Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Sunday, August 10, 2014

Người dân oan có nhiều huân chương chiến công nhất, vừa bị công an đập nát đầu xe, gia tài duy nhất của cụ!

 

Người dân oan có nhiều huân chương chiến công nhất, vừa bị công an đập nát đầu xe, gia tài duy nhất của cụ!

www.ducme.tv -Cà Phê Tối- Tiếng kêu xé lòng của Dân oan Dương Nội, ngày 02.05.2014


Ngoc Nhi Nguyen - Người trong hình là cụ Phàng Sao Vàng, năm nay đã 79t. Cụ là cựu chiến sĩ Điện Biên với hàng chục huân chương chiến công. Cụ đã trở nên nổi tiếng khi cụ xuất hiện bên ngoài tư gia của tướng Võ Nguyên Giáp và đứng nghiêm chào tiễn biệt. Báo chí VN đăng tin và ảnh cụ rầm rộ, nhưng sau đó khi biết cụ là dân oan thường trực ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, thì tất cả lại im ắng mặc kệ cụ.






Cụ Phàng Sao Vàng là người dân tộc HMong ở bản Suối Vạch, xã Kim Bon, huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. Cụ đã phải ăn dề ở dầm tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng nhiều năm để khiếu kiện mà vẫn chưa được giải quyết. Theo đơn của cụ ngày 28/8/2013 thì vụ việc đã “kéo dài 20 năm, 5 tạ đơn, 5 kg dấu đỏ” mà vẫn chưa có kết quả. Cụ nói cụ bị xử oan, bị tù oan những 5 năm. Trong đơn cụ trình bày: Kể từ khi ra tù đến nay, cụ đã viết gần 500 lá gửi từ cấp địa phương đến Trung ương để tố cáo những bất minh, sai trái của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án các cấp đã cùng nhau kết án ông đi tù 5 năm vô căn cứ nhưng không có phản hồi.


Lúc cụ đến chào tiễn biệt tướng Giáp thì chiếc xe máy của cụ còn nguyên vẹn. Nhưng sau mấy lần bị công an cưỡng bức phải rời khỏi Mai Xuân Thưởng thì xe của cụ bị chúng dùng dùi cui đập vỡ phía đầu xe, khiến cho cụ phải "băng bó" chằng chịt bằng băng keo như đã thấy trong hình!


Thật là khổ cho cụ quá! Hy sinh cả tuổi thanh xuân chiến đấu, trên ngực có bao nhiêu huân chương chiến công thì cụ có 1/2 con số ấy trong tù oan, và có gấp đôi thời gian ấy lê lết kêu oan!! 

Khi nào thì những người dân oan như cụ Phàng Sao Vàng mới được đảng và nhà nước CSVN đối xử tử tế?




Tưởng nhớ quá khứ để mở cửa tương lai! Hay khép lại quá khứ để đóng cửa tương lai?


Âu Dương Thệ (Danlambao) - Nguyên nhân và điều kiện để chính giới biết tưởng nhớ quá khứ và mở cửa tương lai thay vì khép lại quá khứ là đóng cửa tương lai. 

Tâm lí và tri thức khác biệt của hai thái độ và lập trường này: Một bên có lý trí sáng suốt, thức thời và có ý chí dám vượt qua con đường mòn đã sai lầm của lịch sử; còn bên kia thì không dám vượt qua cái bóng của mình chỉ khư khư ôm ấp lấy quá khứ đã hoàn toàn bất cập với thời đại!

Tưởng nhớ quá khứ để mở cửa tương lai 

Ngày Chủ nhật 3.8 tại ngọn núi Hartmannsweilerkopf nằm ở biên giới Pháp-Đức, nơi chôn vùi hàng chục ngàn binh sĩ Pháp-Đức tử thương, hai Tổng thống Pháp-Đức F. Hollande và J. Gauck đã cùng nhau nghiêng mình trước những binh sĩ hai nước đã phải hy sinh đúng 100 năm trước trong Thế chiến thứ nhất. Chính nơi này 100 năm trước đã diễn những trận đánh trận địa chiến giữa hai bên cực kỳ tàn khốc và dã man làm cho hàng chục ngàn binh sĩ hai bên đã bị chôn vùi trong khu vực này. Sự khốc hại và dã man đến nỗi các thế hệ sau đã đặt cho núi này một tên mới là "Núi ăn thịt người"

Trước sự tham dự đông đảo của nhiều giới, đặc biệt là thanh niên Pháp-Đức, Tổng thống Gauck đã nói "Các thế hệ ông cha của chúng ta không thể nghĩ rằng, ngày hôm nay chúng ta lại có thế đứng cạnh bên nhau!" và "cuộc chiến tranh thật là tàn khốc và vô nghĩa!" Hai Tổng thống Pháp-Đức đã cùng nhau ôn lại lịch sử, tưởng nhớ quá khứ, nhìn nhận những sai lầm trong lịch sử của hai bên và lặng lẽ ôm chầm lấy nhau ngay trước tượng đài kỷ niệm. Cảnh tượng này gây xúc động sâu xa không chỉ cho những người có mặt trong buổi lễ mà còn tạo ra xúc cảm mạnh cho hàng triệu người theo dõi qua các kênh truyền hình Pháp, Đức, Âu châu và thế giới.

Hai Tổng thống Pháp và Đức tưởng niệm 100 sau Thế chiến thứ I. 

Ngày hôm sau tại thành phố Lüttich (Bỉ) một buổi lễ tưởng nhớ Thế chiến thứ nhất với sự tham dự của 20 nguyên thủ và 80 phái đoàn của nhiều nước trên thế giới như các Tổng thống Hollande, Gauck, Thủ tướng Anh, Quốc vương Bỉ và Tây Ban Nha... Chính vào ngày này một trăm năm trước vua Đức Wilhelm II. đã bất chấp chính sách trung lập của Bỉ đưa quân Đức xâm chiếm Bỉ và dùng Bỉ mở đường sang đánh Pháp. Thế chiến thứ nhất kéo dài trong 4 năm (1914-18) đã làm thiệt mạng 17 triệu người, trong đó có nhiều triệu thanh niên các nước, nhất là ở Âu châu. 

Thế chiến thứ nhất kết liễu nhưng chính giới nhiều nước, nhất là một số quốc gia lớn ở Âu châu khi ấy, đã không sáng suốt và đủ ý chí rút ra được bài học đúng-sai trong lịch sử, nên lại sớm rơi vào hận thù, nghi kỵ và tìm cách trả đũa nhau theo những chủ trương dân tộc cực đoan. Cuối cùng lại làm bùng nổ Thế chiến thứ 2 (1939-45) gây ra thiệt hại nhân sự và tàn phá còn khủng khiếp hơn trước. Cả châu Âu chỉ còn là những đống tro tàn, những cảnh di tản và đói rách thảm thương. Mãi khi đó lãnh đạo mới ở nhiều nước, nhất là hai tử thù Pháp-Đức, mới tỉnh ngộ và quyết chí chọn giải pháp hợp tác thay vì đối đầu, từ đó mở màn cho kỷ nguyên hòa bình, phồn vinh và dân chủ suốt gần 7 thập niên ở nhiều nước Tây Âu và từ hơn 20 năm cả nhiều nước cựu CS Đông Âu. Chính họ đã biết tưởng nhớ quá khứ, rút ra những bài học sai lầm, nên đã xây dựng tương lai Âu châu sáng lạn! 

Trong dịp này cả hai Tổng thống Pháp-Đức cũng như nhiều chính khách trong Liên hiệp Âu châu (EU) đã không chỉ cùng nhau tưởng nhớ tới quá khứ. Họ còn nhấn mạnh phải biết rút ra những bài học lịch sử. Đó là hòa bình, phồn vinh, dân chủ và nhân quyền, những thành quả sáng chói của EU ngày hôm nay, không phải tự nhiên mà có; nó là một chuỗi không biết bao nhiêu những cố gắng của các chính quyền và nhân dân các nước xuyên qua nhiều thế hệ. Vì thế các vị đứng đầu EU đã cảnh báo phải biết gìn giữ và bảo vệ những giá trị, không để những khuynh hướng chính trị cực đoan lợi dụng các khó khăn để phân hóa EU, đồng thời cũng không để chủ trương bá quyền của Tổng thống Nga Putin đe dọa hòa bình ở Âu châu và thế giới. 

Vì sao mà hai nước tử thù trong nhiều giai đoạn lịch sử, nhưng từ sau Thế chiến thứ 2 Pháp-Đức và nhiều nước trong EU đã trở thành đồng minh và láng giềng thân hữu với nhau, bình đẳng với nhau giữa các nước lớn với 70-80 triệu dân tới các nước nhỏ chỉ vài trăm ngàn dân? Tại sao họ đã biết gìn giữ hòa bình và cùng nhau chia sẻ sự phồn vinh cũng như hạnh phúc cho cả nửa tỉ người? Các nhà lãnh đạo Pháp, Đức và nhiều nước trong EU sau Thế chiến 2 đã sáng suốt và đủ ý chí rút ra được những bài học đắt giá trong lịch sử và quyết từ bỏ các chủ trương dân tộc cực đoan, lấy những giá trị căn bản của Dân chủ Đa nguyên làm cơ sở chung xây dựng ở từng nước và cũng là cơ sở để cùng nhau hợp tác để kiến tạo hòa bình, kinh tế phồn vinh, nhân phẩm của mọi người được tôn trọng và bình đẳng giữa các nước hội viên, bất kể lớn hay nhỏ. 

Khép lại quá khứ là đóng cửa tương lai! 

Trong lúc đó khi phái đoàn cao cấp CSVN sang Thành Đô (Trung quốc) đầu tháng 9.1990 để xin cầu thân với Bắc kinh, hai bên đã đưa ra tiêu chí "khép lại quá khứ". Nghĩa là đóng cửa lịch sử lại, sai trái không xin lỗi, không được đụng vào; vì thế tuy miệng tuyên bố hợp tác chiến lược toàn diện và bạn bè tin cậy, nhưng thực tình chỉ vì chẳng đặng đừng mới phải chung sống với nhau mà thôi. Đây là cảnh đồng sàng dị mộng, Bắc kinh đưa ra khẩu hiệu hợp tác theo lối "4 tốt" ("đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt"!!!), nhưng thực tình thì chỉ lợi dụng và chờ thời cơ xâm lấn lãnh thổ và bòn rút tài nguyên của VN theo đúng kiểu thực dân. Còn khi đó Hà nội đang trong cảnh thất thế, thế cô lực tận, để cứu chế độ toàn trị nên phải nhận lại sự đùm bọc của Bắc kinh, như người ngậm bù hòn cay đắng nhưng vẫn khen là ngọt! 

Chính thái độ bất đắc dĩ và bất bình đẳng trong hợp tác, nên từ sau Hội nghị Thành Đô Hà nội đã không được phép và không dám tổ chức kỷ niệm hàng năm các lễ 19.1 (Bắc Kinh chiếm Hoàng sa của VN 19.1.1974) và 17.2 (Chiến tranh biên giới VN-Trung quốc 17.2.1979). Trái với chủ trương cùng nhau tưởng nhớ quá khứ để cùng nhau xây dựng tương lai như Pháp, Đức và nhiều nước EU, Bắc kinh và Hà nội lại chủ trương "khép lại quá khứ" theo cách nói trên, nên chưa có lần nào lãnh đạo hai nước cùng nhau tới thăm viếng và tưởng nhớ tới những binh sĩ hai bên đã bị giết hại, thậm chí đầu năm nay Tập Cận Bình còn dùng đường giây nóng điện thoại ra lệnh Nguyễn Phú Trọng không được tổ chức các lễ kỷ niệm này. Vì thế Hà nội cũng không dám để cả thân nhân, bạn hữu các binh sĩ quá cố tới thắp hương tưởng niệm! Vì không dám thành thực tưởng nhớ quá khứ, nhận ra những sai lầm, nên họ lại nhắm mắt theo vết xe cũ, con đường mòn cũ để cuối cùng bị tắc nghẽn ngoại giao không có tương lai mà đỉnh cao mới là giàn khoan HD-981!

Giàn khoan HD 981 của Trung Quốc

Đối với đồng bào ruột thịt, những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN, xuyên qua nhiều thế hệ, cũng giữ thái độ "khép lại quá khứ", không đủ lý trí và ý chí để dám nhìn thẳng vào lịch sử để nhận ra những sai trái lỗi lầm; nhưng lại chỉ tìm cách tô hồng, bôi son và nếu bất đắc dĩ phải nhận những khuyết điểm thì lại tự bào chữa đổ cho tình thế lúc đó, chứ lãnh đạo luôn luôn đúng đắn! Cho nên suốt chiều dài gần 70 năm cầm quyền hầu như chưa có một người lãnh đạo nào phải bị tù tội vì những sai lầm và tội ác đã gây ra cho nhân dân và đất nước! Điển hình như phong trào "cải cách ruộng đất", "đấu tố địa chủ" theo kiểu Mao do Hồ Chí Minh phát động vào giữa thập niên 50 đã giết hại hàng chục ngàn nông dân. Sau đó tuyên bố "sửa sai", Trường Chinh tuy bị mất chức Tổng bí thư nhưng vẫn giữ ghế Ủy viên Bộ chính trị và sau đó tiếp tục leo lên những vị trí quan trọng khác trong Đảng và Nhà nước! Tiếp đến phong trào "Trăm hoa đua nở" học theo Mao để đàn áp các trí thức và văn nghệ sĩ muốn được suy nghĩ và viết độc lập theo hiểu biết và lương tâm của mình vào cuối thập niên 50, cho tới nay cũng những người cầm đầu trước đây và hiện nay chưa một lần chính thức nhìn nhận sai lầm và xin lỗi những người đã bị tù tội. Cả cuộc dựng đứng và đàn áp nhiều trí thức, sĩ quan và cán bộ cấp cao bị kết tội "Xét lại chống đảng" từ đầu thập niên 60 cho tới nay cũng vẫn im lìm! Tất cả những tội ác và sai lầm khủng khiếp này đều xuất phát từ chủ trương  "khép lại quá khứ", nghĩa là lãnh đạo tìm mọi cách bịt lại những sai lầm, không chịu xin lỗi và cũng không cho ai được khui ra!

Chủ trương "khép lại quá khứ" càng được những người có trách nhiệm của chế độ toàn trị tổ chức tinh vi và xảo quyệt đối với các thành phần nhân dân ở miền Nam sau 1975. Lập ra những"trại cải tạo" từ Bắc-Trung-Nam để giam cầm bóc lột sức lao động, hành hạ tinh thần và thể xác hàng mấy trăm ngàn công chức, binh sĩ của Việt nam Cộng hòa (VNCH) hàng chục năm. Gần 40 năm "chiến thắng" tuyên bố hòa hợp dân tộc, nhưng bên thắng cuộc vẫn không trợ giúp thương binh VNCH, không cho tự do thăm viếng và trùng tu các nghĩa trang quân đội miền Nam. Chính sách trả thù và ngược đãi đã khiến cho mấy triệu người phải bất dĩ làm thuyền nhân vượt Thái Bình Dương tìm tự do, hàng trăm ngàn phải bỏ mình trên biển cả! Nhưng tới nay chưa có một lần giới lãnh đạo toàn trị nhìn nhận đó là những sai lầm và tàn bạo. Ngược lại, những năm đầu thì lại kết án họ là "chạy theo đế quốc", đến khi cần đến "kiều hối" thì lại không ngượng miệng và xỏ xiên ngọt ngào gọi họ là "đồng bào ruột thịt xa ngàn dặm"!

Chiến dịch "đánh đổ tư sản mại bản" do Đỗ Mười cầm đầu mở ra ở miền Nam vào cuối thập niên 70 làm tan nát hệ thống kinh doanh miền Nam, hàng trăm ngàn tư thương và gia đình bị đẩy về những vùng "kinh tế mới" ở những nơi rừng thiêng nước độc, thay vào đó là dựng lên các Doanh nghiệp nhà nước chỉ làm ăn thua lỗ. Chủ trương "kinh tế tập thể" với các hợp tác xã nông nghiệp... ở miền Nam đã dẫn tới nạn đói khủng khiếp ở VN vào thập niên 80. Đây là những sai lầm cực kỳ nguy hiểm trong kinh tế, nhưng chưa bao giờ những người cầm đầu nhìn nhận công khai là sai lầm, quá lắm chỉ âm thầm sửa sai và nói đó là "đổi mới" và còn tự tâng bốc đây là sáng suốt. Không những thế, những người có trách nhiệm như Đỗ Mười chẳng chịu một hình phạt nào mà còn nắm chức Thủ tướng rồi Tổng bí thư để sau đó lại cho tái lập các loại Doanh nghiệp nhà nước kiểu mới như các "tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước" dưới thời Nguyễn Tấn Dũng đang trở thành nơi các con ông cháu cha và các nhóm lợi ích trong Đảng đục khoét hàng trăm ngàn tỉ công quĩ từ thuế của dân!

Trong những năm gần đây các hành động xâm lấn biển đảo, bòn rút tài nguyên của bá quyền Bắc kinh ngày càng ngang ngược và nguy hiểm; nên các giới trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên và cả nhiều đảng viên tiến bộ đã công khai tố cáo và tổ chức những cuộc biểu tình phản đối. Đây là những hành động yêu nước đúng đắn, nhưng nhóm cầm đầu hiện nay thay vì ủng hộ lại thẳng tay đàn áp, theo dõi và giam giữ nhiều người. Ngay cả khi Bắc kinh dựng giàn khoan HD 981 từ Nguyễn Phú Trọng tới Nguyễn Tấn Dũng cũng vẫn cấm nhân dân không được tự do biểu lộ lòng yêu nước bằng phương pháp bất bạo động. Đó cũng chỉ vì họ phải tuân lệnh của Bắc kinh là"khép lại quá khứ"!

Tất cả những tội ác và sai lầm khủng khiếp và triền miên suốt mấy thập kỷ vừa qua, như trình bày ở trên, từ trong đối ngoại tới kinh tế và nội trị đều qui vào một mối: Chế độ độc đảng áp dụng chủ nghĩa Marx-Lenin theo thế giới đại đồng đã bị thực tế phủ nhận hoàn toàn và trở thành viển vông hoang tưởng. Nhưng những người đang nắm vận mệnh đất nước lại không có lý trí và ý chí nhận ra những sai lầm nguy hại này, họ vẫn chủ trương "khép lại quá khứ" và đẩy đất nước vào một tương lai đen tối!

Sự khác biệt căn bản giữa "tưởng nhớ quá khứ" và "khép lại quá khứ"

Như đã định nghĩa ở phần đầu, "tưởng nhớ quá khứ" và "khép lại quá khứ" vừa là chủ trương chính trị vừa là thái độ tâm lý của những người lãnh đạo của từng nước. Nhưng hai việc này hoàn toàn trái ngược nhau như ngày với đêm, trắng với đen. Trong khi "tưởng nhớ quá khứ"đòi hỏi khả năng lý trí sáng suốt và ý chí muốn thay đổi thực sự của những người nắm trọng trách, đồng thời đòi hỏi xã hội đó phải có những cơ chế cởi mở, trong đó đảng cầm quyền chỉ là một thành phần của xã hội mà thôi. Bên cạnh đó còn có các chính đảng đối lập, báo chí độc lập và các tổ chức xã hội dân sự được tự do thành lập và hoạt động theo lãnh vực nghề nghiệp của mình. Xã hội đó còn có cơ chế phân quyền độc lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tất cả các cơ chế tổ chức này tạo thành một hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội tạo ra những cuộc đối thoại, tranh luận, phản biện công khai và thường xuyên không chỉ trong nghị trường mà cả trong báo chí và các tổ chức dân sự khác. Nhờ thế xã hội đó trở nên thông thoáng, có những cơ chế và tổ chức vừa kiểm soát lẫn nhau, nhưng đồng thời cũng là động lực thúc đẩy cạnh tranh vươn tới tương lai tốt hơn không chỉ trong chính trị mà cả trong kinh tế...Chính xã hội mở này giúp cho dư luận thấy rõ và thấy sớm đâu là những đồng thuận được đa số ủng hộ, đâu là những chủ trương mị dân, quá khích và phiêu lưu. Những cuộc tranh luận công khai, thẳng thắn và cởi mở giúp cho các giới trưởng thành về chính trị, các chính đảng luôn luôn phải chịu những thử thách và quyết định của dư luận nhất là trong các mùa tranh cử quan trọng. Khiến cho thủ lãnh chính đảng cầm quyền không thể tự thần thánh hóa mình, không thể dễ dàng đánh lừa cử tri, không thể im lặng trước những bức xúc của nhân dân và càng không thể dấu diếm các sai lầm theo kiểu "khép lại quá khứ" được!

Cả hai điều kiện - một chính giới có lý trí sáng suốt và có ý chí muốn thay đổi thực sự và xã hội cởi mở - đã có ở một số nước Âu châu từ sau Thế chiến 2, đặc biệt Pháp và Đức, từng là cựu tử thù. Khi ấy cả Tổng thống Pháp De Gaulle và Thủ tướng Đức Adenauer cùng các cộng sự chính đã sớm nhận ra là: Không thể xây dựng một tương lai mới cho châu Âu trên nền tảng hòa bình, phồn vinh và dân chủ mà lại không dám nhìn thẳng vào quá khứ; vì "khép lại quá khứ", tránh không nhìn nhận lỗi lầm là giúp cho chủ trương phục thù của các bên có thể trỗi dậy trở lại và đe dọa hòa bình! Khi đó nếu Đức và Pháp không hòa thuận lại với nhau thì có thể nguy cơ Hồng quân Liên xô khi ấy có thể nhuộm đỏ không chỉ ở Đông Âu mà cả toàn Âu châu, trong đó cả Pháp lẫn Đức. Vì thế chính phủ Đức đã công khai nhìn nhận những sai lầm của chế độ độc tài Hitler và tuyên bố muốn cùng Pháp và các nước Tây Âu xây dựng một liên minh chính trị, kinh tế mới, dựa trên các nền tảng tin cậy và dân chủ. Chủ trương thức thời và khôn ngoan này đã được dư luận đa số ở Pháp, Đức và một số nước Tây Âu triệt để ủng hộ. Các thế hệ tiếp theo trong chính giới Pháp, Đức... đã thấy rõ những lợi ích rõ ràng của chính sách "mở cửa tương lai" bằng cách "tưởng nhớ quá khứ"!

Chính vì sáng suốt và khôn ngoan nên giới lãnh đạo mới ở Tây Âu sau Thế chiến hai đã dám "tưởng nhớ quá khứ" nhận ra những sai lầm và biết dùng ý chí để vượt qua tâm lý của bóng tối hận thù và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chính nó đã "mở cửa tương lai" cho một EU dân chủ, nhân quyền, phồn vinh và hòa bình từ trên nửa thế kỷ nay!

Trái lại, vì không sáng suốt và không đủ ý chí nên những người cầm đầu CSVN đã chủ trương"khép lại quá khứ", đóng cửa quá khứ, không dám nhìn nhận những sai lầm và đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để có thể mở cửa tương lai tươi sáng cho VN. Vì vậy sau gần 70 năm nắm quyền nhưng hận thù và chia rẽ vẫn ngự trị, bộ máy công an mật vụ đàn áp nhân dân càng được tăng cường; vẫn ngoan cố duy trì hệ thống Doanh nghiệp nhà nước làm kinh tế tụt hậu, nợ công chồng chất, tham nhũng như rươi. Trong khi ấy, vì giữ mục tiêu đảng trước nước sau nên những người cầm đầu chế độ toàn trị lại cứ tiếp tục nhắm mắt cúi đầu quì gối trước Bắc kinh, mở cửa cho phương Bắc thực hiện các chủ trương bành trướng và vơ vét tài nguyên của VN, đang đe dọa chủ quyền và độc lập của đất nước! Vì thế tương lai của dân tộc đang rất đen tối!

Gần đây nhiều đảng viên tiến bộ có tên tuổi và biết quí tự trọng đã lên tiếng báo nguy về những sai lầm cả trong đường lối đối ngoại với Trung quốc và các chính sách phản dân chủ với nhân dân đang đẩy đất nước vào một tương lai đen tối, có thể dẫn tới mất chủ quyền và độc lập.Nguyên nhân của nó là do những người đứng đầu chế độ toàn trị vẫn theo con đường mòn "khép lại quá khứ" cả với nhân dân và với bên ngoài, không đủ sáng suốt và ý chí để nhận ra những sai lầm để dám thay đổi triệt để. Đây là những lời cảnh báo chính xác và có động cơ trong sáng. Vì thế nhiều đảng viên tiến bộ và nhiều giới ủng hộ.

Cuộc vận động chính trị mới rất cương quyết và kiên trì của nhiều giới, đi đầu là trí thức và thanh niên, cho một nước VN dân chủ mới đang được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhiều đảng viên tiến bộ và biết quí tự trọng. Trọng tâm của nó là làm thay đổi tương quan lực lượng giữa dân chủ-tiến bộ và độc tài-bảo thù, với mục tiêu trong sáng là mở cửa tương lai cho VN đặt trên những giá trị nền tảng phù hợp với văn minh thời đại là đoàn kết, dân chủ, độc lập, phồn vinh và hòa bình, sánh vai bình đẳng với các dân tộc văn minh khác!

8. 8. 2014

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
Địa chỉ: dcvapt@gmail.com
Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam





Văn hoá quân sự những điều chưa biết


Vận Mệnh (Danlambao) - Đọc hướng dẫn về cách đối xử với tù phiến cộng của Quận đội Việt Nam Cộng hòa thì chúng ta thấy ở đó thể hiện tinh thần rất nhân bản, rất nhân văn ngay cả khi đó là quân thù.

Vì những người đứng đầu, những người soạn thảo ra những điều đó đều hiểu rất rõ quân thù của họ chính là đồng bào ruột thịt, cùng chung máu mủ Âu Cơ - Lạc Long Quân. Bởi họ cũng chỉ là dâ...n thường, họ sống dưới chế độ Chủ nghĩa Cộng sản thì làm sao họ biết được những toan tính của cấp trên, làm sao họ biết được nền văn minh dân chủ của thế giới, làm sao họ có được quyền đề cử ra người mà cho là có đức, có tài để bầu làm lãnh đạo. Họ chỉ biết nghe theo lệnh của cấp trên, chỉ đâu thì đánh, chỉ ai thì giết. Họ chỉ biết một điều là ở miền Nam có quân Mỹ, Mỹ là kẻ thù, bất kể người nào làm cho Mỹ cũng là kẻ thù của dân tộc, phải xây xác họ để đổi lấy vinh quang và giàu mạnh.



Rất dễ để thấy cái tàn bạo, cái độc ác, rất dễ cảm nhận nỗi đau khổ nếu như bạn nhìn, bạn đọc báo thấy những người bị Công an nhân dân dùng nhục hình để tra khảo đến chết. Đó là những bề nổi, đó là những công dân đang mang quốc tịch Việt Nam, đang sống trong một xã hội được cho là “Xây dựng con người chủ nghĩa xã hội, con người hiện đại, con người tiến bộ” mà đã bị đối xử một cách vô nhân đạo như thế thì nghĩ xem những tảng băng chìm nó thế nào. Có thể cho là Công an và Quân đội là khác nhau, nhưng ở Việt Nam hiện tại thì Công an và Quận đội đều do đảng Cộng sản lãnh đạo.

Ngẫm nghĩ thật đáng xấu hổ, ngậm ngùi khi lâu lâu phải nghe các em học sinh cất vang “đường vinh quang xây xác quân thù” vào mỗi sáng thứ 2 hàng tuần.

Không biết đến bao giờ thì những con người tôn thờ chế độ Chủ nghĩa Cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh mới bắt đầu xây dựng được tinh thần nhân ái của người Việt Nam.

Còn đối với người dân, phụ huynh học sinh chúng ta thì sao? Nếu bạn là người có trái tim nhân ái, nếu bạn không dám đứng ra để lên tiếng yêu cầu nhà trường không bắt học sinh hát Quốc ca thì bạn có thể nói với con bạn đừng hát bài Tiến quân ca của Văn Cao, hoặc đừng hát đoạn “đường vinh quang xây xác quân thù” đó chính là hành động mà bạn đang giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn, định hướng cho con bạn trở thành người nhân ái.

09/8/2014

Trân quý và đồng hành.




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu


Preview by Yahoo
Bà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!

Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:




Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...


Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)
















Ha ha ha !
Hố hố hố !
Không biết làm thịt em nào trước đây?
xem thêm





Ảnh của Ngoc Bui.

HTTP://DANLAMBAOVN.BLOGSPOT.COM/2014/05/HANG-VAN-CONG-NHAN-BINH-DUONG-INH-









__._,_.___


Posted by: hung vu <vhungvu07@yahoo.com.au

Hiểm họa Trung Cộng và bài học “Phần Lan hóa” (Finlandization)


Hiểm họa Trung Cộng và bài học “Phần Lan hóa” (Finlandization)

Ảnh minh hoạ. Nguồn: kampucheakrompost.blogspot.com
Ảnh minh hoạ. Nguồn: kampucheakrompost.blogspot.com

Trong bài viết Việt Nam đối diện với việc “Phần Lan hóa” từ Trung Quốc (Vietnam Faces ‘Finlandization’ from China) cuối tháng Năm vừa qua trên báo Asiasentinel, David Brown, một cựu nhân viên ngoại giao Mỹ, viết: “Như vậy, trong khi Washington dường như đã sẵn sàng vẽ một lằn ranh quanh Nhật Bản, Hàn Quốc và cũng có thể Singapore và eo biển Malacca, Hải quân Hoa Kỳ đang từ bỏ việc đương đầu tại một khoảng xa cách từ bờ biển Việt Nam.” Tác giả viết tiếp “Điều đó có thể được hiểu rằng, Mỹ đang dự định chấp nhận nhìn Việt Nam bị “Phần Lan hoá”.
Tháng 9 năm 2010, trong một bài viết trên tờ Wall Street, Andrew Krepinevich, Chủ tịch Trung tâm Định ước Ngân sách và Chiến lược (the Center for Strategic and Budgetary Assessments) cũng cảnh báo Trung Cộng đang tiến hành “Phần Lan hóa” Thái Bình Dương: “Liên Xô chưa bao giờ thành công “Phần Lan hóa” Châu Âu. Nhưng sự đe dọa vừa trở lại từ phía Trung Cộng, quốc gia này đang cố gắng “Phần Lan hóa” Tây Thái Bình Dương. Cách phát triển quân sự của một quốc gia mở ra cánh cửa cho thấy ý định của nó, và Trung Cộng rõ ràng đang tìm kiếm để gây hiệu quả tuần tự nhưng quyết định vào cán cân quân sự Mỹ-Trung. Mục đích của Trung Cộng là ngăn chận Mỹ trong việc bảo vệ các quyền lợi lâu dài trong khu vực – và để lôi kéo các đồng minh dân chủ của Mỹ vào quỹ đạo của nó.”
Trong chính luận Tranh chấp Mỹ-Trung, một cảnh giác cho lòng yêu nước trên talawas hơn bốn năm trước, người viết cũng có bàn tổng quát về trường hợp các quốc gia độn như Thổ Nhĩ Kỳ và Phần Lan. Để có thể tồn tại trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh các nước này đã phải áp dụng nhiều chiến lược đối ngoại và đối nội khác nhau. Trong lúc Thổ Nhĩ Kỳ chủ trương cứng rắn chống Liên Xô, đứng hẳn về phía Tây phương, Phần Lan chủ trương các chính sách đối ngoại và đối nội nhượng bộ Liên Xô. Người viết cũng đã phân tích chọn lựa của Thổ Nhĩ Kỳ trong chính luận Hiểm họa Trung Cộng và bài học Thổ Nhĩ Kỳ cách đây hai năm và lần này bàn đến trường hợp Phần Lan.
Với chủ trương bành trướng Nga Hoàng của Vladimir Putin và ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán của Tập Cận Bình đang cháy rộng, khái niệm “Phần Lan hóa” lại lần nữa được nhắc nhở khá nhiều: “Phần Lan hóa” Ukraine, “Phần Lan hóa” Đài Loan và cả khả năng “Phần Lan hóa” Việt Nam.
Trước khi bàn đến việc liệu Việt Nam có thể sẽ bị “Phần Lan hóa” với sự thỏa thuận ngầm của Mỹ như David Brown phân tích hay thực tế đã bị “Phần Lan hóa” sau mật ước Thành Đô, cần tìm hiểu các điều kiện địa lý chính trị, lịch sử và quốc phòng của Phần Lan trong quan hệ với Liên Xô trước và sau Thế chiến thứ hai cũng như sự ra đời của khái niệm này.

“Phần Lan hóa” là gì?
“Phần Lan hóa” (Finlandization) có nghĩa “để trở nên Phần Lan” là một khái niệm chính trị để chỉ ảnh hưởng của một cường quốc trên các chính sách đối nội, đối ngoại và quốc phòng của một quốc gia láng giềng nhỏ, bị cô lập, không phải là thành viên của một liên minh quân sự và không nhận được sự bảo vệ của các cường quốc. Khái niệm vẫn còn nhiều tranh cãi, mang nặng cảm tính này bắt nguồn từ chính sách của chính phủ Phần Lan trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh từ 1947 đến 1990 để đáp ứng với thực tế chính trị và bảo vệ được chủ quyền đất nước, hay vắn tắt là để tồn tại.

Phần Lan trước Thế chiến thứ hai
Năm 2013 dân số Phần Lan có 5.5 triệu, tuy nhiên trong giai đoạn “Phần Lan hóa” trong những năm 1940 quốc gia này chỉ có khoảng 4 triệu dân, đa số sống ở các khu vực miền nam, nhiều nhất tại thủ đô Helsinki và vùng phụ cận. Vì là một nước quá nhỏ chia sẻ biên giới với các nước lớn nên Phần Lan cũng gặp nhiều lận đận. Suốt 600 năm, Phần Lan bị Thụy Điển đô hộ. Các viên chức Thụy Điển được cử đến cai trị Phần Lan. Dù đương đầu với hiểm họa bị đồng hóa, Phần Lan vẫn giữ được bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và tiếng nói riêng. Khi phong trào cải cách tôn giáo của Martin Luther lan rộng đến Thụy Điển và Phần Lan, Tân Ước được dịch sang tiếng Phần Lan và đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân. Sau chiến tranh giữa Nga và Thụy Điển vào cuối thế kỷ 17, Nga chiếm Phần Lan.

Năm 1912, vua Nga, Alexander I nâng cấp Phần Lan từ hàng tự trị lên cấp quốc gia đặt thủ đô tại Helsinki. Cũng vào thời điểm đó tinh thần quốc gia Phần Lan do Tiến sĩ Johan Vilhelm Snellman nuôi dưỡng, bắt đầu phát triển mạnh. Để chống lại chính sách đồng hóa của Nga Hoàng, Johan Vilhelm Snellman kêu gọi người dân Phần Lan tuyệt đối không dùng tiếng Nga.
Cách Mạng CS Nga 1917 bùng nổ, Phần Lan tuyên bố độc lập. Tuy nhiên bị ảnh hưởng chính trị Nga, cánh tả trong chính phủ Phần Lan rất mạnh và thực hiện một cuộc đảo chánh. Quân chính phủ do tướng Gustaf Mannerheim chỉ huy phản công và đánh bại quân phiến loạn. Phần Lan chính thức trở thành nước Cộng Hòa năm 1919 với K.J. Ståhlberg là tổng thống đầu tiên. Biên giới giữa Nga và Phần Lan được công nhận theo hiệp ước biên giới Tartu ký kết năm 1920. Quan hệ giữa Phần Lan và Liên Xô rất căng thẳng, và quan hệ giữa Phần Lan và Đức cũng không tốt đẹp gì hơn.
Tháng Tám 1939, Hitler và Stalin ký thỏa hiệp không xâm phạm nhau trong đó có điều khoản Hitler đồng ý nhường Phần Lan cho Stalin. Khi Phần Lan từ chối việc cho phép Liên Xô xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Phần Lan, Stalin tấn công Phần Lan vào tháng 11 năm 1939. Chiến tranh Mùa Đông (Winter War) bùng nỗ. Tuy Phần Lan thua nhưng đã gây thiệt hại trầm trọng cho phía Liên Xô. Sau Chiến tranh Mùa Đông (1939) là Chiến tranh Tiếp Tục (Continuation War) (1941-1944). Trong thời gian này Phần Lan đứng về phía Đức và đem quân tấn công Liên Xô để chiếm lại các phần đất bị mất trong Chiến tranh Mùa Đông và nhiều phần đất khác của Liên Xô. Chính Anh Quốc cũng đã tuyên chiến với Phần Lan năm 1941. Năm 1944, Phần Lan ký hiệp ước đình chiến với Liên Xô.
Phần Lan sau Thế chiến thứ hai
Tại hội nghị Paris 1946, Đồng Minh ân xá cho Phần Lan và các nước đã đứng về phía phe Trục như Romania, Bulgaria, Hungary và cho phép các nước này trở thành hội viên Liên Hiệp Quốc. Phần Lan và Liên Xô ký các hiệp ước hòa bình lần nữa vào những năm 1947 và 1948. Trong giai đoạn này Phần Lan quá yếu về khả năng quân sự so với Liên Xô nên đã buộc phải nhường vùng đất phía nam cho Liên Xô. Đứng trước sự phân cực đang hình thành trong sinh hoạt chính trị thế giới, Phần Lan đối diện với một thực tế chính trị thế giới hoàn toàn bất lợi. Đức Quốc Xã, đối trọng với Liên Xô sụp đổ, không có đồng minh quân sự, bị cô lập về địa lý chính trị, các quốc gia trong vùng Đông Âu lần lượt trở thành chư hầu CS của Liên Xô, các quốc gia vùng Baltic như Estonia, Latvia, Lithuania đều bị sáp nhập hẳn vào Liên Xô. Ưu tiên hàng đầu của chính phủ Phần Lan, vì thế, bằng mọi giá để khỏi bị trở thành một “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” trong Liên Bang Xô Viết.
Quá sợ Liên Xô nuốt sống như trường hợp các nước vùng Balkan, Phần Lan lấy lòng Liên Xô bằng cách từ chối viện trợ Mỹ trong kế hoạch viện trợ kinh tế Marshall. Tuy vậy, Phần Lan ngấm ngầm thiết lập quan hệ kinh tế với Anh, Mỹ và các chính phủ Anh, Mỹ cũng tìm cách yểm trợ Phần Lan để hy vọng nuôi dưỡng chế độ dân chủ non trẻ tại quốc gia nhỏ ở Bắc Âu này. Chính sách “Phần Lan hóa” ra đời.

Nội dung của “Phần Lan hóa ”:
- Về đối ngoại. Phần Lan theo đuổi một chính sách đối ngoại rất mềm dẽo, nhân nhượng, không làm mất lòng Liên Xô, trung lập. Liên Xô trong thực tế không xem Phần Lan như là một nước Trung Lập đúng nghĩa mà luôn xem quốc gia này phụ thuộc vào các chính sách đối ngoại phát xuất từ điện Kremlin. Chẳng hạn, khi đại sứ Phần Lan Max Jakobson được đề cử vào chức vụ Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Liên Xô chẳng những không ủng hộ mà còn dùng quyền phủ quyết để bác bỏ vì không muốn thấy một chính khách Phần Lan đóng vai trò quan trọng trong tổ chức chính trị thế giới.

- Về đối nội. Loại trừ các thành phần lãnh đạo quốc gia có khuynh hướng chống Liên Xô và ủng hộ các thành phần thân Liên Xô. Theo tài liệu của CIA, Liên Xô duy trì mối quan hệ mật thiết với các chính khách thân Liên Xô đứng đầu là Tổng thống Juho Kusti Paasikivi (1870-1956) và sau đó là Tổng thống Urho Kekkonen (1900-1986). Liên Xô có quyền phủ quyết các chính sách của Phần Lan và can dự vào nội bộ Phần Lan qua trung gian đảng CS Phần Lan, Liên Đoàn Dân Chủ Nhân Dân, Quốc Hội Phần Lan với đa số thuộc cánh tả.

- Về văn hóa giáo dục. Để vừa lòng Liên Xô, Phần Lan áp dụng chính sách tự kiểm duyệt, tự kiểm soát và thân Liên Xô. Chính phủ Phần Lan ngăn chận các phương tiện truyền thông có cái nhìn tiêu cực về Liên Xô. Trên 1700 cuốn sách có nội dung chống Liên Xô trước đó bị xếp vào thể loại “sách bị cấm”. Các phim ảnh không có lợi cho Liên Xô như The Manchurian Candidate, Day in the Life of Ivan Denisovich v.v. đều không được phép chiếu.

- Về quốc phòng. Hiệp ước Hữu Nghị Hợp Tác Phần Lan-Liên Xô 1948 (Finno-Soviet Pact of Friendship, Cooperation and Mutual Assistance) quy định Phần Lan phải có trách nhiệm chống lại các lực lượng thù địch của Liên Xô khi các lực lượng này tấn công Liên Xô ngang qua ngã Phần Lan và nếu cần sẽ kêu gọi sự giúp đở quân sự của Liên Xô. Phần Lan không được liên minh quân sự với một quốc gia thứ ba. Điều này do Liên Xô đặt ra để giới hạn Phần Lan gia nhập NATO giống như trường hợp Đan Mạch và Na Uy. Trước đó, trong hiệp ước ký kết giữa hai nước, Phần Lan đã nhường 10 phần trăm lãnh thổ cho Liên Xô.

Nhắc đến “Phần Lan hóa” không thể bỏ qua vai trò của Tổng thống Phần Lan Urho Kekkonen, người lèo lái chính sách này trong suốt 26 năm làm tổng thống. Những người phê bình Urho Kekkonen cho rằng ông ta là con cờ của Liên Xô trong khi những người ủng hộ xem ông như là một trong những anh hùng của Phần Lan vì đã bảo vệ được chủ quyền Phần Lan trong một hoàn cảnh chính trị thế giới vô cùng khó khăn.
Công tâm mà nói, trong suốt dòng lịch sử, lãnh thổ Phần Lan là bãi chiến trường cho các tham vọng bành trướng của Thụy Điển và sau đó là Nga Hoàng. Sau Thế chiến thứ hai, hầu hết các quốc gia vùng Baltic và Balkan đề nằm trong quỹ đạo Liên Bang Sô Viết. Lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ của quốc gia này đều bị xóa bỏ. 

Ý thức được điều đó, mục tiêu hàng đầu của Kekkonen là bảo vệ chủ quyền Phần Lan, bảo vệ nền Cộng Hòa Phần Lan bằng mọi giá, không thể để Phần Lan trở thành một xứ tự trị như thời Nga Hoàng hay một “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” của Stalin. Mặc dù nhân nhượng Liên Xô rất nhiều trong các lãnh vực chính trị, quốc phòng Phần Lan cũng có lợi về kinh tế vì Liên Xô là quốc gia nhập cảng lớn nhất sản phẩm của Phần Lan. Sự sụp đổ của Liên Xô đã gây ra những suy thoái kinh tế trầm trọng tại Phần Lan. Sau giai đoạn phục hồi, Phần Lan đã phát triển một cách vượt bực. Ngày nay Phần Lan hội nhập cao vào sự nền kinh tế thế giới và là một trong những quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới.

Trở lại với quan hệ Trung Cộng và CS Việt Nam trong cái nhìn so sánh giữa Liên Xô và Phần Lan.

Trung Cộng sau Thiên An Môn
Chính sách đối ngoại của Trung Cộng trong thời gian 1990 nhằm mục đích thoát khỏi sự cô lập quốc tế và ổn định chính trị nội bộ sau biến cố Thiên An Môn. Những thành tựu kinh tế của chính sách bốn hiện đại hóa từ đầu thập niên 1980 đã đạt một số thành tích đáng kể nhưng tất cả đều rất mong manh, yếu kém. Các cường quốc dân chủ vẫn còn trừng phạt kinh tế sau khi Đặng Tiểu Bình ra lệnh tàn sát nhiều ngàn sinh viên Trung Quốc yêu dân chủ tại Thiên An Môn đầu tháng 6, 1989.

Như hầu hết các quốc gia CS, kế hoạch chung của cả nước luôn chế ngự và đồng thời duy trì tính cân đối của các chính sách đối ngoại cũng như đối nội trong mỗi thời kỳ. Để thoát khỏi sự cô lập và phục hồi vị trí của Trung Cộng trong bang giao quốc tế , Đặng Tiểu Bình theo đuổi chính sách đối ngoại mềm dẽo trong đàm phán biên giới với hàng loạt các nước lân bang trong đó có Việt Nam. Chính sách của ho Đặng được gọi là chính sách 20 nét chữ “bình tĩnh quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời” (lengjing guancha, chenzhuo yingfu, wenzhu zhenjiao, taoguang yanghui, yousuo zuowei).

Sự sụp đổ của hệ thống Liên Xô làm Trung Cộng không còn lo ngại vòng vây Liên Xô từ hướng Việt Nam nhưng lại có mối lo mới nguy hiểm và hùng mạnh hơn nhiều, đó là Mỹ. Như người viết đã trình bày trong các bài trước, thời điểm 1990 đối tượng cạnh tranh của Trung Cộng là Mỹ và Nhật chứ không phải Liên Xô hay chư hầu của nó là CSVN và mục tiêu bành trướng của họ Đặng không chỉ giới hạn ở các cù lao trên biển, vài ngọn núi đất ở Hà Giang mà cả Thái Bình Dương. Và để giới hạn sự đe dọa của Mỹ, Trung Cộng đã làm hòa với CSVN. Hai bên đã mở các cuộc đàm phán vào năm 1991 và đạt đến thỏa hiệp vào năm 1993 sau mật ước Thành Đô.

Việt Nam sau Liên Xô
Sau khi hệ thống CS tại châu Âu sụp đổ, nền kinh tế của các nước CS còn lại của khối COMECON trong đó có Lào, Cu Ba và CSVN trở thành đàn gà mất mẹ. Trong bài bình luận nhân dịp kỷ niệm 20 năm bức tường Bá Linh đổ, tạp chí The Economist nhận xét chung rằng khi chế độ thực dân ra đi, các nước cựu thuộc địa ít ra còn hưởng được các phương pháp quản trị, hệ thống tư pháp và nhiều trường hợp cả ngôn ngữ nhưng chế độ CS ra đi không để lại gì ngoài nghèo đói, ngục tù và lạc hậu.

Số phận của đảng CSVN như chỉ mành treo chuông. Trong giờ phút sinh tử đó, lãnh đạo CSVN xem dấu hiệu hòa hoãn của Đặng Tiểu Bình như chiếc phao giữa biển. Họ vui mừng bám lấy. Dĩ nhiên, với bản chất thâm độc, đầu óc tính toán của lãnh đạo Trung Cộng, món lễ vật của đàn em CSVN dâng lên trong ngày quy phục thiên triều lần nữa phải là một lễ vật đắt giá. Món nợ máu xương từ năm 1979 trở về trước hẳn được Đặng Tiểu Bình đòi cả vốn lẫn lời.

Hội nghị bí mật tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên diễn ra trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 giữa phía Việt Nam gồm Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và phía Trung Quốc gồm Giang Trạch Dân và Lý Bằng thực chất là lễ cam kết một loại “công hàm” khác, trầm trọng hơn nhiều so với “công hàm Phạm Văn Đồng”. 

Chiều ngày 7 tháng 11 năm 1991 tại Nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài Bắc Kinh, Giang Trạch Dân tuyên bố “Nhưng chúng tôi hy vọng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể khôi phục mối quan hệ mật thiết giữa hai Đảng và hai nước do những người lãnh đạo thuộc thế hệ lão thành xây dựng nên.” Họ Giang muốn nhắc nhở lãnh đạo CSVN về thời kỳ mà đảng CSVN thở bằng bình oxyen Trung Cộng trong các thập niên 1950, 1960.

Trung Cộng muốn Việt Nam những gì Liên Xô muốn Phần Lan và nhiều hơn nữa:
- Giống như Liên Xô áp dụng với Phần Lan, Việt Nam phải “trung lập” trên danh nghĩa. Phần Lan luôn tuyên bố trung lập và Liên Xô ủng hộ vị trí trung lập của Phần Lan nhưng thực chất có quyền phủ quyết hầu hết các chính sách đối ngoại của Phần Lan. CSVN cũng thế. Họ luôn tuyên bố “quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi” với mọi quốc gia trên thế giới nhưng thực chất chỉ “hợp tác” với sự đồng ý của Trung Cộng. Bất cứ khi nào có dấu hiệu làm trái ý, Trung Cộng sẽ dùng mọi biện pháp hèn hạ nhất để trừng phạt như trường hợp giàn khoan HD981 vừa qua, bất chấp dư luận thế giới khinh khi.

- Giống như Liên Xô áp dụng với Phần Lan, các chính sách an ninh quốc phòng của Việt Nam không được đi ngược với chính sách quốc phòng của Trung Cộng, không được độc lập trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng. Để thỏa mãn Trung Cộng, Việt Nam theo đuổi một chính sách quốc phòng “ba không” tự sát: (1) không tham gia các liên minh quân sự, (2) không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, (3) không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Các điều khoản này tương tự các điều khoản của hiệp ước mà Phần Lan phải ký với Liên Xô năm 1948.

- Giống như Liên Xô đã cướp đất của Phần Lan, CSVN đã chấp nhận vị trí đặc quyền, đặc lợi của Trung Cộng trong Biển Đông. Như đã viết, khi thỏa hiệp bán nước Thành Đô vừa ký kết xong, ngày 25 tháng 2 năm 1992, Quốc vụ viện Trung Cộng thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Ba tháng sau đó, Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam và hứa sẽ bảo vệ công ty Creston bằng võ lực. Ngoài ra, Trung Cộng còn ra lịnh cấm đánh cá, thành lập các đơn vị hành chánh cấp huyện tại Hoàng Sa và Trường Sa.

- Giống như Liên Xô đã áp lực với lãnh đạo Phần Lan, Việt Nam cũng thực hiện các chính sách tự kiểm duyệt các tin tức gây mất lòng Trung Cộng, giới hạn các phim ảnh, sách báo có nội dung tiêu cực về chế độ CS tại Trung Quốc, ngăn chận mọi ý kiến, phản ứng dù rất ôn hòa của người dân trước các hành động gây hấn, xâm lược lộ liễu của Trung Cộng. Tháng Sáu vừa qua, các báo VnExpress, Thanh Niên, Người Lao Động, Tiền Phong, Giáo Dục đã phải đồng loạt lấy xuống các hình ảnh và tin tức liên quan đến ngày kỷ niệm Tàn Sát Thiên An Môn. TS Nguyễn Quang A, một trong những thành viên chủ trương Diễn đàn Xã hội Dân sự phát biểu với RFA:“Điều đó chứng tỏ rằng những thế lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam còn gắn rất chặt với Trung Quốc. Tôi tin chắc chắn là họ nghe theo lệnh của Bắc Kinh để họ làm như vậy.”

- Bên cạnh các điểm giống nhau nêu trên, một điểm khác biệt có tính quyết định đối với tương lai của dân tộc Việt Nam: Trung Cộng quyết tâm bảo vệ đảng CSVN. Làm gì thì làm, nói gì thì nói, lãnh đạo CSTQ cũng biết hiện nay chỉ còn năm đảng cầm quyền mang nhãn hiệu búa liềm. Nắm giữ Việt Nam về mặt lý luận tư tưởng không chỉ để bảo vệ cơ chế mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Và do đó, bị “Phần Lan hóa” trong quỹ đạo Trung Cộng cũng có nghĩa ngày nào Trung Cộng còn do đảng CS cai trị ngày đó nhân dân Việt Nam lại cũng sẽ tiếp tục chịu đựng dưới ách chủ nghĩa độc tài toàn trị Lê Nin không có Mác. Tổng thống Phần Lan Urho Kekkonen phải khuất phục Liên Xô chỉ vì để bảo vệ chế độ cộng hòa và chủ quyền đất nước, lãnh đạo CSVN bám vào chiếc phao Trung Cộng chỉ vì quyền lực và quyền lợi riêng của đảng CS.

Những phân tích trên cho thấy có khả năng cao Việt Nam đã bị “Phần Lan hóa” qua mật ước Thành Đô. Và Việt Nam, như một dân tộc, chỉ có thể tự thoát khỏi quỹ đạo Trung Cộng tức tránh khỏi nạn bị“Phần Lan hóa” bằng (1) dân chủ trước Trung Cộng, (2) đoàn kết dân tộc để vượt thoát và thăng tiến, (3) chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia trong tranh chấp Thái Bình Dương, (4) sát cánh với láng giềng cùng hoàn cảnh và tham gia các liên minh tin cậy như đã trình bày trong chính luận Để thắng được Trung Cộng.

© Trần Trung Đạo
Tham khảo:
- “Finlandization” in Action: Helsinki’s Experience with Moscow”, Directorate of Intelligence Report. CIA
-  China’s ‘Finlandization’ Strategy in the Pacific , Adrew F. Krepinevich, The Wall Street Journal Sept 11,2010
-   Vietnam Faces ‘Finlandization’ from China, David Brown, AsiaSentinel, May 22 2014
Finland, a country study, Library of Congress , Eric Solsten and Sandra W. Meditz, December 1988

-  THE POWER OF C ENTRAL AND EASTERN EUROP AFTER1945 Mart Laar
China’s Foreign Relations After Tiananmen: Challenges for the U.S. Robert S. Ross, Allen S. Whiting and Harry Harding, The NBR Analysis, 1990.

Regime Insecurity and International Cooperation, M. Taylor Fravel, International Security, Vol. 30, No. 2 (Fall 2005), pp. 46–83 © by the President and Fellows of Harvard College
-  Wikipedia.org The Molotov–Ribbentrop Pact 
-  Wikipedia.org on Finland 
-  Korean Reunification Would Cast Off China’s Shadow , Mark P. Barry, World Policy


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

John Kerry mong muốn quan hệ Mỹ-Việt phát triển hơn nữa


MỸ - VIỆT - 
Bài đăng : Thứ bảy 09 Tháng Tám 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ bảy 09 Tháng Tám 2014

John Kerry mong muốn quan hệ Mỹ-Việt phát triển hơn nữa

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh - REUTERS/Jacquelyn Martin

Anh Vũ

Tới dự hội nghị Ngoại trưởng các nước Asean và các đối tác tại Naypyidaw, hôm nay 09/08/2014, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tỏ ý mong muốn quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam phải được "phát triển mạnh mẽ" hơn nữa. Tới thủ đô Miến Điện đêm qua, hôm nay ông Kerry đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề hội nghị Ngoại trưởng Asean và các đối tác.

Theo AFP, trong cuộc gặp này, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã ca ngợi qua hệ đối tác giữa Washington và Hà Nội gần đây đang có « những tiến bộ », trên các lĩnh vực như hợp tác hạt nhân dân sự, không phổ biến vũ khí và đặc biệt trong việc phối hợp giải quyết các căng thẳng trên Biển Đông, một hồ sơ sẽ được quan tâm nhiều trong kỳ họp lần này.
Ông John Kerry nói với đồng nghiệp Việt Nam rằng : « Chúng tôi tiếp tục bàn về các vấn đề liên quan đến nhân quyền và những việc có thể thực sự giúp cho quan hệ phát triển ».
AFP nhận xét, kể từ khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao năm 1995, quan hệ thương mại giữa hai cựu thù Mỹ và Việt Nam đã được thúc đẩy đáng kể. Tuy nhiên Washington vẫn chỉ trích Hà Nội về các vấn đề nhân quyền và tự do báo chí, tôn giáo.
Từng tham chiến tại chiến trường Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1970, ông John Kerry là người có nhiều thiện cảm với Việt Nam và từ khi lên lãnh đạo ngành ngoại giao Hoa Kỳ, ông tỏ ra rất năng động trong việc thúc đẩy cải thiện quan hệ Việt –Mỹ.
Cùng lúc này, hai thượng nghị sĩ John McCain của đảng Cộng hoà và Sheldon của đảng Dân chủ đang có chuyến thăm Việt Nam. Hôm qua (08/08) trong cuộc họp tại Hà Nội, Thượng nghị sĩ John Mccain đã khẳng định đã đến lúc « Mỹ bắt đầu nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam » và ông hy vọng việc cấm vận này có thể được gỡ bỏ từng phần ngay từ tháng 9 tới.
Trong cuộc họp báo, ông McCain cũng cho biết « Mỹ sẵn sàng gia tăng trợ giúp về an ninh, giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình ».
Tuy nhiên, Thượng nghị sĩ Mỹ cũng cho biết quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương là liên quan đến những diễn tiến tại Việt nam và ông nhấn mạnh, sẽ không có sự bảo đảm nào nếu không có những tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link