Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, August 9, 2014

LỜI THÚ TỘI KINH HOÀNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

 

LI THÚ TI KINH HOÀNG CA ĐNG CNG SN VIT NAM





Ông Thanh nói:”Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.” (Phùng Quang Thanh)

Ông Thanh ví cuộc tranh chấp như mâu thuẩn trong một gia đình rất đúng. Về mâu thuẩn gia đình thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phái đoàn của đảng CSVN đã xin cho Việt Nam được làm một khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Bắc Kinh, và đã được “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc “gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)

Mâu thuẩn trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là hiện thực, Tây Tạng và Tân Cương là một chứng minh cụ thể.

GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Đó là lời xác nhận của một cán bộ Việt Cộng cao cấp thuộc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao, đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990.

Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố như thế thì có thể tin tưởng được Hội nghị Thành Đô đã đưa Việt Nam vào thời kỳ Bắc thuộc. Đó là đại sự của quốc gia cho nên ông không có thể nói chơi cho vui miệng, vì lời nói có ảnh hưởng đến cuộc đời và sự nghiệp chính trị của ông. Bị mất chức.

Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể để chứng minh hoạt động của hai bên Việt-Trung trong chương trình 30 năm về mọi mặt gọi là “đại cuộc”, và ngụy trang bằng cụm từ “16 chữ vàng”

Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đã cấy sinh tử phù và đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán ngụy hiện nay như cá nằm trên thớt, vô phương cục cựa.

Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành sự kiện vĩ đại đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 16 chữ vàng.

Tuyên bố của Phùng Quang Thanh thật đúng là lời thú tội kinh hoàng đối với người Việt trong nước.
Cho dù Wikileaks không tiết lộ, xem như không có biên bản đó, thì xuyên qua những hành động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước.
 
2* Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc 

Bắc Kinh


Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư., (3)Phạm Văn Đồng,
(4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân),
5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), 6) Lý Bằng, 7) Đỗ Mười, 9) Hồng Hà (bìa phải)

Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tài liệu chi tiết như sau:

“Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh , Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ”.

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc TrungQuốc”. (Hết trích)

 3* Bí mật của chương trình 30 năm sát nhập Việt Nam vào Trung Cộng

Hội nghị tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nhưng nội dung CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là bí mật.

Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện”…

Những cụm từ nêu trên là cái nhãn hiệu che giấu chương trình 30 năm ở Thành Đô.

Wikileaks không phải là căn bản để đánh giá, nó không phải là bằng chứng, cho nên có nó hay không có nó không quan trọng, mà hành động cụ thể là CSVN thi hành đối với Trung Cộng mới chính là bằng chứng bán nước. Hành động bán nước của đảng CSVN được xác định qua những hành động cụ thể một cách chính thức bằng những văn bản của những tuyên bố chung và hành động mà Đảng CSVN đã làm.


4* Sự ra đời của “16 chữ vàng”
4.   1. Bước mở đầu
Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.
“Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”
Việt Trung tuy hai mà một, tương nhập là lẻ tất yếu và hợp tình, hợp lý.

4.2. Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng

Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó.

Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

16 chữ vàng:

Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).

Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.

5* Thực hiện chương trình 30 năm trên cơ sở 16 chữ vàng
5.   1. Nội dung chương trình
Chương trình 30 năm Thành Đô được các đời Tổng bí thư CSVN ký kết qua những bản tuyên bố chung về hợp tác toàn diện để Việt Nam hội đủ điều kiện sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
Hợp tác toàn diện về các mặt:
  • Việc quản lý đảng, quản lý nhà nước thông qua những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo cao cấp hai bên.
  • Giao lưu về các mặt: chính trị, kinh tế thương mại, quân sự, văn hóa, hữu nghị nhân dân…từng bước nâng lên tầm cao mới sẵn sàng cho ý nguyện hội nhập theo tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.
5.   2. Những bước cụ thể đã được thực hiện

5.   2.1. Hợp tác toàn diện về việc quản lý đảng và quản lý nhà nước
Các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước hai bên liên tục có những cuộc viếng thăm quan trọng, không ngừng vun đắp quan hệ hợp tác toàn diện, từng bước nâng lên tầm cao mới để đáp ứng “nguyện vọng của nhân dân hai nước” là hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

1). Những lãnh đạo Trung Cộng sang thăm Việt Nam


 
Từ tháng 11 năm 1992 đến năm 2013 đã có 8 lãnh đạo cao cấp Trung Cộng đến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng CSVN.
 
Thủ tướng Lý Bằng (tháng 11 năm 1992). Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch Đàng (tháng 11, 1994 và tháng 3, 2002). Chủ tịch nước Giang Trạch Dân (tháng 6, 1996). Thủ tướng Chu Dung Cơ (tháng 11, 1996). Thủ tướng Ôn Gia Bảo (tháng 12, 1996).
 
Từ 31-10 đến 2-11-2005 Hồ Cẩm Đào kinh lý Việt Nam. Đó là chuyến viếng thăm cao cấp nhất, đầy đủ cương vị: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy TW, là bước ngoặt quan trọng thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào Trung Quốc.
 
Sau đó là viếng thăm của Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Quốc Cường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo cấp thấp tới lui rộn rịp.

2). Về phía lãnh đạo Việt Nam sang chầu thiên triều

Tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà thực chất là hoàn tất chương trình 30 Thành Đô, sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.


Ngoài những bản tuyên bố chung, Việt Nam bị bắt buộc phải thành lập “Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Toàn Diện” để làm việc một cách cụ thể với Ủy ban Hợp tác Toàn diện của Trung Cộng.

 














Phiên họp lần thứ tư, phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp Tác Toàn Diện

Vì sao phải thành lập ủy ban chỉ đạo hợp tác toàn diện? Một quốc gia độc lập chỉ cần xác định chính sách ngoại giao là đủ. Khi cần thì ký những hiệp ước, những thỏa thuận riêng biệt cho mỗi vấn đề.

 













 
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (phải) và thượng tướng Mã Hiểu Thiên
 
















Việt Trung hợp tác toàn diện về quốc phòng
5.   2.2. Hợp tác toàn diện về kinh tế với Bắc Kinh
1). Thiết lập những nguyên tắc luật pháp căn bản về kinh tế

Năm 2005, trong số 44 hiệp định và thỏa thuận về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Trung Cộng đã có 20 văn bản thỏa thuận làm căn bản pháp lý trong quan hệ giữa Việt Nam với các địa phương bên Trung Cộng. Đó là: Hiệp định thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, Hiệp định thành lập Ủy Ban Việt-Trung về kinh tế và thương mại.

Hiệp định giao thông đường sắt cao tốc và đường bộ, đường hàng không để lưu thông hàng hóa giữa địa phương với trung ương Bắc Kinh.

Từ ngày 1-1-2004 Việt Nam và Trung Cộng thực hiện bãi bỏ thuế xuất, nhập khẩu. Các cặp cửa khẩu hai bên đã được khai thông tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông tự do, mở ra một thời kỳ giao lưu hàng hóa không biên giới giữa hai bên.
 
2). Kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào chính quyền trung ương Bắc Kinh

 













Hợp tác toàn diện về kinh tế thương mại
1.   Về đầu tư xây dựng
Nhà thầu Trung Cộng hầu như thắng thầu hầu hết những công trình quan trọng với loại thầu trọn gói EPC, còn gọi là “hợp đồng trọn gói” hay “hợp đồng chìa khoá trao tay”. EPC là Engineering , Procurement and Construction. (Thiết kế, mua sắn, xây dựng).

Hiện nay có 90% gói thầu EPC được giao cho Trung Cộng thực hiện, bao gồm những dự án lớn và quan trọng về năng lượng (nhà máy điện), kim loại, hoá chất…điều nầy cho biết Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng rồi.
 
b. Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam
 















Tại hầu hết các chợ lớn như Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Ngã Tư Sở, chợ Xanh, chợ Long Biên, chợ Ninh Hiệp… tràn lan các mặt hàng Trung Quốc

 















Hàng hóa độc hại Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Thương lái Trung Cộng xâm nhập vào các vùng sâu, dùng thủ thuật giá, mua những thứ như cây tràm cỗ ở Quảng Ngãi, và những thứ không biết để làm gì, nhưng đã để lại những tác hại vô cùng to lớn. Đó là đánh phá thị trường VN.
 
Nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp giá rẻ, mà không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng Trung Cộng mà dán nhãn sản xuất ở VN. Nhiều trường hợp dán cờ Trung Cộng trên các sản phẩm bày bán ở các siêu thị VN.
 
Hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, giết chết các công ty trung bình và nhỏ trong nước, đưa đến công nhân thất nghiệp.
1.   Nhập siêu của Việt Nam chứng tỏ lệ thuộc kinh tế

Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Trung Cộng (TC)  36tỷ 960 triệu USD, trong khi đó xuất khẩu chỉ có 13tỷ 960 triệu USD. Đó là nhập siêu. Sự chênh lệch về cán cân mậu dịch nầy khiến cho VN phụ thuộc vào TC.
TS Lê Đăng Doanh nêu nhận xét: “Mức nhập siêu to lớn nầy gây sức ép rất nặng khiến cho VN phụ thuộc vào TC: mất ngoại tệ, mất thị trường trong nước, công nhân mất việc. Khi người dân mua hàng hóa TC đồng nghĩa với việc trả lương cho công nhân nước nầy”.
5.   2.3. Hợp tác toàn diện về văn hóa giáo dục
          1). Việt Nam cam kết giáo dục nhân dân về 16 chữ vàng và 4 tốt

Ngày 21-2-2013, Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên BCT dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang Bắc Kinh. Hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác toàn diện cho giai đoạn 5 năm từ 2014-2019.

Nguyễn Thiện Nhân, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cam kết, với tư cách Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc VN (MT/TQ/VN), ông sẽ vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt 16 chữ vàng và 4 tốt để hoàn thành tốt thoả thuận của hai bên từ khi bình thường hóa năm 1990. Ông Nhân cho biết MT/TQ/VN sẽ triển khai chức năng và nhiệm vụ mới trong Hiến pháp 2013 là “giám sát phản biện xã hội” để tăng cường hiểu biết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc.

Việt Nam sẽ thực hiện Cung Văn hoá Việt-Trung tại Hà Nội. Trong 15 năm, kể từ 2005 Việt Nam đã cử hơn 100 đoàn đại biểu văn hóa trên các lãnh vực: báo chí, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, truyền hình sang tham quan học hỏi và trình diễn ở Bắc Kinh.

2). Giáo dục thanh niên
















Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam (Nguyễn Thiện Nhân) và Bí thư Thứ nhất TƯ Đoàn Đoàn    TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Đắc Vinh giao lưu với các đại biểu thanh niên hai nước

 
 

Hữu nghị giữa hai đoàn thanh niên khu tự trị VN & Trung Quốc

Theo một hiệp định, mỗi năm Trung Cộng cấp 130 suất học bổng cho sinh viên VN, đồng thời VN chỉ cấp 15 học bổng cho sinh viên Trung Cộng, có nghĩa là Bắc Kinh đào tạo cán bộ tương lai cho họ.
 
Việt Nam đưa những đoàn thanh niên sang thăm viếng, hợp tác hữu nghị với thanh niên sắc tộc của các khu tự trị. Nổi bật nhất là Liên hoan thanh niên VN-TQ được tổ chức vào ngày 26-11-2013, 3,000 thanh niên do Nguyễn Thiện Nhân hướng dẫn tham dự liên hoan. Trong diễn văn, ông Nhân cho biết: “Đây là dịp để thế hệ trẻ hai nước kết chặt quan hệ hai đảng, hai nước, không ngừng đơm hoa kết trái, vun đắp tình hữu nghị của hai dân tộc”.

Định hướng dư luận, Lập Viện Khổng Tử, nằm trong hợp tác văn hoá giáo dục cho thanh niên.
16 chữ vàng và 4 tốt là chiêu bài ngụy trang cho chương trình 30 năm để VN hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, nói thẳng ra là chương trình bán nước của đảng CSVN.
5.   2.4. Trung Cộng di dân vào Việt Nam
Bọn Tàu khựa vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi luông tuồng như đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn họ đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả.

Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000  hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxite Tây Nguyên đến Cà Mau, có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy quốc phòng, cơ xưởng…

Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

1). Khu phố Tàu Bình Dương


Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố (Chữ Tàu trên cổng vào)
 


Tờ Việt Báo tại hải ngoại có bài viết tựa đề: “Cờ Trung Quốc treo rợp Bình Dương: Dân Việt có nguy cơ mất đất”

Theo bài báo thì “Cờ Trung Cộng treo tưng bừng tại Bỉnh Dương để mừng Quốc Khánh lần thứ 90 của Trung Cộng bởi vì người Hoa đang cư ngụ đông đảo ở Phố Tàu nơi đây.

Một bài viết có tựa đề “Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa” còn đưa ra quan ngại rằng “trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ không còn được sống trên quê hương mình”.

Bài báo viết tiếp:

“Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt sẽ chỉ được sử dụng một phạm vi bao nhiêu bởi vì, biển, rừng, đô thị đều có bóng dáng của người Hoa.

Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó chen chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện 1,000 giường, một khu phức hợp: thể thao, hội nghị, tiệc cưới, một sân golf, các cửa hiệu thương mại và một khu giải trí.

Bọn Tàu khựa sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào kiểm tra cần thiết để nắm quyền kiểm soát khu vực.
Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy hỏi quyền lực quốc gia còn đâu nữa?

6* Những bản tuyên bố chung của lãnh đạo CSVN
6.   1. Thỏa thuận 4 điểm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh
Ngày 22-8-2006, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh thúc đẩy tăng cường quan hệ toàn diện và nhất trí với Hồ Cẩm Đào 4 khía cạnh:

Thứ nhất. Lãnh đạo cao cấp hai bên phải duy trì “quan hệ gần gũi” thông qua những cuộc viếng thăm cấp cao.

Thứ hai. Quan hệ kinh tế thương mại phải được nâng lên nấc thang cao mới, cụ thể hơn.

Thứ ba. Vấn đề lãnh thổ phải luôn luôn đạt được “sự đồng thuận”, bảo đảm ổn định lâu dài. (Nếu đồng thuận thì ổn định)

Thứ tư. Hai bên thống nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng để có nền tảng phát triển bền vững và hữu nghị.

Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự.
 (Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?)
6.   2. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 15-10-2011
7.   Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước.
8.   Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
9.   Hai bên đã nhìn lại và tổng kết 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1990), khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.( Thôn tính tương lai)
10.                     3. Bản tuyên bố chung của Trương Tấn Sang
Trong bản tuyên bố chung ngày 21-6-2013 được ký bởi Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, có đoạn ghi như sau:

– Dân sự: Đào tạo nhân dân, văn hóa, giáo dục, y tế, sản xuất, chế biến. Khai thác lãnh thổ, lãnh hải, đất liền, biên giới, cửa khẩu, biển Đông, rừng núi, đầu tư, khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, môi trường, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, giao thông, vận tải và du lịch.

– Chính trị: Xây dựng nguồn máy đảng, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tham vấn chính phủ, ban tuyên giáo, ban đối ngoại trung ương, ban lý luận, đào tạo hữu nghị quân, dân, cán chính cao cấp.
– Quân sự: Quân đội, quốc phòng, khí tài, an ninh, ngoại giao.

Kế hoạch toàn diện qui định mỗi bộ phận đặt đường dây nóng tự quản và kết nối quản trị Bắc Kinh.
(Đường dây nóng tự quản với Bắc Kinh là nhận lịnh trực tiếp từ chính quyền trung ương ở Bắc Kinh)
Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế “bất xâm phạm” từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.

“Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các tỉnh, khu vực của hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, hợp tác toàn diện với 4 khu tự trị của Trung Quốc gồm có: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam”.

Trước hết Trung Cộng muốn Việt Nam hội nhập với 4 khu tự trị để trở thành 5 khu tự trị gồm có: Mãn, Tạng, Hồi, Mông và khu tự trị mới là Việt Nam. Và cờ Trung Cộng trở thành 6 ngôi sao mà VN đã dùng để chào mừng Tập Cận Bình vừa qua.

Thực tế là chỉ có 3 tỉnh của Trung Cộng mà đòi hợp tác toàn diện với 7 tỉnh Việt Nam, tạo điều kiện dễ dàng và hợp pháp cho thương lái, nhân viên Trung Cộng được đi khắp mọi nơi để nắm tình hình các mặt, biết rõ địa hình địa vật, đường đi lối về, tài nguyên, khoáng sản, đặc sản để khi cần thì xử dụng.

Trên Facebook, nhà bình luận Trần Trung Đạo nêu nhận xét như sau: “Đọc bản tuyên bố chung mới thấy số phận chùm gởi của CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản 8 điểm mà có tổng cộng 29 lần “nhất trí”.

7* Cộng Sản Việt Nam bị cấy sinh tử phù

Trung Cộng đang nắm trong tay những con bài tẩy bằng văn bản chính thức đã được các lãnh đạo CSVN ký và cam kết thi hành. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng chỉ là con bài thứ nhất mà thôi. Những lá bài khác như biên bản bí mật ở Thành Đô năm 1990 và những bản tuyên bố chung đã được ký kết như đã nêu trên.
Thiên la địa võng đã bày ra để khống chế và trừng trị Hán ngụy Việt Nam nếu phản chủ. Các vị trí chiến lược chủ yếu như rừng đầu nguồn, Lào, Campuchia, Tây Nguyên, hệ thống giao thông cao tốc xuyên Việt…và những sư đoàn của đạo quân thứ năm dưới lớp áo công nhân, thương nhân…khiến cho số phận của lãnh đạo CSVN thê thảm như con cá nằm trên tấm thớt của Trung Cộng.

Khi Tập Cận Bình niệm thần chú thì bộ tứ “hùng dũng sang trọng” vừa ôm đầu vừa gật đầu lia lịa.

8* Vì sao Trung Cộng không muốn đưa nội vụ ra tòa án quốc tế?

Ngày 2-6-2014 báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1-6-2014 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu toà án trọng tài quốc tế phân xử tranh chấp, nhưng nói đó là tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.
Trước đó, Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết là VN đã chuẩn bị bằng chứng cho hồ sơ pháp lý nầy, nhưng mọi việc sẽ do Bộ Chính Trị quyết định.

Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ lại lên tiếng là kiện chẳng ăn thua gì.
Có thể dùng câu “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm” để biết bản chất của CSVN trong vấn đề nầy.

Vì sao Trung Cộng không muốn nội vụ được đưa ra toà án quốc tế?

Không phải TC sợ bị thua kiện, vì họ đã có khả năng vô hiệu hóa vụ kiện 100% bởi quyền phủ quyết ở HĐ/BA/LHQ, mà cũng không phải vì Trung Cộng sợ dư luận quốc tế, vì nếu sợ thì đã không làm ngang tàng như thế..

Điều mà Trung Cộng mong muốn là “những mâu thuẩn trong gia đình” phải để gia đình giải quyết. Tập quán Á Đông là nếu đưa chuyện nội bộ gia đình ra ngoài thì chẳng khác gì “vạch áo cho người xem lưng”. Điều Trung Cộng muốn là Việt Nam phải là một trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc mà Nguyễn Văn Linh đã lặn lội từ Hà Nội đến Thành Đô để thỉnh cầu hồi năm 1990.

Đây là phép thử, xem CSVN có đủ can đảm để thoát ra đại gia đình các dân tộc TQ đó không?
Nếu quan sát kỹ những tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh và Trần Công Trục nêu trên, thì có thể đoán được lãnh đạo CSVN vẫn còn hèn nhát, vì không dám phản chủ, nên chỉ dám nói mà không dám làm. Hơn nữa Việt Cộng đã bị cấy sinh tử phù và niền chiếc vòng kim cô lên đầu rồi thì chẳng còn hành động can đảm nào nữa cả.

Hãy chờ xem!

9* Kết luận

Giả sử như Wikileaks không tiết lộ biên bản bí mật ở hội nghi Thành Đô năm 1990, hoặc xem như không có nó, thì những hành động của đảng CSVN cũng đã bị lên án là bán nước, hèn nhát vì đã đặt đất nước, dân tộc Việt Nam dưới tay bọn Trung Cộng. Sự thật hiển nhiên đó không thể chối cãi được.

Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng từ lâu rồi. Ông Vương Gia Thụy, Trưởng ban Đối ngoại Trung Cộng, đã nêu những bằng chứng cho thấy Việt Nam đã được sát nhập vào Trung Cộng, như sau: “Việt Nam và Trung Quốc đã hợp tác chiến lược toàn diện. Cơ chế xã hội giống hệt nhau. Con đường phát triển tương tự như một. Quan hệ hai nhà nước ổn định và cùng một mục đích phát triển chấn hưng sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: “Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau” (Vua Trần Nhân Tông)

“Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!”.


Trúc Giang



"Cam kết Thành Đô" quá thơ & ngây

Hạ Đình Nguyên

"...Gặp nhau cười một cái quên hết oán thù"
Từ Hội nghị Thành Đô 1990, mối quan hệ hữu nghị giữa đảng CS Việt Nam và đảng CS Trung Quốc trở nên đặc biệt một cách bất thường, đến nỗi cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch gọi đây là khởi đầu của một thời kỳ Bắc thuộc lần nữa:“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm bắt đầu”

Đến nay, sau 24 năm nó vẫn còn là một bí mật – toàn dân chưa ai biết, kể cả Quốc Hội, cả ủy viên Trung Ương đảng chưa chắc đã biết. Chỉ có một vài tiết lộ của Thứ trưởng Trần Quang Cơ về cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt vào thời tiền hội nghị, qua hồi ký để lại của ông, nay thì ông đã qua đời. 

Hiện cái “kỷ yếu hội đàm Thành Đô, mang nhiều ý nghĩa lịch sử” vẫn còn là một bí mật, nhưng không còn nguyên vẹn vì bị sứt mẻ dần qua thời gian, nên chưa thể “biệt tăm” như cái hộp đen của chiếc máy bay MH370 của Malaysia mất tích đâu đó ở đáy đại dương.

Ngoài vài điểm đã tiết lộ trong hồi ký của Trần Quang Cơ, hồi ký của đại sứ Trung Quốc, sự tiết lộ của báo Hoàn Cầu TQ, và một ít từ Wikileaks, nhưng đều không thể xem là chính thức hay chính xác, dù có rõ mười mươi đi nữa, trừ phi Đảng CSVN công bố chính thức để minh bạch công và tội. Nhưng lãnh đạo đảng CSVN vẫn để mặc cho dư luận đồn đoán.

Vậy, trong khi chờ đợi sự bạch hóa đó, chúng ta có thể góp phần giải mã bí mật Thành Đô qua phương diện “thơ” xuất phát từ hội nghị. Những dòng thơ nầy thì không có gì để phải hoài nghi.

Theo hồi ký được đăng tải của vị Đại sứ TQ (1), người đã có mặt với vai trò xuyên suốt hội nghị, đã mô tả: ban đầu trên chiếc chuyên cơ bí mật của đoàn cao cấp Việt nam sang Thành Đô là nặng trĩu không khí lo âu căng thẳng, nhưng khi kết thúc hội nghị là sự hoan hĩ tràn ngập của hai bên. Sau khi 2 bên ký kết vào văn kiện, Giang Trạch Dân đã đọc tặng hai câu thơ (của Giang Vĩnh-đời nhà Thanh):

“Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,
 Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu”
(Trải qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn.
Gặp nhau cười một cái quên hết oán thù)

Thủ tướng Đỗ Mười rất đắc ý, trên đường về cùng chuyến bay, đã yêu cầu ông Đại sứ nầy dịch và viết lại âm Hán-Việt và chữ Việt 2 câu nầy, ông càng đắc ý hơn. Sau khi về Việt Nam, ông TBT Nguyễn Văn Linh ngẫm nghĩ càng sảng khoái, bèn sáng tác :

  Huynh đệ chi giao sổ đại truyền
 Oán hận khuynh khắc hóa vân yên
 Tái tương phùng thời tiếu nhan triển,
 Thiên niên tình nghị hựu trùng kiến
(Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ.
Oán hận trong khoảnh khắc đã biến thành mây khói.
Khi gặp lại nhau cười rạng rỡ.
Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại )

Niềm vui thơ phú trong chốc lát của 2 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước ngang giá hàng triệu sinh linh Việt Nam đã ngã xuống vì cuộc chiến đấu 74-79- 84-88. Bao nhiêu thanh niên 18-20, đã hy sinh trong rừng sâu, trong làng mạc, ngoài biển cả… và nổi đau của cha mẹ , bao nhiêu gia đình mất cửa nhà, tài sản, tất cả hóa thành không, bởi vì “anh em ‘chơi’ với nhau, gặp nhau cười rạng rỡ”. “Oán hận ‘trong khoảnh khắc’ đã thành mây khói”…Với ảo tưởng điên rồ, bốc đồng “tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại”

Giờ đây chúng ta không còn gì để thắc mắc, vì sao bia kỷ niệm chiến sĩ bị đục bỏ, không được nhắc tới, không làm kỷ niệm những ngày lễ, và đàn áp thẳng tay, đánh dã man, bỏ tù những người biểu tình yêu nước, thanh trừng, triệt hạ, loại trừ những “đồng chí” khác ý kiến…!  

Ông Nguyễn Trung đã nhận định rằng (2):

“Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước  XHCN Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp  của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi  đưa ra những quyết định rất sai lầm”.

Nhưng cho dù sự hạn chế tầm nhìn thế nào đi nữa, cũng không thể đắm đuối với niềm tin quá dễ dàng về cái nhìn lịch sử của hằng ngàn năm từng va chạm cho cuộc sống còn. Vậy nó xuất phát từ đâu ? Về cá nhân, người ta thường gọi đó là tính “kiêu ngạo cộng sản”. Về xã hội, là thể chế độc tài mà quyền lực nằm gọn trong tay một nhóm người, --lãnh đạo chủ chốt-, bộ máy đảng-nhà nước chỉ còn là hệ thống kèn trống tồn tại để ăn theo, không hơn không kém.

Niềm sảng khoái văn thơ nầy, có thể gọi là thơ ngây, ngây ngất, và ngây ngô mà đầy tai họa. Nhưng chưa hết. Loại thơ độc hại nầy còn phát tiết, chảy dài theo 2 thập niên sau, kéo theo “anh em chơi với nhau nhiều thế hệ”

Đó là 2 bài thơ, mang tính chất phương châm, có nghĩa là cương lĩnh, mỗi bài 4 câu, 16 chữ dùng cho mỗi thập niên. (theo tiết lộ của Wikileaks là thời gian thực hiện trọn vẹn “Kỷ yếu hội đàm Thành Đô” mà Ông Đại sứ TQ gọi là mang nhiều ý nghĩa lịch sử, được quy định là 3 thập niên).

Theo âm Hán-Việt, đó là “Thập lục tự phương châm” (phương châm 16 chữ), được đảng CSVN công khai, đón nhận như một món quà vô giá từ sản phẩm Thành Đô.

- Phương châm 1 định hình tư tưởng, có giá trị như một slogan, một tuyên ngôn của văn kiện, do Giang Trạch Dân sang Hà nội triển khai, vào tháng 11-1991: 

          “Sơn thủy tương liên.                
          Lý tưởng tương thông
          Văn hóa tương đồng
          Sinh mệnh tương quan”

-  Phương châm 2 chỉ đạo hành động cụ thể, sau 10 năm thành tựu bước 1 căn bản , để tiến hành 10 năm bước 2, do Giang Trạch Dân chính thức công bố cùng Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, vào tháng 2-1999 :

          Mục lân hữu hảo           (láng giềng tốt)
          Toàn diện hợp tác          (hợp tác tốt )
          Trường kỳ ổn định         (ổn đinh tốt)
           Diện hướng tương lai   (tương lai tốt)

Phía Việt Nam đã đồng thuận triệt để, tích cực thực hiện và Việt-hóa một cách tài tình với sự trân trọng,  phương châm  tư tưởng thành “16 chữ vàng”, phương châm hành động, thành “4 tốt”. Và đã triển khai giáo dục cho toàn quân tòan dân.

Chỉ cần suy ngẫm từ hai phương châm nầy, so với thực tế diễn ra trong 24 năm qua, thì mọi sự khớp nhau, sáng tỏ như trăng rằm.

Quả thực, hai phương châm cực kỳ thâm hiểm do Trung Quốc đặt ra, trong chiến lược xâm lăng văn hóa bằng “sức mạnh mềm” của họ, tầm quan trọng hơn cả tuyên bố “hải phận Trung Quốc” của Trung Nam Hải trong chiến lược xâm lăng pháp lý và ngoại giao.

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã “tán thành” và “chỉ thị cho các cấp thi hành”, đã gây nên nổi nhức nhối ngày nay về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, dẫn đến giàn khoan HD 981. Đó là mặt cụ thể.

Về sức mạnh mềm,“mười sáu chữ vàng” và “bốn tốt” thì được tiếp nhận hồ hởi và triển khai triệt để tận tình, đã đập thẳng vào mặt nhân dân, đâm thẳng vào trái tim của lịch sử, có sức công phá tận nền tảng tư tưởng - văn hóa của dân tộc, mà trên cơ sở đó, Việt Nam đã tồn tại mấy ngàn năm như một quốc gia riêng biệt. Điều đáng kinh ngạc cho toàn bộ dân tộc Việt Nam, hai phương châm nầy đã thong dong xuyên thủng và băng qua từng tập thể lãnh đạo của các thời kỳ Bộ Chính Trị và Trung ương đảng, xuyên thấu các cấp đảng đến tận cơ sở, và ngự trị trên diễn đàn tư tưởng cả nước trong suốt thời gian hơn 2 thập kỷ qua. Không có một phản ứng nào đáng kể, từ những nhà văn hóa, sử gia, giáo sư và hằng đống tiến sĩ, (kể cả nhân sĩ trí thức ?), và báo chí. Là tại sao ? (...)

Mười sáu chữ VÀNG và bốn TỐT đã đi ngược lại, đến mức phủ định một cách đau xót “nền tảng tinh thần” của Quốc gia mà Nguyễn Trãi đã khắc họa qua 4 câu,  cả dân tộc kiêu hãnh và không ai dám quên, khi khẳng định mình là người Việt Nam. 

“Như Nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Nước non bờ cõi đã chia.
Phong tục Bắc Nam cũng khác”.

Khẳng định tính độc lập của một quốc gia mới là ngàn năm, chứ không phải hữu nghị là “ngàn năm” (tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại) như thơ của TBT Nguyễn Văn Linh.

Càng nghĩ, càng đau về phương châm nầy, nó ngang nhiên hơn cả chiếc giàn khoan HD 981 . Nó đối chọi trực diện với 4 câu cô đọng, nén chứa toàn bộ tinh thần và sức mạnh của một dân tộc. Cái đau nằm ở tính thâm độc của đối phương đã đành, càng làm nhói tim mọi người, khi mà nó được sự đồng tình đến mức triệt để, nâng lên thành vàng của chính đảng CSVN ! Một  đảng vốn ra đời và tồn tại với sứ mạng là để cứu nước, giữ độc lập chứ không phải để làm điều gì khác.

Bình tâm  mà so sánh, xem xét lại kỷ, 4 câu xuất phát từ gan ruột, trí tuệ của Tiền nhân ta, và 4 câu mà Đảng mang về.

Ai là kẻ đã Việt- hóa thành phương châm  “16 chữ vàng” và “4 tốt” ? Rất dễ nghe, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ lan truyền trong nhân dân- (như lời “chỉ đạo” viết văn kiện của TBT Nguyễn Phú Trọng mới đây, cho hội nghị Trung ương sắp tới ).

Mỗi câu trong 4 câu của phương châm vừa bóng bẫy nhẹ nhàng, lại hàm súc, phủ định một cách trọn vẹn tính độc lập của quốc gia, cả về phương diện vật thể cũng như phi vật thể, tạo nên một tiến trình đồng hóa ngọt ngào, êm ả.  Ý thơ của nó thâm và êm như lưởi dao phẫu thuật, cắt thẳng vào mạch nguồn tồn tại của dân tộc, mà nạn nhân không một chút phản ứng.

Sơn thủy tương liên. Núi sông trùng điệp nối liền nhau, là cái vui và thuận lợi của kẻ mạnh, sao kẻ yếu không lo, lại mừng như được vàng, lại vô tâm cứ như xem một bức tranh đẹp ? Chẳng phải đời Tần của Trung Quốc đã từng không tiếc máu xương sinh mạng của dân mà xây Vạn Lý Trường Thành, ngăn sông chắn núi để ngăn quân ngoại xâm từ phương bắc tràn vào ? Bởi cái tương liên nông nổi đó mà ngày nay, sau 24 năm đường xe, đường tàu thông thống chạy qua, hàng độc hại, xe tăng có thể lao qua như nước từ trên cao ào ào đổ xuống. Đóng cửa, mở cửa là do họ chứ không phải ta. 

  Ai có mưu đồ sâu độc muốn xóa tan bờ cõi của ta ? Ai là kẻ mơ màng mịt mù hữu hảo? Vì cái gì che mắt, để không nhìn thấy cạm bẫy của "tương liên" vốn có một chiều và thảm hại.? Còn đâu sự tự tin và khẳng định đầy cương quyết : “Như nước Đại Việt ta từ trước !” “Nước non bờ cõi đã chia”-  “Sách Trời đã định” (Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư-  Lý Thường Kiệt).

Lý tưởng tương thông. Đó là gì ? Là cùng nhau một ý thức hệ chủ nghĩa Mác-Lê, Mao, Đặng, Giang, Hồ,Tập..? Là xóa bỏ Tổ Quốc, Lịch sử, Dân tộc, như bài ca: “Chờ ngày xóa tan biên cương, loài người sống thân yêu..”, “Vô sản thế giới hãy đoàn kết lại”…Nhân loại có ai còn tin vào những lời nầy có thể là hiện thực, bằng con đường bạo lực mông muội của ý thức hệ Cộng sản, vừa thô thiển vừa viễn mơ ? Và còn ai trong đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay thật sự tin điều nầy ? Và kể cả đảng Cộng sản Trung Quốc ? Chắc chắn là không một ai !

“Lý tưởng” nầy đã trở thành một sự “dối trá hoàn hảo” của cả hai bên :dối mình, dối người, dối cả nhân dân hai nước, trong khi nhân loại thấy rõ đó là một vở kịch bi hài dai dẳng, đáng tiếc cho một kẻ khờ. Một bên thì dối mà được cả, còn một bên dối kia, chỉ để tự nguyện đánh mất mình ! Sao lại tự xóa bỏ “Một nền văn hiến đã lâu” để thay vào một thứ hư ảo không có thật ?

Văn hóa tương đồng. Văn hóa “cùng giống như nhau”, thì từ lâu đã bị đồng hóa, làm gì còn đất nước này,  mà đảng Công Sản Việt Nam “nhân danh” để đi cứu nước? Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, nhân sinh quan, giống loài đều khác. Nguyễn Trãi đã khẳng định cái riêng biệt để tồn tại : “phong tục Bắc, Nam cũng khác”. Chính đảng CSVN cũng đã nêu “hòa nhập chứ không hòa tan” khi mở đầu cuộc đổi mới kinh tế theo hướng thị trường trước đây. Thì ra, chỉ lo đối phó với phương Tây mà ôm phương Bắc theo phương châm đã được chỉ đạo, cùng với định hướng đi kèm “thế lực thù địch”, nhằm vào những ai không ôm chân phương Bắc. 

Sinh mệnh tương quan, là một kết thúc ngọt ngào, cùng “sống chết có nhau”. Thế mà nó lại tương khắc, lại chẳng bao giờ do ta gây ra!        
                                                                    
Sự cố kết nầy được triển khai, thực hiện theo bốn tốt, qua từng thông cáo chung của mỗi triều Bộ Chính Trị, cái mới nhất là do TBT Nguyễn Phú Trọng ký với Hồ Cẩm Đào “hợp tác toàn diện và chiến lược”.

Quả chín chỉ còn chờ ngày rơi rụng, Tập Cận Bình lại muốn nhanh hơn, cố đóng vai người hùng trong “Giấc mơ Trung Hoa” để kết thúc thập niên thứ 3 trong kế hoạch 30 năm Thành Đô. Thế là giàn khoan HD 981 rất oai hùng xuất hiện ngang nhiên, hoành tráng ở thềm lục địa Việt Nam.

Ngọn gió xoay chiều

Sự hiện diện của HD 981 từ ngày 1-5, là bất ngờ đầy kinh ngạc làm BCT Việt Nam á khẩu, nín thở suốt 10 ngày. Nhân dân sục sôi và nổ ra cuộc biểu tình ngày 11-12/5 như chưa từng có trong 40 năm qua. Ngày 18 lại hứa hẹn một cuộc biểu tình tự phát trên khắp nước, thì bị ngăn chận và trấn áp trong trứng nước. Thông tin đã bùng phát khắp trong nước và thế giới. Bộ mặt bành trướng không thể nào che đậy được nữa. Vì liên quan đến biển đảo nên xuất hiện Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, làm vấn đề càng trở thành gai góc, bộc lộ mối quan hệ không lành mạnh giữa Việt Nam- Trung Quốc, kéo theo “bí mật Thành đô” được “hoài nghi” ngày càng lớn, về mối quan hệ bất chính tập thể của đảng cộng sản Việt Nam đối với đảng Cộng sản Trung Quốc. Nó ngày càng trở nên trầm trọng hơn, hầu như “khó nói” của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nếu đem những thông tin đã được tiết lộ, cùng với “16 chữ vàng” và “4 tốt”, so sánh với thực tế diễn ra trên khắp đất nước của 24 năm qua, từ khi ký kết Thành Đô, thì lại vô cùng ăn khớp. Nó là một tiến trình logique từ lý thuyết sang hành động, thể hiện thật sự là “hợp tác chiến lược và toàn diện” theo cách “hòa tan”, đang rất cần sự “biện hộ” chân thành của Đảng.

Đang có yêu cầu bức bối trong nhân dân, tiêu biểu qua tiếng nói của 61 cựu đảng viên, của Thiếu tướng Lê Duy Mật, của Đại tá Nguyễn Đăng Quang bằng thư chính thức đòi Trung Ương phải “bạch hóa” hồ sơ Thành Đô ngay trong kỳ hội nghị TƯ lần nầy.

Gió xoay chiều chính là sự thức tỉnh của toàn dân, và cả thế giới đều thấy, một liên minh quốc tế chống bành trướng là vấn đề của thời đại, không thể đảo ngược.

Nói đúng hơn, nay chỉ là chờ đợi sự công bố chính thức, bạch hóa nó trước nhân dân, trước lịch sử, cũng đồng thời là đòi hỏi thái độ công khai chính thức về sự thật và cách ứng xử của đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự kiện nầy.                                                                

Trong hội nghị Trung Ương lần thứ 10 tới đây, nếu tổng kết 30 năm được và mất, mà không đề cập đến vấn đề nầy, thì giá trị của tổng kết ấy khá vô nghĩa.

Để kết luận, xin mượn lời của Đại tá Nguyễn Đăng Quang (3): 

“Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua, trong đó có vấn để Thành Đô năm 1990, kèm theo một lời (nên là mộthành động- người viết) tạ lỗi chân thành ! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Nên là một hành động xin lỗi theo cách mà người Nhật đã làm, xin lỗi thay cho tiền nhân đã có hành động sai trái với dân tộc khác,  từ đó đứng thẳng lên để nâng cao phẩm chất của mình và xây dựng lại sức mạnh nội lực của dân tộc./.

HĐN 10-8-2014

DienDanCTM



Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu

Lửa trong Vùng đất của Tuyết: Các vụ tự thiêu ở Tây Tạng
Lửa trong Vùng đất của Tuyết: Các vụ tự thiêu ở Tây Tạng
View on www.youtube.com
Preview by Yahoo
Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=kpc3wmwKit0

Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979

http://www.youtube.com/watch?v=eEBkpsCwsDY

Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy
http://www.youtube.com/watch?v=eQdFGr7NQ4o&list=PLCABD020D6B200061

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

https://www.youtube.com/watch?v=NTZGFJyF2pQ 

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

https://www.youtube.com/watch?v=LSpiyHxlK5I 

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

https://www.youtube.com/watch?v=P2Zbrz4iJbc



Tham, Dốt, Ngu không lối thoát của Cộng Sản
image

http://baomai.blogspot.com/2014/07/tham-dot-ngu-khong-loi-thoat-cua-cong.html

Về văn học miền Nam 1954-1975
image
http://baomai.blogspot.com/2014/07/ve-van-hoc-mien-nam-1954-1975.html


Văn học và chính trị
image
http://baomai.blogspot.com/2014/07/van-hoc-va-chinh-tri.html



Israel: Một đất nước thần kỳ
image
http://baomai.blogspot.com/2014/07/israel-mot-at-nuoc-than-ky.html

Đừng sống bằng sự dối trá
image
http://baomai.blogspot.com/2014/07/ung-song-bang-su-doi-tra.html


Chọn ai: Thời gian quyết định không còn dài nữa
image
http://baomai.blogspot.com/2014/07/chon-ai-thoi-gian-quyet-inh-khong-con.html

Tố cáo thẳng thừng "Súc vật hồ chí minh" trên Yout...

http://baomai.blogspot.com/2014/07/to-cao-thang-thung-suc-vat-ho-chi-minh.html

HCM chính là thiếu tá Hồ Quang thuộc QĐND Trung Cộ...
image
http://baomai.blogspot.com/2014/07/hcm-chinh-la-thieu-ta-ho-quang-thuoc.html



Ha ha ha !
http://lh3.googleusercontent.c...
Xem Ẩn
Hố hố hố !
http://lh6.googleusercontent.c...
Xem Ẩn
Không biết làm thịt em nào trước đây?
http://lh4.googleusercontent.c...
Xem Ẩn
http://lh4.googleusercontent.c...
Xem Ẩn
xem thêm





Ảnh của Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-




__._,_.___

Posted by: hung vu 



ĐUỔI HỔ CỬA TRƯỚC, RƯỚC SÓI CỬA SAU


ĐUỔI HỔ CỬA TRƯỚC, RƯỚC SÓI CỬA SAU

GS  Nguyễn Đình  Cống

Hồi còn bé (1947) tôi có nghe câu chuyện: Khi một số người yêu nước chuẩn bị Đông du nhằm học tập và cầu cứu Nhật bản để về đánh đuổi thực dân Pháp, có nhận được lời căn dặn của một vị tiền bối như sau:“Ninh thụ vô công chi danh, bất khả đồ hữu công nhi tiền môn cự hổ, hậu môn tiến lang, dĩ di họa ư hậu thế”. Tạm dịch: Thà mang tiếng không có công trạng gì chứ không thể mưu đồ lập công mà đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.

Phong trào Đông du của Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ đã không thành công trong việc đuổi “hổ”thực dân Pháp, nhưng cũng không mắc vào họa rước “sói” phát xít  Nhật, mặc dù sau đó, khi đã đứng vào phe trục,“sói” Nhật cũng tự đến.

Việc “đuổi hổ, rước sói” vẫn thường xảy ra. Đuổi hổ là mục tiêu nhằm tới, rước sói là tai họa, thường do vô tình mà phạm phải chứ ít khi là cố ý, rõ nhất là trong phản ứng phụ của thuốc chữa bệnh (dùng thuốc để chữa bệnh này lại làm phát sinh bệnh khác nặng hơn).Vô tình phạm phải vì nóng lòng muốn đuổi hổ mà vội vàng, mà không suy xét kỹ, mà bị lừa để đến nỗi sói vào cửa sau lúc nào không biết. 

Cũng có thể biết trước sói sẽ vào, tìm cách ngăn cản, tìm cách thuần hóa, nhưng rồi không ngăn nổi, không thuần hóa được. Chẳng thế mà Khổng Tử có khuyên “Kiến lợi tư nghĩa” (Thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa), còn ở  Ba Tư  xưa  có phương châm nổi tiếng:“Chuẩn bị làm việc gì phải thấy cho hết những điều hại mà nó có thể mang lại”.

Trong công cuộc giải phóng đất nước thì hổ là kẻ đang xâm lược còn sói là thế lực xâm lược mới, là ông chủ mới. Trong phát triển kinh tế thì hổ là nghèo, còn sói là hủy hoại môi trường.
Trong công cuộc đấu tranh cho độc lập, những người yêu nước Việt Nam đã  đuổi được hổ, liệu có rước con sói nào không? Tôi cảm nhận thấy chúng ta không những rước thần sói về để thờ(là chủ nghĩa Mác-Lênin) mà còn rước cả tướng sói về để nó quậy phá (là cộng sản Tàu).
Sự quậy phá hung dữ của sói cộng sản Tàu đã tương đối rõ, tuy nhiều điều đến nay vẫn chưa được bạch hóa. Tôi chỉ xin phân tích đôi điều về thần sói. Tôi không chuyên sâu về triết cũng như về lịch sử, nên không dám xem đây là công trình nghiên cứu có tính khoa học mà chỉ là một số cảm nhận từ thực tế.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết do những người sau này dựa vào công trình của hai ông mà lập ra chứ có thể  bản thân Mác cũng không nghĩ tới là mình đã lập nên một chủ nghĩa. Có lẽ  vì thế mà có lần Mác đã viết “đương nhiên, tôi không phải là người Macxit”. 

Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về cách mạng,  về đấu tranh giai cấp, về bạo lực và chuyên chính vô sản, về bóc lột giá trị thặng dư, về công hữu tư liệu sản xuất, về xây dựng chế độ cộng sản.Mác đã rút ra các kết luận dựa trên sự  suy luận, sự chứng minh chặt chẽ bằng cách vận dụng logic biện chứng với  những lập luận rất hùng hồn, làm mê say một số người. Tiếc rằng những luận cứ thực tiễn và luận cứ lý thuyết mà Mác đã dựa vào chỉ đúng được một phần nào đó, còn lại là có thiếu sót, là nhầm lẫn, không đáng tin cậy, do đó các kết luận của Mác cũng không đúng hoàn toàn. 

Trong một bài viết trước đây “Một số nhầm lẫn của Mác” (xin xem đây), tôi đã phân tích những điều  Mác vận dụng học thuyết duy vật, thuyết tiến hóa của Đacuyn để  giải thích nhầm về xã hội loài người và dự báo sai vai trò của giai cấp vô sản. Trong bài này tôi xin không nhắc lại những ý đã viết trong bài đó mà phân tích thêm một số khía cạnh khác.

Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ yếu bàn về cách mạng vô sản, về đấu tranh, lật đổ và tiêu diệt giai cấp bóc lột và những xu hướng không cùng ý thức hệ, về chuyên chính vô sản, về xây dựng một xã hội không tưởng “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” với việc quá đề cao vai trò của vật chất, phủ nhận phần tâm linh. Chủ nghĩa Mác-Lênin không (hoặc rất ít) bàn về phạm trù nhân văn và đạo đức, về đạo lý làm người như nhân phẩm, nhân quyền, trung hiếu, lễ nghĩa, nhân ái, bao dung, lương tâm, trách nhiệm, tự do dân chủ, trung thực, công bằng, khiêm nhường, nhẫn nhục, từ bi, bác ái, v.v. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin người ta thấy rõ nhất là đấu tranh, là bạo lực (quyết phen này sống chết mà thôi), là tiêu diệt (chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành), là quá đề cao vai trò và quyền lợi của vô sản (bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình). 

Như vậy chủ nghĩa Mác-Lênin, nếu có dùng được một phần nào thì chỉ là trong đấu tranh cách mạng để giành chính quyền còn về việc xây dựng và quản lý đất nước, để phát triển con người và xã hội thì chưa (hoặc rất ít) được bàn đến. Ngay trong việc giành và xây dựng chính quyền thì quan niệm của Lênin cũng cần được xem xét và phản biện. Trong các chế độ dân chủ chính quyền có vai trò quan trọng là quản lý xã hội, giữ gìn trật tự, an ninh, điều hòa lợi ích của các tầng lớp nhân dân để phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục. Lênin lại cho chính quyền là của giai cấp này để thống trị giai cấp khác (các đảng cộng sản cầm quyền đã phát triển ý tưởng này để đàn áp những người khác chính kiến, khác tư tưởng). Đó là quan điểm, là việc làm quá độc tài, chỉ có thể so với chế độ phát xít.

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng để giải quyết mâu thuẩn giữa các giai cấp chỉ có con đường duy nhất đúng đắn là làm cách mạng vô sản để “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”. Vận dụng điều đó các đảng cộng sản cầm quyền đã thực hiện “đạp đầu bọn chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp” trong cải cách ruộng đất. Điều này ngược lại với triết học Phương Đông về cân bằng ÂM-DƯƠNG, làm trái  với triết lý của các tôn giáo về công bằng, bác ái, phản lại những tuyên ngôn về nhân phẩm, nhân quyền, xô đẩy nhân loại vào cuộc đấu tranh tàn khốc. Thực tế thế giới chứng tỏ rằng rất nhiều nước không làm cách mạng vũ trang, không cần chém giết, không cần chôn vùi ai cả vẫn có thể xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, hạnh phúc, phát triển. Tấm gương của nhiều nước vẫn sờ sờ ra đấy.

Chủ nghĩa Mác-Lênin chưa kịp xây dựng hệ thống lý luận về quản lý xã hội, về nhân văn, về đạo đức, đạo lý làm người. Thế mà người ta vẫn hô hào lấy nó làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Rồi thì vận dụng đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản cho mọi công việc, rồi “dựa hẳn vào bần cố nông”, rồi cải tạo và đấu tranh tư tưởng, rồi công hữu hóa, rồi theo dõi, bắt bớ, tù đày, thủ tiêu rất nhiều người bị tố giác là có ý tưởng này kia. Ở Liên Xô đó là sự khủng bố, sự loại bỏ thành phần kulắc và những người bị nghi ngờ; ở Trung Quốc là sự tàn sát kinh hoàng trong các phong trào “thổ cải” (cải cách ruộng đất), cách mạng văn hóa vàcuộc đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn năm 1989;ở Việt Nam là sự tử hình vô tội vạ rất nhiều người yêu nước thuộc tầng lớp trên, không những vô tội mà còn có công lao, trong cải cách ruộng đất (chỉ vì bị vu oan của một vài bần cố nông), là sự giam cầm đến chết không cần xét xử những người bị nghi ngờ, bị tố giác trong các cuộc thanh trừng sau đó.
Có ý kiến cho rằng, dù sao cũng nhờ chủ nghĩa Mác-Lênin mà Liên Xô xây dựng được đất nước hùng cường, chiến thắng được phát xít, Việt Nam làm được Cách mạng Tháng Tám, chiến thắng được xâm lược. Đó là một nhận thức nhầm lẫn tai hại của hàng trăm triệu người (giống như trước đây người ta nhầm là mặt trời quay quanh quả đất). Sự thắng lợi của Liên Xô, của Việt Nam chủ yếu là nhờ lòng yêu nước của dân chúng, nhờ sự hy sinh của nhân dân và khôn khéo của lãnh đạo chứ không nhờ gì vào các học thuyết của Mác và Lênin về đấu tranh giai cấp, về chuyên chính vô sản, về công hữu hóa kinh tế… cả.
Tôi rất tán thành với nhận xét là chủ nghĩa Mác-Lênin mang lại cho nhân loại lợi ích thì rất ít mà đau khổ thì vô cùng nhiều. Riêng đối với Việt Nam, tôi cảm nhận rất rõ, những tệ nạn mà nhân dân, đất nước đang gặp phải (áp bức, tham nhũng, lãng phí, hủy hoại môi trường, nợ nần, lạm phát, mua quan bán tước, dối trá, giáo dục và đạo đức xuống cấp, sự tranh giành, thù oán, kèn cựa, khủng hoảng lòng tin, v.v.) có nguyên nhân sâu xa từ hai nguồn. Một là từ sự yếu kém trong truyền thống dân tộc, từ trình độ dân trí còn quá thấp, hai là từ chủ nghĩa Mác-Lênin. Hai nguyên nhân ấy kết hợp cùng nhau, hòa quyện vào nhau, cộng hưởng với nhau để cho tác hại tăng cấp lên. Hai nguyên nhân ấy là cơ bản, là sâu xa, vì thế chúng bị ẩn giấu, rất khó thấy. Từ đó dẫn ra các nguyên nhân khác gần hơn, dễ thấy hơn (sự mất dân chủ, sự thoái hóa, biến chất, v.v.). Theo Duy thức luận của Phật giáo thì có thể quy sự yếu kém trong truyền thống dân tộc là NHÂN (hạt giống) còn chủ nghĩa Mác-Lênin là DUYÊN (điều kiện, môi trường). Sự kết hợp giữa nhân và duyên mới cho kết quả, còn nếu thiếu một thứ thì chưa có kết quả.  Chú ý rằng trong thời gian đầu của các đảng cộng sản, lúc còn vận động và làm cách mạng thì các nhân tố độc hại của chủ nghĩa còn nằm im, chưa bộc lộ (duyên chưa khởi). Chỉ đến khi đảng cộng sản đã nắm vững chính quyền, xác lập sự toàn trị thì các nhân tố độc hại mới thi nhau phát lộ (duyên khởi). Điều đó giải thích, cũng là dân tộc Việt nhưng dưới thời thịnh trị của các triều đại thì xã hội ổn định, đạo đức được đề cao, còn khi chế độ suy tàn thì đạo đức mới xuống cấp. Cũng cùng bị chủ nghĩa Mác xâm nhập nhưng nhân dân nhiều nước nhờ dân trí cao hơn nên đã nhận ra sự độc hại mà sớm từ bỏ.

Tóm lại, phải chăng những người cộng sản Việt Nam đã đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa cho hậu thế. Bây giờ “dại rồi còn biết khôn làm sao đây”!
Tôi đoán, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thấy tính chất “sói” trong chủ nghĩa Mác-Lênin nên đã tìm cách hạn chế và thuần hóa. Cụ thể trong luận cương năm 1930 Nguyễn chỉ đề cập cách mạng dân tộc phản đế mà coi nhẹ đấu tranh giai cấp (vì thế sớm bị Trần Phú bác bỏ theo chỉ thị của Stalin), trong Tuyên ngôn độc lập 1945 không nói gì tới chủ nghĩa xã hội, tháng 11 năm 1945 còn tuyên bố giải tán đảng cộng sản (rút vào hoạt động bí mật, chắc là để lừa Mỹ nhưng không lừa được), trong kháng chiến chống Pháp viết Sửa đổi lối làm việc (nhằm loại bỏ hoặc hạn chế những độc hại tiềm ẩn trong chủ nghĩa), trong Di chúc cũng không hề nói đến xây dựng chủ nghĩa xã hội và học tập chủ nghĩa Mác-Lênin. Hồ Chí Minh biết có sói theo vào, đã tìm cách ngăn mà không ngăn được.

Thế hệ chúng ta phải làm sao đây để đuổi được sói.  Sau vụ giàn khoan 981, nhiều người nêu yêu cầu, nhiệm vụ “thoát Trung”. Tôi nghĩ thoát Trung là rất cần song liên quan hữu cơ với nó, việc thoát ra khỏi ý thức hệ cộng sản, thoát ra khỏi chủ nhĩa Mác-Lênin không tưởng quan trọng hơn, cấp thiết hơn. Làm sao để thoát được, đó là câu hỏi lớn cho toàn dân suy nghĩ, trước hết đó là sứ mệnh của những người ưu tú, vì quyền lợi dân tộc trong hàng ngũ cán bộ và đảng viên, trước mắt là tổ chức thảo luận rộng rãi bức thư ngỏ của  61 đảng viên gửi toàn thể đồng chí trong đảng để có được nhận thức tỉnh táo, đầy đủ nhằm tìm ra con đường sáng sủa phía trước cho dân tộc.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

VẾT CẮT SÂU ĐẾN 60 NĂM


VẾT CẮT SÂU ĐẾN 60 NĂM

Nguyễn Thị Hậu

Vào những năm 1954 – 1955, hàng ngàn người con Nam Bộ theo sự điều động của cách mạng đã tập kết ra miền Bắc, với niềm tin và hy vọng chỉ sau hai năm sẽ được trở về quê hương yêu dấu. Ba má tôi cũng nằm trong số đó. Và không ai có thể hình dung được rằng mãi hai mươi năm sau mới lại được đặt chân về đôi bờ Đồng Nai, Vàm Cỏ, Cửu Long… Ba tôi đã viết trong hồi ký như sau.
Một ngày cuối năm 1954, giữa một rừng cờ đỏ sao vàng, gia đình và đồng bào tiễn đội ngũ chúng tôi lên đường tập kết… Lần đầu tiên có chuyến đi xa nhưng không một ai thiết nhìn phong cảnh. Chúng tôi vừa để lại phía sau những gì thân thương nhất, vừa lo âu không hiểu rồi đây tương lai của mảnh đất quê hương yêu mến rồi sẽ ra sao, vừa băn khoăn cố gắng hình dung những nhiệm vụ nặng nề sắp đến, tự hỏi mình có gánh vác nổi hay không?
Tàu Xta-vơ-rô-pôn cập bến Sầm Sơn vào một buổi sáng mùa đông, gió lạnh chạy dài trên bãi biển. Đồng bào đông đảo nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi. Trống ếch rập rùng, nhưng lòng chúng tôi quặn đau vì thấy bà con ăn bữa cháo bữa rau, nhưng vẫn dành cho những đứa con miền Nam cơm đầy thịt đủ.
Kế tiếp là những năm dài “ngày Bắc đêm Nam”, là những chuyến lưu diễn liên miên: Rừng núi Việt Bắc, đồng ruộng Khu Ba, khu mỏ Quảng Ninh, giới tuyến Hiền Lương… Tới đâu chúng tôi cũng ráng đem lời ca tiếng hát góp phần cho than, lúa thêm nhiều, đem chút ít tình cảm ấm áp cho anh em đồng hương, ráng hết sức mình vì miền nam ruột thịt” 
Hai mươi năm, một thế hệ mới đã kịp ra đời và lớn lên ở Hà Nội – miền Bắc, đó là thế hệ chúng tôi, thế hệ “một chốn đôi quê” chỉ được biết quê hương qua những ký ức mà mẹ cha truyền lại. Hai mươi năm sống ở miền Bắc ba má tôi vẫn giữ được nguyên vẹn giọng nói và tính cách người Nam bộ chân chất thiệt tình. Những tháng năm sống ở Hà Nội, ký ức về quê hương thường được ba má tôi nhắc đến, bất kỳ lúc nào có gì đó gợi nhớ. “Ngày Bắc đêm Nam” suốt hai mươi năm không làm nguôi nỗi nhớ mà chỉ làm dầy thêm ký ức về quê hương. Tuổi thơ của tôi được nuôi dưỡng trong những ký ức của cha mẹ.
Quê hương tôi là làng nhỏ Mỹ Hiệp trên Cù Lao Giêng bên bờ sông Tiền, nơi mà sau này nhạc sĩ Hoàng Hiệp – cũng là một người bà con gần với gia đình tôi  – đã ghi lại ký ức về nó qua bài hát “Trở về dòng sông tuổi thơ”. Làng Mỹ Hiệp hiền lành với vườn trái cây, những nếp nhà sàn khuất sau hàng dừa, cánh đồng lúa chín trong mênh mông mùa nước nổi… Vào đầu năm 1945 một cô gái bên kia sông Tiền đã theo ba tôi về làm dâu và dù chỉ ở đó vài năm thôi nhưng trong tâm thức của má tôi, quê chồng cũng là quê mình. Và cũng như vậy, quê ngoại của tôi, làng Hòa An kế bên thị tứ Cao Lãnh cũng trở nên gần gũi hơn với hình ảnh cây mận xanh bên chái bếp, loại mận xanh Hòa An nổi tiếng thường được hấp với cá lóc, vị chua ngọt thanh thanh thấm vào miếng cá, nhậu quên say… Vườn thuốc lá Cao Lãnh thơm đậm đà nhờ được bón bằng phân cá,  làn khói thơm mùi lúa mới từ nhà máy xay của ông ngoại lan trên sông…
Tôi biết về quê hương Cù lao Giêng và Cao Lãnh từ ấy, biết yêu sông Tiền yêu mùa nước nổi từ ấy, biết thèm ăn mắm lóc, thèm cá rô kho tộ, thèm canh chua cá linh bông điên điển… Lớn hơn một chút, từ những cuốn sách qua những câu chuyện, hiểu biết của tôi về quê hương cụ thể hơn nhiều hơn nhưng không thể thay thế sự lung linh run rẩy mà ký ức cha mẹ truyền cho.
Nhưng quê hương không chỉ là những ký ức run rẩy đẹp. Hai mươi năm bặt tin, một ngày đầu tháng Năm 1975 một bà mẹ được ôm người con gái trong vòng tay. Đứa con gái mà bà đã phải lập bàn thờ từ khi nó đi tập kết với lời hứa: con đi hai năm sẽ về với má. Bàn thờ đứa con còn sống ở “phía bên kia” là để cho những đứa con khác yên ổn học hành, đi làm, đi lính…Nhưng chưa kịp mừng vì con gái trở về bà đã phải đưa hai người con trai đi học tập cải tạo. Gia đình lại chia ly. Người chị tìm cách bảo lãnh cho hai em ra khỏi trại cải tạo sớm hơn hạn định, gia đình gom góp tiền bạc cho họ vượt biên. Cũng may, người trong nhà thuộc bên này hay bên kia, cũng có lúc hờn giận nhau nhưng không nuôi oán trách thù hận. Họ thương yêu nhau hơn vì không muốn làm người mẹ đau lòng, vì họ hiểu không ai trong gia đình muốn những việc như thế xảy ra. Đấy là chuyện của gia đình bạn tôi sau năm 1975.
Nhưng dù như vậy, gia đình bạn còn may mắn hơn rất nhiều gia đình khác. Từ vết cắt 1954 biết bao gia đình có người thân phải đứng về hai chiến tuyến, biết bao gia đình không thể sum họp vì vợ, chồng đã có gia đình khác trong những năm dài không hẹn ngày gặp lại, biết bao nhiêu gia đình tiếp tục tan vỡ vào những ngày ngỡ đã bình yên… Vết cắt 1954 không chỉ dài đến 20 năm mà hình như, 60 năm rồi vẫn chưa lành.
Tôi vẫn luôn tự hỏi, nếu ngày ấy bản đồ Việt Nam không bị một vạch đỏ cắt ngang sông Bến Hải thì bây giờ đất nước sẽ thế nào?
Lịch sử thì không có chữ “nếu”. Chính vì vậy cần minh bạch tất cả những gì đã làm thay đổi số phận đất nước và số phận của từng gia đình, để thế hệ sau không phải đặt ra một chữ “nếu” đau xót như thế hệ hôm nay!
 

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Featured Post

Lisa Pham Vấn Đáp official-25/4/2026 /26/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link