Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 22, 2014

Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu?


Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu? 

Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới.
Đào Như
18.08.2014 
OAK PARK, ILLINOIS— 

Sau 38 năm kết thúc cuộc chiến và 18 năm sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, tầm nhìn của hai kẻ cựu thù Việt, Mỹ đôi khi không nhìn chung về một hướng. Mãi đến năm 2011, trong chiều hướng của chủ thuyết “Thế kỷ Châu Á Thái Bình Dương Của Mỹ” của Ngoại trưởng Hillary Clinton, Tổng thống Obama lần đầu tiên nhìn nhận Việt Nam là một đối tác đáng tin cậy của Mỹ tại Đông Nam Á trong chiến lược Mỹ trở lại Châu Á Thái Bình Dương, nhất là Đông Nam Á.

Sau những biến đổi tồi tệ về tình hình khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông do Trung Quốc tạo nên, đe dọa tác hại đến lợi ích quốc gia của Mỹ tại khu vực này, Tổng thống Obama chủ động mời Chủ tịch Nước Việt Nam Trương Tấn Sang qua Washington để thảo luận vào ngày 25/7/2013 về tình hình khu vực Biển Đông với hy vọng nâng cao quan hệ Việt-Mỹ lên tầm đối tác toàn diện.

Theo thông cáo chung sau cuộc gặp lịch sử này, ”Tổng thống Obama và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang quyết định xác lập đối tác toàn diện trong quan hệ Mỹ-Việt.” Mối quan hệ này được thiết lập trên một số cơ chế hợp tác trong nhiều lãnh vực khác nhau, trong đó có quan hệ chính trị-ngoại giao, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, môi trường và y tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, du lịch và thể thao, kinh tế và mậu dịch, an ninh và quốc phòng, nhân quyền…

Phần nhiều những mối quan hệ này - kể cả quan hệ ngoại giao-chính trị - dễ dung hòa, vì cả hai bên Mỹ-Việt đều sẵn sàng quên đi những hệ lụy chiến tranh giữa 2 nước trong quá khứ để cùng nhau hướng đến lợi ích chung. Nhưng vì những khác biệt về điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa và kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay, những mối quan hệ về nhân quyền, an ninh-quốc phòng, và kinh tế-thương mại, nhất là vòng đàm phán về vấn đề Việt Nam gia nhập TPP, vẫn còn nhiều trở ngại và thử thách.

Từ cuộc họp thượng đỉnh Washington hôm 25/7/2013 cho đến nay, hai bên thường xuyên trao đổi về những biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện cũng như tăng cường phối hợp các tiến trình đàm phán TPP. Các viên chức cao cấp của hai bên tiếp tục điện đàm, thường xuyên đi lại giữa Hà Nội và Washington để thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện.

Ngày 14-3-2014, theo đề nghị của phía Hoa Kỳ, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã điện đàm với Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc, đại diện Tổng thống Obama, ông Denis McDonough, nhằm thúc đẩy việc kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ.

 Nội dung của cuộc điện đàm này cũng không có gì mới lạ, không đạt được tính đột phá. Có chăng đó là câu nói có vẻ hứa hẹn một cái gì đó từ phía Hoa Kỳ: “Hiệp hội TPP sẽ dành sự linh hoạt thỏa đáng đối với các thành viên đang phát triển, như Việt Nam…”

 Nhưng Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc Denis McDonough không nêu rõ ý nghĩa cụ thể của cụm từ “linh hoạt thỏa đáng” là như thế nào? Gồm có những gì? Vòng đàm phán TPP vẫn còn nhiều gai góc, không thỏa mãn được Tòa Bạch Ốc đang thật sự mong muốn vòng đàm phán này sớm chấm dứt trước cuối năm 2014.

Ngày 14/7/2014, ông Evan Medeiros, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Obama, đến Hà Nội với mục đích thúc đẩy Việt Nam về các vấn đề liên quan đến đàm phán TPP và Biển Đông. Điều đáng chú ý là sứ mệnh của ông Medeiros rất bao quát và rộng lớn: kết hợp hai vấn đề to lớn là việc Việt Nam gia nhập TPP và an ninh Biển Đông.

Trước đây Mỹ chỉ đòi Việt Nam muốn được gia nhập TPP phải có tiến bộ về nhân quyền. Bây giờ thì lại kèm theo an ninh BIển Đông. Nghĩa là muốn gia nhập TPP, ngoài điều kiện phải có tiến bộ về nhân quyền, Việt Nam phải phối hợp quân sự với Mỹ để chống trả ý đồ xâm lăng của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặc dầu không nói ra, ai cũng hiểu đó là liên minh quân sự với Mỹ.

 Vì vậy khi đến VN, mục đích chủ yếu của ông Medeiros là gặp Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh. Tướng Vịnh lúc nào cũng “yểm” sẵn “Chính sách Quốc phòng 3 không”, nhất là điều thứ 3: “Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào để chống lại một quốc gia khác”. 

Do đó ông Medeiros đã không đạt được sự hợp tác của Tướng Vịnh như Tòa Bạch Ốc mong muốn.

Tiếp theo đó là chuyến công du Hoa Kỳ của ông Phạm Quang Nghị ngày 21/7/2014, chuyến đi đánh dấu một lần nữa tầm quan trọng trong việc thúc đẩy kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Phạm Quang Nghị là Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, được xem như là người sẽ kế vị Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tương lai. Mục đích chủ yếu của chuyến công du của ông Nghị là thay đổi quan điểm của dân chúng và Quốc hội Mỹ xưa nay thường cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thiên về Trung Quốc và chống lại Mỹ.
Đây là biểu hiện cho thấy quan hệ Việt-Mỹ đang đi vào một giai đoạn mới và tích cực. Tại Mỹ ông Nghị đã tiếp xúc với các Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman, Phó cố vấn An ninh Quốc gia Tony Blinken, Chủ tịch tạm quyền Thượng viện Patrick Leahy và Thượng Nghị sĩ John McCain. Trong các cuộc tiếp xúc này, ông Phạm Quang Nghị đã thông báo về tình hình và chính sách đối ngoại của Việt Nam và khẳng định Đảng và Nhà Nước Việt Nam coi trọng và không ngừng thúc đẩy quan hệ hợp tác với Mỹ trong khuôn khổ đối tác toàn diện. Hai bên cũng đề cập đến tình hình dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Hiệu quả của chuyến công du Mỹ của ông Nghị là phần nào làm cho nhân dân và chính phủ Mỹ thấy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang dần dần rời bỏ Bắc Kinh và hướng về Washington. Nhưng dường như sự xoay chiều này của Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ để thỏa mãn Quốc hội Mỹ.

Ngày 29/7/2014, Dân biểu Cộng hòa Frank Wolf gửi một bức thư với chữ ký của 32 Dân biểu khác cho Tổng thống Obama mạnh mẽ khuyến cáo Quốc hội Mỹ không cho Việt Nam gia nhập TPP nếu Hà Nội không thay đổi đáng kể về mặt nhân quyền, cải tổ luật pháp phù hợp với luật bảo vệ lao động, và Chính phủ Hà Nội phải theo đuổi thể chế dân chủ pháp quyền.

Cũng nên chú ý, trong tháng 7 vừa rồi Quốc hội Mỹ đã thông qua hai dự luật quan trọng có lẽ cũng nhằm thúc đẩy mối quan hệ Đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Đó là Dự luật cho phép Mỹ hợp tác và giúp đỡ Việt Nam xây nhà máy hạt nhân dân sự tại Việt Nam và Dự luật giải tỏa các lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN

Đầu tháng Tám này, cố vấn cấp cao của Tổng thống Obama, Thượng Nghị sĩ Bob Corker, đã đi thăm Hà Nội và tiếp xúc với các yếu nhân Việt Nam cũng không ngoài mục đích thúc đẩy kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện và thúc đẩy tiến trình đàm phán TPP. Trao đổi với ông Bob Corker hôm 5-8, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã “kêu gọi Quốc Hội Mỹ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế, đầu tư thương mại song phương, tạo điều kiện để Việt Nam gia nhập TPP và ủng hộ một giải pháp ôn hòa cho vấn đề Biển Đông…” Đúng là ông Sang chỉ lập lại những gì ông đã phát biểu trong cuộc gặp với Tổng thống Obama tại Tòa Bach Ốc hồi năm ngoái (ngày 25/7/2013).

Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới - nghĩa là thời khoản dành ưu tiên cho Việt Nam gia nhập TPP còn rất ngắn. Phải chăng ông Corker đang chuyển thông điệp của Tòa Bạch Ốc đòi Việt Nam phải gấp rút cải thiện nhân quyền nếu không muốn bỏ mất hoàn toàn cơ hội gia nhập TPP?
Tuy nhiên, một ánh sáng vừa le lói ở cuối đường hầm TPP: Trong chuyến công du Việt Nam mới đây, Thượng Nghị sĩ John McCain đã tuyên bố hôm 8/8/2014 tại Hà Nội rằng “đã đến lúc Washington nên nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, vì Hà Nội đã có tiến bộ về nhân quyền như việc thả một số nhà bất đồng chính kiến và cởi mở hơn trong vấn đề tôn giáo”. Về phần mình Thượng Nghị sĩ Sheldon Whitehouse cho rằng việc nới lỏng sẽ xảy ra từng giai đoạn, nhưng nó có thể tiến nhanh hơn.

Ông McCain cũng hứa hẹn “Mỹ sẽ có tư duy và hành động mới trong quan hệ với Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng kết thúc vòng đàm phán TPP và làm việc với Việt Nam nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường”. 

Thượng Nghị sĩ McCain nói thêm: ”Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự và tăng các chuyến viếng thăm của tàu chiến đến mức mà Việt Nam cho phép, không phải bằng cách thiết lập căn cứ, điều mà chúng tôi không có ý định, mà bằng các thỏa thuận giữa hai nước…Chúng tôi cũng sẵn sàng hỗ trợ an ninh để giúp Việt Nam cải thiện khả năng nhận thức về lãnh hải và xây dựng năng lực bảo vệ chủ quyền…”(1)

Dĩ nhiên thật là lạc quan cho những ai được nghe những gì Thượng Nghị sĩ John McCain vừa nêu lên tại Hà Nội hôm 8-8-2014 về những ưu tiên mà chính phủ Mỹ dành cho VN trong tiến trình gia nhập TPP và trong việc kiện toàn và phát triển quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng đó mới chỉ là phát biểu của Thượng Nghị sĩ John McCain chưa được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua và cũng chưa đem ra đàm phán với phía Việt Nam. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay đã xoay chiều, hướng về Washington, điều đó không có nghĩa là Việt Nam sẵn sàng quay nòng súng 180 độ để đánh trả Trung Quốc nhằm bảo vệ Biển Đông.

Cho nên vấn đề liên minh quân sự với Mỹ vẫn còn là một mục tiêu khó đạt tới đối với Việt Nam, nhất là khi họ đã quyết tâm bảo vệ “Chính sách Quốc phòng 3 không” của họ. Với chính sách này, Việt Nam đã thành công giải quyết trong hòa bình những xung đột trên Biển Đông. Cụ thể là việc Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của VN sớm hơn 1 tháng trước thời hạn do Trung Quốc ấn định.

Do vậy thật khó lượng định quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay đang ở đâu.
GHI CHÚ VỀ NGUỒN

(1)- McCain Nhắc Nhở Việt Nam về Dân Chủ
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

http://www.voatiengviet.com/content/quan-he-doi-tac-toan-dien-my-viet-dang-o-dau/2417727.html


Người Mỹ muốn gì? Hà Nội dám “thoát Trung” không?

Người Mỹ muốn gì? Hà Nội dám “thoát Trung” không?

Võ Long Triều

(Việt Nam Thời Báo) - Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ 5 ngày của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội từ 21-25/5/2014, giữa lúc quan hệ Việt-Trung xấu nhứt, căng thẳng tột cùng do giàn khoan HD-981 của Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển thuộc đặt quyền kinh tế Việt Nam, gây ra nhiều gia chạm giữa các tàu bảo vệ của Trung Quốc và tàu hải giám Việt Nam. 

Ông Phạm Quang Nghị được dư luận xem là người thân tín của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và là nhân vật có khả năng thay thế ông Trọng lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong kỳ đại hội đảng sắp tới. Ông Nghị chỉ là thành viên Bộ chính trị không giữ một trọng trách gì, nhưng được tiếp xúc với nhiều nhân vật cao cấp Mỹ. Do đó có thể hiểu là Bộ chính trị đã gởi một tín hiệu cho chính phủ Hoa Kỳ rằng Việt Nam muốn tiếp cận với Mỹ. Đúng hay sai?
 
Người Mỹ muốn gì?

Thông qua những chuyện xảy ra trong tháng Tám này cho thấy nhận xét đó là đúng, trong bối cảnh hiện tại cả hai quốc gia Mỹ-Việt đều muốn tiếp cận lẫn nhau. Việt Nam đang bị Trung Quốc
áp chế nặng nề mà không tìm ra sự hỗ trợ nào để “Thoát Trung” ngoài Mỹ. Hoa Kỳ đang có mục đích bao vây Trung Quốc để kềm chế sự hung hăng của con hổ Bắc Kinh đang trở thành mối hiểm họa cho Hòa bình thế giới.

Ngày 04/8/2014, Thượng Nghị Sĩ Bob Corker thành viên cao cấp Ủy Ban đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, sang viếng thăm Việt Nam và bày tỏ quan ngại về diễn biến tình hình ở Biển Đông. Ông Bob corker tuyên bố ủng hộ việc đẩy nhanh sự triển khai các nội dung hợp tác Mỹ-Việt trong khuôn khổ đối tác toàn diện, và ông cũng thông báo Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Tiếp đó ngày 7/8/2014, hai Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Cain thuộc đảng Cộng Hòa và Seldon Whitehouse thuộc đảng Dân Chủ, bất ngờ đến thăm Việt Nam liền sau chuyến đi của Thượng nghị sĩ Bob Corker. Đài VOA thông báo, chiều ngày 8/8/2014 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp phái đoàn Thượng Nghị Sĩ Mỹ tại trụ sở Trung Ương đảng cộng sản VN ở Hà Nội. 

Ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đảng và nhà nước VN coi Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam, ông ủng hộ việc thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ ở các cấp độ và trên các lĩnh vực phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước”. Ông cũng mong muốn hai bên sẽ có nhiều biện pháp tích cực để triển khai có hiệu quả đối tác toàn diện và thiết thực.

Về phía Hoa Kỳ, trong cuộc họp báo cùng ngày tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Mc Cain tuyên bố:
- Về phía chúng tôi đã sẵn sàng đáp ứng thách đố này với suy nghĩ và hành động mới.
- Chúng tôi sẵn sàng hoàn tất một Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương ở tiêu chuẩn cao với Việt Nam là một đối tác trọn vẹn.
- Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự giữa chúng ta, và tăng số lần chiến thuyền Hoa Kỳ cập bến Việt Nam theo như Hà Nội cho phép. Không phải để thiết lập căn cứ mà để tăng cường sự tiếp cận.
- Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hỗ trợ an ninh nhằm giúp Việt Nam nâng cao khả năng theo dõi trong lãnh vựa hàng hải và năng lực bảo vệ chủ quyền của mình.

Ông Mc Cain nói thêm: “trong mục đích ấy tôi tin Hoa Kỳ sẽ bắt đầu nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí sát thương”. Thượng Nghị Sĩ Seldon Whitehouse nói cụ thể hơn là Hoa Kỳ có thể hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam vào tháng Chín năm nay. Ông Mc Cain hứa sẽ bắt đầu làm việc ngay sau khi ông trở về Hoa Kỳ để thực hiện những gì ông đã hứa với Việt Nam. Tuy nhiên ông cũng nhắc lại lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Dân chủ là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của nhân loại. Chế độ ở Việt Nam phải làm tốt hơn về dân chủ và đảng cộng sản Việt Nam phải giương cao ngọn cờ dân chủ”.

Ông Mc Cain kết luận: “Tôi hy vọng Việt Nam sẽ chuyển những lời đáng ghi nhận nầy thành những hành động mạnh dạn, chẳng hạn như trả tự do cho các tù nhân lương tâm, thực hiện dân chủ nhân quyền để “làm nền tảng cho Hoa Kỳ và Việt Nam xây dựng một quan hệ đối tác chiến lược bền vững”, dựa trên những giá trị chung mà hai quốc gia có thể có.

Tiếp đó ngày 14/8/2014, Đại Tướng Martin Dempsey – là Chủ tịch hội đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đầu tiên của Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam trong bốn ngày. Tướng Dempsey tuyên bố tại thành phố Sài Gòn: “Lĩnh vực hàng hải là quan tâm chung và lớn nhứt hiện nay của chúng ta”. Ông nói: “Tôi không yêu cầu Việt Nam chọn làm bạn của Mỹ hay Trung Quốc”. Nhưng ông lại xác định, Mỹ có thể giúp tăng cường năng lực hải quân Việt Nam một khi lệnh cấm vận vũ khí được xóa bỏ. 

Giới chức Mỹ cho rằng chuyến viếng thăm của Đại Tướng Dempsey là một tín hiệu gởi cho khu vực, rằng Mỹ nghiêm túc trong việc tái cân bằng ở Châu Á-Thái Bình Dương.
 
Hà Nội dám “Thoát Trung” không?

Bên cạnh đó cũng ngày 14/8/2014, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Cộng Hòa Czechoslovakia, Tướng Peter Pavel chính thức đến thăm Việt Nam để thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương và phát triển tình hữu nghị giữa quân đội và nhân dân hai nước.

Căn cứ trên những lời phát biểu của các Thượng Nghị sĩ và của Đại Tướng Demsey thì rõ ràng Mỹ mở rộng con đường hợp tác quân sự với Việt Nam và từ đó Hà Nội sẽ có cơ hội “Thoát Trung”, nếu Bộ chính trị đảng cộng sản dám từ bỏ chính sách đu dây đối với Trung Quốc trong khi quan thầy Bắc Kinh và “đồng chí tốt” chủ trương thôn tính Việt Nam ngày càng hiện rõ. Hình như Bộ chính trị và đảng cộng sản Việt Nam đã chuyển đổi thái độ đối với nước “láng giềng hữu nghị”, người “đồng chí tốt” luôn có dã tâm.

Từ lời phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi tiếp hai Thượng Nghị Sĩ Mỹ, có thể hiểu rằng Việt Nam đã thay đổi chính sách, sẽ nghiêng về phía Mỹ và Tây phương.

Thực tế Việt Nam là quốc gia đang lâm cảnh vô cùng khó khăn trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc. Bắc Kinh lấn áp ngày càng quá đáng, thậm chí có dã tâm xâm chiếm trọn đất nước Việt Nam. Sở dĩ Hà Nội chần chờ không dám phản kháng vì bị vướng mắc công hàm của cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, và sự ký kết ở Hội nghị Thành Đô, quan trọng hơn cả là vì sức mạnh quân sự của cường quốc láng giềng luôn luôn hành động ngang ngược đe dọa cả vùng Đông Nam Á. Vì vậy đã đến lúc Hà Nội phải tìm cách tiếp cận với cường quốc đứng đầu thế giới là Mỹ, để hy vọng thoát khỏi búa rìu của sự bành trướng Hán tộc. Sự tiếp cận với Mỹ cũng hợp với 67% đa số quần chúng Việt Nam theo kết quả một cuộc thăm dò gần đây. Và cũng phù hợp với những toan tính của Hoa Kỳ đang tìm mọi cách siết chặt vòng vây Trung Quốc. Tóm lại cả hai quốc gia đều có nhu cầu quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác quân sự song phương.

Tuy nhiên trên chính trường quốc tế, xưa nay mọi sự hợp tác, mọi thỏa hiệp đồng minh đều dựa vào quyền lợi và nhu cầu giai đoạn. Nếu xét qua lời tuyên bố của Ngoại Trưởng John Kerry thuyết trình về chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ tại East West Center ở Hawai “Một mối quan hệ mang tính xây dựng giữa Mỹ và Trung Quốc là cần thiết để duy trì sự ổn định trong khu vực, bất chấp hành vi của Bắc kinh ỡ biển Đông”, có thể hiểu rằng Hoa Kỳ cần có một mối quan hệ Mỹ - Trung mang tính xây dựng để duy trì hòa bình trong khu vực.

Thẳng thừng mà xét, quan hệ Mỹ-Trung ngày nay không khác gì sự kình chống Hoa Kỳ- Liên Xô ngày trước. Một loại chiến tranh lạnh mà không bên nào dám để cho nó trở thành nóng. Bất chấp hành vi của Bắc Kinh ở biển Đông, dưới mắt cường Quốc Hoa Kỳ thế giới sẽ ổn định miễn sao Trung Quốc bằng lòng hợp tác xây dựng hòa bình duy trì an ninh và cùng nhau hành động cho đôi bên đều có lợi. Gần đúng với ý nghĩ của Tập Cận Bình và Barack Obama thỏa thuận ở Roncho Mirage, California.

Hiện tại cho dù Hà Nội tìm được sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ để tạm thời buộc Trung Quốc phải ngưng lấn chiếm, nhưng nếu Hà Nội cứ một mực khăng khăng thực hiện độc tài độc đảng, đàn áp dân chúng mà không lợi dụng cơ hội tạm thời hòa hoãn, nới rộng dân chủ, thực hiện nhân quyền, bài trừ tham nhũng, thay đổi chính sách đất đai, giải quyết khiếu kiện của dân oan, bằng mọi cách xoa dịu quần chúng, đoàn kết dân tộc..., thì một ngày nào đó nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc tìm được sự thỏa thuận đôi bên đều có lợi, họ sẽ bỏ rơi Hà Nội, như họ đang rút quân đội khỏi Iraq và Afganistan vì nội bộ bất đồng, vì dân chúng Hoa Kỳ chán ghét chiến tranh, cũng như Tổng Thống Nixon thỏa thuận với Mao Trạch Đông, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Trong trường hợp đó Hà nội cũng sẽ lâm vào cảnh bị Trung Quốc lấn áp nặng nề hơn ngày nay, vì cần cho “đồng chí phản bội” một bài học đích đáng.

Võ Long Triều


Đem chuyện cô Xuân trở lại bàn



 

Đem chuyện cô Xuân trở lại bàn

© Trần Hồng Tâm
Tâm sự đời Bác. Tranh Babui.
HCM h
Nghi án Nông Thị Xuân xảy ra cách đây đã 57 năm, nhưng nó vẫn là một bóng ma, im lìm trong bóng tối. Mọi ngả tìm kiếm đều bị chặn, mọi cách nhận thực bị bóp chết. Linh hồn oan khuất của cô Xuân dường như đã tàn phai trong ký ức người đời, trong khi “đạo đức của Bác” vẫn được rao giảng mỗi ngày.
Gần đây tôi được đọc tài liệu phân tích đặc điểm và tính cách của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những tài liệu này là cuốn “Trần Đức Thảo-Những Lời Trăng Trối” của Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê. Tôi giận mình vì những nhận thức trước đây của mình phiến diện quá. Vậy, thử vận dụng những gợi ý của triết gia Trần Đức Thảo để phẫu tích, hy vọng có một góc nhìn khác về nghi án này.
Đây là vụ đại hình sự mà Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật có liên quan trực tiếp. Bạn đọc đã biết rõ nội dung nghi án, nhưng để có cái nhìn khái quát về nó, xin nhắc lại những sự kiện chính theo trật tự thời gian.
Trước 1954, khi còn trên chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh nhận cô Nông Thị Xuân làm con nuôi. Đến đầu năm 1955, cô Xuân, 22 tuổi, được đưa về Hà Nội để gần Bác. Cô Xuân cùng nguời em Nông Thị Vàng tạm trú tại căn nhà 66 phố Hàng Bông, dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn.
Mỗi tuần đôi ba lần ông Hoàn đưa cô Xuân vào Phủ Chủ tịch ngủ qua đêm với Bác. Ông Hoàn cũng nhiều lần cưỡng dâm cô Xuân. Cuối năm 1956, cô Xuân sinh con trai. Bác đặt tên con là Nguyễn Tất Trung. Khoảng thời gian này cô Xuân ngỏ lời với Bác là muốn công khai mối quan hệ, và dọn vào Phủ Chủ tịch ở hẳn với Bác như vợ chồng. Bác bảo để Bác hỏi ý kiến Bộ Chính trị.
Vài tháng sau, rạng sáng ngày 12 tháng 2 năm 1957, người ta thấy cô Xuân chết trên đường Cổ Ngư, gần dốc Chèm, ngoại thành Hà Nội, hiện trường là một tai nạn giao thông.
Giám định tử thi được làm tại bệnh viện Việt – Đức, Hà Nội gợi ý: Nạn nhân chết do búa đập vào sọ não, dịch não tủy và nhu mô não đã mất hết. Âm đạo không có tinh trùng, tinh dịch, nạn nhân không có dấu hiệu bị cưỡng dâm. Dạ dày không có thức ăn, không có độc tố. Lục phủ ngũ tạng bình thường. Toàn thân không có dấu hiệu của một tai nạn giao thông.
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra. Đây có thực sự là một tai nạn giao thông không? Không quá khó để trả lời câu hỏi này.
Một phụ nữ trẻ mới sinh con, đang thời kiêng cữ, không phương tiện đi lại, giữa đêm khuya, một mình đi bộ ra vùng ngoại thành xa vắng là rất khó để thuyết phục dư luận về địa điểm và hoàn cảnh xảy ra tai nạn.
Hơn nữa, nếu là tai nạn giao thông, thủ phạm cán chết người rồi lái xe trốn thoát, vết bánh xe còn in lại ở hiện trường. Đây là trọng án. Tại sao không công khai điều tra đến nơi đến chốn? Tại sao phải dấu đút, lén lút, khuất tất, dìm thông tin vào trong bóng tối?
Hơn 20 năm sau, thân nhân của cô Xuân dấn thân đi tìm công lý, vẫn tiếp tục bị ém. Cùng với những gợi ý của pháp y, chúng ta tin rằng đây là một một tai nạn giao thông dàn dựng.
Vậy thủ phạm là ai?
Cho đến nay, dư luận hướng tới ba giả thuyết.
1. Trần Quốc Hoàn bí mật thủ tiêu cô Xuân để bịt đầu mối hiếp dâm. Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị không biết.
2. Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cô Xuân có sự đồng ý của Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị.
3. Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cô Xuân dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị không biết.
Giả thuyết thứ nhất được nhiều người ủng hộ hơn cả. Song những bằng chứng để bảo vệ giả thuyết này thì rất yếu.
Vào thời điểm 1957, Hồ Chí Minh đang ở đỉnh cao của quyền bính. Các Ủy viên Bộ Chính trị đều rất sợ ông. Trần Quốc Hoàn lúc đó ở cuối trong bậc thang quyền lực, càng sợ Hồ Chí Minh hơn ai hết. Hoàn không dám lộng hành đến mức cưỡng dâm vợ chưa cưới của Hồ Chí Minh và càng không thể một mình tự ý thủ tiêu cô. Vì những hành vi trên là đồng nghĩa với vuốt mặt không nể mũi, sỉ nhục Hồ Chí Minh, nếu không nói đó mầm mống của phản loạn, phản bội, hay khiêu binh. Sớm muộn gì Bộ Chính trị và Hồ Chí Minh cũng biết.
Những năm sau đó, Hồ Chí Minh không những không quan tâm mà còn trục xuất đứa con trai sơ sinh Nguyễn Tất Trung ra khỏi Hà Nội.
Như vậy Hồ Chí Minh có ý định xóa bỏ mọi dấu vết của mối quan hệ lạm dụng tình dục núp duới danh nghĩa con nuôi. Không có chuyện Hoàn hành động độc lập.
Giả thuyết thứ hai: Hồ Chí Minh có mang chuyện cô Xuân để hỏi Bộ Chính trị không?
Ở vào thời điểm 1957, một đảng viên bình thường mà có quan hệ tình dục trước hôn nhân có thể bị kỷ luật nặng đến mức khai trừ ra khỏi đảng. Hồ Chí Minh hiểu rõ điều luật, không dại gì ông mang chuyện này ra trước tập thể.
Hồ Chí Minh không bao giờ muốn lấy cô Xuân làm vợ. Nếu ông muốn thì ông đã có kế hoạch từ khi cô Xuân có thai ở những tháng đầu. Cách ông trả lời cô Xuân để “xin ý kiến Bộ Chính trị” chỉ là kế hoãn binh, hay nói trắng ra là một sự sự quanh co, một lời từ chối.
Bộ Chính trị cũng không muốn Hồ Chí Minh lấy vợ. Bởi vì, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ là tất cả những gì mà Đảng và Bác cùng đầu tư để dựng lên những “huyền thoại” có nguy cơ mất cả vốn lẫn lời.
Trần Đức Thảo gợi ý. Vì không được học hành bài bản như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, hay Trường Chinh, nên Hồ Chí Minh đã dựng lên ngọn cờ “Giản dị”, “Đạo đức”, dùng ngọn cờ này như một thứ vũ khí hạ gục mọi đấu thủ, chỉ có Trường Chinh sống sót, Nếu mang vụ cô Xuân ra Bộ Chính trị, thì huyền thoại “Giản dị ” và “Đạo đức”của ông bỗng chốc tan thành mây khói. Đó là điều không bao giờ ông muốn.
Thêm nữa, Hồ Chí Minh nhiều tuổi hơn cô Xuân, hơn đến trên 40 tuổi. Điều này rất khó chấp nhận trong một xã hội bảo thủ miền Bắc ở thời điểm đó. Ông đủ thông minh để tránh, không trở thành tấn trò cười cho thiên hạ.
Tóm lại, giả thuyết Hồ Chí Minh mang chuyện lấy cô Xuân làm vợ ra bàn thảo ở Bộ Chính trị là không thuyết phục.
Vậy câu hỏi tiếp theo sẽ là: Hồ Chí Minh có xin ý kiến Bộ Chính trị để thủ tiêu cô Xuân không?
Hồ Chí Minh thừa thông minh để ý thức rằng nếu ông đồng ý thủ tiêu cô Xuân nghĩa là ông đang tham gia vào một tội phạm mà ông là chủ mưu. Càng ít người biết bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nếu mang ra bàn bạc trong Bộ Chính trị, lỡ có một hay vài ủy viên không đồng ý, thì có khác gì vạch áo cho người xem lưng. Bởi vì, nếu Bộ Chính trị biết thì Ban Chấp hành Trung ương sẽ biết. Từ đó có nguy cơ lan rộng ra toàn Đảng và toàn dân.
Như vậy, chỉ còn lại giải thuyết thứ ba: Hồ Chí Minh đồng ý cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cô Xuân, vừa giữ được thanh danh, lại vừa trút bỏ được của nợ, một gánh nặng mà ông chẳng tha thiết gì với nó nữa, vừa tiện lợi vừa kín đáo.
HCM
Trần Đức Thảo nhận xét rằng: Cu Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, muôn mặt với trăm phương, ngàn kế, mưu trí, sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, không cần tình bạn, tình yêu, gia đình hay con cái, khi nào cũng hun đúc một cuồng vọng là phải leo lên đến tột đỉnh của quyền lực.
Hồ Chí Minh không chấp nhận bất cứ một thứ gì cản trở ông nắm giữ quyền lực tối cao, mà thứ đó lại là đàn bà thì càng không thể.
Chỉ cần ở ông một cái gật đầu, thâm chí im lặng bộc lộ sự đồng ý, thì mọi việc sẽ êm thắm. Ông không phải vung tay nện búa vào đầu người đàn bà mà ông từng ăn nằm. Ông không phải nghe những lời van xin, lạy lục của cô con nuôi trong phút lâm chung. Ông không phải tận mắt nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng, máu lênh láng, dịch não tủy và óc vọt ra sau mỗi nhát búa. Ông không phải đối diện với cảnh cô Xuân vùng vẫy, giãy giụa bản năng trong cơn hấp hối. Ông cũng không phải vất vả, vác thi thể nạn nhân lên xe, lần mò trong đêm tối, tìm một hiện trường để ngụy trang.
Danh dự và danh vọng của ông vẫn nguyên vẹn, tiện lợi vô cùng, kết quả thì vô tận. Đó là cách mà Hô Chí Minh thường lựa chọn.
Triết gia Trần Đức Thảo sau nhiều năm quan sát, nghiền ngẫm đã nhận xét: Cụ Hồ quyết tâm nắm bắt mọi cơ hội để đạt tới đỉnh cao, để củng cố quyền lực, bằng mọi giá, dùng mọi phương tiện, không trừ, không tránh một thứ gì, bất chấp mọi chuẩn mực về lương tri, lương thiện, về đạo lý, hay pháp lý, miễn là đạt được ý đồ.
Trong đầu Hồ Chí Minh đầy ắp những tham vọng, cuồng vọng về quyền lực tối cao, là bề trên, là đấng thiêng liêng, là huyền thoại, là thần thoại. Ông là mẫu mực, là hiện thân của mọi giá trị tuyệt đối, tuyệt đối trong sáng, tuyệt đối giản dị, tuyệt đối cao thượng, tuyệt đối thanh bạch, tuyệt đối sáng suốt, tuyệt đối đúng đắn, tuyệt đối chí thánh… Chí Minh…Để những người xung quanh tuyệt đối kính nể, sợ hãi, tụng ca, tuân lệnh, sùng bái, tung hô.
Để củng cố những giá trị tuyệt đối này thì việc thủ tiêu cô Xuân là chuyện dễ hiểu. Ông không thể là người bình thường, không thể tầm thường, và càng không thể có những cám dỗ dục vọng thấp hèn. Ông phải ở tầm tuyệt đối cao thượng, nhân ái hơn cả Đấng Bồ tát, nhân bản hơn cả Chúa Giê-su, tâm hồn ông cao muôn trượng, quyền năng của ông ở muôn nơi, nhân loại chỉ là “loài dơi hốt hoảng, đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người”. Như vậy ông mới thỏa lòng, thỏa chí.
Ngoài cô Xuân còn hai nạn nhân nữa là Nông Thị Vàng, em gái, và Nguyễn Tất Trung, con trai sơ sinh của cô Xuân.
Cô Vàng ở cùng căn nhà 66 Hàng Bông, chứng kiến những gì đã xảy ra. Vàng còn quá trẻ, người dân tộc thiểu số, lớn lên ở vùng núi Cao Bằng, lại phải đối diện với một thảm kịch bất ngờ, bị bủa vây bởi những trùm mật thám lành nghề, máu lạnh. Vài tháng sau ngày cô Xuân chết, người ta cũng tìm thấy xác Vàng nổi lên ở cầu Hoàng Bồ, sông Bằng Giang, và cũng bị đập vỡ sọ như người chị xấu số của mình.
Còn Nguyễn Tất Trung mới vài tháng tuổi đã bắt đầu lưu lạc cho đến khi Hồ Chí Minh qua đời vào tháng 9 năm 1969, Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác, đón Trung về Hà Nội. Trung lập gia đình với cô Lưu Thị Duyên vào năm 1988. Hai người có một con trai sinh năm 1992, đặt tên là Vũ Thanh, lấy họ của ông Vũ Kỳ, nhưng sau thì đổi là Nguyễn Thanh Trung.
Nếu giả thuyết trên đây là đúng và nếu Việt Nam là một quốc gia pháp quyền, thì Hồ Chí Minh phải đối mặt với ít nhất bốn tội danh: Dùng quyền lực để sách nhiễu tình dục; giết chết hai người có chủ ý; vô trách nhiệm với con.
Còn muôn vàn những câu hỏi xung quanh nghi án này.
Cô Xuân sinh Nguyễn Tất Trung ở đâu? Nhà hộ sinh hay ở bệnh viện? Ai là người đỡ đẻ cho cô Xuân? Thi thể cô Xuân mai táng ở đâu? Ai là người chôn cất cô? v.v
Tại sao ông Vũ Kỳ lại đưa Nguyễn Tất Trung về Hà Nội sau khi Hồ Chí Minh qua đời? Vũ Kỳ có liêm sỉ, ông hiểu rằng lịch sử sẽ phán xét rất nghiêm khắc. Lẽ nào, ông lại im lặng? Bởi, im lặng trước tội phạm sẽ trở thành tòng phạm.
Thực ra, sự kham khổ, chịu đựng, chay tịnh, thanh bạch, giản dị như một đấng chân tu của Hồ Chí Minh chỉ là những huyền thoại được thêu dệt, đánh bóng, sơn son thếp vàng khá công phu. Những tài liệu gần đây hé lộ, Bác có một đời sống tình dục rất phóng túng ngay khi còn ở chiến khu, nói gì đến việc đã dọn vào Phủ Toàn quyền ở Hà Nội. Vậy, sau cô Xuân, Hồ Chí Minh còn quan hệ tình dục với bao nhiêu phụ nữ nữa, họ là ai và số phận của họ ra sao vẫn là những ẩn số của lịch sử.
Tại sao Nguyễn Tất Trung lại không âm thầm đi tìm mộ mẹ để hương khói hay giỗ chạp, để an ủi cầu siêu cho linh hồn người mẹ và người dì bạc phận, hay thăm lại gia đình ông bà ngoại trên Cao Bằng? Đó là chưa nói đến việc dấn thân đi tìm công lý cho mẹ cho dì, và đòi lại căn cước cho chính mình.
Cả hai dòng họ Nguyễn Sinh và dòng họ Hồ ở Nghệ An đang túa ra bốn phương tìm kiếm, kêu gọi những người con đã làm rạng danh cho tổ tiên. Vậy, Nguyễn Tất Trung, và Nguyễn Thanh Trung (Vũ Thanh) có được nhìn nhận là những người con trai của dòng họ này không?
Muôn vàn những nghi vấn, và muôn vàn giả thuyết, chập chờn như những hồn ma của cô Xuân cô Vàng khi ẩn khi hiện, khi ở miền rừng núi Cao Bằng, khi giữa phố phường Hà Nội.
Đêm đã khuya. Tôi không thể viết tiếp, mà cũng không thể ngủ, thao thức miên man nghĩ suy về nhân tình thế thái, về bể khổ trầm luân, về thời cuộc, về thân phận, về kiếp người, về lòng trắc ẩn, về tình bạn, tình yêu, về nỗi xót xa của một đời người.
Xót xa cho cô Xuân cô Vàng, cho cả chúng tôi đã dành trọn tuổi thơ để học, và ngợi ca lòng yêu thương tha nhân của Bác. Chúng tôi đã đọc, đã viết, đã nghe và đã kể cho nhau nghe bao nhiêu những câu chuyện hấp dẫn và đẹp như huyền thoại về đời hoạt động của Bác. Song có một chuyện chúng tôi chẳng bao giờ được biết: Nỗi đắng cay và tủi nhục của cô Xuân cô Vàng.
Tháng 8 năm 2014
© Trần Hồng Tâm


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

FW: Mỹ Đang Làm Gì Tại Iraq?

From: trucgiang01
Subject: FW: Mỹ Đang Làm Gì Tại Iraq?
Date: Thu, 21 Aug 2014 16:23:15 -0700


 
Mỹ Đang Làm Gì Tại Iraq?

Chiến đấu cơ F / A-18C Hornet cất cánh từ tàu sân bay USS George HW Bush tại Vịnh Ba Tư, ngày 12 tháng 8, 2014.
Bà cựu ngoại trưởng tuần rồi lên tiếng khẳng định tất cả là lỗi của... TT Obama...

Câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi trên là: Không biết! Không ai biết, kể cả chính TT Obama cũng không biết luôn.

Cuộc chiến tại Iraq là cuộc chiến mà TT Obama gọi là “cuộc chiến ngu xuẩn” –dumb war- đã lại trở lại trên mặt báo Mỹ. Phản lực và “máy bay không người lái” của không lực Hoa Kỳ đã đánh bom quanh thành phố Irbil, thủ đô của khối dân Kurd phiá đông-bắc Iraq từ cả tuần qua. Tình hình Iraq lật qua trang mới.

Trước hết, phải nói ngay Đấng Tiên Tri một lần nữa đã chứng minh tài tiên tri... trật.

Mùa hè 2012, TT Obama ra trình diện trước Đại Hội Đảng Dân Chủ, nhận lễ tấn phong ứng viên của đảng để tái tranh cử tổng thống. Ông hùng hổ khoe công đã giết được Bin Laden, cũng lớn tiếng khẳng định Al Qaeda đã bị xoá sổ, không còn là một đe dọa nữa, trong khi đàn em đang tìm cách ém nhẹm vụ Al Qaeda tấn công và giết đại sứ Mỹ tại Benghazi. Ông cũng khoe đã chấm dứt được cuộc chiến ngu xuẩn, rút hết quân Mỹ về, trao quyền lại cho một chính phủ dân cử, vững bền.

Sự thật, Al Qaeda đã biến thể hay đúng hơn, núp kín lặn sâu, nhưng cũng như Tôn Ngộ Không thời xa xưa trong truyện Tam Tạng Thỉnh Kinh, trước đó đã vặt cả nắm lông tung ra một bày Al Qaeda con. ISIS chính là một cọng lông đó, con đẻ của Al Qaeda, cho dù thằng con giỏi hơn, tàn ác hơn, trở thành quy mô và mạnh hơn thằng bố nhiều. Bây giờ đã chiếm được một phần ba Iraq, đang đe dọa thanh toán vùng Kurd phiá đông-bắc và đe dọa luôn cả thủ đô Bagdad. Iraq ngày nay chẳng có gì dân chủ và vững bền.

Có nghiã là những tiên đoán hay khoe khoang của TT Obama đều sai bét.

Tổ chức khủng bố ISIS này được khai sinh tại Iraq bởi Abu Musab al-Zarqawi, đệ tử ruột của Bin Laden, nhưng những ngày đầu chỉ là một tổ chức khủng bố Sunni ô hợp đánh nhau với quân Mỹ. Sau khi al-Zarqawi bị Mỹ đánh bom chết năm 2006, tổ chức kiệt quệ đi vào lãng quên, nhất là trong giai đọan tướng Petraeus thành công ổn định chiến trường Iraq cuối trào Bush, năm 2008. Cuối năm 2003, quân Mỹ bắt nhốt Abu Bakr al-Baghdadi, một lãnh tụ Hồi giáo quá khích. Năm 2009, TT Obama vừa chấp chánh, mau mắn trả tự do cho al-Baghdadi. Ông này mau chóng trở về cuộc chiến, nhẩy lên vai lãnh tụ, cải tổ và chấn chỉnh tổ chức, lấy tên là Islamic State of Iraq and The Levant, ISIL. Thời đô hộ của Anh và Pháp, The Levant chỉ vùng trung đông, từ Thổ Nhĩ Kỳ vòng qua Iraq, Syria, tới Ai Cập. Levant có nghiã là Hừng Đông. Đối với các nước tây phương Anh-Pháp, vùng này là vùng phiá đông, mặt trời mọc.

Năm 2013, al-Baghdadi đổi tên ISIL thành Islamic State of Iraq and Syria, ISIS, để chỉ đối tượng mới, giới hạn hơn, là Iraq và Syria. ISIS tích cực tham gia vào nhóm phiến quân chống TT Assad bên Syria. Rồi qua mùa xuân năm 2014, sau khi chiếm được một phần vùng bắc Syria, ISIS tràn qua bắc Iraq, rồi lại đổi tên thành Islamic State, IS, Quốc Gia Hồi Giáo, với hy vọng có cơ hội bành trước ra trên toàn vùng Hồi Giáo chứ không còn giới hạn ở Syria và Iraq nữa.

Abu Bakr al-Baghdadi, tương đối trẻ, năm nay mới 43 tuổi, đã tự phong là “caliph”, tương đương với vai “giáo chủ”. Trong đạo Hồi, các giáo chủ đều có vai trò lãnh đạo chính trị luôn, như tại Iran, các quốc trưởng đều là giáo chủ, Ayatollah, theo gương Khomeini.

Ông al-Baghdadi này là một lãnh tụ cực đoan và cực sắt máu. Ngoài tài tổ chức, ông còn có bàn tay sắt, áp đặt một kỷ luật “nhà binh” chưa ai thực hiện được trong các tổ chức khủng bố ô hợp, kể cả Bin Laden. Sự thành công của ông ta có nhiều lý do, nhưng quan trọng nhất và làm cho Mỹ và các chính quyền Trung Đông lo ngại nhất là khả năng vừa huy động được tính quá khích của các nhóm cực đoan, vừa áp đặt được kỷ luật sắt của ông ta.

Trong cuộc chiến tại Syria và nhất là Iraq hiện nay, al-Baghdadi đã áp dụng chiến lược khủng bố tối đa của các đại đế La Mã, đánh chiếm được đến đâu là tàn sát dân đến đó, để gieo mầm sợ hãi, khủng bố tinh thần đối phương chưa đánh đã sợ. Chẳng những binh lính thua trận, mà ngay cả dân thường trong thành bị chiếm, đều bị tàn sát, giết tập thể không chút nương tay. Ngay cả phụ nữ bên thua cũng bị hãm hiếp thẳng tay. Và không ngần ngại tung hình ảnh các nạn nhân lên truyền thông để quảng bá chính sách tàn độc đó. Kết quả là phần lớn quân chính quy Iraq, nếu chưa mất tinh thần tháo chạy thì cũng bị cả trăm ngàn dân sợ hãi, chạy loạn cản trở các cuộc hành quân, khiến quân chính quyền càng thua nhanh hơn.

Chiến thuật tàn sát tập thể để khủng bố tinh thần và dùng dân gây rối loạn đã được VC áp dụng hồi Mậu Thân 1968 tại Huế và hồi 75 khi chúng xả súng bắn vào dân di tản từ Pleiku bị kẹt trên QL 7.

Câu hỏi là vì sao ISIS lớn mạnh mau chóng như vậy? Tại sao TT Obama lại lấy quyết định can thiệp trở lại? Bỏ bom rồi sao nữa? Đây là những câu hỏi mà các sử gia uyên bác sẽ tranh cãi vài chục năm nữa.

Trả lời câu hỏi thứ nhất, kẻ viết xin nhường lời cho bà Hillary Clinton. Bà cựu ngoại trưởng tuần rồi lên tiếng khẳng định tất cả là lỗi của... TT Obama. Quý độc giả không đọc lộn đâu. Bà Hillary cho rằng TT Obama không dám can thiệp vào Syria và rút quân quá nhanh tại Iraq đã để lại một khoảng trống giúp quân khủng bố ISIS lớn mạnh mau chóng, đưa đến tình trạng rối loạn hiện nay. Nhận định của bà Hillary gây sóng gió lớn khiến bà phải de lui, điện thoại cho TT Obama phân trần, giải thích.

Câu hỏi thứ nhì dễ hơn. TT Obama đang ở trong tình trạng bi đát nhất của gần sáu năm cầm quyền. Ngoài những khó khăn đối nội như tình trạng kinh tế vẫn èo uột, thất nghiệp vẫn ngất ngưởng, cộng thêm thất bại của Obamacare, những khủng hoảng IRS, Cựu Chiến Binh, và di dân lậu, những thất bại trong chính sách đối ngoại đã dồn ông vào chân tường.

Hình ảnh của TT Obama trên thế giới đã là hình ảnh của một người đã từng đoạt giải Nobel Hoà Bình. Trên phương diện cá nhân thì đó là một vinh hạnh, một thành tích vẻ vang. Nhưng trên chính trường quốc tế thì đó là tỳ vết khổng lồ vì đã đưa ra hình ảnh một lãnh tụ đại cường... yếu sìu, bị cả thế giới coi như cọp giấy.

Mà cọp giấy thật. Như các biến cố gần đây tại Syria và Ukraine đã chứng minh rõ ràng. Tất cả thiên hạ lớn bé, từ các đại cường Nga và Trung Cộng, đến các tiểu quốc nhóc như Ủn Bắc Hàn, Iran, cho đến các tổ chức khủng bố tép riu như Hamas, ISIL, chẳng ai coi Đại Cường Cờ Hoa ra gì hết. Thế giới ngày nay đại loạn vì nhiều yếu tố phức tạp thật, nhưng hình ảnh anh cảnh sát người nộm bằng giấy vẫn là một trong những yếu tố quan trọng nhất.

Thất bại trong nước, thất bại ngoài nước, hậu thuẫn và uy tín cá nhân chìm xâu dưới đáy biển, viễn tượng đảng DC thảm bại trong cuộc bầu cử hơn hai tháng nữa, tất cả dồn dập lên đầu, TT Obama cần phải làm một chuyện gì để vớt vát tình thế. Và chiến trường Irbil có thể đã là viên thuốc đắng cần uống để giảm bệnh.

Dù muốn hay không, Mỹ vẫn có phần lớn trách nhiệm trong những gì đã, hay đang, hay sẽ xẩy ra tại Iraq. Sự tàn bạo của quân khủng bố IS đã đi quá xa. Khiến cho TT Obama không có lựa chọn nào khác. Sẵn dịp cũng là một công đôi ba chuyện, vừa chứng minh mình không phải là bột giấy hoàn toàn mà cũng có bom đạn thật, đồng thời cũng lái dư luận qua khỏi vài chuyện nhức đầu khác. Dĩ nhiên là cánh tả của ông sẽ khiếu nại, nhưng rồi thì sao, chẳng lẽ họ sẽ đi bỏ phiếu cho... Jeb Bush?

Câu hỏi tiếp theo là... tiếp theo là gì? Chiến lược mới của Mỹ tại Iraq là chiến lược gì? Ở đây, kẻ viết này muốn đặt ra câu hỏi mà không biết đặt câu hỏi cho ai? Ai có câu trả lời? Chắc chắn không phải là TT Obama rồi, mặc dù ông là người lấy quyết định mọi chuyện.

TT Obama tuyên bố đây không phải là một cuộc chiến quân sự lâu dài –“not a prolonged military conflict”-, nhưng lại tiếp theo ngay đây sẽ là một dự án lâu dài, “long-term project”. “Not a prolonged conflict” nhưng là một “long-term project”. Vị học giả cao minh nào thông thạo Anh ngữ xin chỉ giáo cho “tại hạ” biết, tóm lại nghiã là gì?

Ông cũng tuyên bố mục tiêu cuộc đánh bom mới này rất giới hạn, chỉ để bảo vệ nhân viên Mỹ đang phục vụ tại Irbil, nhưng lại nhấn mạnh can thiệp vì lý do nhân đạo, và “IS sẽ là một đe dọa cho cả quyền lợi của Mỹ nữa”. Thế thì TT Obama can thiệp để bảo vệ vài ba anh Mỹ làm việc tại cơ sở Mỹ (CIA?) tại Irbil hay bảo vệ dân Iraq và quyền lợi Mỹ? Khác nhau xa lắm. Bảo vệ mấy anh Mỹ tại Irbil thì chỉ cần thả vài trái bom ngăn không cho quân IS chiếm Irbil, trong khi bảo vệ dân Iraq và quyền lợi Mỹ là lý do để có thể mang vài sư đoàn qua tiêu diệt luôn toàn thể lực lượng IS trên khắp Iraq.

Ở đây cũng nên để ý, khi các nhóm quân ô hợp đánh đá nhau tại ngoại ô Tripoli của Libya cách đây vài tuần, thì TT Obama mau mắn ra lệnh di tản toàn thể mấy chục nhân viên hấp tấp lên xe chạy qua biên giới Tunisia, đóng của tòa đại sứ Mỹ ngay. Nhưng tại Irbil thì TT Obama không ra lệnh di tản, mà trái lại ra lệnh cho máy bay thả bom đánh quân IS để bảo vệ vài ba nhân viên, mà thiên hạ cũng chẳng biết họ là ai, có bao nhiêu người, vì chưa bao giờ nghe nói có nhân viên Mỹ nào làm việc tại Irbil cả. Tại sao lại có chính sách khác biệt?

Tất cả nghe có vẻ tréo cẳng ngỗng, kiểu trống đánh xuôi kèn thổi ngược, mà lạ lùng thay, người đánh trống và người thổi kèn cũng lại chỉ là một người duy nhất. Thế mới tài! Chỉ chứng minh rõ ràng một chuyện: quyết định của TT Obama là quyết định mà theo ngôn từ “đỉnh cao”, người ta gọi là “đột xuất”. Không phải là quyết định nằm trong một kế hoạch quy củ có tính toán suy nghĩ chín chắn về hậu quả lâu dài. Chẳng nằm trong chiến lược hay chiến thuật nào hết.

TT Obama đang làm gì và sẽ đi về đâu là câu hỏi chẳng ai có câu trả lời, kể cả chính TT Obama. Nhưng nếu hỏi về nguyên do, nguồn gốc, thì TT Obama có ngay câu trả lời bằng mồm mép trâng tráo: Tất cả là tại … Bush! Vẫn tại ông ba đầu sáu tay Bush, thủ phạm của tất cả những gì gây khó khăn cho nhân loại mặc dù đã về hưu gần … sáu trăm năm nay! Sáng thứ bẩy 9 tháng 8 vừa qua, báo chí hỏi TT Obama ông có hối tiếc đã rút quân quá nhanh khỏi Iraq để đưa đến tình trạng này không, thì TT Obama trả lời đại khái “…quý vị làm như đây là quyết định của tôi vậy. Dưới chính quyền trước, chúng ta đã trao trả Iraq lại cho một chính phủ có chủ quyền và được bầu một cách dân chủ…. Chúng ta muốn lưu giữ quân tại đó, cũng cần phải được họ mời... (nguyên văn: “… as if this was my decision. Under the previous administration, we had turned over the country to a sovereign, democratically elected Iraqi government. In order for us to maintain troops in Iraq, we needed the invitation of the Iraqi government …”).

Toàn thể kế sách tranh cử và tái tranh cử năm 2012 của TT Obama dựa trên việc rút quân tại Iraq, và trong mấy năm qua, ông đã không bỏ lỡ một dịp nào để kể công chấm dứt cuộc chiến “ngu xuẩn” của Bush và rút quân về. Truyền thông phe ta hồ hởi hết lời ca tụng công đức chấm dứt chiến tranh của TT Nobel. PTT Biden gọi đó là một trong những thành tích lớn nhất của Obama.

Bây giờ, thấy việc rút quân có rắc rối, liền bán cái ngay cho TT Bush. Rút quân, trao lại trách nhiệm cho chính quyền Iraq là quyết định của “chính quyền trước” mà, tôi có muốn giữ quân ở lại cũng phải được sự chấp thuận, mời mọc của ông al-Maliki chứ.

Qúy độc giả đã đọc không sai: TT Obama đích thân xác nhận rút quân khỏi Iraq là quyết định của “chính quyền trước” tức là chính quyền Bush, chứ không phải của chính quyền Obama đâu nhé. Nhưng tuyệt nhiên truyền thông phe ta như New York Times, Washington Post, NBC, ABC, CBS, CNN im phăng phắc không đả động đến câu tuyên bố này của TT Obama. Chỉ có Fox và các báo bảo thủ nhỏ đăng.

Còn nữa. Nếu cuộc chiến này là một “dự án lâu dài” thì vấn đề đặt ra là TT Obama có phải xin phép quốc hội không? Cũng chưa thấy báo nào bàn đến chuyện này. Cuộc chiến Iraq của TT Bush đã được TT Obama chính thức chấm dứt cách đây ba năm rồi. Bây giờ việc can dự bằng quân sự là một cuộc chiến mới. Theo luật War Powers Act của phe Dân Chủ đưa ra, tổng thống chỉ có quyền can dự quân sự tối đa 60 ngày, sau đó phải xin phép quốc hội. Hay là TT Obama một lần nữa, lại coi quốc hội như pha?

Bây giờ bàn đến vấn đề căn bản. TT Obama đang làm gì tại Iraq? Vì lý do nhân đạo, ngăn cản một cuộc thảm sát? Ngăn cản đến bao giờ? Cho đến khi lực lượng IS bị giết sạch? Hay là sau vài tuần rồi rút, bỏ mặc cho IS trở lại tiếp tục thanh toán? Nếu IS bỏ Irbil quay qua đe doạ Baghdad thì sao? Mang máy bay qua bảo vệ tòa đại sứ Mỹ và dân Baghdad? Rồi tới đâu nữa? Chiến lược Iraq là chiến lược mèo đuổi theo chuột, tới đâu tính tới đó sao?

Thật ra, kẻ viết này hoan nghênh sự can thiệp của TT Obama. Ít ra cũng giúp cả ngàn người vô tội khỏi bị thảm sát. Đây cũng là một quyết định cực kỳ khó khăn cho ông vì chứng minh quyết định rút quân quá mau trước đây đã là quá sai lầm và thất bại. Khi đó, nhiều người đã cảnh giác rút mau thì sẽ lại phải trở lại sớm thôi. Và đúng như vậy, bây giờ Mỹ lại phải trở lại.

TT Obama đổ thừa chính quyền Maliki không có chính sách tạo đoàn kết chính trị nội bộ nên không ổn định Iraq được, và ép ông Maliki từ chức để người khác lên tái tạo đoàn kết. Lời chỉ trích đến từ ông tổng thống tạo phân hoá nhất lịch sử cận đại Mỹ quả là một điều lạ lùng. TT Obama không tạo được đoàn kết chính trị nội bộ trong một xứ Mỹ ổn định mà lại ép TT Maliki từ chức vì không tạo được đoàn kết nội bộ trong một xứ Iraq với chiến tranh loạn đả. Còn gì oái ăm hơn? Thế thì chừng nào TT Obama từ chức để mang lại đoàn kết chính trị nội bộ cho chính phủ Mỹ?

Không khác gì chuyện thần thoại 1,001 đêm của Iraq, bây giờ ta có 1,001 câu hỏi. Khỏi mất công chạy theo TT Obama để hỏi vì ông lại đi... nghỉ hè nữa rồi.

Cách đây vài tuần đi Maine, bây giờ đi Martha’s Vineyard tay dắt theo con gái lăng xăng do vợ cài theo canh giữ. Vừa tới nơi là lo đi đánh gôn. Tuần rồi đi tiệc nhà đại gia da đen Vernon Jordan buổi tối (báo đăng hình ông mặc áo cụt tay đang nhẩy rock cười toe toét) trong khi cảnh sát dã chiến đang đánh nhau với dân chúng tại Saint Louis. Ngày hôm sau, đi gây quỹ. Những hành động mà nhà báo phe ta Dana Millbank trên báo phe ta Washingon Post cũng phải cho là chuyện ngu xuẩn, “stupid stuff”.

Chỉ còn có hai năm nữa thôi, tranh thủ đi càng nhiều càng tốt, mai mốt đi phải bỏ tiền túi, tốn lắm. Đằng nào thì ngồi ở Washington bị đám CH phá đám đâu có cho làm gì đâu, thôi thì đi đánh gôn, nhẩy đầm và gây quỹ thoải mái và lợi hơn nhiều.

Người nào cảm thấy hứng thú so sánh các con số thì đây là ví dụ: Từ năm 2009 là năm TT Obama nhậm chức, cho đến nay ông đãđi đánh gôn 189 lần, và TT Bush cũng cùng thời gian này đã đi đánh gôn 24 lần. Cũng trong khoảng thời gian đó, anh chàng Tiger Woods, sống bằng nghề đánh gôn, không có chuyện quốc sự gì để lo, đã đi đánh gôn khoảng 200 lần, hơn TT Obama có độ một chục lần. (17-08-14)

Vũ Linh



__._,_.___

Posted by: Gia Cao




Thái-Dương Thành, AUG-20-14

Nghe tin-tức qua FOX/NEWS VÀ CNN/NEWS thì lũ ISIS “Beheads” người Phóng-Viên Chiến-Trường trẻ tuổi của Hoa-Kỳ là anh JAMES FOLEY bị lũ quỷ ISIS bắt chặt đầu, vô cùng dã man !

Thương thay anh JAMES FOLEY,
Ký-giả đâu làm tội gì,
Vẫn bị quần ma ISIS
Chặt đầu tàn-nhẫn giết đi.
NP


LUẬT QUẦN

ISLAM IRAQ SYRIA (ISIS)
Lũ đại sát-nhân tiếng vọng xa.
Độc-ác, côn-đồ ... không kẻ sánh.
Bạo-tàn, man-rợ ... khó ai qua.
“Con chiên Công-Giáo” càng lùng giết.
“Phóng-Sự Chiến-Trường” cũng chả tha.
Tội nghiệp JAMES FOLEY ký-giả,
Chặt đầu chúng xử : Luật quần ma.

TDT, AUG-20-14
Ngô-Phủ

Vì đời Tôn-giáo ra đời.
Và rồi Tôn-giáo bị người mượn danh.
Biết bao đố-kỵ, tranh-giành,
Diệt nhau bất chấp cao xanh thở dài.
Tang-thương thê-thảm đó dây,
Biết chi hơn kính chấp tay nguyện cầu.
NP


HỎA NGỤC TRUNG-ĐÔNG
Hỏa-ngục Trung-Đông lò sát sinh.
UN phớt tỉnh ngó làm thinh.
ISRAEL bom dội dân Hồi khiếp.
ISIS đao khai chiên Chúa kinh.
Người lớn lìa đời chân bỏ xác.
Trẻ con thoát kiếp đầu lìa mình.
Máu loang khắp chốn giăng thê-thảm,
Nhân-loại bao giờ được thái-bình ?

TDT, AUG-18-14
Ngô-Phủ

Ước chi :
Nhất trí toàn dân trừ Việt-cộng,
Đồng tâm cả nước đập Tàu-phù

Ngô-Phủ




From: diendanchinhtri@yahoogroups.com
Date: Fri, 15 Aug 2014 10:21:28 -0700
Subject: [diendanchinhtri] Tin Iraq



KHẨN THIẾT!!! XIN TẤT CẢ HÃY CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO TẠI IRAQ

Trong mấy tuần lễ qua chúng ta chắc chắn đã nghe tin về quân Hồi giáo cực đoan ISIS đang thảm sát những người Kitô giáo trong những nơi mà chúng đã đánh chiếm được miền bắc Iraq.

Đây là các Kitô hữu đã sống ở miền bắc Iraq và Syria trong gần hai ngàn năm, từ thời các thánh Tông Đồ của Chúa Giêsu, họ đã rất trung thành cho tới nay. Trước khi đạo Hồi giáo xuất hiện ít nhất là sáu trăm năm, hôm nay họ đang đối mặt với sự diệt chủng rất khủng khiếp trong khu vực.

Một tuần trước, các Kitô hữu Đã được cảnh báo hoặc là rời khỏi thành phố Mosul và các khu vực khác dưới sự kiểm soát Nhà nước Hồi giáo, hoặc họ sẽ phải trả một khoản thuế rất cao do nhóm Hồi giáo ISIS tự đạt ra, hoặc bị xử tử chặt đầu.

Trong những vùng đã bị quân Hồi giáo ISIS chiếm đóng rất ít tin tức được lọt ra ngoài, còn những tin và hình ảnh giết người do chính họ đưa ra thì chúng ta chỉ thấy được một phần rất nhỏ thôi nhưng đã nói lên cái dã man và khủng khiếp qúa rồi.

Trong vài ngày qua những hình ảnh vô cùng của sự "ác độc dã man" đã cho chúng ta thấy rằng: Một cháu bé gái Công Giáo mới 2 tuổi mà chúng cũng không tha. chúng lôi em ra chắt đầu trước mặt mẹ và những người thân của cháu, gần bên cạnh một thánh đường và bắt mọi người Kitô giáo phải đổi sang Hồi giáo, nếu không số phận cũng sẽ là như em bé gái này tất cả!.

A Christian girl beheaded by ISIS terrorists. There is no doubt that we face genocide.

Một nhóm tám thanh niên Công giáo cũng đã bị chúng lôi ra đóng đinh vào Thập tự giá và tra tấn hành hình cắt cổ liền sau đó.

Hônm nay ngày 14.08.2014 Human Rights Watch đã cho biết tất cả những ngôi nhà của người Công giáo ở Mosul đã được sơn lên bằng chữ đỏ để chỉ gia đình Kitô Giáo.

Những Kitô hữu đã trốn thoát được kể lại là họ bị tước đoạt tất cả tài sản của, ngoại trừ quần áo của họ đang mặc trên người. Tất cả đồ trang sức, tiền bạc, xe cộ, ngay cả thức ăn và nước cũng đã bị tịch thu. Vì trên các tuyến đường di chuyển xung quanh thị trấn của người Kitô hữu buộc phải đi qua nhiều trạm kiểm soát của quân khủng bố Hồi giáo ISIS.

Đó là những gia đình có chút của cải và mạnh khỏe còn lại những người qúa nghèo và ốm yếu thì không thể đi được nên còn kẹt ở lại thì sẽ bị xử tử nếu không đổi sang theo Hồi giáo.

Quân ISIS Hồi giáo tuần qua trong một Video do chúng công bố đã đập nát tượng Đức Mẹ trong hình ảnh một Thánh đường bị phá hủy tan hoang. Tượng chúa Giêsu thì bị chúng chặt đầu nằm trên nền nhà thờ.

Ước tính cho rằng, có khoảng 200.000 Kitô hữu sống trong khu vực. Những người Kitô Giáo đã bị sát hại chưa thể kiểm chứng chính xác được. Người ta chỉ có thể phỏng đoán căn cứ theo sự mất tích là 10.000 - 50.000 (từ mười ngàn đến năm mươi ngàn người)

Những người Công Giáo ở Mosul, đang phải trốn lên các dãy núi ở Barren Sinjar với người Yazidis trong những hang động và hốc núi, chịu sự đói khát bệnh tật, còn hàng trăm người khác thì đi lang thang trong sa mạc mà không có ai giúp đỡ.

Kính xin mọi người giúp đỡ và cầu nguyện, xin Thiên Chúa ban an lành đến những người đang khốn khổ được bình an, và xin cho những con người đang trong cơn say máu giết người được tỉnh ngộ.

Thanh Sơn

Tóm lược theo (Catholic Online),_.___

Posted by: Du <

Posted by: Gia Cao 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link