Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, August 2, 2014

Lịch sử lâu dài của Trung Quốc không theo dự báo sụp đổ

Lịch sử lâu dài của Trung Quốc không theo dự báo sụp đổ


Ba mươi sáu năm sau khi “nhà cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông qua đời vì một cơn đau  tim, bỏ lại một đất nước thiếu vắng lãnh đạo trong một thời gian ngắn vào thời điểm khủng hoảng và không chắc chắn, con tàu của nhà nước Trung Quốc (TQ) vẫn tiếp tục đi tới. Nhưng nó có còn trong tình trạng ra khơi được không? Các nhà quan sát đang hăng hái tranh luận về tính chính đáng của Đảng Cộng sản TQ, nó đã kéo dài rất lâu, liệu còn có thể kéo dài nữa không. Rốt cuộc, chính phủ ngày hôm nay đặt cơ sở tính chính đáng trên sự tăng trưởng kinh tế, sự tăng trưởng này cũng có thể đang bị chậm lại. Chúng ta không thể dự đoán tương lai, nhưng chúng ta có thể xem xét quá khứ, và lịch sử TQ cho thấy rằng ngay cả khi Đảng Cộng sản phải đối mặt với cuộc khủng hoảng về tính chính đáng, thì cũng sẽ không có mâu thuẫn để nó tồn tại qua cơn bão cụ thể này.

Những nhà quan sát về TQ kiên trì cho rằng đất nước này phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tính chính đáng đang bị khập khiễng, có lẽ nổi tiếng nhất là Gordon G. Chang, tác giả của The Coming Collapse of China, cũng như nhà khoa học chính trị Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei). Vì họ thấy rằng, đơn giản là có quá nhiều mâu thuẫn nội tại trong mô hình TQ để nó khó có thể tồn tại.

Ngược lại, Henry Kissinger và Martin Jacques – tác giả cuốn When China Rules the World (Khi TQ thống trị thế giới) đã lập luận rằng, dù tốt hơn hay tồi tệ hơn, Đảng Cộng sản vẫn ở trong tình trạng tốt. Và nhà triết học Daniel A. Bell làm việc ở Bắc Kinh, thậm chí còn lạc quan hơn, ca ngợi mô hình TQ trên trang op-ed (trang ý kiến) của tờ New York Times và các nơi khác. Ông miêu tả mô hình TQ là ổn định và hiệu quả, được các giá trị Nho giáo dẫn đắt. Những người ủng hộ này thường thừa nhận rằng chính phủ TQ có thể đã sử dụng một biện pháp tô vẽ nào đó – một sự cải cách đây đó – nhưng cho rằng về cơ bản nó vẫn vững và vẫn trong tình trạng tốt hơn so với nhiều chính phủ khác.

Vậy thì ai đúng đây? Theo một nghĩa nào đó thì cả hai phe đều đúng. Theo các chuyên gia, trong lịch sử TQ hiện đại, nhiều tiền lệ cho thấy rằng, mặc dù Đảng Cộng sản đang vật vả để duy trì tính chính đáng, nó có thể vẫn còn nắm quyền ít nhất là trong tương lai trước mắt.

Trong thế kỷ 18, một nhà ngoại giao người Anh là Bá tước George Macartney đã tới TQ. Đó là thời gian, giống như bây giờ, người nước ngoài đang bị giằng xé giữa ngưỡng mộ và bêu xấu hệ thống chính trị của đất nước này. Macartney so sánh TQ với một tàu chiến hạng nhất – cho một quốc gia không thực sự được xác định nhờ lực lượng hải quân, TQ dường như thu hút một tần số kỳ quặc cao về phép ẩn dụ về hàng hải — đã ở trong tình trạng tồi tệ. Ông nói công việc khó khăn của các “sĩ quan có khả năng và thận trọng”, đã xoay xở để giúp con tàu cực lớn này “còn nổi được”. 

Nhưng không thể làm cho nó còn đủ điều kiện đi biển lâu dài, ông dự đoán, vì gỗ của nó đã mục nát và các tuyến đường trước mặt là quá nguy hiểm. Ông viết rằng “con tàu có vẻ vẫn có thể không chìm hoàn toàn, nó có thể trôi dạt một thời gian như một con tàu bị đắm, và sau đó sẽ rả ra thành từng mảnh tắp vào bờ, nhưng không bao giờ có thể được đóng lại trên thân sườn cũ”, và thêm rằng ông có thể sẽ không ngạc nhiên nếu điều cuối cùng đó sẽ xảy ra khi ông còn sống.
Lord Macartney, được biết đến nhiều nhất do nỗ lực không thành trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Anh và triều đại nhà Thanh vào thập niên 1790, đã không bao giờ nhìn thấy sự suy tàn của TQ như ông dự đoán. Ông mất vào năm 1806, còn triều đại nhà Thanh kéo dài từ 1644, vẫn sống tiếp một thế kỷ nữa cho đến năm 1912.

Dự đoán sai của Macartney cung cấp một viễn cảnh hấp dẫn và chiếu sáng đối với các dự đoán tương tự về sự suy tàn. Rốt cuộc, ông không thực sự sai về những thách thức mà các hoàng đế gốc Mãn Châu của triều đại nhà Thanh phải đối mặt. Nhận xét sâu sắc đáng lưu ý của ông dự đoán sự lan tràn của nạn tham nhũng chính trị và tiềm năng nổi loạn của những người không phải người Mãn, những người tức giận vì bị ách thống trị của các nhà cai trị “phiên di”. Đúng là triều đại nhà Thanh sụp đổ, nhưng chỉ sau khi sống thêm không những chỉ thế hệ Macartney mà còn nhiều thế hệ con cháu sau này của ông.

Đáng ngạc nhiên, những thách thức của TQ và những thách thức mà triều đại nhà Thanh đối mặt và đe dọa tính chính đáng của họ trở nên trầm trọng hơn sau dự đoán của Macartney. Các cuộc khủng hoảng đáng kinh ngạc nối tiếp nhau, bao gồm một loạt các cuộc bạo loạn trong nước, từ các cuộc nổi loạn quy mô nhỏ đến các cuộc nổi dậy tôn giáo rộng lớn. 

Loạn Thái Bình thiên quốc, cùng thời với cuộc nội chiến Hoa Kỳ, nhưng có số người chết cao hơn gấp nhiều lần (khoảng 20 triệu người bị giết, so với 750 ngàn trong Nội chiến Mỹ), phải hao tốn rất nhiều để ngăn chặn đến nỗi khiến cho nhà Thanh gần như phá sản. 

Triều đại này vẫn sống sót qua hai trận thua bẹp dí dưới bàn tay của quân lính và tàu chiến nước ngoài, lần đầu trong Chiến tranh Nha phiến (1839-1842) và lần sau trong chiến tranh Anh-Trung (1856-1860). Bên cạnh những tổn thất khác, những cuộc chiến tranh này huỷ hoại tính chính đáng mà nhà Thanh và các đế chế trước đó TQ đã sử dụng trong nhiều thế kỷ: người chiếm giữ ngôi rồng có thiên mệnh cai trị một xã hội có tổ chức theo mọi cách là hùng mạnh nhất trên trái đất.

Trường hợp nhà Thanh là một lời nhắc nhở rằng một số chính phủ TQ đã có thể kéo dài trong nhiều thế hệ vào lúc có tham nhũng sâu sắc, tính chính đáng suy yếu, cùng các thách thức lớn trong và ngoài nước. Và tất nhiên, chỉ sự kéo dài không thôi thì không phải là bằng chứng về tính chính đáng.

TQ phải vật lộn để duy trì cả tính chính đáng lẫn sự ổn định trong giai đoạn đặc biệt khó khăn kéo dài từ đầu thập niên 1930 đến cuối thập niên 1940. Lúc đó, cũng giống như bây giờ, TQ được điều hành bởi một tổ chức độc tài có kỷ luật chặt chẽ là Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, được nhiều người xem như là tham nhũng và gia đình trị. Cũng vậy, lúc đó các nhà phê bình bên ngoài phàn nàn rằng, các nhà lãnh đạo đảng bấy giờ có ít điểm chung về lý tưởng với người đứng đầu trước đây của họ.

 Bây giờ, những người “cộng sản” tư bản chủ nghĩa tương phản với người cộng sản thực tế Mao, lúc đó, Tưởng [Giới Thạch] có vẻ yếu và thiếu tầm nhìn so với người tiền nhiệm cách mạng đáng kính Tôn Dật Tiên.

Hy vọng chống lại nhận thức rằng tất cả những gì họ quan tâm là nắm giữ quyền lực, chế độ Tưởng Giới Thạch đã viện dẫn các giá trị trật tự Nho giáo – cũng giống như nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản hậu Mao đã và đang làm. Họ cũng nhấn mạnh sự cần thiết về một chính quyền trung ương mạnh. Nếu Quốc Dân đảng sụp đổ thì TQ sẽ bị rơi trở lại vào sự hỗn loạn của thời đại lãnh chúa trước khi Tưởng Giới Thạch nổi lên. Một đất nước bị cát cứ cũng sẽ dễ bị để trở thành một “quốc gia bị đánh mất”, thuật ngữ dùng để mô tả số phận của vùng đất thuộc địa như Ấn Độ.

Ý tưởng chính đáng hóa này vẽ ra một Quốc Dân đảng không quá hơn một nhóm được ngưỡng mộ như một bức tường thành chống lại tương lai khủng khiếp có thể xảy ra, có thể dường như khá quen thuộc với ngày nay. Các nhà lãnh đạo TQ đã lặp đi lặp lại các lập luận tương tự, đặc biệt trong việc thanh trừng đảng viên dân tuý Bạc Hy Lai, mà họ gọi là điều cần thiết để giữ cho TQ khỏi quay ngược trở lại thời điên rồ của Cách mạng Văn hóa. Trước đó, chính phủ dẫn sự sụp đổ của Nam Tư trước đây và Iraq sau này để lập luận rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa độc đoán không dẫn đến sự ổn định và tự do mà dẫn đến sự bắt nạt quốc tế, giải quyết ân oán bằng bạo lực và mất đoàn kết.

Quả vậy, Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch vào năm 1949 đã bị Đảng Cộng sản lật đổ, và đảng này vẫn còn cai trị cho đến hôm nay. Các nhà quan sát nước ngoài hồi năm 1937 hoặc 1947 tuyên bố rằng Quốc Dân đảng đã mất đi tính chính đáng và sắp sụp đổ hóa ra đã đúng, nhưng họ cũng có thể dễ dàng bị sai.

 Dù chính phủ có thể bị mất uy tín và bị tấn công tới mức nào, nếu lịch sử chỉ đi khác một chút, Quốc Dân đảng cũng có thể nắm giữ quyền lực lâu hơn. Tất nhiên lịch sử phản thực tế thì không thể suy đoán được. Tuy nhiên, cũng không phải quá sức để tưởng tượng rằng, nếu các chiến dịch khủng bố trắng của Quốc Dân đảng cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 thành công trong sứ mệnh nghiệt ngã “tận diệt” Cộng sản, Tưởng Giới Thạch có thể đã nắm giữ quyền lực ít ra là đến hết thập niên 1950. 

Không phải vì đảng của ông được lòng công chúng, mà bởi vì nó được toàn thể công dân nước này chấp nhận như là tổ chức duy nhất có thể mang lại sự ổn định sau nhiều thập kỷ nội chiến và đánh nhau với nước ngoài.

Có lẽ không có cách nào để biết được, liệu cuối cùng thì lịch sử sẽ phán xét lãnh đạo hiện nay của TQ giống như các hoàng đế nhà Thanh kéo dài quá lâu hoặc Quốc Dân đảng vắn số trong những năm từ giữa đến cuối thập niên 1940.

 Điều gì cũng có thể xảy ra. Còn bây giờ, Đảng Cộng sản TQ cho thấy các nhà quan sát đã dự đoán sự sụp đổ của nó sắp xảy ra trong nhiều năm là sai lầm. Thích nghi đáng ngạc nhiên và tự chẩn đoán có ý thức, chế độ này dường như nhận thức sâu sắc về những tiền lệ của lịch sử, cả của TQ lẫn quốc tế.

Như Đảng Cộng sản dường như nhìn thấy, triều đại nhà Thanh quá yếu khi đối mặt với sức ép nước ngoài và thất bại trong việc ngăn chặn mạng lưới bè phái bất bình, bao gồm cả nhóm huynh đệ chống Mãn Châu uống máu ăn thề (hoặc “các hội kín”) tham gia vào cuộc cách mạng 1911. Bốn thập kỷ sau đó, Quốc Dân đảng thất bại trong việc dẹp yên sự phản kháng chính trị của các nhóm này. Đối với các nước Leninist Trung và Đông Âu mà Bắc Kinh cần mẫn nghiên cứu về sự sụp đổ của chúng, các nước này đã không bao giờ tìm cách xoay xở để nâng cao mức sống như họ đã hứa.

Như vậy việc nắm giữ quyền lực của Đảng Cộng sản có ý thức tới lịch sử, ám ảnh bởi sự ổn định, có vẻ ít bí ẩn hơn khi nhìn trong bối cảnh lịch sử này. Và một số hành động của họ, chẳng hạn như vụ đàn áp Pháp Luân Công hoang tưởng và tàn bạo năm 1999, dường như ít đáng ngạc nhiên hơn.

Tuy nhiên, không phải mọi nỗ lực của ĐCSTQ đều quá phòng thủ về bản chất. Đảng cũng đã thực hiện một số thay đổi tích cực, chẳng hạn như nới lỏng kiểm soát cuộc sống riêng tư, giúp nâng cao mức sống và tăng ảnh hưởng toàn cầu của TQ, tất cả những điều này đều có khả năng làm cho người dân TQ dễ dàng dung túng, thậm chí ủng hộ sự cai trị của Đảng hơn.

Đảng có tài thích ứng từng bước, thay đổi tiến trình chút ít tại một thời điểm. Điều này có thể có tác dụng một thời gian, thậm chí một thời gian dài, nhưng điều đó không có nghĩa là nó có thể kéo dài vô hạn định. Cả hai chế độ gần đây nhất của ĐCSTQ đã phải vật vả để duy trì tính chính đáng của họ, cuối cùng đã cố tái tạo toàn bộ chính mình. Những năm đầu 1900, trong một nỗ lực không thành công để vượt qua các lực lượng cách mạng từ bên trong, triều đại nhà Thanh đã bãi bỏ các kỳ thi Nho giáo chính đáng hóa triều đại trong hơn hai thế kỷ và đã cố tự tái tạo lại thành một chế độ quân chủ lập hiến. Đài Loan, dưới sự kiểm soát của Quốc Dân đảng từ cuối thập niên 1940, bắt đầu chuyển đổi thành một nền dân chủ phát triển mạnh dưới sự coi sóc của con trai Tưởng Giới Thạch. Hiện nay, một tổng thống của Đảng này cai trị Đài Loan không phải với tư cách một nhà độc tài nhưng là một quan chức được bầu.

Quân đội TQ hiện nay đủ mạnh và nền ngoại giao của nó cũng đủ ổn định tới mức Đảng Cộng sản không phải đối mặt với mối đe dọa thực tế nào từ bên ngoài. Trong nước, sự kiểm soát đối với xã hội đủ hiệu quả đến độ dù có bất ổn và sự bất mãn lan rộng, thì cũng không có đảng đối lập tổ chức tốt nào hay đội quân nổi loạn nào có thể thách thức chính quyền trung ương một cách nghiêm trọng. Hiện giờ, Đảng Cộng sản thấy rằng chính họ đang ở một vị trí mà các quan chức nhà Thanh phải ganh tị. Nếu muốn, họ có thể tự tái tạo với cách thuyết minh chính đáng hóa mới, hoặc thậm chí có khả năng sẽ mở đường cho một cơ cấu chính trị mới đa đảng như Quốc Dân đảng đã làm ở Đài Loan, mà không sợ bị lật đổ trong quá trình này. 

Tuy nhiên, nếu họ không thực hiện những thay đổi như vậy thì có vẻ như, có khả năng sự tham nhũng và bất đồng chính kiến nội bộ của ngày hôm nay sẽ tiếp tục chất chồng. Nếu điều đó xảy ra thì có thể chỉ là vấn đề thời gian cho đến khi bất đồng chính kiến và tham nhũng đó đạt đến mức cần thiết để kết thúc chế độ. Nhưng, như thế giới đã rút được từ dự đoán không thành của Bá tước Macartney, quá trình đó có thể mất nhiều thế hệ hơn chúng ta kỳ vọng. Ngay cả tính chính đáng của Đảng Cộng sản suy yếu tới mức làm cho nó sụp đổ đi nữa, có thể trong cuộc đời chúng ta không được nhìn thấy sự sụp đổ đó.


ĐẢNG HÃY MAU THOÁT KHỎI NGHỊCH CẢNH “HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT”!

ĐẢNG HÃY MAU THOÁT KHỎI NGHỊCH CẢNH “HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT”!

Posted by adminbasam on 31/07/2014
Blog Tễu
Mạc Văn Trang
31-07-2014

Câu chuyện dân gian “Hồn Trương Ba da Hàng thịt” chỉ dài hơn một trang sách in và có mấy nhân vật rất giản dị, nhưng với tính nhạy cảm thời đại và tài năng siêu việt, Lưu Quang Vũ đã biến thành vở kịch tầm cỡ nhân loại.

Tình cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay, giữa lý luận và hành động cũng chẳng khác nào tình cảnh “Hồn Trương Ba da Hàng thịt”, hay “Hồn Các Mác, xác Bần nông”! 

Có điều khác là “hồn” của Trương Ba hay của Các Mác (Karl Marx) vào cái xác Đảng CSVN thì nó bị cái thân xác Bần nông làm lộn tùng phèo, bát nháo, chỉ còn là những khẩu hiệu, những ước muốn viển vông, huyễn hoặc; mà “hồn” ông Trương Ba hay “hồn” Các Mác thật cũng chẳng hiểu nổi cái mớ bòng bong trong đầu đảng CSVN – thân xác Bần nông, nó là cái quỷ quái gì!

Ngay từ năm 1930 khi Đảng CSVN mới thành lập, chả biết cái “hồn” lý luận “Đấu tranh giai cấp” của ông Mác cao siêu thế nào mà vào cái “xác phàm” Đảng CSVN lại thành ra “Trí, Phú, Địa, Hào – đào tận gốc, trốc tận rễ”! Rồi đến cải cách ruộng đất “long trời lở đất” khiến hàng vạn người chết tức tưởi, vì cái mồm tố điêu, cái tay quen cướp của, giết người!

Khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, ước mơ ngàn đời của người bần, cố nông vừa có, chưa kịp sướng, thì Đảng thu gom luôn ruộng đất vào hợp tác xã… cho trắng tay! Kết thúc hơn 20 năm cao trào hợp tác hóa nông nghiệp, thắng lợi của “Đấu tranh giữa hai con đường” là “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” khủng khiếp. Hợp tác xã tan vỡ, Đảng phải “Đổi mới”, “cởi trói”, chia ruộng cho nông dân để khuyến khích nông nghiệp phát triển. Nhờ đó Việt Nam không còn phải “vác rá đi xin bo bo và ngô cho súc vật” về ăn, mà còn xuất khẩu gạo nhất nhì châu Á… 

Thế rồi đùng cái, Đảng lại “thu hồi đất”, cưỡng chế khắp nơi, để trao đất cho các “tư bản mới nổi” và nông dân “thi đua” khiếu kiện thấu trời!?…
Cái lý luận “Làm chủ tập thể”, “Sản xuất lớn XHCN”, “Toàn dân bàn việc nước, sắp xếp lại giang sơn”… thành ra là nhập tỉnh, huyện, xã tùm lum, sau mươi năm tranh giành, đấu đá mệt nhoài, lại ăn mừng “tái lập” tỉnh, huyện, xã “vũ như cẫn”! Nhưng cơ mà… nhập cũng vớ bẫm, tách càng bẫm hơn, nên “cái thân xác” khỏe re, càng hăng hái tư duy “lý luận mới”… 

“Làm chủ thiên nhiên” thì “về cơ bản đã chặt phá xong rừng”, bô- xit, than, vàng, ti- tan đến cát, đá… cũng bị các loại “tặc” đào bới tung tóe, tan hoang; hầu hết các dòng sông bị chặt khúc ra làm thủy điện vô tội vạ; hầu hết ao hồ, sông suối bị ô nhiễm, bị “bức tử”! “Làm chủ xã hội” thì cả xã hội như chợ trời, đầy “con phe”, kẻ cắp, ma cô… “Làm chủ bản thân” thì càng “phê, tự phê” thì “bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên” thành “bầy sâu” lúc nhúc càng nhiều thêm! “Chủ nghĩa tập thể” lại biến thành những phe nhóm lợi ích phá nát đất nước và kỷ cương xã hội, tạo nên lối sống cá nhân tham lam vị kỷ trắng trợn chưa từng thấy trên đất nước này.

Cái lý luận về “Bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản – bằng tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng”… hóa ra lại là sau khi phá nát nền kinh tế – xã hội thì tái lập chế độ tư bản sơ khai ở Việt Nam; các quan chức cùng với những nhóm lợi ích của họ trở thành tầng lớp “tư bản đỏ”, còn nông dân, công nhân, ngư dân, diêm dân… là tầng lớp bị bóc lột tàn tệ. Nhóm người bị tha hóa, lưu manh hóa ngày càng gia tăng, hệt như F. Enghels mô tả trong “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” (năm 1844).
Cái mồm thì leo lẻo “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” thì kéo nhau đến Hội nghị Thành Đô (1990) xin làm đồ đệ cho đại ca Trung cộng; Mồm nói “Đạo đức là gốc”, nhưng quan chức suy thoái đạo đức tuột dốc không phanh! Mồm nói “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” nhưng quan chức đua nhau ăn cắp, ăn cướp, xây nhà lầu, sắm xe hơi, ăn chơi theo kiểu các ông hoàng, bà chúa… Của công bòn rút từ mồ hội, nước mắt của dân thì chi tiêu như phá, thất thoát hàng trăm tỉ, nghìn tỉ, chẳng coi ra gì! 

Ông Cụ nói: “Quân đội trung với nước…”  thì nó bẻ queo thành: “Quân đội trung với Đảng…” (?), “Công an nhân dân” thành “Công an chỉ biết còn Đảng còn mình”; Tòa án nhân dân thì xử dân như kẻ thù, xử quan chức phạm tội như người trong nhà đóng cửa bảo nhau; “Đảng ta là đạo đức là văn minh…” thì “bộ phận không nhỏ” ngày càng to, biến thành “bầy sâu” lúc nhúc mê tín, dị đoan, dắt nhau “dò đá qua sông”, đi vào ngõ cụt! Cụ bảo “Chính phủ không làm được việc thì dân đuổi đi”, nhưng nó cứ trơ ỳ ra bảo “Đảng phân công”, “Đảng quy hoạch” nên không thể từ chức! 

Cụ bảo: “Dân chủ là cho dân mở miệng ra” thì nó còng tay, bịt miệng ai dám “mở miệng” phê phán những sai lầm, tội lỗi của nó! Cụ bảo “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, nó cứ làm ngược lại!… Thế mà quanh năm suốt tháng cứ phát động, chăng đầy pa nô, khẩu hiệu rồi sơ kết, tổng kết, nêu gương… học tập, làm theo Hồ Chí Minh!

Mồm xoen xoét: “Phải phát triển nhanh và bền vững” mà làm đường giao thông đắt gấp 3 – 4 lần của Mỹ, vừa khánh thành đã lún sụt; đường ống dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội hơn một năm vỡ 9 lần, khiến bao người dân khốn đốn trong mùa hè; các công trình “Nghìn năm Thăng Long” thì mới mấy năm đã sập sệ. Biết bao nhiêu công trình ào ạt xây kém chất lượng, tranh thủ rút ruột ăn chia, nay mai hư hỏng hàng loạt, con cháu tha hồ “phá đi làm lại” và trả nợ còng lưng!… 
Tâm lý nhiệm kỳ chộp giựt, “bóc ngắn cắn dài”, “cái gì cũng ăn”, “Ăn không biết chán”, cốt “làm giàu cho con em nhóm ta, kệ cha con em chúng nó” phơi bày ra trên mọi lĩnh vực của đời sống, trước mắt bàn dân thiên hạ một cách trơ trẽn, sống sượng, lố bịch… Phát triển bền vững là những gì làm ngày hôm nay sẽ để lại cho muôn đời con cháu được hưởng phúc, hưởng lộc và không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các thế hệ mai sau. Thế mà môi trường bị hủy hoại, các công trình xuống cấp từng ngày, nợ chồng chất và “vấn đề chủ quyền đời ta không giải quyết được thì đời con, đời cháu, chắt ta tiếp tục giải quyết”!

Mồm lẻo lẻo ta khác tư bản ở chỗ “Nền kinh tế của ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước”, nhưng chẳng ai chỉ ra “cái định hướng XHCN” nó tròn méo ra sao! Lại láu cá ở chỗ, cứ cái gì “suy thoái”, “tệ nạn”, “thoái hóa, biến chất”, tóm lại là tất cả cái gì xấu xa của chế độ là đổ tại “mặt trái của cơ chế thị trường” (?). 

Nhưng lạ hơn nữa là, đã biết cái “mặt trái” của nó  đen đúa, bẩn thỉu như thế, mà các nhà lãnh đạo đến nước tư bản nào cũng khẩn khoản xin công nhận cho Việt Nam có cái “cơ chế thị trường đầy đủ”(?).

Lý luận “Ba dòng thác cách mạng của thời đại…” thì dòng thác chủ đạo “cách mạng xã hội chủ nghĩa” tan rã rồi. Mấy “nước anh em cùng ý thức hệ” thì Triều Tiên vừa cha truyền con nối kiểu vua chúa, vừa như Chí Phèo, thoát chết đói nhờ viện trợ lương thực, nhưng chỉ thích dọa đánh nhau; Cu Ba cũng đang “giành nhiều thắng lợi” bằng cách “cập nhật mô hình kinh tế” (rón rén theo kiểu tư bản) để xóa đói giảm nghèo; ông anh Trung cộng xây dựng CNXH theo màu sắc Đại Hán bá quyền, ban cho Việt Nam “4 tốt” + “16 chữ” để Đảng CSVN ngoan ngoãn thần phục, nhưng trước sự phẫn nộ của nhân dân, ông Thủ tướng phải nói “Quyết không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng lấy cái thư hữu nghị viển vông”…Thì ra suốt bao nhiêu năm nay toàn ra sức bảo vệ, gìn giữ trân trọng, ôm hôn cái thứ hữu nghị viển vông với Trung cộng, còn thực tế lại là “sống trong vòng tay của bầy yêu quái”!

Cái nhãn “Đảng cộng sản”, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là phấn đấu cho lý tưởng “Cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới”, mà “mục tiêu của giai đoạn đầu là Chủ nghĩa xã hội” mới lãng mạn, mịt mùng làm sao! Còn trong thực tế thì dân bảo: “Chúng nó ăn như Rồng cuốn, nói như Rồng leo, làm như Mèo mửa!”. Trở lại với Đảng (của những người) lao động và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi theo con đường dân chủ để sống cho tử tế, chân thật với nhân dân…
Tóm lại, hồn vía Đảng ta toàn mung lung huyễn hoặc, trong khi hành động thì theo kiểu Hành vi chủ nghĩa: Thấy kích thích thì Phản ứng (S – R). Kích thích là “phong bì”, “chỉ thị” – phản ứng là ký đại, vơ đầy túi tham; là cưỡng chế, đàn áp không cần nghĩ đến hậu họa!

Chỉ có thoát ra khỏi nghịch cảnh “ Hồn Trương ba, da Hàng thịt”, “Hồn Các Mác, xác Bần nông” mới thoát được “ngôn – hành bất nhất”, mới trở thành người BÌNH THƯỜNG để có suy nghĩ đúng đắn và nhất quán với hành động. Không “phi thường, vĩ đại, vô địch, quang vinh, muôn năm nữa”! Chỉ mong nó BÌNH THƯỜNG thôi! BÌNH THƯỜNG mới hòa đồng được với nhân dân, mới không trở thành “đứa con hoang đàng”  giữa lòng dân tộc!

Hà Nội, 30/7/2014.

Mất đi tính chính đáng có thể không đồng nghĩa với sự kết thúc của Đảng Cộng sản. Các chính phủ Trung Quốc trước đó cũng đã vượt qua tình trạng tồi tệ hơn.
Tác giả: Stephen Platt và Jeffrey Wasserstrom
Người dịch: Huỳnh Phan


NƯỚC VIỆT ĐẾN 2016

Các ngày vái Đảng, vái Bắc Kinh năm 2014-2015


NƯỚC VIỆT ĐẾN 2016

Bs.Hồ Hải

Chuyến đi Hoa Kỳ của ông bí thư thành ủy Hà Nội thay thế cho ông bộ trưởng ngoại giao Việt Nam vào ngày 21/7/2014, được giấu kín mãi đến ngày 23/7/2014 cơ quan ngôn luận chính thức lớn nhất của Việt Nam mới đưa tin, và sau đó, ngay cả VOA - Voice of America - cũng chỉ đưa tin theo báo chí Việt Nam, mà VOA hoàn toàn không có bất kỳ thông tin nào tại một đất nước tự do thông tin như Hoa Kỳ về chuyến đi này là điều cần mổ xẻ.

Cung vua phủ chúa và bộ nhất hay bộ tứ?

Nhiệm kỳ 12 của đại hội đảng cộng sản ở Việt Nam sẽ diễn ra vào năm 2016. Từ trước đến nay, cơ cấu nhân sự bộ tứ luôn được chuẩn bị từ ít nhất 20 năm, nhưng khác với Trung cộng, Việt Nam việc nhân sự chủ chốt xuất hiện vào phút 89 là điều trở thành tất nhiên suốt mấy chục năm qua.

Trong gần 10 năm qua, vai trò người đứng đầu của đảng cộng sản ở Việt Nam không còn như trước đây là một dấu hiệu thay đổi đáng ghi nhận. Ngược lại, nổi bật vai trò người điều hành hành pháp và quản lý đất nước trong cương vị thủ tướng rõ nét hơn bao giờ hết.

Cơ chế bộ tứ của đảng cầm quyền ở Việt Nam là một cơ chế tản quyền, nhưng tản quyền ấy được thể chế hóa trong một đảng tập quyền, mà không có đảng đối lập thứ hai làm tản quyền đảng cầm quyền, thêm vào đó, văn hóa duy tình, lúa nước của Việt Nam đã là nguyên nhân tai hại làm nên một nền kinh tế, chính trị Việt Nam sa vào con đường khủng hoảng hiện nay.

Hai năm trước tôi viết bài: Chuyện Đông, chuyện Tây và chuyện nước Việt để tiên đoán tình hình chính trị Việt trong tương lai. Hôm nay đã bắt đầu lộ rõ cuộc chạy đua của cung vua phủ chúa vào nhiệm kỳ tới 2016. Vấn đề quan trọng là, từ tản quyền bộ tứ để kéo chân nhau, ăn chia làm trì trệ đất nước trong một nền chính trị tập quyền, không đối thủ, hay là tập quyền nhỏ trong một cái tập quyền lớn trong tương lai mới là quan trọng.

Nếu tập quyền về một người nắm trọn quyền hành như Trung cộng, thì ai trong vị trí thủ tướng đương nhiệm và người sẽ thay thế chức tổng bí thư trong nhiệm kỳ tới sẽ nắm trọn? Mà ông bí thư thành ủy Hà Nội được xem là cơ cấu vào vị trí tổng bí thư trong nhiệm kỳ tới.

Nhưng tại sao ông bí thư thành ủy Hà Nội lại thay thế ông bộ trưởng ngoại giao trong chuyến thăm Hoa Kỳ theo lời mời đồng cấp của ông John Kerry. Ở Việt Nam, về mặt cấp bậc chính trị, thì ông bí thư Hà Nội cao hơn ông bộ trưởng ngoại giao. Nhưng ở Hoa Kỳ thì về mặt chính trị ông bộ trưởng ngoại giao đứng thứ 2 nước Mỹ. Nên không lạ, khi ông bí thư Hà Nội chỉ được các ông phó của ông John Kerry tiếp đón. 

Nhưng qua chuyến đi này, lần đầu tiên một nhân vật ở cương vị của đảng cộng sản ở Việt Nam được Hoa Kỳ chấp thuận cuộc viếng thăm, với những thảo luận mang tầm vóc nguyên thủ quốc gia, cũng là một điều đáng để bàn luận. Liệu cung vua hay phủ chúa sẽ thắng trong nhiệm kỳ tới? Liệu bộ tứ có còn tồn tại?

Khi nào Việt Nam sẽ như Miến Điện?

Có nhiều bình luận trong mấy ngày qua, Việt Nam sẽ đi theo Miến Điện, nhưng "chậm hơn 3 năm". Nhưng nếu nhìn lại, thì không phải thế. Việt Nam và Miến Điện có cùng xuất phát điểm về thời gian là năm 1990 cùng cải cách. Nhưng Miến Điện cải cách chính trị đa nguyên, đa đảng, và vẫn giữ độc quyền quân đội cầm quyền trong suốt 21 năm - 1990 đến 2011. Trong khi đó, Việt Nam chỉ cải cách kinh tế dưới màu sắc chính trị của Trung Cộng.

Vì thế, mà Miến Điện sẵn sàng từ chối nhiều dự án lớn của Trung cộng - như dự án đường ống dẫn dầu từ cảng Rangoon sang Vân Nam, và dự án đường sắt Vân Nam sang Miến Điện, v.v... Ngược lại, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng lệ thuộc nền kinh tế Trung cộng. Nên mới có câu chuyện Trung cộng ngày càng lấn sâu hơn về chuyện lãnh thổ, và biển đảo.
Miến Điện từ chối thẳng thừng dự án đường sắt và đường ống dẫn khí gas từ thành phố Côn Minh thủ phủ tỉnh Vân Nam sang thành phố biển Rangoon. Trong khí đó cộng sản ở Việt Nam thì lệ thuộc Trung cộng chỉ vì những dự án bạc cắt để ăn chia, làm phá hoại tài nguyên đất nước của tổ tiên để lại.

Ngoài ra, trong khi Miến Điện đã và đang trở thành một nền chính trị tự do dân chủ, đi đôi với nền kinh tế thị trường tự do, thì Việt Nam ngày càng rơi vào một nền kinh tế chính trị độc quyền của đảng cầm quyền thông qua hiến pháp năm 2013 vừa qua.

Hôm nay kinh tế Miến Điện đang thua xa Việt Nam, nhưng để Miến Điện bắt kịp Việt Nam về kinh tế thì chẳng mấy chốc. Vì con đường của Miến Điện đi là con đường của Nam Hàn đã đi từ thập niên 1970. Chỉ sau 4 thập niên Nam Hàn trở thành cường quốc về mọi mặt trong top 20 của thế giới.

Kinh tế là chính trị, nên mới gọi kinh tế là một ngành khoa học của nghệ thuật - Science of art. Và thế giới mới có bộ môn kinh tế chính trị học. Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị lại thúc đẩy hay kiềm hãm kinh tế. Chính trị đúng thì kinh tế khởi sắc. Chính trị sai thì kinh tế khủng hoảng, khi kinh tế khủng hoảng thì buộc chính trị phải thay đổi.

Miến Điện đã nhìn thấy rõ mấu chốt cái cần thay đổi là chính trị, chứ không phải kinh tế. Nên 24 năm trước Than Shwe đã làm cuộc cách mạng chính trị, để năm 2011 Thein Sein làm cuộc thay đổi kinh tế chính trị triệt để.

Việt Nam cũng nhìn thấy cần thay đổi, nhưng lại đi vào cuộc thay đổi kinh tế để giữ mạng sống của đảng cộng sản cầm quyền. Nên hôm nay khủng hoảng cả chính trị lẫn kinh tế, và hậu quả là, lệ thuộc Trung cộng. Nên phải ít nhất 20 năm tới thì Việt Nam mới đuổi kịp Miến Điện về cả cuộc thay đổi triệt để kinh tế lẫn chính trị, mới mong tự lực tực cường như Hàn Quốc ngày nay.

Kịch bản nào cho Việt Nam?

Người có tầm nhìn ở nước Việt hiện nay, ai cũng thấy đời sống của thể chế chính trị của Việt Nam chỉ còn tính bằng tháng. Nhưng vấn đề quan trọng bậc nhất là, khi thể chế chính trị hiện nay chết đi, thì làm sao để đất nước yên bình, mà không bạo loạn, và tệ hại hơn hiện nay?

Thống kê từ thời Lý Công Uẩn lên ngôi, và đặt Thăng Long là đất của hoàng thành, thì mảnh đất này chưa bao giờ chứa được họ nhà nào kéo dài quá 8 đời vua. Và đời vua của đảng cộng sản nắm quyền ở Việt Nam đến đời tổng bí thư của nhiệm kỳ thứ 11 này đã là đời thứ Tám!

Cuộc chạy đua của cung vua và phủ chúa đến giờ này đã bộc lộ hết tất cả những con cờ trên bàn cờ chính trị. Nhưng vì kinh tế là nền tảng quyết định cho chính trị, nên con cờ nào nắm kinh tế, thì con cờ ấy sẽ đi nước cuối cùng trên bàn cờ đến cung điện Ba Đình. 

Chuyến đi của ông bí thư Hà Nội chỉ là lửa của ngọn đèn leo lét bùng lên trước khi tắt của cung vua. Nhưng cũng không loại trừ kịch bản Trịnh Nguyễn phân tranh trở lại, khi có sự hà hơi tiếp sức của ngoại bang. Chính trị là nghệ thuật của sự có thể, nhưng cũng là trò chơi không khoan nhượng, kẻ nào chơi nửa vời xét lại đều bị loại khỏi cuộc chơi.

Mọi việc đã quá rõ, và chúng ta hãy chờ xem.

Asia Clinic, 10h18' ngày thứ Bảy, 26/7/2014
http://bshohai.blogspot.de/2014/07/bai-oc-lien-quan-tap-va-tan-quyen-voi.html

Các ngày vái Đảng, vái Bắc Kinh năm 2014-2015

Các ngày vái Đảng, vái Bắc Kinh năm 2014-2015

Nguyễn Thanh Văn

Đầu tháng 7/2014, giữa bao nhiêu lo âu về giàn khoan 981 và trong lúc giá xăng tiếp tục phóng lên vũ trụ, người ta đột nhiên thấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành Quyết định số 1063 phê duyệt kế hoạch tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong 2 năm 2014-2015, dù nay đã quá nửa 2014 rồi. Kèm theo Quyết định là bản kế hoạch chi tiết với 4 đề mục: A. Muc đích, yêu cầu; B. Các ngày lễ lớn gồm 2 loại quy mô cấp quốc gia và cấp Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể Trung ương, Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; C. Phân công nhiệm vụ; D. Kinh phí thực hiện.

Theo giới lãnh đạo thì loạt lễ lạc này nhằm 4 mục đích chính: (1) bồi dưỡng , phát huy lòng yêu nước và ý chí tự cường của dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng; (2) nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (3) khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đấu tranh, bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; (4) khẳng định những thành tựu vĩ đại của dân tộc ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Do đó, nếu viết cho ngắn gọn thì cả 4 mục tiêu của cả chuỗi lễ lạc dài lê thê đó là để bồi đắp cho vững chắc hơn cái ghế cai trị của Đảng. Chấm hết.


Thật vậy, nhìn vào danh sách các ngày lễ ở cả cấp quốc gia và cấp tỉnh người ta chỉ thấy tràn ngập những ngày kỷ niệm các "đồng chí" Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh, Trần Phú, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Lương Bằng, ... cùng các ngày kỷ niệm thành lập Đảng và các công cụ riêng của Đảng.

Rõ ràng đó là những ngày vái Đảng -- vái từ các "cụ" đến các "công cụ" của Đảng. Và đã là những ngày của Đảng thì chỉ nên dành riêng cho đảng viên đảng CSVN thôi, chứ tại sao lại dùng tiền của quốc gia tổ chức lễ lạc và nhất là lại bắt cả nước phải vái? Các ông ấy chẳng phải là "đồng chí" và lại càng không phải là "tổng bí thư" của dân tộc. Lẽ ra đây chỉ có thể là một thông báo nội bộ của đảng CSVN và phải gởi đi từ văn phòng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chứ không thể là văn kiện từ văn phòng Thủ tướng chính phủ.

Dĩ nhiên việc vái các "công cụ" mà Đảng đang dùng để kiểm soát toàn bộ xã hội, như quân đội, công an-an ninh, lại càng là điều oái oăm và mang tính "xát muối vào vết thương", như thể các tù nhân nay phải vái luôn sợi xích, vòng xiềng, hàng song sắt nhà tù.

Nhưng có lẽ cảm giác mạnh nhất của người đọc bản Quyết định 1063 là mức phí phạm nhân lực và ngân sách đất nước vì lãnh đạo luôn xem tài sản quốc gia là của Đảng. Bản kế hoạch liệt kê hầu như tất cả mọi ban bộ của đảng và nhà nước phải lao vào chuỗi lễ lạc kỳ cục này, từ Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng đến Văn phòng Chính phủ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Nội vụ; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đó là chưa kể các chi nhánh ban ngành xuống cấp tỉnh, các guồng máy hành chính cấp tỉnh, và mạng lưới Mặt trận Tổ quốc.

Chỉ cần tính tiền lương của tất cả số công chức, nhân viên dành thời giờ đi làm chuyện lễ lạc đó đã thấy con số khủng khiếp thế nào. Rồi cộng thêm chi phí xây dựng nơi tổ chức, tiền ăn nhậu mừng lễ, tiền phong bì cho báo chí tường trình, tiền may biểu ngữ cờ quạt khắp đường phố, và hàng trăm khoảng chi phí khác được các quan chức vẽ ra để có cơ hội "hớt bọt" bỏ túi.

Trong tình hình kinh tế của đất nước hiện nay và trước sự cùng khổ lo cơm từng bữa trên khắp đất nước, rõ ràng lãnh đạo đảng đang đẩy cả núi tiền từ ngân sách quốc gia xuống sông, xuống biển ... nhân danh mục tiêu để "phát huy lòng yêu nước của người dân" và để "nâng cao niềm tin của dân vào sự lãnh đạo của Đảng"!

Đã thế người dân trong năm 2014-2015 còn bị phải "Nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh". Mác-Lênin là chủ nghĩa đã hoàn toàn thất bại với hồ sơ tội ác đã giết hàng trăm triệu sinh mạng con người. Có lẽ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mô tả đầy đủ và ngắn gọn nhất: Nó là“Tội ác của thế kỷ 20 mang một tầm vóc khủng khiếp. Những kẻ sát nhân đã biến những cơ cấu quốc gia thành một hệ thống để thực hiện tội ác.“ Chủ nghĩa này đã bị hầu hết nhân loại (kể cả Trung Quốc) gớm ghiếc ném vào sọt rác thì tại Việt Nam lại được đem ra thờ cúng tiếp.

Về cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh cũng vậy. Đây là một sản phẩm mà chính ông Hồ chí Minh, người bị gán cho là tác giả, khi còn sống cũng đã khẳng định không phải của ông. Đã có quá nhiều học giả đưa ra đủ loại văn bản để chứng minh những cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh mà đảng bắt các đảng viên ráng nuốt như: "Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người", đến "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", đến "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công", v.v.... đều trích ra từ cổ thư của Tàu hoặc các văn kiện khác của Tây Phương. Nghĩa là đảng lại tiếp tục bắt mọi người thờ cúng cái bình rỗng không.

Nhưng điều làm nhiều người giật mình kinh hải là mức độ "phớt lờ dân tộc" trong chuỗi lễ lạc dài sọc này. Không có một ngày lễ cấp quốc gia hay ngay cả cấp tỉnh nào dành cho các anh hùng dân tộc, từ Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, đến Vua Quang Trung, v.v...

Riêng ngày giỗ chung Quốc Tổ Hùng Vương thì bị giáng cấp và giao cho tỉnh Phú Thọ tổ chức. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày đã đi vào lòng dân tộc từ hàng trăm năm qua câu ca dao: "Dù ai buôn bán đường xa, nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mà về". Và ngay cả tại các cộng đồng bà con người Việt lưu lạc trên khắp thế giới đều long trọng tổ chức ngày này với tinh thần Quốc lễ. Chỉ riêng trên đất nước Việt Nam, ngày Giỗ Tổ nay trở thành ngày Tỉnh lễ.

Lý do tại sao lãnh đạo Đảng né tránh đến độ hỗn láo đối với các anh hùng dân tộc như thế, thì có lẽ người dân Việt Nam ngày nay đã quá rõ, chẳng ai tốn công tranh luận. Đơn giản chỉ vì trong dòng sử Việt Nam, hầu như tất cả các anh hùng dân tộc đều là những lãnh tụ chống giặc ngoại xâm, đặc biệt là hàng ngàn năm chống giặc Tàu. Không thể kỷ niệm các anh hùng dân tộc mà không nhắc tới công đức bảo vệ đất nước của các ngài và thế là lãnh đạo đảng CSVN lại rùng mình sợ Bắc Kinh nổi giận. Loại ngày lễ như ngày Giỗ Tổ Hùng Vương cũng có tác động kết hợp lòng yêu nước và đánh động lương tâm về bổn phận bảo vệ đất nước của toàn dân. Trong tình hình hiện nay, lãnh đạo đảng CSVN rất không muốn thấy lòng yêu nước đó có cơ hội dâng cao hay tập hợp lại.

Ngược lại, lãnh đạo Đảng thích kỷ niệm ngày sinh của ông Nguyễn Văn Linh hơn và nay nâng lên hàng quốc lễ. Thành tích đáng kể nhất cả đời ông Nguyễn Văn Linh là gì? Chắc chắn đó là "công" giảng hòa với Trung Quốc và dẫn đầu phái đoàn lãnh đạo CSVN sang Hội nghị Thành Đô năm 1990. Nơi mà chính cố Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch kết luận: "Giai đoạn Bắc Thuộc mới" vừa bắt đầu. Do đó, đây không phải là ngày lễ cho ông Linh mà là thông điệp tái xác nhận sự thuần phục Bắc Triều của toàn bộ giới lãnh đạo CSVN hiện tại, và đây cũng là ngày lập lại lời hứa sẽ tiếp tục thi hành các điều khoản mà ông Linh đã ký kết -- mà cho đến nay vẫn không dám công bố.

***

Tóm lại, chỉ nhìn vào danh sách các ngày lễ lạc 2014-2015 mà lãnh đạo Đảng đang áp đặt lên cả nước, người ta có thể đọc được tâm trạng của họ:

- Lãnh đạo Đảng đang rất lo lắng về các dữ kiện xuất hiện ngày càng nhiều, cho thấy dã tâm của họ trong các cuộc chiến vừa qua và đơn giản chỉ là dùng máu người Việt Nam để mở rộng thế giới đỏ cho đàn anh Liên Xô và Trung Cộng. Khi không thể chối cãi các chứng cớ quá vững chắc đó, họ chỉ có thể khỏa lấp bằng hàng trăm các lễ lạc.


- Lãnh đạo Đảng biết mọi động thái, dù là sinh hoạt trong nội địa đất nước Việt Nam, đều sẽ không qua khỏi tai mắt của Trung Cộng. Vì vậy, họ luôn phập phồng lo sợ về thái độ và phản ứng của Bắc Kinh. Nói cách khác, lãnh đạo đảng CSVN đang thực sự sống với tâm thức chư hầu, được Bắc Triều cho ngồi ghế cai trị ngày nào quí ngày đó.

DienDanCTM



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link