tân Cương và Tây Tạng!

 

Thế nhưng, đối với Thái Bình Dương lại là chuyện khác. Xin nhấn mạnh là Thái Bình Dương, là Biển Đông, là cửa ngõ nằm trong vị trí chiến lược, thì các cường quốc trên thế giới không thể làm ngơ. Chúng ta đều biết, ngày xưa quân Pháp đã đổ bộ lên hải cảng Đà Nẵng, rồi quân đội Hoa Kỳ cũng đổ bộ lên Đà Nẵng, và tầm quan trọng của Vịnh Cam Ranh.

 

Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng như các cường quốc trên thế giới đều chỉ muốn giữ “tuyến hải hành” Thái Bình Dương hay Biển Đông, chứ không bao giờ đem máu xương, để giành giữ Hoàng Sa -Trường Sa cho Việt Nam, mà chính người Việt Nam phải bằng mọi cách để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa. Thế nhưng, nếu có cuộc đụng độ lớn xảy ra, thì Hoa Kỳ và các cường quốc khác trên thế giới sẽ có những hành động thiết thực, để bảo vệ quyền lợi của họ trên Thái Bình Dương, hay Biển Đông. Còn nếu cuộc tranh chấp chỉ  bằng mồm, bằng “giải quyết song phương”, thì đó, chỉ là chuyện riêng của hai đảng Cộng sản  “anh em một nhà”, nên người ngoài không thể can thiệp.

 

 

Tại sao nhà cầm quyền Hà Nội cứ câu giờ?

 

Như trước đây, cũng như hôm nay, Trung cộng vẫn tuyên bố theo như chính các báo trong nước như sau:

 

“(ANTV) - Cục Hải sự Trung Quốc vừa đưa ra thời gian công tác trên... Theo đó, giàn khoan Nam Hải 9 sẽ kết thúc tác nghiệp vào ngày 20/8.”

 

Tiếp theo, vào ngày 26/6/2014, các báo trong nước đã đăng những lời phát biểu của “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang”. Xin trích một đoạn như sau:

 

 “ … Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, “Tuổi trẻ dẫn lời chủ tịch nước nói.”(*)

 

Và hôm nay, ngày 01/07/2014,  các báo trong nước đã đăng tải những lời của ông Nguyễn Phú Trọng“Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam” rằng:

 

“… phải kiềm chế để nhất quyết không cho phép xảy ra xung đột…”

 

Những lời đã trích ở trên, đã cho toàn dân Việt thấy rằng: Nhà cầm quyền Hà Nội “tuyên bố  phải kiềm chế để nhất quyết không cho phép xảy ra xung đột”; bởi không được phép “xung đột”, để chờ cho đến “mười năm sau… đến đời con cháu…” Nghĩa là đến lúc đó, thì đất nước Việt Nam đã trở thành một Tân Cương, một Tây Tạng rồi, thì con cháu nào để giành lại được đất nước? Riêng gia đình và con cháu của những người Cộng sản đã và đang cầm quyền, thì vì quá giàu, nên nếu có những biến động lớn xảy ra, thì họ sẽ không khó khăn khi chạy ra ngoại quốc, để sống một đời đế vương với những tài sản, mà từ lâu họ đã tẩu tán ra các quốc gia khác để hưởng thụ, chỉ còn lại người dân Việt sẽ phải chịu kiếp nô lệ như người Tân Cương và Tây Tạng!

 

Một điều khác nữa, như bản tin “(ANTV) - Cục Hải sự Trung Quốc vừa đưa ra thời gian công tác trên... Theo đó, giàn khoan Nam Hải 9 sẽ kết thúc tác nghiệp vào ngày 20/8.”

 

Và chính vì biết Trung cộng sẽ rút giàn khoan vào ngày 20/8/2014, nên trong suốt thời gian qua đảng Cộng sản Hà Nội  chỉ lên tiếng cho có lệ, để chờ cho đến ngày 20/8/2014, khi Trung cộng rút giàn khoan khỏi lãnh hải Việt Nam, thì mọi sự sẽ đâu vào đấy. Thế nhưng, một khi Trung cộng đã “cắm mốc chủ quyền” rồi, thì dù có rút đi, nhưng tất nhiên Trung cộng sẽ quay trở lại bất cứ lúc nào, vì khi đã hạ đặt Giàn khoan HD-981 và các Giàn khoan khác xuống lãnh hải của Việt Nam, giết hại ngư dân Việt,  mà nhà cầm quyền Hà Nội không hề có hành động cụ thể nào để chứng tỏ “bảo vệ chủ quyền”, bảo vệ dân, thì đương nhiên đã “công nhận” như văn bản của “thủ tướng” Phạm Văn Đồng đã viết: “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định về chủ quyền của Trung quốc”. Vì vậy, trong những thời gian tới, Việt Nam Cộng sản không làm sao thoát nổi thiên la địa võng của Trung cộng!

 

 

Về việc Hà Nội kiện Trung cộng

 

Nếu nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội kiện Trung cộng ra trước tòa án Quốc tế, thì như phía Trung cộng đã “khuyến cáo nếu Việt Nam đi kiện, thì hãy nhớ phải kèm theo cái công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng”.

 

Nói cho ngắn gọn, có ai dám nghĩ rằng: Toà án Quốc tế sẽ buộc được Trung cộng phải cuốn gói, rời  bỏ các nhà máy, trường học… trên đảo Hoàng Sa cũng như cái gọi là Thành phố Tam Sa… trên đảo Trường Sa, để giao hết lại cho Việt Nam hay không???

 

Riêng người viết bài này, thì lại nghĩ rằng: Nếu Việt Nam Cộng sản kiện Trung cộng ra trước Tòa án Quốc tế, thì trong tương lai, sẽ có một “Phán quyết” tương tự như cái “Hiệp định Da Beo” của Hiệp định Paris, 1973 về Việt Nam vậy.

 

Nghĩa là, phía nào kiểm soát những vùng đất biển đảo nào, thì cứ giữ y nguyên trạng, hai bên không đụng chạm lẫn nhau. Còn Thái Bình Dương - Biển Đông thì “quốc tế hóa”, để các cường quốc đều được hưởng đặc quyền, đặc lợi như nhau. Cường quốc nào cũng cần Thái Bình Dương – Biển Đông, chứ không cần quyền lợi của Việt Nam, cũng như việc Hoàng Sa - Trường Sa thuộc Tầu cộng hay Việt cộng cũng chẳng khiến cho các cường quốc phải lưu tâm!

 

Và chính vì những lẽ ấy, nên Trung cộng đã và đang gấp rút hạ đặt thêm giàn khoan, và xây dựng thêm những nhà máy, “thành phố Tam Sa”, trường học… trên cả hai quần đảo quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa, với mục đích là để “cắm dùi chủ quyền”, và để “chờ đón” cái “Hiệp định Da Beo” đó.

 

 

Tạm kết:

 

 

Images intégrées 3

Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm

 

 

 Nếu nhà cầm quyền Hà Nội không đặt Tổ Quốc và Dân tộc lên trên hết ; Không thay đổi thể chế chính trị, thì không thể đối đầu với Trung cộng được, mà chỉ có Việt Nam Cộng Hòa, một Quốc Gia đã từng dựng bia đá chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa từ năm 1956 với Sắc Lệnh rõ ràng, cũng như những thân xác, những dòng máu thắm của các Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã hòa quyện dưới đáy Biển Đông, trong cuộc Hải chiến 1974, khi đã “nhắm thẳng quân thù mà bắn” để bảo vệ Hoàng Sa. Đó là những chứng tích lịch sử đời đời, và sẽ còn thâm khắc, để lớp hậu sinh cần phải ghi nhớ:

 

Tiền nhân của chúng ta đã dày công dựng nước và giữ nước bằng cả núi xương, sông máu, thì hôm nay, toàn dân Việt; đặc biệt là lớp hậu sinh, sẽ không thể thản nhiên mà nhìn đảng Cộng sản Việt Nam mỗi ngày cứ đem dâng - bán từng phần lãnh hải, lãnh thổ của đất nước cho Trung cộng cho đến khi cả dân tộc phải bị diệt vong. Chính vì thế, cho dẫu có phải đánh đổi cả sinh mạng của mình, thì lớp hậu sinh cũng phải lấy máu xương để bảo vệ máu xương, là non sông gấm vóc Việt Nam của Tiền Nhân để lại!

 

Paris, 01/07/2014

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

_____________________________

 

(*) Trích dẫn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/614696/chu-tich-nuoc-truong-tan-sang--doi-ta-khong-xong-thi%C2%A0doi-con-chau.html



Quảng Đông gửi VN '16 việc cần làm'

 

Cập nhật: 09:35 GMT - thứ hai, 30 tháng 6, 2014


 

Cuộc “thoát Trung” nửa vời


http://baotoquoc.com/2014/07/02/cuoc-thoat-trung-nua-voi-nguyen-an-dan/

Cuộc “thoát Trung” nửa vời

Nguyễn An Dân

Nguyễn Phú Trọng tại buổi tiếp xúc cử tri

Với việc mang giàn khoan Nam Hải 09 vào vùng chồng lấn Vịnh Bắc Bộ trong khi giàn khoan HY-981 chưa rút đi cho thấy quyết tâm chính trị của Trung Quốc trong việc cưỡng chiếm Biển Đông và kèm theo đó là yêu sách của Trung Cộng nhằm đưa Đảng Cộng Sản Việt Nam trở lại vùng kiềm tỏa Thành Đô 1990 đến hôm nay đã được khẳng định chắc chắn qua các diễn biến trên truyền thông và phát ngôn, hành động của quan chức cấp cao của đảng cầm quyền hai nước.

Nếu trước đây chuyện “nghi ngờ” đảng đã “nhân nhượng và thỏa hiệp với Trung Quốc trong vấn đề biển đảo vào thời kỳ 1950” chỉ là chuyện nói trong dân thì đến nay các quan chức từ thấp đến cao đều đã bắt đầu “thừa nhận một nửa” bởi những ngôn từ như “hoàn cảnh lúc đó tế nhị”, “công hàm 1958 không nói gì đến Hoàng Sa-Trường Sa”. Từ sự phủ nhận và hô hào “công hàm 1958” là “trò bịa đặt của bọn ngụy quân ngụy quyền tay sai” đến việc hôm nay phải thừa nhận nó là “công thư bán chính thức mang tính dân sự trong một hoàn cảnh đặc biệt” cho thấy đảng đã lùi bước trước sức ép của sự thật..

Đây là một bước tiến không nhỏ của quần chúng trong việc chống “Hán thuộc” từ khi đảng CS cầm quyền đến nay. Và nó được khẳng định hơn nữa khi bây giờ dân chúng (và truyền thông lề phải) đã “bắt đầu được phép nói đến”, Tôi xin trích lại một đoạn trong 1 bài viết về việc Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang gặp cử tri, để qua đó chúng ta thấy được tâm tư của đa số quần chúng trong nước.

“Chúng đem tàu chiến, tên lửa ra húc đi húc lại hoài, ta giải quyết sao? Chúng xây sân bay, củng cố căn cứ quân sự, Nhà nước giải quyết sao hay để năm này qua năm khác, rồi đời sau con cháu chúng ta phải giải quyết? Bạn hay thù, xác định cho rõ”.

Điều đáng mừng cho dân (và có lẽ không vui cho đảng) là cử tri giờ đã được nói chuyện quan hệ với Trung Quốc một cách công khai, mạnh mẽ. Nếu như trước đây đó là chuyện “húy kỵ”, thì nay được bàn luận và phát biểu ý kiến. Nếu như trước đây “4 tốt, 16 chữ” là “kinh sách” thì nay người dân có quyền phản đối, phê phán thẳng thắn”.(1) Đây là một sự thay đổi đáng chú ý và cần ghi nhận khi nhìn vào chính trị Việt Nam hiện nay.

Bài toán mà lâu nay luôn là chỗ khó nói của đảng “giữ đảng thì mất nước, giữ nước thì mất đảng” thì đảng đã biết từ lâu. Nhưng vì lợi ích cầm quyền cao hơn lợi ích đất nước, lâu nay đảng tránh né đi thì giờ đây đảng bắt buộc phải đối diện với nó bởi các giàn khoan HY-981, Nam Hải 09…đã xâm phạm vùng biển của ta.\

Trong sự thúc ép đến cao trào của Trung Quốc thì quy luật “vật cực tất phản” lại xuất hiện. Chính thức đến hôm nay (ngày 01/07/2014) tôi thấy rằng dường như đạ có một sự trao đổi, thỏa hiệp giữa hai phe đảng quyền và chính quyền trong Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị để tìm lời giải tạm thời cho bài toán này. Nhưng trước khi kết luận, chúng ta cùng điểm qua những biểu hiện thời sự then chốt.
Có những luồng dư luận nói đồng chí X và Trương Tấn Sang hô hào thoát Trung mạnh mẽ là đóng kịch nhưng tôi nghĩ khác. Cần chú ý là “băng đóng ba tấc không phải vì 1 ngày lạnh”. Những phát ngôn của đồng chí X hay sự cho phép cử tri nói ra mạnh mẽ trong cuộc gặp với Trương Tấn Sang gần đây thể hiện một sự chuẩn bị lâu dài của liên minh này chứ không phải là sự ngẫu hứng hay tự đánh bóng bản thân trong cơn bốc đồng. Ở tầm cao đó thì không thể còn sự bốc đồng được. Họ kém trong điều hành lãnh đạo đất nước, nhưng là bậc thầy về đấu đá chính trị. Còn vì sao phe chính quyền muốn thoát Trung thì xin các bạn xem lại các loạt bài trước đây.

Có lẽ dư luận sẽ hiểu thêm về ảnh hưởng của Trung Quốc vào Việt Nam nếu như biết một chuyện trong quá khứ, khi bị một người bạn thân hỏi về việc tại sao chính phủ Việt Nam thời kỳ năm 2000 “gần như nhắm mắt làm ngơ” trong việc Trung Quốc thuê đất rừng ồ ạt, nguyên thủ tướng Phan Văn Khải phải thở dài và lắc đầu “chúng nó kinh lắm, mình mà làm không khéo chúng nó hất mình ngay”.

Từ sự im lặng trong “e ngại và dè chừng” của vị thủ tướng tiền nhiệm là Phan Văn Khải trước âm mưu của Bắc Triều đến những phát ngôn “hữu nghị viễn vông mơ hồ” hiện nay là một bước tiến dài của đồng chí X cùng trong chức danh thủ tướng (và cả Trương Tấn Sang trong cương vị chủ tịch nước) so với các nguyên thủ thời kỳ trước. Phải thấy điều này thì mới đánh giá được rõ về đảng hiện nay và tương lai sau này.

Cần thấy đây không phải là một “phân công chiến lược” của nội bộ đảng, vì dễ hiểu là nếu đảng phân công thật thì Trung Quốc cũng không chấp nhận chuyện đồng chí X dùng những từ ngữ như “mơ hồ, lệ thuộc, viễn vông” khi nói về quan hệ Việt-Trung, cũng như nhóm ủng hộ thủ tướng đã dùng những từ ngữ “mang tính nhục mạ” khi nói về Trung Quốc “đê tiện, dối trá, hoang tưởng…” trên website của phe này và cả báo lề phải trong nước.

Sau một thời gian dài im lặng (vì chưa có sự thống nhất trong đảng) thì đến nay Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chính thức lên tiếng. Đó là tuyên bố thứ nhất nhân việc đón Dương Khiết Trì “chủ quyền của Việt Nam là không thay đổi và không thể thay đổi”. Nếu khi đó nó được loan ra, người dân có thể chỉ xem nó như một thông điệp mang tính ngoại giao công khai hơn là ý chí của người đứng đầu đảng trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước thì đến nay nó đã được khẳng định như là quan điểm chung của đảng.

Trong một diễn biến khác, qua hai tuần đầy biến động của nghị trường Quốc hội khi có nhiều điểm nhấn kịch tính mà cao trào là “Quốc Hội chưa thể thông qua nghị quyết 35 sửa đổi” (2) về việc lấy phiếu tín nhiệm theo hai mức như đề nghị mới của Tổng Bí Thư, cùng với việc đại biểu Trương Trọng Nghĩa “cướp diễn đàn quốc hội” (3) đã cho thấy sự phân hóa càng mạnh mẽ của hai phe đảng quyền và chính quyền về việc tìm bài toán cho việc giữ chủ quyền đất nước và giữ đảng, dẫn đến mâu thuẫn giữa 2 bên.

Cũng dễ hiểu là vì có những chuyện phân hóa về đường lối của đảng như thế, nên Trung Quốc ngay sau chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì, một mặt vẫn cho thêm giàn khoan và đe dọa đóng một số cửa khẩu thì vẫn “khuyên nhủ” liên minh Ba Dũng-Tư Sang “đứa con hoang đàng hãy trở về”. Trung Quốc gia tăng sức ép như thế hẳn là để buộc phe thân Tàu giải quyết phe thân Mỹ rồi mới quay lại bàn đàm phán.

Điều này càng được khẳng định hơn nữa khi trên tờ Thời báo Hoàn cầu, có một bài viết rất đáng chú ý. Học giả Chu Thân Minh, một cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nam Á và Đông Nam Á (của Trung Quốc), viết bình luận trên Thời báo Hoàn cầu, nhan đề “Cần đưa quan hệ Trung-Việt trở lại quỹ đạo” (4). Tác giả này cho rằng “Việt Nam và Trung Quốc, cả hai nước đều là xã hội chủ nghĩa, kiên định con đường phát triển xã hội chủ nghĩa mang màu sắc của mỗi nước. Cả hai cùng chia sẻ lý tưởng giống nhau và tương lai của hai nước gắn kết với nhau”.
Phải chăng mong muốn của phía Trung Quốc là dư luận quốc tế sẽ nhận định là “sớm muộn gì đảng cầm quyền Việt Nam” cũng sẽ không thể bỏ qua được tinh thần hội nghị Thành Đô? Để qua đó làm suy giảm sự ủng hộ của dư luận quốc tế dành cho Việt Nam, điều duy nhất còn làm Trung Quốc chùn tay lúc này trong sự lấn ép Việt Nam.

Trước sức ép đến từ 4 phía (“tứ diện thụ địch”) – từ Trung Quốc đe dọa cắt đứt quan hệ kinh tế thương mại, từ phương Tây và Mỹ đòi hỏi Việt Nam phải “thoát Trung” để họ có niềm tin nhằm hợp tác-hỗ trợ về kinh tế-quân sự, từ tinh thần yêu nước của quần chúng đang gia tăng, và từ bên trọng nội bộ đảng– hai phe lãnh đạo đảng quyền và chính quyền đã làm gì để giải bài toán “giữ đảng hay giữ nước?”
“Thoát Trung nhưng giữ đảng”
Vào ngày 28/06 vừa qua, tôi có viết 1 vài dòng tin ngắn về việc Việt Nam sẽ kiện Trung Quốc trên blog cá nhân trong vài ngày sắp tới đây thì hiện nay nó sắp thành hiện thực và sẽ xảy ra trong thời gian tới. Tôi nhận định và khẳng định là bộ máy lãnh đạo cao cấp của đảng (Bộ Chính Trị và BCH TW) đã đạt được một sự thỏa hiệp tạm thời cho tình hình này, sau khi mệt mỏi chán chê với những chỉ trích và thanh trừng nhau kéo dài từ Hội Nghị Trung Ương 9 đến nay (tôi có nêu trong các bài viết trước).

Phe chính quyền thì muốn dứt khoát thoát Trung nhanh nhưng phe đảng quyền e ngại đi nhanh quá sẽ mất đảng nên trì kéo lại. Cuối cùng, sau Hội nghị mở rộng vừa qua (BCT+BCH TW) dường như đã có sự thỏa hiêp, phe chính quyền đi chậm lại một chút và phe đảng quyền đi nhanh lên một chút, trong vấn đề đối phó Trung Quốc. Thế là tạm ổn cho việc “thoát Trung nhưng vẫn chưa lo mất đảng mà cũng đỡ lo mất nước”. Đây là điều tương đối ổn nhất nếu xét tổng thể các mặt trong nước và quốc tế, cuối cùng đảng đã có lựa chọn sau cùng hợp lý cho mình (nhưng theo tôi, không hợp lý cho đất nước và dân tộc).
Tôi nhận định điều này không phải chỉ căn cứ vào các nguồn tin hành lang về cuộc họp Bộ Chính Trị mở rộng tuần rồi, mà còn căn cứ trên nhu cầu tổng thể của Việt Nam và các hành động thực tế mà Việt Nam đang làm trong đối ngoại, đối nội suốt hai tháng nay tính từ mốc 02/05/2014 đến nay.
Chúng ta nhận thấy các biểu hiện gia tăng quốc phòng của Việt Nam khi liên tục có các hoạt động ngoại giao-quân sự con thoi với các nước trong khu vực. Một trục phòng ngự trên biển đã hình thành giữa Việt Nam-Nhật Bản-Philippin để đối kháng hải quân Trung Quốc. Tương tự như vậy trên bộ, Campuchia và Lào cũng đã thể hiện ra sẽ ủng hộ Việt Nam một khi Trung Quốc gây chiến bằng bộ binh. Chiến tranh là điều không ai muốn, nhưng có vẻ Việt Nam đã có sự chuẩn bị cố gắng nhất trong tình hình hiện nay cho phép nếu Trung Quốc gây chiến (mà hiện cũng có nhiều dấu hiệu cho thấy điều này không phải là hoàn toàn không có khả năng xảy ra).

Giải pháp thỏa hiệp “thoát Trung nhưng giữ đảng” càng được khẳng định hơn nữa khi hai ngày nay Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã có phát ngôn chính thức trước cử tri về vấn đề Trung Quốc.
“Vấn đề giải quyết tình hình căng thẳng trên Biển Đông là một vấn đề phức tạp và lâu dài. Chúng ta phải chủ trương chung sống hòa bình, hữu nghị, thân thiện, hợp tác cùng phát triển với người láng giềng Trung Quốc NHƯNG chúng ta kiên quyết giữ vững chủ quyền dân tộc. Chúng ta kịch liệt lên án hành động sai trái của Trung Quốc, nhất định không nhân nhượng”. Họ đang muốn thực hiện hóa “đường lưỡi bò”, thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông, bất chấp tất cả dư luận và việc vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, vì vậy, Việt Nam nhất định phải cư xử sao cho thận trọng, khéo léo, chủ quyền quốc gia là một vấn đề lớn, nếu sai một ly sẽ đi một dặm” (5).

Như vậy đã khá rõ, hai phe đã thỏa hiệp, chọn “thoát Trung nhưng giữ đảng” cho ngắn và trung hạn. Điều này giải quyết tạm thời các nhu cầu của các phe phái trong ban lãnh đạo đảng để khỏi đi đến khả năng đảo chính nhau trong nội bộ. Sự thỏa hiệp này còn làm thỏa mãn một phần cho nhu cầu yêu nước của quần chúng, nhu cầu hợp tác địa chính trị với Âu Mỹ và Asean. Dĩ nhiên thôi, với các quốc gia khác, chỉ cần Việt Nam “thoát Trung” để liên minh với họ trước đã, còn thể chế nào ở Việt Nam, dân chủ hay độc tài cộng sản cũng chưa quan trọng và mang tính bức thiết cho lợi ích của các nước đó, nên đảng đi bước đi này vào lúc này là ổn thỏa cho đảng.
Chúng ta có thể thấy rõ hơn xu hướng này khi xem thông tin trên truyền thông lề phải trong những ngày cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 2014.

Báo Thanh Niên viết về hội thảo “Đa dạng hóa tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển đảo của VN” tại Hà Nội hôm 30/6/14 do Tạp chí Mặt Trận, Viện Chính sách pháp luật và quản lý tổ chức. “TS Nguyễn Anh Dũng của báo Nhân Dân cho rằng: có những vấn đề nhạy cảm mà phía VN và TQ từng thỏa thuận không đưa ra ở những diễn đàn chính thức. Ví dụ Nhân Dân nhật báo (của BCHTƯ Đảng CSTQ) không đăng tải thì báo Nhân Dân của VN cũng không đăng”(6).

Thẳng thắn hơn, tờ Người Đô Thị trong một bài viết mới đây, còn khẳng định sự tai hại của Hội Nghị Thành Đô 1990 một cách gián tiếp. “Ngoại trừ sự gián đoạn từ năm 1979 đến 1989, đảng – nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã duy trì quan hệ trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, mối quan hệ này luôn ở trong tình trạng bất cân xứng. Sự trịch thượng của Trung Quốc luôn xuyên suốt, thể hiện qua sự can thiệp sâu và thô bạo vào chính sự của Việt Nam – không chỉ về chính sách, mà còn về cả nhân sự và ngoại giao”(7)

Tuy nhiên, dù có cho phép các tờ báo thuộc quyền được bạch hóa dần dần những cam kết ràng buộc kiểu “hội nghị Thành Đô 1990”, đảng cầm quyền vẫn còn cầm giữ những người dân chủ và người chống Trung Quốc trong tù, như một minh chứng cho thấy phe chính quyền chưa thể thực thi những cam kết của họ với Mỹ và Phương tây về cải cách thể chế. Bằng chứng hùng hồn nhất là bản tuyên bố UPR của phái bộ Việt Nam giữa tháng 6/2014 vừa rồi càng chứng minh là phe chính quyền “chưa thể và chưa dám” cải cách chính trị thật sự.

Như vậy đã rõ, lời giải và các hành động sau này của đảng nói theo sách lược “Thoát Trung nhưng giữ Cộng” sẽ được đưa ra để đáp ứng nhu cầu đối ngoại- đối nội, quan trọng nhất là nó như một liều thuốc an thần có tác dụng làm những cái đầu nóng của hai phe nguội lại sau sự mâu thuẫn về đường lối và nguy cơ tận lực thanh trừng nhau từ Hội Nghị Trung Ương 9 đến nay khi xuất hiện mấy giàn khoan.
Vấn đề dân chủ hóa đất nước để phát triển dân tộc và thoát Trung thật sự sẽ lại một lần nữa bị chậm lại sau sự thỏa hiệp này của trung ương đảng. “Thoát Trung nhưng giữ đảng” cũng chỉ là một biện pháp nửa vời, nó chỉ có tác dụng làm chậm chứ không thể xóa bỏ mối nguy “Hán thuộc” cho dân tộc.

Tuy nhiên, đáng lưu ý là vào sau năm 1975 khi đảng chọn bỏ Trung Quốc thân Liên Xô cũng nhằm thực hiện sách lược “thoát Trung nhưng giữ đảng” đã thất bại vì đảng cộng sản Liên Xô tan vỡ. Giờ đây chúng ta có thể thấy trước rằng một lần nữa kế hoạch “thoát Trung nhưng giữ đảng” cũng sẽ thất bại mà thôi.
Vì sao như thế, xin các bạn đón đọc bài tiếp theo “Tương lai của đảng CSVN”.

 

 

Việt Nam không cần đồng minh? Việt gian phát biểu


Việt Nam không cần đồng minh?

Việt gian phát biểu giữa nghị trường quốc hội

Posted by adminbasam on 01/07/2014
30-06-2014
Tống Văn Công

Cuộc họp báo sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội do ông Nguyễn Hạnh Phúc Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chủ trì. 

Có phóng viên đặt câu hỏi:
- “Trong cuộc điện đàm mới đây với ngoại trưởng Mỹ, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh có nói, Việt Nam sẵn sàng phối hợp với Mỹ triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Mỹ theo tinh thần quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Quan điểm của ông thế nào?”.

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trả lời:
- “Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là quan hệ với tất cả các nước trên thế giới. Vừa qua, với Mỹ hay Trung Quốc cũng thế. Sau 1975 thì quan hệ của chúng ta đã dần dần cải thiện và ngày càng tốt đẹp. Nhưng Việt Nam cũng là một nước độc lập, không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ ba, để chống lại nước khác. Quan điểm này đã được công khai nhiều lần”.

Đúng là quan điểm này đã được công khai nhiều lần, nhưng đó là ở thời đoạn mà Trung Quốc chưa đưa giàn khoan Hải Dương 981 cắm sâu vào trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, đưa hàng trăm tàu, có cả tàu chiến, máy bay có cả máy bay quân sự ngày đêm uy hiếp tàu cảnh sát biển và tàu cá ngư dân ta. Đó là thời đoạn chưa có chuyện Dương Khiết Trì sang Việt Nam mà theo Hoàn Cầu thời báo là nhằm răn dạy Việt Nam, “đứa con hoang đàng biết trở về”! 

Mới đây, Trung Quốc vừa công bố bản đồ mới “10 đoạn” bao gồm Hoàng Sa, toàn bộ Trường Sa và 80% Biển Đông. Vậy là họ chỉ còn chực chờ thời cơ để dùng vũ lực chiếm trọn những vùng biển đảo của Việt Nam. Đó là thủ đoạn ngàn đời của bọn bành trướng phương Bắc, từ Tàu Hoàng đế cho đến Tàu Tưởng, Tàu Mao. Hãy nhớ: Năm 1946 lợi dụng lúc chúng ta phải đối phó với Pháp, Tàu Tưởng chiếm đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, đảo Ba Bình thuộc Trường Sa. Năm 1950 Tưởng thua chạy rút bỏ cả hai nơi.

 Năm 1956, lợi dụng quân Pháp rút đi, Tàu Tưởng chiếm lại Ba Bình, Tàu Mao chiếm lại Phú Lâm. Tháng 1-1974, lợi dụng Việt Nam Cộng hòa suy yếu, Tàu Mao chiếm toàn bộ phần còn lại của Hoàng Sa. Năm 1988 lợi dụng chúng ta giúp bạn Campuchia, chúng tấn công Trường Sa giết 64 hải quân ta, chiếm 7 đảo và bãi đá thuộc Trường Sa.

Sau thỏa hiệp Thành Đô 1990, chúng ta cứ tưởng đã cầm chắc “16 chữ vàng” và “4 tốt” sẽ đảm bảo “Sau kiếp nạn anh em còn đó. Trông nhau cười thù oán sạch không” (Thơ Giang Vĩnh đời Thanh. Giang Trạch Dân đọc tặng Nguyễn Văn Linh tại Thành Đô). 

Quá vui mừng, Nguyễn Văn Linh đáp lại cả bốn câu thơ tiếng Tàu, câu thứ tư là: “Thiên tải tình nghị hựu trùng kiến”. (Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại). Nào hay đã bị chúng cho một quả lừa! Năm 2007, Trung Quốc bắt đầu bắn giết, bắt ngư dân ta đòi tiền chuộc. Ngày 26-5-2011, một bước ngoặt mới, chúng cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam đang thăm dò trong vùng biển đặc quyền kinh tế của mình. Tân Hoa Xã còn lớn tiếng: “Việt Nam láo xược xâm phạm vùng biển của Trung Quốc”. Thời báo Hoàn Cầu dọa sẽ “lấy máu Việt Nam tế cờ cho cuộc Nam tiến”.

Phản ứng hành động láo xược của Bắc Kinh, ngày 10 tháng 7-2011, hàng ngàn người Việt Nam, gồm các lão thành cách mạng, trí thức, đảng viên và nhân dân trong, ngoài nước ký “Bản kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.” Đề mục thứ nhất của Bản kiến nghị là “I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe dọa nghiêm trọng”. Câu kết của Đề mục là: “Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới!”.

Bản kiến nghị, đã mô tả rất rõ bộ mặt của kẻ thù. Tiếc thay, đám mây mù ý thức hệ vẫn che mắt nhiều người. Từ đó đến nay có thể kể không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp của nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam ca tụng mối quan hệ Việt – Trung. Đáng lo nhất là từ năm 2009, mỗi năm Bộ Quốc phòng đều cử một đoàn sĩ quan cao cấp sang học tập ở Học viện chính trị Tây An của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Bởi đặt hết lòng tin vào “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cho nên ngày 1-5-2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan khổng lồ đặt xuống vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì chúng ta hoàn toàn bất ngờ! Phải mất đến 5 ngày sau, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh mới có cuộc điện đàm với Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Mất 6 ngày sau, chiều ngày 7-5, mới có cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao. Từ đó đến nay, báo chí và các phương tiện truyền thông đã có những lời vạch rõ mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, mà chỉ mấy tháng trước đây thôi, nếu nói như vậy đã bị coi là có tội. 

Tuy vậy, lòng dân vẫn chưa yên, bởi còn quá nhiều âu lo chưa được giải tỏa:
Phát ngôn của những người có trọng trách rất so le nhau. Trong khi Thủ tướng nói rõ ràng, mạnh mẽ về chủ quyền bị xâm phạm thì Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng huống chi là các nước láng giềng […] Việt Nam và nước bạn Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển đảo, nên đôi khi cũng có va chạm […]”. 

Người dân không khỏi đoán già đoán non: Liệu lãnh đạo nước ta có thống nhất với nhau, thực tâm kiện Trung Quốc, hay chỉ chống đỡ trước sự phẫn uất của nhân dân và bảo vệ tính chính danh của Đảng? Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, Chủ tịch Hội Khoa học, Kỹ thuật và Kinh tế biển TP HCM, đặt câu hỏi với Chủ tịch nước: “Nhân dân, đặc biệt là trí thức, đặt vấn đề Đảng, Nhà nước ta nhìn nhận quan hệ thực chất với Trung Quốc như thế nào?

 Có còn là đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt nữa không? Hay đây là chiêu bài được nêu lên nhưng thực tế họ, Trung Quốc không có cái gì tốt đối với chúng ta cả?”. Chủ tịch nước có nhiều ý kiến tích cực khẳng định chủ quyền đất nước, nhưng cử tri chờ đợi và bị hẫng hụt bởi ông không trả lời câu hỏi rất quan trọng đó. Chủ tịch nước nhận định rất đúng rằng “tình hình sẽ còn gay gắt, phức tạp hơn chỉ trừ khi nào họ nói họ từ bỏ đường chín đoạn hoặc chúng ta từ bỏ chủ quyền – mà điều này chắc chắn không người dân Việt Nam nào chấp nhận”. Nhưng sau đó ông lại cho rằng: “Phải kiên trì đấu tranh, năm nay không xong thì năm tới, 10 năm này không xong thì 10 năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu”. 

Thưa Chủ tịch, nói như vậy chỉ chứng tỏ được sự kiên trì, chứ không thực tế, do đó không đem lại hi vọng và niềm tin. Ông bà chúng ta có câu “Để lâu cứt trâu hóa bùn”. Và luật pháp quốc tế cũng thế, chúng ta chỉ còn 10 năm nữa là hết thời hiệu để kiện Trung Quốc đòi chủ quyền Hoàng Sa. Mọi người Việt Nam đang sống phải nhận lấy trách nhiệm của thế hệ mình đúng như lời dạy của Đức Trần NhânTôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, quyết không để lọt vào tay kẻ khác”! Chúng ta không được phép trao gánh nặng lại cho con cháu đời sau để chúng phải bó tay, không thể giải quyết! Mới đây giáo sư Thayer cảnh báo: “Việt Nam phải lên tiếng ngay bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi”.

Chúng ta quá chừng mực, thậm chí e dè khi lên án hành động gây hấn, xâm lược của Trung Quốc, trong khi đó lại muốn các nước ASEAN, Mỹ và phương Tây phải lớn tiếng lên án Trung Quốc bênh vực Việt Nam. Ngày 5-6, tạp chí Cộng sản đăng lại bài “Cần có sự can thiệp của Mỹ trong tranh chấp ở Biển Đông” (năm ngày sau rút xuống). Ngày 24-6 nguyên đại sứ Việt Nam tại EU Tôn Nữ Thị Ninh nói với hãng tin Đức DW: “EU phải hiện diện, cất tiếng nói rõ ràng hơn, to hơn và ít nhất cũng gọi đúng tên các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông”. 

Bị cướp vào nhà, lại bảo chúng như người trong gia đình cũng có lúc bất hòa, nhưng lại đòi hàng xóm phải gọi chúng đúng là kẻ cướp và đuổi chúng giùm! Không muốn làm đồng minh với bất cứ nước nào, nhưng lại muốn các nước phải bảo vệ mình như một đồng minh! Làm được điều đó còn khó hơn là hái sao trên trời!

Vì sao Trung Quốc chọn thời điểm 1-5-2014 đặt giàn khoan vào sâu trong vùng đặt quyền kinh tế của Việt Nam? Trước đó không lâu, Trung Quốc gây căng thẳng với Philippines, rồi với Nhật ở biển Hoa Đông, làm như chiến tranh sắp nổ ra ở đó. Dương Đông kích Tây và đánh vào chỗ bất ngờ, vốn là binh pháp Tôn Tử của Tàu. 

Từ lâu chúng đã xác định hướng bành trướng là phía Nam, mấu chốt là Việt Nam. Lúc này Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng, nguy hiểm nhất là khủng hoảng niềm tin, và về đối ngoại cũng là lúc cô đơn nhất. Mỹ đang bận rộn chuyện Ucraina. Mặc dù từ năm 2013, đã có lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nhưng đến chuyến công du tháng 4-2014 tới bốn nước châu Á, Tổng thống Obama vẫn không đến Việt Nam và Mỹ vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. 

Còn nước Nga mà Việt Nam coi như đồng minh cũ và đặt nhiều hi vọng được che chở thì đang khẩn trương chuẩn bị tập trận với Trung Quốc! Vậy thì Trung Quốc, đồng minh lớn nhất và duy nhất của Việt Nam, bất ngờ chĩa mũi giáo vào Việt Nam, đâu còn phải sợ ai!
Hai tháng qua, chúng ta trấn an mình bằng dư luận quốc tế, mà phần lớn người ta chỉ là yêu cầu hai bên giải quyết bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xưa nay bọn xâm lược không hề sợ dư luận, chúng chỉ sợ thua trận và thiệt hại kinh tế. Do đó, từ thượng cổ tới hiện đại, phương Đông cũng như phương Tây, trong tất cả các cuộc chiến tranh giành giật đất đai, người ta đều tìm kiếm đồng minh. 

Trung Quốc đã có những bậc thầy về tổ chức đồng minh với các chiêu “hợp tung”, “liên hoành”. Tôn Tử, tác giả bộ binh pháp lừng danh, là người giúp vua Ngô liên minh với hai nước nhỏ là Đường và Thái, nhờ đó chỉ với ba vạn quân, đã có thể đánh bại 25 vạn quân nước Sở. Ngày nay, dù xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, nhưng ở các vùng nóng đều có thể thấy sự tìm kiếm đồng minh. Nước ta, ngay khi đang “một cổ hai tròng”, Việt Minh đã “gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít” nhờ đó mà có toán “Con nai” của Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc huấn luyện cho quân giải phóng của Võ Nguyên Giáp. Rồi cả hai cuộc kháng chiến, Việt Nam đều dựa vào đồng minh để giành được chiến thắng. 

Chúng ta có thể tìm thấy nhiều bài học bổ ích trong việc chọn đồng minh của các nước láng giềng Nhật, Hàn, Philippines. Cuối thế kỷ trước, cả ba nước này đã từng muốn nới lỏng, hoặc thoát dần khỏi quan hệ đồng minh với Mỹ: Nhật đặt thời hạn cho Mỹ rút quân khỏi Okinawa. 

Hàn yêu cầu Mỹ có kế hoạch giảm số quân đang có mặt ở nước này. Phi đòi lại cảng Subic và các căn cứ quân sự. Nhưng khi Trung Quốc trỗi dậy, đe dọa với láng giềng thì lập tức cả ba nước nói trên đều nhanh chóng thay đổi quyết sách chiến lược, ráo riết mời Mỹ gấp rút trở lại. 

Do đó, Mỹ tuyên bố quần đảo Senkaku được che chở bằng thỏa thuận quân sự giữa Washington với Tokyo. Mới đây, Tổng thống Obama nói bất cứ nơi nào trên thế giới khi các đồng minh của chúng ta bị đe dọa thì quân đội Mỹ buộc phải can thiệp. Tháng 4-2014 Mỹ viện trợ cho Philippines 50 triệu USD, riêng hải quân được cho thêm 40 triệu USD và 3 tàu tuần tra lớn lớp Hamilton… Ba nước nói trên đâu có vì chọn đồng minh chiến lược mà họ bị mất độc lập dân tộc? Phải chăng đã đến lúc chúng ta không nên khư khư “Việt Nam không liên minh với một nước để chống nước thứ ba”? Tình thế đang đòi hỏi: “Việt Nam cần phải tìm mọi cách để liên minh được với các nước để chống lại kẻ nhất quyết sẽ xâm lược đất nước mình”.

Tuy nhiên chớ tưởng chỉ cần chúng ta muốn liên minh với nước nào đó thì ắt được người ta đón nhận. Từ ngàn xưa, các nhà chiến lược đều có tiêu chuẩn để chọn đồng minh. Tôn Tử cho rằng “chưa biết ý đồ chiến lược của một nước thì không thể tính đến chuyện kết giao. ” Ông cho rằng một quốc gia hùng mạnh không phải vì có một đội quân lớn mà là trước hết, phải là quốc gia biết lấy chữ “đạo” làm đầu, tức là có “Một nền chính trị hợp lòng dân, nhờ đó mà vua tôi đồng tâm, nhất trí”. Trần Hưng Đạo của ta nói “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rể, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước vậy”. 

Một người biết lắng nghe và coi trọng ý kiến của những nông dân đan giỏ, mò tôm, thuần hóa voi như với Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng thì chữ “sức dân” của ông phải được hiểu là gồm cả tâm, trí và lực. Ngày nay, Mỹ và các nước phương Tây đặt tiêu chuẩn cao nhất để chọn đồng minh là dân chủ và nhân quyền. Lắm khi vì lợi ích trên bàn cờ chính trị, các nhà cầm quyền đã châm chước khi xét tiêu chuẩn đối với các quốc gia mà họ cần lôi kéo, nhằm cô lập đối thủ nặng ký và hung bạo. 

Tuy nhiên điều ấy có thể bị nghị viện và nhân dân nước họ phát hiện, phản đối. Quan hệ hợp tác Việt – Mỹ đã phát triển nhiều mặt, nhưng cho đến nay, Mỹ vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, chưa công nhận Việt Nam thực sự có nền kinh tế thị trường. Vậy mà, Foreign Policy (Chính sách Ngoại giao), một tạp chí có tiếng của Mỹ, số ra ngày 1-2-2011 có bài: “Các đồng minh đáng xấu hổ của Hoa Kỳ”, chỉ trích chính phủ Mỹ quá dễ dãi đối với nhiều hành động vi phạm nhân quyền của Việt Nam! Tại sao vậy?
Bởi vì thật trớ trêu là chính sách đối nội và đối ngoại của nước ta giống hệt Trung Quốc, bệnh trạng tham nhũng của hai bên cũng hết sức giống nhau. Hai nước có chung một lập luận về “các thế lực thù địch từ Mỹ và phương Tây lợi dụng dân chủ và nhân quyền âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa”. Thật ra, không hề có cái gọi là dân chủ và nhân quyền của phương Đông, hoặc của riêng Trung Quốc và Việt Nam! Nước ta là thành viên của Liên Hiệp Quốc.

 Nhà nước ta đã cam kết thực hiện Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước của Liên Hiệp Quốc. Vấn đề là Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu các điều khoản của Tuyên ngôn và các Công ước của Liên Hiệp Quốc không giống cách hiểu của hơn 100 quốc gia khác trên thế giới. Rất dễ dàng để dẫn ra vô vàn ví dụ về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình, bầu cử và ứng cử… Nhưng chỉ xin nêu một ví dụ về quyền tự do ngôn luận mà theo Voltaire “[…] là nền tảng của tất cả các quyền tự do khác. Không có tự do ngôn luận sẽ không có các quốc gia tự do”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Nhà nước Việt Nam đã ký kết gia nhập ngày 24-9-1982. 

Nhà xuất bản TP HCM xuất bản năm 1997) ở Điều 19 với nội dung như sau:
1- Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.
2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.
3- Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:
a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;
b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.

Hơn 100 quốc gia đều hiểu nội dung của Điều 19 là: Mọi công dân đều có quyền phát biểu quan điểm của mình đối với mọi học thuyết, mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục mà không bị quy chụp, đàn áp, buộc tội. Tức là mọi người có quyền không đồng ý đối với một hệ tư tưởng, nghị quyêt của đảng cầm quyền, chính sách của chính phủ, khi nhận thấy nó có hại cho nhân dân, đất nước. Trong ngày nhận chức nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Obama nói: “Một chính quyền không phải đối mặt với một giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ, đó không phải lựa chọn của nước Mỹ!”. 

Mọi công dân đều có quyền tìm kiếm, nhận tin tức bao gồm những luận điểm mới, học thuyết mới và phổ biến cho mọi người bằng mọi hình thức. Mọi công dân đều có quyền xuất bản báo chí và báo chí chỉ trung thành với công chúng, với dân tộc, tôn trọng sự thật, không bị kiểm duyệt, không bị buộc phải viết theo định hướng, nghị quyết, không bị bưng bít thông tin vì lợi ích nhóm, vì lợi ích của đảng phái, kể cả Đảng cầm quyền. (Chỉ trừ hai điểm a và b nói trên).

Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu Điều 19 giống nhau: Mọi công dân phát biểu ý kiến không được trái với quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng lãnh đạo. Báo chí là công cụ của Đảng phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng lên trên hết, phải lấy nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ và tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng làm thước đo hiệu quả của báo chí. Phó Trưởng ban Tuyên Giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ nói trong cuộc hội thảo quốc gia về Đạo đức nghề báo: “Cần tăng cường giáo dục đạo đức cho sinh viên báo chí, cho phóng viên trẻ; nâng chất lượng đầu vào đối với sinh viên báo chí, thậm chí “phải xét cả yếu tố nhân thân tương tự như với sinh viên vào các trướng công an, quân đội””. (báo Tuổi Trẻ ngày 12-10-2012). 

Trong dịp kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6 vừa qua, suốt một tuần, đài truyền hình HTV9 của TP HCM mở đầu bằng bài hát với điệp khúc: “Nhà báo, nhà báo Việt Nam, một lòng trung thành với Đảng!”. Tư nhân không được phép ra báo, vì e rằng sẽ làm rối dư luận xã hội. Ban Tuyên giáo của Đảng có trách nhiệm chỉ đạo báo chí thực hiện định hướng tuyên truyền từng thời kỳ, việc nào cần phải nói mạnh, nói kỹ, việc nào không nên nói, không được phép nói. Không chấp nhận có báo tư nhân.
Tình hình phát triển đất nước hiện nay, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Động lực mà những cải cách trước đây đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển” và “Nguồn động lực mới phải đến từ Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”. Đúng vậy, vấn đề là phải dám quyết tâm thực hiện, bởi không còn thì giờ để chần chừ nữa! Nhà nghiên cứu người Pháp Valérie Niquet cho rằng Trung Quốc đang bị suy yếu từ bên trong, cho nên cố thực hiện bành trướng để kích thích chủ nghĩa dân tộc, hòng tìm lại tính chính đáng của Đảng Cộng sản đã bị hao mòn. 

Trong khi đó, tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh (Jane’s Intelligence Weekly ngày 27-6-2014) lại có nhận định: “Tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam”; bởi vì: “Tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam là dựa vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc”. Ngày nay, Đảng đang bị đứng trước một câu hỏi: “Phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam không có đủ khả năng đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc?” Trong dân gian Việt Nam đang lan truyền hai câu có hàm ý như thế: “Đi với Tàu thì mất nước, nhưng còn Đảng. Đi với Mỹ thì còn nước, nhưng e sẽ mất Đảng”. Phải giải quyết dứt khoát vướng mắc tư tưởng này thì mới có thể yên lòng đổi mới thể chế, tìm được đồng minh vì sự nghiệp chống bành trướng Bắc Kinh, bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân bao giờ cũng rất tinh tường và công bằng, nếu một đảng dám đặt sự tồn vong của Tổ quốc lên trên vận mệnh của mình thì nhất định sẽ được nhân dân bảo vệ, tin yêu.

 Nhân đây xin nhắc lại, một chuyện rất đáng nhớ: Năm 2010, với cương vị Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới Myanmar, chuyển thông điệp ASEAN cho các tướng lĩnh quân phiệt cầm quyền: “Mong muốn các nhà lãnh đạo Myanmar triển khai có hiệu quả lộ trình dân chủ, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ với sự tham gia của tất cả các đảng phái, qua đó sớm ổn định để phát triển đất nước”. Các tướng lĩnh cầm quyền Myamar đã nhanh chóng nhận thức, đó là con đường duy nhất để đưa đất nước thoát khỏi sự o ép của Trung Quốc. 

Họ không ngần ngại từ bỏ chế độ độc tài quân phiệt, đưa những tù nhân chính trị suốt hàng chục năm đối lập như bà Aung San Suu Ky lên địa vị đối tác, cùng ngồi với nhau bình đẳng bàn việc nước; quyết định xóa bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, rồi cho xuất bản báo chí tư nhân; đặc biệt là quyết định hủy bỏ dự án đập thủy điện của Trung Quốc 3,6 tỉ USD. Sau cải cách vĩ đại nói trên, Myanmar được Tổng thống Obama và nhiều nguyên thủ quốc gia tới thăm, ký kết viện trợ.

Chẳng lẽ, một Đảng vốn “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” mà ngày nay trước vận nước hiểm nguy lại không thể chọn một hành động cao cả ngang tầm với các tướng lĩnh độc tài quân phiệt Myanmar?
Ngày 30-6-2014
T. V. C.


Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link