Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, September 4, 2014

Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?


Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?

Nguyễn Trung

(Bài 3 viết về Đại hội XII sắp tới của ĐCSVN)

Lời nói đầu
Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”

Đấy là khẩu hiệu quyết định nhất làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945.
Người viết bài này mong khái nhiệm “chúng ta” ở đây được hiểu với nghĩa như vậy.
Đất nước 40 năm độc lập thống nhất rồi, tôi thấy rất đau lòng hôm nay vẫn phải mở đầu bài viết của mình với đôi lời định nghĩa như vậy về khái niệm “chúng ta”. Đơn giản vì đã 69 năm trôi qua, thế nhưng hôm nay vẫn còn không ít những rạn nứt chia rẽ cộng đồng dân tộc Việt Nam ta, đang làm mờ đi hay làm thiếu vắng khái niệm “chúng ta” khi bàn đến đại sự của đất nước.

Sự thể là qua các bài viết của mình, tôi vấp phải không ít phản ứng gay gắt từ phía người đọc: “Chúng ta” là ai trong toàn thể cộng đồng dân tộc đất nước này?  Là người cai trị hay người bị cai trị? Là người nắm quyền hay là dân đen? Là ông chủ hay người đi làm thuê? Là đảng viên (ĐCSVN) hay không phải đảng viên? Là người chiến thắng hay kẻ lưu vong? Là bên thắng cuộc (Huy Đức) hay kẻ phải đi cải tạo?… Câu chuyện còn đau lòng hơn nữa khi có người đọc nổi đoá với tôi: 

Khái niệm đảng ta  là đảng của ai? Đấy là đảng của các ông chứ đâu phải là đảng của chúng tôi! Đến nông nỗi này mà ông vẫn còn “ngu trung” đặt vấn đề đảng viên muốn cứu nước thì phải cứu đảng trước!… Ngôn ngữ làm nát lòng người này khiến tôi nhớ lại những ngày tháng lặn lội đi sửa sai cải cách ruộng đất tại các xã ở Trực Ninh – Nam Định cách đây hơn nửa thế kỷ…

Vâng, đã 69 năm gian truân rồi kể từ Cách mạng Tháng Tám, nhưng hình như khái niệm “chúng ta” vẫn chưa tìm được chỗ đứng phải có trong ngôn ngữ chính trị bàn về vận mệnh đất nước, nhất là hôm nay! Tại sao đất nước chúng ta cứ bị chia vụn mãi ra như vậy hả trời!?…
Song đất nước không phải là của riêng một ai. Những thách thức hôm nay đang đặt ra cho số phận đất nước cũng không đặt ra cho riêng một ai. Vì thế xin cho phép tôi trong bài này được dùng khái niệm “chúng ta” với hàm nghĩa phải có của ngôn ngữ cuộc thảo luận này: “Chúng ta” ở đây là những người chủ của đất nước, không phân biệt một ai.
Người viết cũng xin phép áp đặt sự không phân biệt như thế để kêu gọi mỗi người Việt chúng ta cùng suy nghĩ và cùng lựa chọn cho đất nước con đường phải đi và những việc phải làm. Vì đất nước này là của mỗi chúng ta! Tìm ra sự đồng thuận cao nhất để thực hiện sự không phân biệt này.

I.   Sự lựa chọn của địa lý
Trước khi bàn đến chủ đề “chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?”, xin lưu ý các điều kiện địa lý của nước ta trong bối cảnh địa chính trị và địa kinh tế hôm nay của thế giới và của khu vực tự nó đã định ra những hướng đi tất yếu và khách quan đất nước phải lựa chọn, trong khi đó chúng ta bây giờ mới bắt đầu bàn đến lựa chọn gì. Từ cổ chí kim luôn là như vậy, bất chấp khả năng nhận thức của chúng ta. Cho nên câu chuyện còn lại của chúng ta hôm nay thật ra chỉ là: chấp nhận sự lựa chọn nào, thuận hay nghịch với tất yếu khách quan của sự vật…

Trong bài 2 “Hiểm hoạ đen”, phần I “Thế giới đã sang trang[1], tôi đã trình bầy khái quát cục diện thế giới đa cực hôm nay với nhiều biến động sâu sắc khó lường, nhạy cảm với mọi quốc gia; nhiều khu vực trên thế giới mất ổn định hơn trước hoặc đang có chiến tranh ác liệt (Trung Đông, thánh chiến ISIS, Ukraina, dịch bệnh ebola…)… Trong đó, những vấn đề nổi bật liên quan đến Việt Nam là:
·   quan hệ và mâu thuẫn Mỹ – Trung trở thành yếu tố chi phối thế giới trong thế kỷ 21,
·   Châu Á – Thái Bình Dương trở thành trận địa chính của những mối quan hệ song phương Mỹ – Trung,
·   siêu cường Trung Quốc đang lên với sức mạnh áp đảo tại chỗ trực tiếp uy hiếp nghiêm trọng Việt Nam, đồng thời trở thành vấn đề của khu vực Đông Nam Á và cả thế giới.
Trong phần I này tôi đặc biệt lưu ý Trung Quốc đang khai thác cục diện quốc tế mới rất phức tạp, nhằm dấn thêm những bước đi mới trên con đường trở thành siêu cường, đấy là: (a) đối nội nhấn mạnh nước giầu quân mạnh để thực hiện giấc mơ Trung Hoa, (b) đối ngoại một mặt xây dựng liên kết Trung – Nga, mặt khác đưa chiến lược bá chiếm Biển Đông bước vào giai đoạn mới, trong đó Việt Nam được coi là đột phá khẩu cần khuất phục.
Tính chất quyết liệt của vấn đề là ở chỗ siêu cường đang lên Trung Quốc bắt đầu đi vào thời kỳ đẩy mạnh bành trướng ảnh hưởng quyền lực để tự khẳng định chính nó, bên trong lấy chủ nghĩa dân tộc (Đại Hán) nuôi dưỡng giấc mộng Trung Hoa làm động lực[2], đối với bên ngoài thì khẳng định chủ quyền theo đường lưỡi bò 9 vạch và lợi ích cốt lõi không thể nhân nhượng của Trung Quốc ở Biển Đông (tuyên bố của bộ trưởng quốc phòng Thường Vạn Toàn tại Shangri La, Singapore 30-05-2014, điện đàm Tập Cận Bình – Obama 15-07-2014).
Tuy nhiên việc giàn khoan HD 981 phải di dời đi chỗ khác sớm hơn 30 ngày so với dự kiến do cho thấy Trung Quốc không phải muốn làm gì cũng được. Nguyên nhân thất bại này là  vấp phải sự phản đối kiên quyết của Việt Nam và sự lên án hầu như của cả thế giới.

Trong giai đoạn mới hiện nay lúc tiến lúc thoái, “… song trọng tâm lấn tới của Trung Quốc bây giờ nhằm vào vùng biển đảo của Việt Nam. Về lâu dài Trung Quốc sẽ dùng các thủ đoạn và mọi hình thức can thiệp mềm hoặc rắn, quyết biến Việt Nam thành chư hầu, coi đây là một khâu chiến lược quyết định nhằm khống chế khu vực Đông Nam Á và ngoi lên siêu cường tranh giành ảnh hưởng với Mỹ” – như tôi đã trình bầy trong thư ngày 24-07-2014 gửi các thành viên chủ chốt Bộ Chính trị.
Cục diện quốc tế và khu vực nêu trên khách quan đặt ra cho Việt Nam 3 kịch bản để lựa chọn, không ý thức hệ hay chủ nghĩa nào có thể xoay chuyển được, đó là:

Kịch bản 1: Chịu khuất phục làm chư hầu để Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp bành trướng trong khu vực Đông Nam Á.

Kịch bản 2: Làm lá chắn hay khu đệm trung lập giữa một bên là Trung Quốc và một bên là các nước Đông Nam Á.

Kịch bản 3: Tự vươn lên giữ vững độc lập chủ quyền trong mọi biến động của khu vực và thế giới, cùng đi với cả thế giới để trở thành một đối tác dấn thân cho lợi ích của hoà bình và hợp tác mà Trung Quốc và cả thế giới đều chấp nhận.

Cũng có thể có một kịch bản thứ tư nữa là đi hẳn với một bên chống một bên. Song  đấy sẽ chỉ là một dạng khác của kịch bản 1 mà thôi, ta sẽ không thoát được thân phận chư hầu và làm lính đánh thuê không cho bên này thì cho bên kia, đất nước sẽ trở thành trận địa tranh chấp của các bên. Vì lẽ này không bàn đến kịch bản thứ tư.
Xin lưu ý: Liên minh Việt – Mỹ để chống Trung Quốc là chuyện không thể, vì Mỹ không lựa chọn đối đầu với Trung Quốc ngoại trừ hoàn cảnh bất khả kháng, phía ta cũng không lựa chọn chống Trung Quốc trừ phi bị Trung Quốc xâm lược. Vả lại Việt Nam như hiện tại không có đủ những giá trị chung với Mỹ để tạo ra một liên minh với nghĩa là đồng minh (như Nhật, Hàn Quốc, Philippines…).

Nhưng liên minh Việt – Mỹ để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước là đòi hỏi sống còn, song liên minh này chỉ trở thành hiện thực một khi Việt Nam lựa chọn sự phát triển của mình phù hợp với lợi ích chung của Mỹ cũng như của cộng đồng khu vực và thế giới.
Nói cụ thể: Về danh nghĩa chính thức, Mỹ đã trở thành đối tác toàn diện của Việt Nam, nhưng nội dung còn chưa qua thời kỳ sơ khởi và chưa thể có thực chất, vì các lẽ:
(a) Còn chế độ toàn trị như hiện nay thì không thể tạo ra một liên minh với Mỹ, vì Mỹ không thể tin cậy ta, và nội bộ Mỹ cũng không chấp nhận; hơn nữa cũng không thể ảo tưởng chờ đợi Mỹ sẽ bỏ công sức để bảo vệ chế độ toàn trị ở Việt Nam.

(b) Một Việt Nam của chế độ toàn trị như hiện nay tất yếu có những yếu kém đối nội mang tính chất quyết định, vì thế phía Việt Nam không thể nào đoạn tuyệt được với chính sách đối ngoại “leo dây”. Chính vì lý do này Mỹ chỉ có thể có mối quan hệ với phía Việt Nam ở mức chiến thuật, chứ không thể ở mức liên minh chiến lược.
(c) Hơn nữa  tự thân phía Việt Nam vì bản chất toàn trị của chế độ cũng không dám tạo ra một liên minh như thế để bảo vệ tổ quốc, vì nỗi lo mất chế độ[3]Giữ chế độ toàn trị như hiện nay, không có đủ điều kiện đối nội và đối ngoại tạo ra một liên minh đúng đắn với Mỹ mà lợi ích quốc gia đang đòi hỏi.

(d) Mỹ hiện nay chủ động để mở cánh cửa cho hình thành một liên minh Việt – Mỹ với mục đích củng cố hoà bình và hợp tác trong khu vực, đồng thời kiềm chế những bước đi bá quyền của Trung Quốc. Hiện nay Mỹ đang nỗ lực khuyến khích hình thành một liên minh có thể với Việt Nam với điều kiện Việt Nam phải tự thay đổi. Quan điểm này nằm trong chiến lược trục xoay Châu Á – Thái Bình Dương và khách quan phù hợp với lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Một đặc điểm vô cùng quan trọng trong cục diện quốc tế thời đại chúng ta đang sống là Mỹ, cộng đồng đa số các nước trên thế giới và Việt Nam cùng nhau chia sẻ nhiều lợi ích chung hơn bao giờ hết so với mọi thời đại trước đây. Trong xu thế mới này, riêng Việt Nam và Mỹ lần đầu tiên khách quan – do địa kinh tế và địa chính trị quyết định – cùng nhau chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược chưa từng có. Nói riêng về Việt Nam: Lần đầu tiên trong lịch sử của mình Việt Nam có cơ hội với tính cách là một quốc gia độc lập có thể mở cửa cùng đi với cả thế giới để phát triển chính mình và để trở thành một thành viên có ý thức trách nhiệm chung trong cộng đồng quốc tế, và đây là con đường duy nhất để nước ta với tính cách là một quốc gia độc lập thực hiện được chung sống hoà bình và hữu nghị hợp tác bên cạnh Trung Quốc.

Tôi muốn quỳ xuống nói với từng người Việt Nam, hoặc muốn đứng thẳng quát to vào mặt từng người: Bỏ lỡ cơ hội này sẽ đời đời mang tội với tổ quốc!
Cuối thập kỷ 1980s khi các nước Liên Xô Đông Âu cũ sụp đổ, Việt Nam đã một lần có một cơ hội tương tự như thế nhưng đã bị bỏ lỡ. Song cơ hội hồi cuối thập kỷ 1980s không lớn và không thật hoàn toàn rõ ràng, và đồng thời cũng không thôi thúc bức thiết “sống hay chết!?” như cơ hội hôm nay.
Lợi ích quốc gia Việt Nam trong cục diện quốc tế mới hiện nay đòi hỏi phải sớm tiến hành triệt để cải cách chính trị để có những điều kiện tiên quyết từ đối nội cho phép (1) phát huy nội lực của một quốc gia độc lập tự chủ, (2) tiến tới tạo ra được một liên minh với Mỹ với nội dung và tinh thần nêu trên. Đòi hỏi này ngày nay trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc và đưa nước ta vào một thời kỳ phát triển mới. Xin đừng bao giờ quên: Không có một đất nước tự do của con người tự do để có được nội lực và bản lĩnh phải có, Việt Nam chỉ có thể là một đối tác què quặt, ăn xin, và vì thế không thể liên minh với bất kỳ ai dù ta muốn, kể cả với Mỹ.

-      Tìm kiếm liên minh với Mỹ là hút đối kháng của Trung Quốc vào Việt Nam! Có nên không?
-      Trung Quốc đã không dưới một lần “đối kháng” với Việt Nam ngay từ lúc Việt Nam còn đang chống Mỹ. Vậy lý do này không xác đáng. Sự kiện giàn khoan HD 981 chắc sẽ có diễn tiến khác nếu không có thái độ quyết liệt của Mỹ.

-      Nhưng Mỹ đã bỏ rơi Cộng Hoà Việt Nam, làm ngơ lúc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Như vậy làm sao mà liên minh được?

-      Đúng vậy, nhưng thế giới bây giờ khác với cách đây 40 năm. Việt Nam cũng khác cách đây 40 năm, Mỹ cũng vậy. Đừng lúc nào quên, ngày nay đi được với Mỹ đồng nghĩa có khả năng đi được với cả thế giới.
-      …
-      …
1.       Bàn về các kịch bản
Chắc chắn toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam chúng ta không bao giờ có thể chấp nhận kịch bản 1, do đó không phải bàn đến nữa.
Tuy nhiên, điều đáng lo ở đây là quá trình phát triển của nước ta – đặc biệt là từ bước ngoặt Hội nghị Thành Đô 1990 – đã tích tụ những yếu kém và sai lầm đã và đang từng bước biến nước ta trên thực tế và trên những phương diện nhất định trở thành một dạng chư hầu kiểu mới của Trung Quốc (như đã phân tích trong bài 2). Tạm gọi đấy là hiện tượng (đang) trở thành chư hầu kiểu mới một cách gần như là vô ý thức hay là không ý thức được. Nghĩa là trên thực tế kịch bản 1 đã và đang trở thành hiện thực từng phần rồi, nhưng ĐCSVN không nhận biết được và cho đến nay chưa một lần báo động cho cả nước! Điều đáng lo nhất là sự kiện giàn khoan HD 981 hình như vẫn chưa đủ nghiêm trọng để có thể loại bỏ hẳn sự vô thức này đang còn tồn đọng ở mức độ nhất định trong không ít những người nắm vận mệnh đất nước. Đây là vấn đề cần phải được giải quyết dứt điểm tại đại hội XII sắp tới của ĐCSVN.
Kịch bản 2: Vừa không thể chấp nhận, vừa không khả thi.
(a) Không thể chấp nhận, vì Việt Nam như hiện nay quá yếu kém về nhiều mặt và do đó không thể đảm đương nổi một vai trò lá chắn cho bất kỳ ai hay là một khu đệm trung lập; cũng chẳng có một bên hữu quan nào chấp nhận hoặc tin tưởng giao cho Việt Nam như hiện nay một vai trò như thế.

(b) Kịch bản này dù ta muốn cũng không khả thi, đơn giản vì nước ta như hiện nay không thể là một Thuỵ Sỹ Việt Nam ở Đông Nam Á. Không biết đến bao giờ mới có thể có một Thuỵ Sỹ Việt Nam như thế để đảm đương vai trò này, hay là không bao giờ. Hơn nữa vì yêu cầu bành trướng quyền lực của một nước rất đông dân, siêu cường đang lên Trung Quốc không chấp nhận một quốc gia láng giềng nào là trung lập, dù có xin cũng không được, kể cả nước lớn như Ấn Độ. 

Láng giềng với Trung Quốc chỉ có thân phận: hoặc là đối tượng của bành trướng, nếu không thì phải đi với Trung Quốc như là Nga hiện nay. Chỉ trừ trường hơp TQ không ăn thịt nổi thì mới tha làm phúc – nghĩa là chấp nhận là đối tác. Quan điểm “Việt Nam không đi với bất kỳ một bên nào để chống lại một bên thứ ba” thực ra là lỗi thời (xem Thế giới đã sang trang) và vô nghĩa đối với Trung Quốc; quan điểm này trên thực tế che giấu sự nhu nhược và đầu hàng trá hình; trong khi đó sự thật là Việt Nam đã bị cột chặt vào Trung Quốc trên nhều phương diện.

Kịch bản 3: Là đáng bàn nhất.
Cũng có thể gọi đấy là kịch bản tự đứng vững trên đôi chân của mình trong mọi tình huống, không chống lại bất kỳ ai trên thế giới này, nhưng đi với cả thế giới để phát triển chính mình và để dấn thân cho lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, gắn lợi ích phát triển của chính mình với lợi ích phát triển chung của cộng đồng quốc tế, đi với cả thế giới để huy động sự hậu thuẫn và ủng hộ của cả thế giới cho sự nghiệp bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trước mọi nguy cơ bị xâm lấn. 

Nói nôm na, đây là sự lựa chọn trở thành một người có nhân cách và tư thế không ai bắt nạt được, sống được với tất cả mọi người, làm bạn được với tất cả mọi người, có ích cũng như được sự tôn trọng và tin cậy của tất cả mọi người. Một trong những cái đích sâu xa của kịch bản này là tạo ra tình thế: Một khi siêu cường bá quyền Trung Quốc xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, thì sự việc này đồng nghĩa với xâm phạm những giá trị và lợi ích chung của cộng đồng thế giới và không thể được cộng đồng thế giới chấp nhận.

Đây là kịch bản duy nhất đúng cho nước ta, song đặt ra cho nước ta những đòi hỏi phấn đấu vô cùng gắt gao.

Sự thật là trên thế giới hiện có không ít quốc gia nhỏ sát nách các nước lớn hoặc ở trong tình thế nằm lọt thỏm vào thế giới đối nghịch mình mà vẫn đứng vững và tự khẳng định được mình, đơn giản vì họ phấn đấu có trí tuệ và kiên cường hơn nước ta rất nhiều. Có thể nêu ra một vài so sánh khác nữa để suy nghĩ:

Người Singapore học hỏi và lao động với một cường độ cao hơn hẳn so với người dân nước ta. Tinh thần trách nhiệm và tính khoa học trong công việc cũng cao hơn.
Nhìn vào  Nhật: Thảm hoạ động đất và tsunami ngày 11-03-2011 vô cùng khốc liệt càng làm rõ thêm những giá trị và phẩm chất Nhật Bản, có thể nói cả thế giới phải kính phục…

Nếu bạn đã đọc cuốn Quốc gia khởi nghiệp của Dan Senor, bạn có thể hình dung trí tuệ và nghị lực nào của dân tộc Do Thái đầy trầm luân đã xây dựng nên nước Israel có nền kinh tế phát triển cao vào hàng đầu thế giới ngày nay giữa sa mạc và trong lòng thế giới đạo Hồi.

Bạn cũng nên chịu khó tìm đọc cuốn “Swiss Made” của R. James Breiding để hiểu những thành công phi thường của quốc gia này, tạo ra một Thuỵ Sỹ tồn tại  phồn vinh giữa các hùm sói châu Âu suốt 3 thế kỷ vừa qua, và bây giờ Thuỵ Sỹ còn trở thành một trung tâm của Liên Hiệp Quốc.

Công cuộc cải cách ở Myanmar (bắt đầu từ 2011) dưới thời tổng thống Thein Sein đã hoá giải thành công trong hoà bình chế độ quân phiệt đẫm máu kéo dài nhiều thập kỷ, đưa Myanmar bước đi những bước đầu tiên vô cùng gian truân trên con đường phát triển của dân chủ, bất chấp sự lũng đoạn khủng khiếp của Trung Quốc. Mọi hiểm nguy đối với Myanmar vẫn ở phía trước. Cả thế giới tiến bộ đang hồi hộp theo dõi và đứng bên Myanmar trên con đường mới khai phá này.

Lãnh tụ Nam Phi Nelson Mandela huyền thoại (1918 – 2013) sau khi lãnh đạo cách mạng Nam Phi xoá bỏ chế độ apartheid để xây dựng thành công nước  Cộng Hoà Nam Phi đã trao lại mọi quyền lực cho nhân dân…

Cuộc chiến tranh Iraq 8 năm ròng (203 -2010), Mỹ ném vào đây khoảng hai nghìn tỷ USD (thật ra có thể hơn, tuỳ cách tính) và mất khoảng 7000 sinh mạng quân nhân Mỹ. Một trong những mục tiêu chiến lược là nhằm dựng lên ở đây một chế độ dân chủ, song Mỹ đã thất bại cay đắng, đơn giản vì văn hoá đạo Hồi và nội tình các sắc tộc và bộ tộc ở Iraq lại chỉ quan tâm đến tranh giành quyền lực; thậm chí chiến tranh tôn giáo mới (nguy cơ nhà nước thánh chiến Hồi giáo ISIS) hiện nay đang có nguy cơ biến dạng quốc gia Iraq và toàn vùng.
Mùa xuân Ả-rập dù ở Ai Cập hay Lybia… sau khúc dạo đầu đầy hứa hẹn, chiến tranh giữa các sắc tộc và giữa các bộ tộc cư dân khác nhau lại đang đẩy những quốc gia này vào nội chiến mới.

Ukraina trên con đường tìm sự phát triển của dân chủ đã mất Krym và rơi vào nội chiến quyết liệt, nguy cơ đất nước bị chia cắt do sự can thiệp trực tiếp của Nga rất lớn. Song Ukraina cũng đang cho thấy họ dám chiến đấu cho con đường mình lựa chọn.
Ngay cạnh nước ta, Thái Lan từ năm 1932 bắt đầu tìm kiếm con đường trở thành nước phát triển, đến hôm nay đã chìm ngập trong 18 cuộc đảo chính, song đất nước bị giam hãm tiếp trong cái bẫy quốc gia có thu nhập trung bình, nguyên nhân chủ yếu là gần 9 thập kỷ rồi mà Thái Lan vẫn chưa sao xây dựng nổi cho mình một thể chế chính trị nhất thiết phải có của một nước công nghiệp. Trong khi đó Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore khởi sự sau Thái Lan nhiều thập kỷ nhưng đã thành công ngoạn mục, chủ yếu vì họ đã xây dựng được thể chế chính trị phù hợp… Càng rõ, thể chế chính trị mới là yếu tố quyết định cuối cùng của phát triển.

Có lẽ ở đây cũng phải nhắc đến “sự phấn đấu tự đổi đời” một cách triệt để và đáng là tấm gương cho cả thế giới suy nghĩ – đó là sự đổi thay và trỗi dậy từ đống tro tàn của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh, để hình thành nên nước Đức và nước Nhật hôm nay, với vị thế được tôn trọng trong cộng đồng thế giới – nguyên nhân thành công chủ yếu của họ là trung thực với bài học của lịch sử và sự thật.

Trong khi đó nỗ lực đổi đời của Liên Xô cũ chỉ tạo nên một nước Nga Putin đang đặt một chân lên con đường tạo dựng đế chế Nga mới, còn lâu mới được như Liên Xô cũ, thậm chí có thể là không thể…
Vân vân…

Nghĩa là thế giới hôm nay có đủ mọi điều hay và cái dở cho nước ta là nước đi sau học tập và phấn đấu thành công, không còn phải mò mẫm gì nữa. Phải nói thế này: Đất nước phải trả giá tổn thất bao nhiêu thế hệ, cái duy nhất Việt Nam hôm nay được hưởng là lợi thế của nước đi sau. Xin ngẫm nghĩ kỹ điều này. Trong khi đó động lực quyết định làm nên mọi thay đổi trong thời đại chúng ta đang sống là thông tin và ý chí. Chúng ta hoàn toàn không thiếu những gương tốt và những kinh nghiệm xương máu trong thế giới hôm nay để học và để thay đổi triệt để chính bản thân mỗi chúng ta mà đất nước đang đòi hỏi. Không có một lý do nào có thể biện minh sống trong thời đại này mà chúng ta không thể tự thay đổi triệt để được chính bản thân mình, ngoại trừ sự biếng nhác và hèn kém của mỗi chúng ta. Mỗi chúng ta thay đổi, sẽ cùng nhau thay đổi được đất nước.
Nhìn vào những tấm gương và kho tàng kinh nghiệm của nhân loại hôm nay, tôi thành thực muốn nói chúng ta còn kém cỏi quá, ươn hèn quá, có nhiều thói hư tật xấu quá, thậm chí còn lười biếng quá, còn quá nhiều chuyện làm giả ăn thật, chưa nói đến đầu óc còn quá chật hẹp, và con mắt chưa hẳn đã  muốn có tầm nhìn vươn ra bên ngoài luỹ tre làng ngàn xưa, dân trí và quan trí đều còn thấp lắm so với thiên hạ xa gần; so ngay với Thái Lan kinh tế, xã hội và thể chế chính trị nước ta lạc hậu vài chục năm… Cho phép tôi nói đến mức thế này: Một trong những cái ngu dốt lớn nhất của chúng ta là chưa thấy hết được cái ngu dốt của chính mình, hơi một tý là tưng tưng Việt Nam có cái này cái nọ nhất thế giới, nhất châu Á..! Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, có những chiến trận lùi xa cả nửa thế kỷ hoặc hơn nữa, mà niềm tự hào vẫn oang oang không ngớt như để cố át đi những yếu kém trong cuộc sống hôm nay, bất chấp cả cái lẽ tối thiểu trên đời trong giao tiếp là ăn trông nồi, ngồi trông hướng… …

Vì quyền lực tha hoá nặng nề, nơi chứa đựng nhiều điều u mê nhất trong cả nước lại là ĐCSVN. Ví dụ: Đến ngày hôm nay trong giới nghiên cứu cao cấp của ĐCSVN vẫn có người đặt câu hỏi: Xã hội dân sự là cái gì? Nó có phù hợp với nước ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội không? Chấp nhận xã hội dân sự thì mất chế độ! Làm thế nào xây dựng đảng cầm quyền ở nước ta mà vẫn giữ được chế độ chính trị một đảng?…  

“Chưa nên cho phép tự vận động bầu cử tại Việt Nam vì có nhiều đặc thù…” … nghĩa là chỉ nên duy trì hệ  thống nhà nước được tổ chức theo kiều “đảng cử dân bầu”, cái gì không quản được thì nên cấm… Vân vân… Trong khi đó cuộc sống của đất nước chúng ta hôm nay bên cạnh siêu cường Trung Quốc đang lên đòi hỏi quyết liệt mỗi người dân và cả nước ta phải có một phẩm chất mới hoàn toàn khác – đến mức  “tồn tại hay không tồn tại!” (“to be or not to be!”)…

Nói thẳng thắn với nhau, có lẽ chưa có thời nào trong lịch sử đất nước mà nhân dân chúng ta lại hèn kém như hiện tại so với thiên hạ toàn thế giới trong hoàn cảnh nước ta có độc lập, hèn kém so với những thách thức đất nước đang phải đối mặt. Có lẽ chưa có thời nào chúng ta hèn kém như hiện nay dưới ách cai trị do chính tay mình dựng nên. 

Chưa có thời nào chúng ta lại nhu nhược, tự làm tổn thương trầm trọng phẩm giá của chính quốc gia mình, và chịu để cho danh dự, độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị Trung Quốc uy hiếp, xâm phạm như hiện nay. Đất nước thật sự bị dắt mũi từ Hội nghị Thành Đô. Không biết làm sao nuốt được nỗi nhục này!

Chịu trách nhiệm toàn diện và tuyệt đối về tình trạng hèn kém nói trên của đất nước và của dân tộc là Đảng Cộng Sản Việt Nam tha hoá hôm nay. Không thể nói khác.
Chế độ chính trị đảng trị và chính sách ngu dân nhân danh thực hiện sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN tha hoá hôm nay là tác nhân chính mang lại sự hèn kém này cho đất nước, đến mức mỗi chúng ta – kể cả các đảng viên ĐCSVN – hầu như không đủ năng lực và ý chí nhìn nhận ra sự hèn kém của chính bản thân mình nữa, đến mức hầu như mỗi chúng ta cam chịu hai tay buông xuôi.

 Đối với bên ngoài thì cam chịu nhắm mắt trước từng bước lấn tới của quyền lực mềm và quyền lực rắn Trung Quốc. Đối với bên trong, đành ngậm miệng oán trách thầm những điều ngang trái, hoặc thụ động bó tay chờ đợi, nước chảy bèo trôi được đến đâu hay tới đó – đấu tranh tránh đâu?.., hoặc có cơ hội thì bỏ nước đi tìm đường kiếm sống…  Trong khi đó hàng ngày nhan nhản những cái giả – diễn – hão thay nhau hiếp đáp cuộc sống mọi mặt của đất nước… Phải nói đây là hiện tượng xã hội xuống cấp cùng cực nhất kể từ Cách mạng Tháng Tám 1945. Đại hội XII sắp tới của ĐCSVN cần mổ xẻ thấu đáo trách nhiệm này của đảng.

Trong tôi canh cánh câu hỏi phải chăng đây là thời kỳ mạt vận của khí phách và tinh hoa Việt Nam? Đau lòng lắm, xấu hổ lắm, nhưng không thể không tự cật vấn mình như thế được.

Song mỗi công dân chúng ta – dù đảng viên hay không đảng viên – cũng phải gánh chịu phần trách nhiệm riêng của chính mình về thực trạng đất nước hôm nay, không thể đổ thừa hết mọi chuyện cho chế độ. Chỉ riêng sự cam chịu một bề như vậy của mỗi chúng ta cũng đủ kết án chúng ta là tòng phạm, là đồng loã trước toà án lịch sử của đất nước, không thể nói khác được… Dân  nào thì chế độ nấy – đây cũng là một quy luật của phát triển.

Tôi xin phép nói đến mức thế này: Nếu những chuyện đàn áp và làm nhục dân đang xẩy ra hàng ngày ở nước ta mà lại xảy ra ở các nước của mùa xuân Ả-rập năm nào, thì có lẽ chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam đáng phải sụp đổ 3 hay 4 lần rồi! Nếu luận rằng “cái ỳ” này của Việt Nam là biểu hiện cao độ của sự ổn định chính trị, tôi e rằng đấy là nguỵ biện đáng xấu hổ – cho người giải thích và cho cả người chấp nhận sự giải thích này.

Đất nước này có đủ tủi nhục để không cần phải chủ động có thêm hay xúi giục gây thêm một thảm hoạ mới bổ sung nào nữa. Ở vào hoàn cảnh nước ta hiện nay, điều tai ác là sụp đổ của hiện trạng đồng nghĩa với thảm hoạ, chắc chắn sẽ thê thảm hơn nhiều lần và sẽ đẫm máu so với sụp đổ trong hoà bình của Liên Xô. Nhưng không thể vì thế nhắm mắt làm ngơ trước cái hèn kém của chính mình. Thậm chí sự ngơ điếc này chính là mầm mống chắc chắn của thảm hoạ sẽ tới mai sau.

 Điều cần nói rành rọt ở đây: Nhờ những nỗ lực của cả nước, nhất là trong kinh tế, (đương nhiên phần quan trọng không kém là còn nhờ cả “sức ỳ” nữa) đất nước mới thoát được mấy phen sụp đổ như thế của hệ thống chính trị – chứ không phải là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng và tính ưu việt của chế độ. Song chính kết quả những nỗ lực này đặt ra đòi hỏi quyết liệt: Không thể kéo dài mãi tình trạng èo uột đến ngắc ngoải như hiện nay! Phải cải cách triệt để hệ thống chính trị hiện tại để mở đường sống cho đất nước.

Cái hèn kém đáng phê phán nhất của mỗi người chúng ta trước hết là sự giác ngộ chưa đầy đủ về quyền và trách nhiệm phải có của công dân với tư cách là người chủ đất nước của một quốc gia độc lập, là không thắng được nỗi sợ của chính mình để ý thức được và làm được quyền và trách nhiệm công dân phải có ấy của mình. Nói riêng trong hàng ngũ ăn lương từ ngân sách nhà nước – dù là ngạch đảng, ngạch chính quyền, hay ngạch đoàn thể, cái gọi là “phường giá áo túi cơm” đông quá, ăn hết nhuệ khí của đất nước và cố níu kéo sự tồn tại của chế độ toàn trị. Tôi trầm ngâm ước ao, giá mà mỗi chúng ta – trước hết là các đảng viên – dám dấn thân sống theo lương tri mình một chút, chắc chắn đất nước này đã khác hẳn rồi! Cái thấp hèn của mỗi chúng ta góp phần không ít vào việc huỷ hoại đất nước này!..

Cái sợ và sự phản ứng bầy đàn là sản phẩm tồi tệ nhất của hiểu biết thiếu hụt, là đồng minh lợi hại của mọi thế lực đen tối ngay trong lòng đất nước chứ không phải ở đâu xa, là trở lực hoặc thậm chí bị lạm dụng làm phản lực chống lại cái tiến bộ và cải cách[4]. Chẳng có sự diễn biến hoà bình hay biến chất đạo đức chính trị tư tưởng nào đáng sợ cả, mà chỉ có cái việc lấy cái được gọi là diễn biến và biến chất này để hăm doạ sự bất bình trong lòng nhân dân và xí xoá đi cái tha hoá của quyền lực mà thôi. Phụ hoạ một cách vô ý thức vào tình trạng này chính là cái sợ của mỗi chúng ta.
-      Nhưng mà, cứ làm khác là bị đàn áp! Vừa không có cái mồm để nói, trong tay vừa không có quyền!..

-      Chỉ còn cách phải tự mở mồm, chấp nhận mọi đàn áp để mở mồm. Phải giành lấy quyền! Một người không làm nổi thì hè nhau cùng làm! Phải học để làm đúng.
-      Nhưng mà sợ lắm. Sợ nhiều thứ.
-      Chịu bó tay vì sợ thì ngày xưa đứng lên chiến đấu cứu nước để làm gì? Hãy cùng vượt lên nỗi sợ để cùng làm![5]
-      …
-      …
Sống há miệng chờ sung rụng đã là không ổn, nói chi đến khoanh tay chờ được ban phát quyền và trách nhiệm như thế – những thứ này phải học và phải đấu tranh mà giành lấy. 
Sống cạnh Trung Quốc trong thế giới hôm nay, nước ta không thể lựa chọn cách sống nước chảy bèo trôi thế nào cũng được. Tự do của chúng ta mà trời đất và tự nhiên ban tặng chỉ là sự tự do được phép tuỳ ý lựa chọn cho đất nước một trong 3 kịch bản như đã nêu trên mà thôi. Và vì tự do của chính mình, mỗi chúng ta chỉ có con đường lựa chọn kịch bản 3 cho đất nước.
Nhất thiết không thể để đất nước như thế này sống qua ngày đoạn tháng bên cạnh Trung Quốc. Để thực hiện kịch bản 3, mỗi chúng ta hãy bắt đầu từ học và quyết thực hiện quyền và trách nhiệm công dân của mình, trước tiên là để triệt để thay đổi chính mình, rồi vượt lên mọi nỗi sợ thực hiện quyền và trách nhiệm của mình góp phần vào cải cách thể chế chính trị của đất nước, đưa đất nước sang trang mới. Muốn đất nước tiến hành cải cách triệt để thể chế chính trị hiện hành trong hoà bình và phát triển, mỗi chúng ta phải quyết học như vậy. “…Đời đời sống cạnh Trung Quốc mà mỗi chúng ta không có trí tuệ, ý chí và nghị lực luôn luôn thắng được ý đồ của Trung Quốc đầy bản chất bá quyền, nước ta chỉ đáng sống trong kiếp chư hầu, nô lệ. Đã đến lúc cả nước và toàn Đảng cần hiểu rõ đòi hỏi bắt buộc này, để tiến hành bằng được cuộc cải cách chính trị sâu rộng hiện nay đã chín muồi nhằm thay đổi hẳn đất nước…” [6]
Sự sống còn của đất nước đặt ra những đòi hỏi nghiệt ngã như vậy. Song đồng thời cũng phải thấy hết tinh hình nguy hiểm: 

Thực trạng mọi mặt của đất nước ta hiện nay nhạy cảm đến mức cứ đụng vào sửa chữa mà ngu dốt là có thể đẫn đến sụp đổ, có lẽ còn nguy khốn hơn so với Liên Xô năm nào! Không một ai được ngoảnh mặt trước sự thật phũ phàng này vì bất kỳ lý do gì.  

Quyền lực cai trị đất nước đang vin vào thực tế nhạy cảm này để chống lại cải cách, nhân danh duy trì sự ổn định. Đây là sự ngoan cố duy trì cái sống tạm thời cho quyền lực bằng cách đi sâu thêm nữa vào con đường chết của đất nước, không thể chấp nhận.
Để vượt qua sự nhạy cảm có thể gây ra sụp đổ bất cứ lúc nào như thế,  chỉ có một con đường là trung thực với sự thật, mở ra đối thoại xây dựng với tất cả tinh thần trách nhiệm theo tinh thần Diên Hồng trong cả nước, từ đó tìm ra sự đồng thuận cao nhất để có khả năng tiến hành cải cách thể chế chính trị trong hoà bình và phát triển. Đấy là con đường sống. Đối thoại trung thực với sự thật như thế trong nội bộ đảng, giữa đảng và nhân dân, và giữa cả nước với nhau theo tinh thần Diên Hồng như vậy, sẽ chẳng có nguy hiểm nào có thể tước bỏ hay lấy cắp được con đường cải cách nước ta nhất quyết phải lựa chọn. Trong dân nhiều năm nay đã có không ít tiếng nói phát đi theo hướng tâm huyết này, đảng cần lắng nghe và đủ can đảm đối thoại chứ không được trấn áp tệ hại như đang làm. Hơn nữa, duy nhất nắm quyền lực trong tay, ĐCSVN có trách nhiệm ràng buộc phải chủ động và làm tất cả mọi việc có thể để tổ chức thành công đối thoại Diên Hồng như vậy.   
1.      Đại hội XII lựa chọn gì?
III.1. Bàn về cái không thể và cái có thể
Trước hết xin chia sẻ, 10 bạn đọc các bài viết của tôi thì có đến 9 bạn không thích phần tôi viết về ĐCSVN, càng không thích hoặc thậm chí rất ghét phần tôi khuyến nghị ĐCSVN nên thay đổi như thế nào. 

Thái độ như vậy không phải là vấn đề cảm tính hoặc là hệ quả của những bức xúc từ cuộc sống. Phản ứng tiêu cực này chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm dẫn tới sự khẳng định: ĐCS nói chung là không thể thay đổi được, ĐCSVN không phải là ngoại lệ. Một số trong những bạn đọc này còn viện dẫn ý kiến của Yeltsin: ĐCSLX không thể thay đổi được, chỉ còn mỗi cách đập tan nó! Những người có trách nhiệm trong đảng, trước hết là Bộ Chính trị, cần phân tích thấu đáo phản ứng này của dư luận nước ta. Bản thân tôi cũng cho sự khẳng định này có căn cứ xác đáng. Bởi sự thật là không có một ĐCS nào trong các nước Liên Xô Đông Âu cũ chịu chấp thuận cải cách. Tất cả các đảng này chỉ kết thúc bằng quá trình sụp đổ hoặc bị xoá sổ. Sự ngoan cố của ĐCSVN trước những đề nghị cải cách cũng rất rõ.

Tuy nhiên, có một khía cạnh cần xem xét dưới đây.

Trong nhiều bài viết của mình, tôi cho rằng ĐCSVN từ nhiều thập kỷ nay không còn là đảng lãnh đạo nữa, mà chỉ là lực lượng chính trị lớn nhất đang nắm lọn quyền cai trị đất nước.  Vấn đề đặt ra là câu hỏi: Xử sự như thế nào với cái lực lượng chính trị lớn nhất nước này?

-    Giải tán bằng luật pháp hay xoá bỏ bằng bạo lực? Cách làm này là không thể và sẽ tiếp tục không thể như thế một thời gian khá dài nữa. Lại càng không thể “bói” được là bao giờ ĐCSVN sẽ tự sụp đổ, dù rằng đây sẽ là kết cục tất yếu của tha hoá. Xoá bỏ bằng bạo lực dù muốn làm và làm được, cũng không phải là phương án tối ưu cho đất nước trong hiện tại, bởi vì sẽ gây ra binh đao nồi da xáo thịt vô cùng thảm khốc, chưa ai có thể nói trước kết cục sau đó sẽ là gì. Và kể cả một khi đã xảy ra một cuộc bể dâu như thế, trước sau cải cách vẫn là nhiệm vụ không thể trốn tránh.
-    Tôi mong mỏi mỗi chúng ta  hãy tự học để tự thay đổi chính mình trước tiên trước khi bắt tay vào cải cách thay đổi thể chế chính trị của đất nước, và điều này là khả thi trong thế giới hôm nay. Vậy hà cớ gì tôi lại không đồng thời cùng đặt vấn đề như thế đối với từng đảng viên và toàn thể ĐCSVN? Vả lại, như chúng ta đã thấy ở Myanmar, cải cách thể chế chính trị từ trên xuống và từ trong ra của hệ thống quyền lực là hứa hẹn thành công nhất và đỡ tốn kém xương máu nhất. ĐCSVN hiện nay có mọi điều kiện cần và đủ để cải cách thành công như thế, chỉ còn thiếu ý chí đặt lợi ích quốc gia lên trên hết[7]. Cũng có ý kiến cho rằng ĐCSVN không thể làm được cải cách này, vì bị nô lệ ý thức hệ và vì đang thiếu một minh quân giương cờ…
-    Giả thiết rằng mọi nỗ lực của cả nước tìm đường cải cách bắt đầu từ trên xuống và từ trong ra trong hệ thống quyền lực của ĐCSVN đã được thực thi hết mức mà vẫn thất bại, thì phương án xoá bỏ bằng bạo lực chẳng những sẽ là không tránh khỏi sau đó, mà còn là bước phát triển tất yếu tiếp theo, tự phát từ nhân dân, và sẽ chẳng có gì ngăn nổi như đã từng xảy ra ở nhiều nước khác, sự cáo chung của ĐCSVN sẽ trở thành đương nhiên, thảm hoạ cũng là đương nhiên. Tôi đã cảnh báo rõ ràng như vậy trong nhiều bài viết của mình.

-    Cải cách ở nước ta để chuyển sang thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ hầu như chắc chắn sẽ là một cái gai phải nhổ trong con mắt siêu cường đang lên Trung Quốc. Bởi vì ảnh hưởng lan toả của cải cách này có thể nguy hiểm đối với Trung Quốc. Song chúng ta phải làm việc phải làm của mình, không thể chờ đợi Trung Quốc cho phép hay không cho phép. Một khi Trung Quốc học tập kinh nghiệm đã xảy ra ở Krym và Đông Ukraina quyết xóa bỏ cuộc cải cách này của nước ta, nhân dân ta sẽ lại một lần nữa phải chấp nhận hy sinh xương máu, nhưng sự nghiệp cải cách này sẽ trở thành bất khả kháng và rất triệt để, cái thòng lọng ý thức hệ và “4 tốt và 16 chữ” đang siết lên cổ đất nước sẽ bị loại bỏ dứt khoát và vĩnh viễn.

Những lý do tại sao tôi lựa chọn con đường vận động cả nước không loại trừ một ai tiến hành cải cách như thế có lẽ đã rõ.

(1) Đất nước đang đòi hỏi gay gắt phải có một thể chế chính trị mới để ra khỏi bế tắc hiện nay và để trở thành một nước công nghiệp, (2) cục diện thế giới đặt ra nhiều thách thức mới nghiêm trọng, đồng thời cũng đang mở ra vận hội mới chưa từng có đổi đời đất nước dứt khoát phải nắm lấy (3) thách thức của siêu cường đang lên Trung Quốc trực tiếp uy hiếp nước ta với ý đồ chiến lược biến nước ta thành chư hầu để đẩy mạnh bá chiếm Biển Đông – đấy là 3 yếu tố quyết định buộc chúng ta phải lựa chọn kịch bản 3 cho Tổ quốc. Sự lựa chọn này là có thể, và không được thoái thác.

III.2. Những vấn đề đặt ra cho Đại hội XII
Trong bài “Hiểm hoạ đen” (bài 2), tôi đã trình bầy khái quát ý kiến của tôi về tình hình đất nước sau 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên, với nhận xét tổng quát: Về cơ bản đây là một giai đoạn phát triển thất bại.
Nhận xét này này dựa trên các đánh giá sau đây:
(1) Thành tựu đạt được không cân xứng với nguồn lực và công sức đã huy động được, nhiều cơ hội lớn có tính bước ngoặt đã bị bỏ lỡ[8]; sự phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới ngưỡng không thể vượt qua, tích tụ cho đất nước hôm nay nhiều ách tắc lớn của cái bẫy quốc gia có thu nhập trung bình thấp, không thể đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020[9]. Xin nhấn mạnh: trong 3 thập kỷ công nghiệp hoá nước ta huy động được nguồn lực nhiều gấp đôi Hàn Quốc trong thời kỳ này, Hàn Quốc trở thành NIC (nước mới công nghiệp hoá), nhưng Việt Nam trở thành một nền kinh tế của người đi làm thuê và của đất nước cho thuê.

(2) Chế độ chính trị hiện hành xuống cấp nghiêm trọng vì tệ nạn quan liêu tham nhũng, ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp kìm hãm sự phát triển của đất nước; xã hội nước ta từ hơn một thập kỷ nay bị khủng hoảng sâu sắc về nhiều mặt – tiêu biểu nhất là nhân dân mất lòng tin vào chế độ chính trị và đảng nắm quyền; bất công xã hội ngày càng lớn; tự do dân chủ và quyền con người bị xâm phạm nghiêm trọng; đặc trưng của chế độ toàn trị hiện nay là: nhân dân không phải là người làm chủ đất nước, đảng đứng trên Hiến pháp.

(3) Độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và nhiều lợi ích chính đáng khác của đất nước bị Trung Quốc xâm phạm và uy hiếp nghiêm trọng (hơn cả thời kỳ có chiến tranh biên giới 17-02-1979 do Trung Quốc tiến hành); đường lối đối nội và đối ngoại sai lầm đã dẫn đến tình trạng Việt Nam rơi vào vị thế quốc tế của nước phải “leo dây” (song trên thực tế là bị cột chặt vào Trung Quốc) và hầu như không có bạn hoặc liên minh với đúng nghĩa để tạo thanh thế, mặc dù Việt Nam đã thiết lập được quan hệ đầy đủ với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới và có quan hệ đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện với tất cả các nước có vị thế quốc tế quan trọng. Mặt nào đó mà xét, Việt Nam lâm vào một thế cô lập trên thực tế (de facto) khá nguy hiểm: Chung quanh là các nước láng giềng nhỏ yếu dễ bị Trung Quốc chi phối, ngoài biển là cái đường lưỡi bò đang hình thành, ngoài ra rất dễ bị chấn thương trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự.

Có thể kết luận: Sau 40 năm độc lập, trong đó có 30 năm đổi mới, Việt Nam hiện nay là một nước yếu về đối nội và đối ngoại so với những thách thức phải đối mặt, con đường phát triển đang bế tắc với cơ cấu kinh tế và thể chế chính trị toàn trị hiện tại, đất nước chịu sự lệ thuộc và lũng đoạn nghiêm trọng từ phía Trung Quốc mà chưa có cách gì thoát ra được, khoảng cách tụt hậu ngày càng rộng. Nguồn gốc của tình hình này là những yếu kém và sai lầm của ĐCSVN trong suốt thời kỳ này. 
Xin nhắc lại, khoảng trên 10 năm qua trong các quá trình chuẩn bị các đại hội đảng, liên tục kể từ đại hội IX, X và XI của ĐCSVN, các ý kiến đóng góp của dư luận trong nước – đặc biệt là của các trí thức, trong đó có nhiều đảng viên lão thành – tập trung vào 3 vấn đề quan trọng:
1.     Đường lối phát triển kinh tế sai lầm, chưa có một chiến lược kinh tế nào đã đề ra có thể thực hiện được (chiến lược công nghiệp hoá, chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn, chiến lược kinh tế biển, chiến lược kinh tế vùng, chiến lược sản phẩm…), chỉ dựng lên được một nền kinh tế gia công với cơ cấu lạc hậu.

2.     Thể chế chính trị bất cập, trở thành một hệ thống quan liêu ăn bám nặng nề. Các nhóm lợi ích chi phối nặng nề (a) tập đoàn kinh tế nhà nước, (b) nền kinh tế GDP tỉnh, và (c) sự vận hành theo tư duy nhiệm kỳ của quyền lực, qua đó biến dạng luật pháp và toàn bộ kỷ cương đất nước. Đây là nguyên nhân gốc kìm hãm sự phát triển của đất nước. Đất nước độc lập 40 năm, nhưng quyền làm chủ đất nước của nhân dân vẫn chưa được thực hiện, khả năng thực thi luật pháp rất thấp. Thể chế chính trị như đang tồn tại là nguyên nhân  trực tiếp và chủ yếu làm thất bại chiến lược công nghiệp hoá.

3.     Đường lối đối ngoại nói chung không đáp ứng thoả đáng những đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt là thất bại nghiêm trọng trong chính sách đối ngoại của nước ta kể từ Hội nghị Thành Đô đã giúp quyền lực mềm và quyền lực rắn Trung Quốc lũng đoạn toàn diện và sâu sắc nhiều mặt cuộc sống của đất nước, tạo ra cho nước ta sự lệ thuộc nguy hiểm, uy hiếp trực tiếp và ngày càng nghiêm trọng độc lập chủ quyền quốc gia của ta. Quan hệ Việt – Trung như đang diễn ra có nguy cơ chặn đứng tương lai phát triển của đất nước.

Cho đến nay cả 3 vấn đề cốt lõi nêu trên tiếp tục là 3 vấn đề nóng bỏng của đất nước. Bộ Chính trị và BCHTƯ cả 3 khoá IX, X và XI cho đến nay không thèm đếm xỉa đến và vẫn giữ thái độ im lặng đối với sự đóng góp xây dựng này.
Thư ngỏ ngày 28-07-2014 của 61 đảng viên gửi Bộ Chính trị và BCHTƯ ĐCSVN đặt vấn đề:
-      Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, ĐCSVN cần thay đổi cương lĩnh để chuyển hẳn sang đường lối phát triển dân tộc và dân chủ, chuyển đổi thể chế toàn trị hiện nay sang thể chế của nhà nước pháp quyền dân chủ; chấm dứt ngay các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

-      Bạch hoá những vấn đề nghiêm trọng trong quan hệ Việt – Trung kể từ Hội nghị Thành Đô; thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước những bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc muốn bá chiếm Biển Đông; vạch ra con đường phát triển để thoát khỏi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay; tạo ra hợp tác, liên kết, liên minh có hiệu quả với các nước ASEAN và trong cộng đồng quốc tế – nhất là với các cường quốc – có khả năng làm thất bại mưu đồ Trung Quốc bá chiếm Biển Đông và hậu thuẫn đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta.
-      Thư ngỏ yêu cầu phải có sự lựa chọn dân chủ các đại biểu thực sự có năng lực đáp ứng nhiệm vụ quan trọng của đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII; đồng thời phải thật sự dân chủ bầu ra một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp để chuyển đổi thể chế chính trị.
Thiết nghĩ những vấn đề trong thư ngỏ này liên quan đến vận mệnh sống còn của đất nước, đại hội XII sắp tới cần đánh giá thấu đáo và phải đi tới những quyết sách đáp ứng.
Điều quan trọng số một đối với đại hội XII là ĐCSVN là đảng độc quyền trong hệ thống chính trị đứng trên hiến pháp, tha hoá trong 4 thập kỷ vừa qua đã lấy đi mất khả năng lãnh đạo của đảng. Sự tha hoá này một mặt trực tiếp phản bội lại lý tưởng và truyền thống cách mạng vì dân vì nước đã từng lập nên ĐCSVN, mặt khác biến cái đảng tha hoá này thành nhân tố trực tiếp nhất và quyết định nhất giam hãm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, để xảy ra ngày càng nhiều hiện tượng đối kháng với lợi ích của quốc gia và của dân tộc. 

Đảng đứng trước sự thật lạnh lùng chết người là: Nếu tiếp tục giữ ĐCSVN như hiện nay, đất nước sẽ lún sâu thêm nữa vào khủng hoảng mọi mặt; đảng sẽ càng tha hoá và bất lực tiếp, khiến cho đất nước phải chuốc thêm nhiều tổn thất mới. Dẫn tới hệ quả đảng sẽ buộc phải chấp nhận những thất bại mới hoặc phải lao vào những sai lầm và tội lỗi mới để bảo vệ chế độ của mình. 

Tình hình này sẽ đẩy mạnh hơn nữa sự phản kháng của nhân dân, chế độ sẽ phải đàn áp dân tàn bạo hơn..,  và cuối cùng sẽ dẫn tới con đường chế độ công khai chống lại nhân dân, chống lại  đất nước. Diễn tiến này từ nhiều năm nay đã manh nha qua các vụ đàn áp những bất bình của nhân dân và các vụ bắt bớ, xử án những người bất đồng chính kiến… Phải nói thẳng là sự uy hiếp của Trung Quốc dù nguy hiểm với nước ta đến mức nào chăng nữa cũng không đáng sợ bằng sự tha hoá trầm trọng hiện nay của đảng và toàn bộ hệ thống chính trị đất nước. Ta thua hay thắng ý đồ bành trướng của Trung Quốc trước hết là tuỳ thuộc ở điểm đối nội mấu chốt này.

Nếu muốn đi với đất nước tại bước ngoặt định mệnh này, ĐCSVN hôm nay không có cách nào khác là phải tự lột xác để không còn là mình như hôm nay nữa và qua đó phấn đấu trở thành một đảng mới, đồng thời đảng phải thực hiện trách nhiệm ràng buộc là chủ động tiến hành cải cách để thay đổi cái chế độ chính trị toàn trị hiện hành là con đẻ của đảng. Không ý thức hệ hay chủ nghĩa nào có thể cứu đảng hay giúp đảng trốn tránh được hai nhiệm vụ phải làm này.

Chọn đất nước, có nghĩa đảng phải lột xác đến mức như vừa nói trên. Còn muốn giữ đảng như hiện tại, đảng phải chống lại đất nước. Vì lẽ này đảng đang đứng trước bước ngoặt định mệnh, không cách gì lẩn tránh được.

Song lột xác cái đảng tha hoá ngày càng trầm trọng này như thế nào? có làm được không?
Trong buổi tiếp Dương Khiết Trì ngày 18-06-2014, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: lập trường về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên Biển Đông là không thay đổi và không thể thay đổi.  

Tổng bí thư khẳng định như vậy là đúng đắn. Nhưng điều kiện tiên quyết để thực hiện khẳng định này là phải có một Việt Nam mạnh và có bản lĩnh. Đặt vấn đề như thế, sẽ chỉ có một con đường là ĐCSVN hôm nay  trước tiên phải tự thay đổi chính mình theo con đường dân tộc và dân chủ để trở thành một đảng mới, qua đó cùng với cả nước tạo ra một quá trình hình thành một Việt Nam mới như thế. Có làm được không? Nói được như thế mà không đi đến cùng được như thế, sẽ làm sao lay chuyển được Trung Quốc?


Cho đến hôm nay, tôi không thấy, hoặc chưa có điều kiện được thấy việc chuẩn bị đại hội XII đang tiến hành theo hướng tiếp cận những vấn đề như đã xới ra trên đây! Vậy đại hội XII sẽ lựa chọn gì cho đất nước, cho chính bản thân đảng của mình? Những gì thấy được trên phương tiện truyền thông “lề phải” hình như vẫn là ngựa quen đường cũ: Từ khâu chuẩn bị nhân sự và khâu bầu chọn các cấp chủ yếu vẫn theo cách làm cũ; lời căn dặn của những người lãnh đạo: tổng kết tình hình đất nước chuẩn bị cho đại hội phải dựa vào cương lĩnh và hiến pháp… Nếu đúng là như vậy thì nguy hiểm quá, vì cách làm đại hội theo kiểu này hình như báo hiệu khả năng ĐCSVN thay đổi và việc cải cách xoá bỏ chế độ toàn trị có lẽ đến 99% là không hiện thực.

Tôi xin lưu ý: Đại hội XII hoặc là sẽ mở ra được một bước ngoặt cho ĐCSVN và cho đất nước, hoặc là báo hiệu một thời kỳ đen tối mới của đất nước và gia tăng những yếu tố trước sau sẽ dẫn đến sụp đổ của chế độ, tất cả tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của từng đảng viên và toàn đảng ở ngay đại hội XII này, không thể đổ lỗi cho bất kỳ ai khác hay cho lý do nào khác. Ngay từ bây giờ, từng đảng viên cần có tiếng nói của mình cho việc tiến hành một đại hội đúng đắn và nghiêm túc tình hình đất nước đang đòi hỏi.
1.        Kiến nghị
Khoản 2 điều 4 của Hiến pháp ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.”  Chiểu theo tinh thần và lời văn của khoản này tôi kiến nghị: Công khai hoá tới mức tối đa toàn bộ quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội XII. Đơn giản vì mọi việc của đại hội đều liên quan trực tiếp đến vận mệnh quốc gia, nhân dân cần được biết, cần có tiếng nói của mình với đại hội, cần được giám sát những việc đại hội làm… Tại các nước văn minh, các đảng chính trị đều phải làm như thế khi họp đại hội để tranh cử, chương trình hành động của đại hội phải được dân tán thưởng mới hy vọng thắng cử. Hơn nữa, gắn bó mật thiết với dân  như viết trong khoản 2 điều 4 của Hiến pháp trước hết có nghĩa đại hội XII phải quyết định những vấn đề đặt ra đúng với lợi ích quốc gia và nguyện vọng của nhân dân.
Đặt vấn đề như vậy, tôi xin có một số đề nghị sau đây.
IV.1. Bàn về nội dung cốt lõi của đại hội XII
Đứng trước bước ngoặt hiện nay của đất nước, trung thực với các bài học của lịch sử và sự thật là đòi hỏi tất yếu để nhận thức đầy đủ lợi ích sống còn của tổ quốc, từ đó có được ý chí thoát khỏi tình trạng lũng đoạn của Trung Quốc, xoá bỏ sự cai trị mang tính chất ngu dân và nô dịch đang kìm hãm đất nước do chế độ toàn trị hiện nay của đảng vô ý thức hay có ý thức đã tạo dựng nên, quyết mở đường cho đất nước chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, nhằm thực hiện khát vọng đời đời của nhân dân về độc lập – tự do – hạnh phúc[10], tranh thủ sự hậu thuẫn của cộng đồng khu vực và quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, dấn thân đóng góp vào nỗ lực chung của cả thế giới vì hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Đã đến lúc ĐCSVN phải đặt ra cho mình nhiệm vụ như vậy. Nhiệm vụ này đồng nghĩa là sự khai sinh mới của ĐCSVN hiện nay: sự ra đời của một đảng vì dân tộc và dân chủ, chỉ có lý tưởng và mục tiêu duy nhất là phụng sự tổ quốc và nhân dân, mang lại cho tổ quốc vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. (vấn đề 1)

Xuất phát từ kết luận nêu trong phần III.2. bên trên: “Sau 40 năm độc lập, trong đó có 30 năm đổi mới, Việt Nam hiện nay là một nước yếu về đối nội và đối ngoại so với những thách thức phải đối mặt, con đường phát triển đang bế tắc với cơ cấu kinh tế và thể chế chính trị toàn trị hiện tại, đất nước chịu sự lệ thuộc và lũng đoạn nghiêm trọng từ phía Trung Quốc mà chưa có cách gì thoát ra được, khoảng cách tụt hậu ngày càng rộng…”, đứng trước bước ngoặt hiện nay của đất nước, hãy coi 40 năm qua là sự mày mò tìm kiếm gian khổ con đường phát triển của một quốc gia mới giành được độc lập thống nhất. Hãy coi những gì đã thành đạt được trên chặng đường 40 năm này là vốn liếng khiêm tốn đầu tiên cho khởi sự sự nghiệp mới này.

 Hãy coi những thất bại trên chặng đường 40 năm này là các bài học nhớ đời và rút ra từ đó những kinh nghiệm để khởi sự và thực hiện thành công sự nghiệp mới. Đã đến lúc cả nước phải đứng lên mở ra một thời kỳ phát triển mới cho tổ quốc! ĐCSVN hiện nay với tính cách là một đảng mới của dân tộc và dân chủ coi thúc đẩy nhiệm vụ này là lẽ sống và lý tưởng phấn đấu của mình  (vấn đề 2).

Sống trong thế giới thế kỷ 21 đầy những thách thức sống còn và biến động khó lường của một trật tự quốc tế mới khác hẳn với 5 – 10 năm trước, lại đúng vào thời điểm siêu cường đang lên Trung Quốc coi Việt Nam là đột phá khẩu cần khuất phục trong đẩy mạnh mưu đồ bá chiếm Biển Đông, Việt Nam nhất thiết phải trụ vững với tính cách là một quốc gia có sức mạnh và bản lĩnh bảo vệ được độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của mình, đồng thời phải là một thành viên dấn thân trong cộng đồng ASEAN để cùng nhau gìn giữ hoà bình và ổn định trong khu vực, cùng nhau phấn đấu cho sự phát triển thịnh vượng của mọi quốc gia. Phát huy sức mạnh của chính mình và tranh thủ sự hậu thuẫn của toàn thế giới trở thành đòi hỏi sống còn để thực hiện được những mục tiêu này. Để có được trí tuệ, ý chí, nghị lực và sự quyết đoán đúng đắn cho mọi vấn đề đặt ra, nhất thiết phải lấy các giá trị của dân tộc và những tinh hoa tinh thần của nhân loại làm nội dung, làm chuẩn mực xây dựng con người và xây dựng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới này

Thừa nhận đòi hỏi này, phải nói đất nước ta sẽ có nhiều cái phải học lại từ đầu, phải làm lại từ đầu, thậm chí có nhiều cái phải thay đổi hẳn cách nghĩ và cách làm vì 40 năm qua và 70 năm qua có không ít tác động tạo nên trong đời sống của chúng ta những nếp nghĩ và thói quen lạc hậu, sai trái khó sửa. Nghĩa là cuộc sống trong thế giới hiện tại đặt ra cho cả nước phải tiến hành một cuộc cải cách toàn diện và triệt để chưa từng có nhằm đổi đời chính bản thân dân tộc ta và đất nước ta. Chẳng có tư tưởng, chủ nghĩa hay ý thức hệ nào có thể giúp dân tộc ta tạo ra được sự thay đổi đến mức đổi đời như thế này. Ta trở thành chính ta như thế, ta mới là người tự do và có cả thế giới là bạn bè bình đẳng.

 Để ta trở thành ta như thế, học hỏi trở thành đòi hỏi sống còn như con người cần không khí để thở vậy. Nói rốt ráo, chính dân tộc ta cũng phải lột xác vứt bỏ quá khứ nghèo nàn và lạc hậu của mình, phải tỉnh ngộ để thoát khỏi cái cái thân phận suốt chiều dài lịch sử nếu không bị ngoại bang ăn hiếp thì lại luôn luôn là cái bóng của ngoại bang. Chúng ta phải học hỏi và phấn đấu trở thành một dân tộc mới của một quốc gia mới để có một Việt Nam giữ được độc lập tự chủ của mình đồng thời có thể cùng với cả cộng đồng thế giới dấn thân cho hoà bình, hợp tác và phát triển[11]. (vấn đề 3).
Nhìn về mọi phương diện, nhiệm vụ mở ra một thời kỳ mới cho đất nước đã chín muồi.
Câu hỏi đặt ra là Bộ Chính trị, BCHTƯ và toàn thể đảng viên ĐCSVN có đặt mọi vấn đề phải thảo luận và phải quyết định tại đại hội XII này theo hướng và xứng tầm với 3 vấn đề trọng đại nêu trên đang đặt ra cho đất nước hay không?
Với cách nhìn đại hội XII coi như là bước đi đầu tiên của ĐCSVN trong nhiệm vụ cùng với cả nước mở ra một thời kỳ mới của đất nước, đại hội nên tập trung vào 3 nội dung chính:
(1) Cải cách xoá bỏ thể chế chính trị toàn trị hiện nay mang tính chất cai trị áp bức dân và kìm hãm đất nước, chuyển sang chế độ chính trị pháp quyền dân chủ mang lại tự do và sức mạnh toàn diện cho đất nước để phát triển trên con đường dân tộc và dân chủ.
(2) Hoàn thiện kinh tế thị trường nhằm đưa kinh tế ra khỏi tình trạng bế tắc hiện nay và mở ra một giai đoạn phát triển mới để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
(3) Đổi mới xây dựng ĐCSVN trở thành đảng của dân tộc và dân chủ để phấn đấu trở thành đảng cầm quyền trong chế độ nhà nước pháp quyền dân chủ.
Xin được bàn đến 3 nội dung quan trọng này trong một bài sau.
VI.2. Kiến nghị thay đổi cách tiến hành đại hội
Song song với việc chuẩn bị đại hội như các tiểu ban trù bị (nay gọi dưới cái tên chung là ban trù bị) đang tiến hành, đề nghị lập một nhóm ad hoc do một số đảng viên có năng lực trực tiếp xây dựng một báo cáo độc lập tổng kết những vấn đề lớn trong tình hình đất nước và nêu lên những vấn đề lớn tìm lối ra cho đất nước hiện nay; soạn thảo trình đại hội một số dự án cần thiết, ví dụ: (1) dự án cải cách thể chế chính trị, (2) dự án hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và (3) dự án cải tổ ĐCSVN thành đảng của dân tộc và dân chủ đáp ứng đòi hỏi của việc mở ra một thời kỳ mới cho phát triển đất nước, vân vân…
Báo cáo tổng kết độc lập này của nhóm ad hoc chủ yếu cần nêu lên những nhận định và phương hướng chính của nhiệm vụ phát triển đất nước, không cần đi sâu vào các chi tiết (vì có thể sử dụng những số liệu và dữ liệu cụ thể trong các dự thảo các báo cáo và trong dự thảo báo cáo chính trị do ban trù bị đại hội đảng soạn thảo); các dự án của nhóm ad hoc cần đặc biệt chú ý (a) xác định những mục tiêu chiến lược cần đạt được cho cả giai đoạn cải cách và mở đường thay đổi đất nước, (b) thiết kế các tổng lộ trình tiến hành,  (c) trình bầy các dự án thực hiện những bước đi đầu tiên của nhiệm kỳ khoá XII… Báo cáo tổng kết và các dự án của nhóm ad hoc sẽ được trình bầy và thảo luận trong đại hội, phản biện và so sánh với các văn bản do ban trù bị đại hội soạn thảo, để đại hội tranh luận và đi tới những kết luận, những quyết định đúng đắn và tối ưu.
Trong quá trình thảo luận tại đại hội, nên dựa trên quá trình tranh luận các vấn đề lớn của đất nước và của đảng làm xuất hiện những quan điểm hay tư duy xuất chúng, như vậy sẽ thuận lợi cho việc tìm người (nhân tài) để đại hội trực tiếp đề cử, tranh cử và bầu cử riêng cho các chức vụ tổng bí thư và các uỷ viên bộ chính trị.
Báo cáo và các văn kiện của nhóm ad hoc cũng như của ban trù bị đại hội cần tranh thủ tối đa những ý kiến xác đáng chắt lọc trong cả nước trong suốt quá trình chuẩn bị trước khi đưa ra thảo luận tại đại hội.
Nhóm ad hoc có toàn quyền dự thảo các báo cáo và các dự án cho những vấn đề lớn, đề xuất những ý kiến về những vấn đề lớn theo nhận thức và quan điểm của mình, không câu nệ vào bất cứ điều gì – kể cả hiến pháp, cương lĩnh, điều lệ đảng… Nhóm ad hoc có quyền đề nghị với đại hội thảo luận và quyết định những vấn đề lớn khác của quốc gia và của đảng chưa được ban trù bị đại hội đưa vào chương trình nghị sự, trực tiếp phản biện những vấn đề hay quan điểm trong các văn kiện do ban trù bị đưa ra đại hội, vân vân… Nhóm ad hoc có quyền và nên lấy ý kiến rộng rãi, công khai trong cả nước về những vấn đề trọng đại trước khi đưa ra đại hội thảo luận. Toàn bộ sản phẩm của nhóm ad hoc mang tính khuyến nghị, đề xuất và phản biện, phục vụ cho tranh luận trong đại hội, do đó ngoài việc chịu trách nhiệm trước toàn đảng và cả nước về tinh thần trách nhiệm và tính trung thực của mình, nhóm ad hoc có tính độc lập hoàn toàn. Đại hội kết thúc, nhóm ad hoc coi như làm xong việc được giao và tự giải thể.

Tóm lại, nên có hai luồng chuẩn bị song song độc lập với nhau như vậy cho việc tiến hành đại hội, một bên là luồng của ban trù bị đại hội như hiện nay, một bên là luồng của nhóm ad hoc, với mục đích làm sáng tỏ các vấn đề, chứ không một chiều đơn thuần lĩnh hội mọi thứ từ ban trù bị (thực chất là của khoá đương thời) đưa ra để tiếp thu và quán triệt như xưa nay thường làm, thực hiện tranh luận dân chủ và đi tới những quyết định xác đáng, công khai hoá trong cả nước hai luồng chuẩn bị này. Tạo mọi điều kiện cho cả nước theo dõi và tham gia ở mức tối đa có thể vào quá trình thảo luận các vấn đề tại đại hội, qua đó tạo ra một tiền lệ quan trọng cho việc thực hiện công khai minh bạch trong đời sống chính trị của đất nước.

Trừ một số vấn đề đảng vụ, mọi việc đại hội bàn là việc của quốc gia, đều liên quan mật thiết đến vận mệnh quốc gia, do đó cả nước phải biết và có quyền có ý kiến của mình; đảng cần tìm ra cách thức để thực hiện được đầy đủ quyền này của cả nước tại đại hội. Xin lưu ý: Nhân dân là người chủ đích thực của đất nước, vì vậy đại hội chỉ nên bàn những vấn đề lớn mở ra phương hướng phát triển của đất nước để sau này kiến nghị với quốc hội. Theo Hiến pháp, đại hội không có bất kỳ sự uỷ nhiệm hay uỷ quyền nào của đất nước cho phép quyết định công việc của nhà nước. Vì vậy đại hội không nên bàn lấn sân sang các nhiệm vụ nhà nước, của quốc hội khoá tới. 

Nên như vậy để tránh tình trạng quốc hội khoá tới sẽ chỉ làm cái việc nhắc lại và cụ thể hoá để thực hiện những quyết định của đại hội XII, qua đó quốc hội khoá tới vô hình trung trở thành cấp dưới của Bộ Chính trị, đảng mặc nhiên đứng trên Hiến pháp.  Xin lưu ý cách làm đại hội kiểu này vi phạm điều 2 khoản 2 trong Hiến pháp “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, vi phạm điều 4 khoản 3 “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”
Báo chí được phép đưa tin trung thực quá trình diễn tiến của đại hội, không chịu bất kỳ sự chỉ đạo đạo của cá nhân hay tổ chức nào; đưa tin sai lệch có dụng ý sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Như vậy đại biểu đi dự đại hội và toàn bộ hoạt động của đại hội nói chung sẽ phải chịu áp lực và thách thức rất lớn của ống kính báo chí, song điều này là cần thiết và phải chấp nhận.

Cách tiến hành đại hội  như trình bầy trên đòi hỏi phải chọn lọc các đại biểu có chất lượng đi dự đại hội. Chứ không phải lựa chọn đại biểu theo cơ cấu, đi dự đại hội chỉ để quán triệt các thứ khoá đương thời bầy ra và để thực hiện bầu cử theo xắp xếp của khoá đương thời như xưa nay thường làm.

Tôi xin kiến nghị nhóm ad hoc chỉ có 3 thành viên. Tôi xin tiến cử Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh là 3 thành viên nhóm này, xin tuỳ Bộ Chính trị hay BCHTƯ quyết định và lựa chọn theo thẩm quyền.
Nhóm ad hoc chỉ nên nhỏ gọn như vậy để làm việc có hiệu quả và dễ quyết đoán. Theo yêu cầu công việc đòi hỏi, nhóm ad hoc có quyền trực tiếp huy động nhân lực, mọi nguồn lực vật chất kỹ thuật khác và tài chính trong cả nước giúp làm mọi việc, để nhóm thực hiện được nhiệm vụ của mình.

Lý do tôi kiến nghị nhóm ad hoc gồm 3 thành viên này là vì theo hiểu biết của mình, tôi đánh giá đấy là 3 người có bề dầy kiến thức và kinh nghiệm thực tế cần thiết cho nhiệm vụ của nhóm ad hoc, có nhiệt huyết thay đổi đất nước. Cả 3 người này đều là uỷ viên BCHTƯ đảng, không có mảy may bất kể cái gì để có thể nghi ngờ tiếng nói của họ là của các thế lực thù địch theo tiêu chuẩn đo lường của đội ngũ dư luận viên và của báo chí “lề phải”. Chỉ có vấn đề 3 người này dám hay không dám trung thực với sự thật mà thôi, việc này cả nước và đại hội sẽ đánh giá khi vào cuộc. 

Hiểu biết như vậy, tôi xin tiến cử như vậy, có thể đảng sẽ tiến cử được những người giỏi hơn.

Trong công khai minh bạch đối với cả nước, nếu nhóm ad hoc thành công ở đại hội XII, hầu như chắc chắn dù mạnh yếu thế nào đấy sẽ là một cú hích đầu tiên của quá trình đổi đời đảng này và đất nước này. Nếu thất bại – giả thử vì năng lực và phẩm chất nhóm ad hoc không như mong đợi, hay vì phản ứng bác bỏ quyết liệt của đại hội…, cả nước sẽ thấy rõ đảng đang ở đâu, đất nước này đang làm sao, từng người của đất nước sẽ rút ra được kết luận cho riêng mình.
Việc chấp nhận phương án có một nhóm ad hoc như thế sẽ báo hiệu đại hội làm việc trên cơ sở thực sự cầu thị và có tranh luận dân chủ, có dũng khí đổi mới đảng, tạo ra không khí cởi mở trong cả nước, rất có lợi cho đảng và cho đất nước. Nếu đề xuất về lập nhóm ad hoc bị bác bỏ và không có một phương án cải tiến tương tự nào thay thế, nghĩa là nếu vẫn tiến hành đại hội theo đường mòn lâu nay, có lẽ con số “99%” nêu bên trên (phần III.2., tr 17) sẽ có xác suất rất cao!..
Thay lời kết:  Hãy cùng nhau nỗ lực khai phá những bước đi đầu tiên!

Trong âm hưởng của mùa thu Cách Mạng Tháng Tám năm nào, giữa những ngày này chúng tôi gặp nhau hàn huyên và trò chuyện về nước non. Khi bàn về tình hình đất nước hôm nay, nhà thơ Nguyễn Duy bật đứng lên như bị dồn nén từ bên trong, anh đọc cho chúng tôi nghe bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ quốc!”[12].

Thơ viết năm 1988, ngồi nghe mà nhiều chuyện vẫn cứ ngỡ đang là hôm nay… Trong lòng đau đớn tự hỏi: Tổ quốc chúng ta về nhiều mặt vẫn đang đứng im một chỗ, hay là đang đi giật lùi so với thời gian? Cái đang đi giật lùi hiển hiện này phải chăng đang ngoan cố kéo lùi tất cả?!.. …

“Ai?”… Nỗi đau về sự trì trệ của đất nước và sự lộng hành của tha hoá hôm nay quặn lên câu hỏi truy tìm thủ phạm. Hành trình truy tìm xuyên thế kỷ này hôm nay vẫn tiếp tục. Nguyễn Duy đã đưa ra nhiều cái “Ai?” để mổ xẻ. Nguyễn Duy đã tìm được tới cái “Ai?” cuối cùng đang góp phần quyết định kéo lùi tất cả: Nỗi sợ trong mỗi chúng ta!

Dù có sao đừng khoanh tay khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối 
Vâng, để đổi đời chính chúng ta và cả đất nước, việc đầu tiên là mỗi người phải vượt lên nỗi sợ của chính mình. Hãy bắt đầu từ nói thật và đòi chỉ nói thật! Đây là bước đi đầu tiên của mọi bước đi đầu tiên. Có gan làm được như thế, cuộc sống sẽ mách bảo chúng ta những bước đi tiếp. Bản thân tôi cũng đang cố gắng như vậy. Đơn giản vì không thể há miệng chờ sung rụng, càng không thể chờ được quyền lực bố thí!

Sự thật là đất nước đang lâm nguy chưa từng có – trước hết từ bên trong, hoạ bành trướng tôi không sợ bằng. Đụng vào sửa chữa bất cứ vấn đề gì cho đến nơi đến chốn cũng có thể dẫn đến sụp đổ tất cả, còn hơn cả kiếm củi ba năm thiêu một giờ! Hàng thập kỷ nay sự tha hoá của quyền lực đã lên tới đỉnh điểm: Sẵn sàng mất tất cả nhưng giữ đến cùng chế độ! Nhưng nếu duy trì nguyên trạng, thì èo uột và không thể tồn tại bên cạnh Trung Quốc. Cái ngu dốt và cái sợ đang làm phức tạp thêm tình trạng tiến thoái lưỡng nan này.

Đất nước, và tất cả mỗi chúng ta – kẻ cai trị cũng như người bị cai trị – chỉ có một lối thoát: Mỗi người hãy vượt lên nỗi sợ của chính mình! Kẻ cai trị hãy vượt lên nỗi sợ mất quyền lực và lo bị trừng trị. Người bị cai trị hãy vượt lên nỗi sợ bị đàn áp![13]Bởi vì không phải kẻ thù từ bên ngoài, mà chính cái sợ này sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta đang bịt mắt chúng ta, tước vũ khí chúng ta, sui khiến chúng ta hành động theo bản năng mù quáng và bầy đàn.
Chính nỗi sợ trong mỗi chúng ta như thế giờ đây là thứ cỏ khô, có thể bất cứ lúc nào bất giác bắt lửa đốt rụi đất nước, thiêu sống người tốt cũng như kẻ xấu! Chính vì có nỗi sợ trong mỗi chúng ta như thế, tất cả chúng ta đang bị giam hãm trong sự thấp hèn riêng, và qua đó kéo dài mãi cái thấp hèn chung đang giam hãm cả nước. Mỗi người chúng ta phải vượt lên nỗi sợ này trong chính mình như thế, để tất cả cùng nhau không phân biệt một ai lựa chọn sự đổi đời cho tổ quốc có chỗ đứng cho mỗi chúng ta, với tính cách là con người tự do! Một tổ quốc như thế, chính là tổ quốc trong tim mỗi chúng ta! Đó thực sự là tổ quốc của chúng ta! Có một tổ quốc như thế, mỗi chúng ta sẽ có cái quý giá nhất và đáng sống nhất trên đời này: Tự do!

Đất nước của con người tự do như thế, sẽ là bất khả xâm phạm đối với bất kỳ kẻ thù nào. Đất nước của con người tự do như thế, sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong hàng ngũ văn minh nhân loại.

Đoàn kết, hoà giải, tổ quốc trên hết, để cùng nhau đổi đời chính mình và đổi đời đất nước. Đấy phải là sự lựa chọn của tất cả chúng ta hôm nay cho tổ quốc! Đã đến lúc phải trả lại hai chữ “chúng ta” cho tổ quốc trong tim mình!
Hà Nội, Tháng Tám 2014.

N.T
Nguồn: http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_LuaChonGiChoToQuoc.htm

[2] Xin lưu ý: Hai nước Đức và Nhật thời kỳ đi vào chủ nghĩa phát xít nhằm khẳng định vị thế đế chế của mình đều lấy chủ nghĩa dân tộc làm động lực bên trong và đã dẫn tới chiến tranh thế giới II. Điều đang lo ngại là hiện tượng này ngày nay lại đang xảy ra ở Trung Quốc và nước Nga của Putin.
[3] Nguyễn Trung, “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thuỷ”, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_CayDangHonMyChauTrongThuy.htm
[4] Ví dụ: Hiểu biết thiếu hụt và phản ứng bầy đàn đã giúp cho quyền lực mềm Trung Quốc tạo ra bạo loạn trong 2 ngày 13 và 14-05-2014 vừa qua tàn phá khoảng 800 xí nghiệp FDI nhân sự kiện giàn khoan HD 981 – chỉ riêng  một vụ việc này thôi đủ nói lên những điều phải nói…
[5] Tìm xem Nguyễn Trung,  “Vượt lên nỗi sợ”, http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VuotLenNoiSo.htm.
[6] Nguyễn Trung, thư ngày 24-07-2014 gửi các thành viên chủ chốt Bộ Chính trị về đại hội XII sắp tới của ĐCSVN.
[7] Nguyễn Trung, thư ngày 24-07-2014 gửi các thành viên chủ chốt trong Bộ Chính trị.

[8]Riêng lãng phí và tham nhũng hàng năm ước tính có thể lên tới khoảng 5 – 10% GDP hoặc hơn nữa, tổn thất do lãng phí hay đánh mất cơ hội tuy không lượng hoá được nhưng vô cùng nghiêm trọng – trước hết vì kìm hãm hay cướp đi khả năng chuyển đổi nền kinh tế sang bước phát triển mới. Chuyên  gia USAID, Olin McGill ngạc nhiên với “chỉ số xếp hạng môi trường kinh doanh” đã đạt được, thu nhập bình quân đầu người ở VN tại sao chỉ là 1.400 USD/năm, lẽ ra nó phải là ở mức trên 7.000 USD/người. Sự thật là thế nào? Ý kiến của McGill đúng hay sai? V… V… (nguồn thanh niên -  12-08-2014 – http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140722/viet-nam-le-ra-phai-co-muc-thu-nhap-tren-7000-usdnguoi.aspx).

[9] (trong các văn kiện chính thức của đảng mục tiêu công nghiệp hoá này được diễn đạt loanh quanh theo ngôn ngữ cao su là “phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020“)

[10]Khát vọng này ra đời từ Cách mạng Tháng Tám và trở thành tiêu chí quốc gia.
[11] Trong bài II của loạt bài “Viễn tưởng” bàn về sự nghiệp duy tân đất nước, tôi đã đề cập đến nhiệm vụ cải cách toàn diện này, (tìm xem: http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VienTuong_2.htm, 20-10-2011). Song nhìn vào bối cảnh quốc tế hôm nay trong tình hình đang nổi lên vấn đề “siêu cường Trung Quốc”, tôi nghĩ rằng dân tộc Việt Nam ta đã đến lúc phải thay đổi hoàn toàn chính mình mới có thể tự khẳng định được mình trong thế giới nhiều vấn đề nóng bỏng này.
[13] Tham khảo: Aung San Suu Kyji “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ”,  http://www.procontra.asia/?p=662.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Hội Nghị Bán Nước Thành Đô và các hệ lụy do nó gây ra.

Thông Tin Cập Nhật, Mời Quý Vị tham khảo



Hội Nghị Bán Nước Thành Đô

và các hệ lụy do nó gây ra.

Lý do tại sao gần đây trên khắp nước Việt Nam và trong cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bàn tán xôn xao về Hội Nghị Thành Đô (HNTĐ). Đây là một Hội Nghị tối cao giữa hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc nhóm họp tại Thành Đô thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên.
Bên phía CSVN gồm có: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, thủ tướng Đỗ Mười, cố vấn chính phủ Phạm Văn Đồng. Tháp tùng có Hồng Hà - Chánh Văn phòng Trung ương, Hoàng Bích Sơn - Trưởng ban Đối ngoại, và Đinh Nho Liêm – Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao. Đáng chú ý là trong đoàn không có bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.
Phía Trung Quốc gồm có: Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.
    
                   Thành phần chính thức hai đảng CSVN v à CSTQ tham dự HNTĐ 1990 .

Hội nghị diễn ra tại khách sạn Kim Ngưu, trong hai ngày 3 v à 4 tháng 9 năm 1990. Nội dung chính trong cuộc hội nghị là vấn đề giải quyết chính trị xung đột Campuchia và vấn đề khôi phục bình thường quan hệ Trung - Việt
Thắc mắc chung  của người Việt toàn thế giới hiện nay là  HNTĐ  do ai chủ mưu, hai nước Việt Trung đã ký kết những gì, tác hại ra sao, tại sao phải công khai HNTĐ, tại sao muốn thoát HNTĐ thì phải Thoát Cộng trước và Thoát Trung sau.
I-Tình hình Việt Nam từ trước khi xảy ra Bước Ngoặt Lịch Sử   “Hội Nghị Thành Đô” (HNTĐ)gồm 2 ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 :
Trước khi đi vào HNTĐ 1990 chúng ta đi lùi lại thời điểm lịch sử 1975 ngay sau khi Cộng Sản Việt Nam cưởng chiếm được Miền Nam Việt Nam (MNVN) do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh MNVN.

a-Thời kỳ cầm quyền tuyệt đối của Lê Duẩn :
TBT/CSVN Lê Duẩn
 Kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975, với chiến thắng quân sự và cưởng chiếm được Miền Nam. CSVN trên đà chiến thắng, tính kiêu binh và đặt mục tiêu quyền lợi của đảng CSVN lên trên quyền lợi của đất nước. Sự ngông cuồng của kẻ chiến thắng được  nhắc đến qua câu tuyên bố bạt mạng của Lê Duẩn năm 1975:” Chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật trong 15, 20 năm và nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng”. [i]
CSVNđã phạm nhiều sai lầm liên tục, mặc dù Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã đích thân đi thăm 6 tỉnh phiá Nam sau biến cố  30 tháng Tư  3 tuần (tháng 5.1975) và chính Duẩn phát biểu trong Hội Nghị Trung Ương lần thứ 24 tại Saì Gòn như sau:
Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ, mà năng suất của nó vẫn cao. Vì nó là tư bản nhưng nó đi theo quy luật của nó, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên… Bây giờ nông dân ở miền Nam họ làm rất khá, mà nông dân thì phần nào hoá tư sản rồi”.[ii]
Tại sao người thợ ở ngoài này không bằng người thợ ở trong kia? Mình trả lời làm sao? Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh lại không được bằng trong kia, anh trả lời làm sao? Đảng ta phải có trách nhiệm về những điều sai như vậy. Có thể vì chiến tranh, vì nhiều thứ, tôi đồng tình như vậy, nhưng trong đó cũng có khuyết điểm của mình chứ không phải không có khuyết điểm đâu
Miền Bắc trước đây phải hợp tác hoá ngay lập tức... Nhưng miền Nam bây giờ không thể làm như vậy. Miền Nam bây giờ phải để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế gồm mấy thành phần thì nông dân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ. Bắt hợp tác hoá là không đúng, năng suất thấp xuống thì hỏng hết cả, họ sẽ không theo giai cấp vô sản nữa, không thống nhất được đâu. Người nông dân làm ra những sản phẩm, người ta muốn bán, nếu chúng ta không cho bán thì nông dân chọi lại với chúng ta, nguy hiểm lắm, không thể được. Nếu chúng ta không có một hình thức kinh tế để kéo nông dân đi tới thì ta không thống nhất được. Vì vậy Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này.” Ngưng trích.
Thời điểm nầy, người dân và người lính hai miền Nam, Bắc 95% đã chán ngán chiến tranh, họ chỉ mong Hoà Hợp Hoà Giải để Nam Bắc chung sống một nhà, tái thiết quê hương tan nát sau 30 năm chiến tranh. Nhưng Lê Duẩn và đồng bọn CSVN đã phản bội ước nguyện chính đáng của toàn dân, mà chỉ phục vụ cho quyền lợi của thiểu số đảng viên trong Bộ Chính Trị mà thôi.
Nhiều người thắc mắc, tại sao, Lê Duẩn là Tổng Bí Thư đầy quyền lực trong tay, còn hơn cả Hồ Chí Minh trước kia khi còn sống, mà những nhận định đúng đắn của Lê Duẩn không được áp dụng, đó là một nỗi bất hạnh của Việt Nam, bởi vì tuy nói như thế nhưng Lê Duẩn không dám làm một điều gì trái ý với bọn công thần trong Bộ Chính Trị, đi lệch là cuộc đời Lê Duẩn cũng sẽ ra tro. Ghê gớm thay quyền lực đen, ngấm ngầm trong BCT, BCH/TW Đảng.
b-Nguyên nhân xảy ra Hội Nghị Thành Đô:
Do đó từ sau 1975, Lê Duẩn và đồng bọn trong BCT luôn áp dụng những bộ luật sắt máu, những hành động trả thù và vơ vét  đối với người dân Miền Nam Việt Nam (MNVN) để từ đó bọn chúng được chia chác với nhau những gì chúng “Cướp được” .
Từ chỗ cướp của cải, tài sản của toàn dân, kế đến bọn chóp bu CSVN  chứng kiến đươc trên truyền hình Châu Âu năm 1989 cảnh xử tử 2 vợ chồng Ceausescu do họ có nợ máu với dân Romania [iii].   Những sự kiện này bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989, và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc, Romania v.v…làm họ hoảng sợ.[iv] Có thể gọi cho đúng hơn đó là cuộc “Hoảng Loạn” chưa từng có trong lịch sử hình thành đảng Cộng Sản tại Việt Nam.


c-Giải Pháp Đỏ và thời kỳ trị vì của TBT Nguyễn Văn Linh :

 
TBT/CSVN Nguyễn Văn Linh
Sư ra đi của Lê Duẩn trong chức vụ Tổng Bí Thư và mất sau đó  tháng 7 năm 1986 (kẻ được mệnh danh là thù ghét Trung Cộng) [v] được đánh dấu là thời kỳ thuận lợi, là bước ngoặt lịch sử giúp cho tân Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và thủ tướng Đỗ Mười mạnh dạn bắt tay với Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam chỉ với một mục đích duy nhất “Còn đảng ,còn mình” bỏ mặc quyền lợi Dân Tộc. Cuộc liên minh ma, quỷ nầy có công bằng hay chỉ là hình thức chủ, tớ. Xin xem thái độ của người dân Việt Nam lúc đó ra sao?  
 Trước những biến động tại Đông Âu và Liện Xô, toàn dân Việt Nam thảy đều vui mừng vì họ mong có ngày dẹp đám tay sai của Cộng Sản Quốc Tế để trở lại chế độ Dân Chủ Tự Do. Những cuộc bùng nổ cách mạng âm ĩ trong Nam, ngoài Bắc làm cho bọn chúng lo sợ cho của cải tài sản vừa cướp được làm sao tẩu tán đi đâu (khác với hiện nay bọn chúng đã tuồn rất nhiều tài sản vào các ngân hàng Thụy Sĩ, Châu Âu và nhiều quốc gia khác) nên biện pháp khấu đầu thần phục Trung Cộng giải quyết một lúc nhiều vấn đề: vừa bão vệ được chế độ độc tài, vừa bão vệ được tài sản, vừa không phải lo bị thanh trừng do Cách Mạng Dân Chủ bùng nổ, chỉ cần toả mản một số điều kiện của quan thầy Trung Cộng là không lo về mặt quốc phòng vì theo chúng nghĩ dù có bành trướng cở nào thì TC cũng là một quốc gia cùng phe XHCN, cho nên bọn CSVN thà để mất nước hơn là mất đảng. Trên thế giới lúc ấy chỉ còn Trung Quốc là cái phao để cứu đảng CSVN, vì thế Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và đồng bọn đã dễ dàng quỳ mọp trước Bắc Kinh xin xí xoá lỗi lầm cũ và hợp tác để sống còn. Bọn bá quyền Bắc Kinh được dịp may hiếm có, tìm mọi cách đòi hỏi tối đa, CSVN chỉ còn nước khấu đầu quy thuận. CSVN thề quyết quên hết thù xưa và mật ước Thành Đô  đã được ký kết và toàn dân Việt Nam không một ai được biết đến!!!
 Bọn CSVN dễ dàng quên đi các cuộc tàn sát không gớm tay của Trung Cộng năm 1979 khi tấn công 6 tỉnh miền Bắc nước ta gây tổng số  thiệt hại nhân mạng trên 60.000 dân quân[vi]. Dã man nhất là những vụ tàn sát hang ngàn phụ nữ và trẻ em trên đường lánh nạn. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn v.v….
 
Bia đá tường niệm đồng bào bị TC thảnm sát. Hình ảnh đồng bào bị quân Trung Cộng thảm sát.

Bộ Chính Trị CSVN cũng mau quên các tội ác của Trung Cộng khi chúng tấn công các tỉnh biên giới Lạng Sơn và Hà Giang.Từ năm 1984 đến 1987 Trung Quốc  đã tung 6 sư đoàn tấn công CSVN tại các tỉnh Lạng Sơn,Hà Giang bằng nhiều đợt khác nhau. Gây thiệt hại hang ngàn thường dân và gần 10.000 bộ đội CSVN. Điển hình là trận Lảo Sơn (Núi Đất) từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1984.[vii] Các tài liệu đều nói trận đánh bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài tới 17 tiếng đồng hồ. Dù rất ngoan cường nhưng phía Việt Nam đã phải rút lui, để lại 3.700 xác tử sỹ tại chiến trường. Thông tin trong cuốn 'Bí mật về cuộc chiến Trung-Việt' còn nói hai hôm sau đó, tức 14/07/1984, phía Trung Quốc tiêu diệt thêm 60 lính Việt Nam sang thu gom xác liệt sỹ.Tất cả các xác binh sỹ Việt Nam sau đó được lính binh chủng hóa học của Trung Quốc hỏa thiêu bằng ống phun lửa.

Chúng cũng mau quên trận tấn công Trường Sa đẩm máu 19.03. 1988 cách đó 2 năm với 3 chiến hạm vận tải  CSVN bị chìm và 64 chiến sĩ thủy quân thiệt mạng.[viii]phiá Trung Quốc hoàn toàn vô sự vì lính Thủy Quân VN không được lịnh nổ súng để tự vệ. Toàn bộ nhóm đảo Trường Sa đến nay vẫn do Trung Cộng chiếm đóng.
“…Nhân dân Việt Nam hầu như không biết gì về chiến tranh biên giới 1979 và trận chiến khốc liệt nhất 1984-1989. Họ đang tìm cách xóa nhòa những ký ức về những cuộc chiến này. Đảng CS Việt Nam ngày nay đã hiện nguyên hình một tên đại bịp, dối trá đứng trên lịch sử, phá tan hoang dân tộc Việt Nam…”[ix]
Những trận đánh trên vùng biên giới Việt Trung và Trường Sa trên biển thảy đều bị CSVN dấu nhẹm, gần như toàn dân thảy đều bị bịt kín thong tin, nhưng những thiệt hại nhân sự và tài sản thì rất lớn, gây cho CSVN tâm trạng bất an, cộng với tình hình phe cộng sản Quốc Tế liên tiếp sụp đổ tại Đông Âu từ năm 1989 đến năm 1990 làm cho Bộ Chính Trị CSVN hoảng loạn. Do đó TBT Nguyễn Văn Linh phải đề ra “Giải Pháp Đỏ” không chỉ là lôi kéo Trung Cộng hợp tác mà là cúi đầu tuân phục Trung Quốc để mong ngưng cuộc chiến biên giới và cùng bắt tay chống Tư Bản.

Toàn dân thì hoàn toàn không biết gì về HNTĐ, trong Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Uơng đảng thì có kẻ biết người không, nhưng đại đa số thảy đều hèn nhát im lặng, một số can đảm hơn thì than vản và viết hồi ký như: 
d- Lời thú nhận đắng cay của Nguyễn Cơ Thạch Bộ Trưởng Ngoại Giao CSVN:
BT Ngoại giao  Nguyễn Cơ Thạch
Khởi đầu từ HNTĐ 1990 đất nước Việt Nam đã đi đến bước ngoặc bi thương, chính quyền thì như bù nhìn bỏ mặc cho bá quyền Trung Cộng làm mưa làm gió trên giang san Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch là một nhà ngoại giao kỳ cựu, khôn ngoan và hèn nhát , Thạchkhông dám thố lộ cùng ai về HNTĐ mà hắn biết,  không dám viết hồi ký, không dám  lạm bàn đến HNTĐ  nhưng sau đó chính Thạch cũng đã thổ lộ đắng cay:  "Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự.”[x]
e-Hồi ký đau thương của thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ:
Thứ trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ

Hội Nghị Thành Đô diễn ra năm 1990, mãi 14 năm sau tức 2004 Trần Quang Cơ, thứ trưởng Ngoại Giao CSVN mới đưa tập hồi ký 82 trang khổ A4 cho thân hữu xem, chưa dám xuất bản công khai. Nội dung hồi ký không có chi tiết cụ thể những ký kết giữa 2 bên Việt Trung. Ghi chép diển tiến hội nghị, các thủ đoạn của phía Trung Quốc nhằm đánh lừa CSVN. Trong khi đó CSVN nôn nóng thực hiện “Giải Pháp Đỏ” do Nguyễn Văn Linh đề xướng. Mong mỏi của CSVN lúc ấy là làm sao lôi kéo Trung Quốc thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chải bảo vệ XHCN. Trước tình hình Khối Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, Liên Xô điêu đứng và phe tư bản sẽ xoá sổ các nước XHCN còn lại. Ngược lại phía Trung Quốc hoàn toàn không có ý định làm chỗ dưa cho phe XHCN còn lại, mà là đang vuốt ve Mỹ giúp hiện đại hóa đất nước và quân đội Trung Quốc trở nên hùng cường khả dĩ chống lại được áp lực Liên Xô. Biết được nổi lo sợ sụp đổ chế độ của CSVN, Trung Cộng thúc ép CSVN phải giải quyết cuộc chiến tại Campuchia theo quan điểm của TQ đồng thời làm cho phe Campuchia Dân Chủ hiểu lầm không còn hợp tác với CSVN mà nghiêng về TQ và gây chia rẽ nội bộ  CSVN để làm suy yếu và thôn tính VN khi tình hình cho phép. Đến giờ nầy chưa ai bên phía CSVN đưa ra  văn bản chính thức các cam kết trong và sau HNTĐ gồm có những gì, nhưng phía Trung Quốc đã tung tin trên Hoàn Cầu Thời Báo là  “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Thời báo) [xi]

 f-Sự uất nghẹn của cựu Đại Sứ VN tại Trung Quốc, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và 60 đảng viên lảo thành:

        
   TT Nguyễn Trọng Vĩnh             TT Lê Duy Mật           Giáo sư toán Hoàng Tụy
“Hơn 60 Đảng viên Cộng sản lão thành vừa gửi thư ngỏ lên Ban Chấp hành Trung ương kêu gọi từ bỏ con đường xây dựng XHCN và thoát khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc.[xii]
Bức thư mà BBC có trong tay đề ngày 28/7/2014 với 61 chữ ký của nhiều nhân vật hoạt động lâu năm và có tiếng ở Việt Nam như Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Thứ trưởng Chu Hảo, các kinh tế gia Lê Đăng Doanh và Phạm Chi Lan... được gửi tới Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nội dung thư bắt đầu bằng nhận định rằng từ nhiều năm nay, Đảng CSVN đã "dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin".
"Công cuộc đổi mới gần ba mươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc."
Đường lối chính sách của Đảng và nạn tham nhũng, theo các tác giả bức thư, đã "đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh".
Thư nhắc tới Hội nghị Thành Đô năm 1990, mà nhiều người cho là mốc dấu cho một giai đoạn Việt Nam bị lệ thuộc về chính trị-kinh tế vào Trung Quốc.
Từ đó tới nay, "Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới".
Theo các Đảng viên chấp bút thư, thực trạng yếu kém của Việt Nam phơi bày sự bất cập "cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo Đảng và nhà nước trong thời gian qua".

 Những người này cũng thừa nhận rằng toàn thể Đảng CSVN, trong đó có bản thân họ, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên nhưng phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị.

Bức thư nêu ra một số yêu cầu chính, mà trước tiên là Đảng CSVN cần thay đổi Cương lĩnh và "từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa".
Chỉ có hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ mới có thể mở ra thời kỳ mới phát triển cho Việt Nam, theo nhận định trong thư. Họ cũng kêu gọi quyết tâm thoát khỏi tình trạng lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc”. Các tác giả kêu gọi lãnh đạo Đảng CSVN và nhà nước "thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.
….Họ yêu cầu minh bạch hóa sự thật về quan hệ Việt – Trung và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế …
Lá thư cũng khuyến cáo nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về tình hình tranh chấp căng thẳng trên Biển Đông. Quan điểm 'không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba' là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi." Ngưng trích.
Nhưng 61 đảng viên lảo thành dù có tấm lòng yêu nước theo cách suy nghĩ riêng của họ, nhưng họ quên một điều căn bản do đâu mà có hiện trạng nô lệ với Trung Cộng, do đâu mà có nạn tham nhũng tràn lan, do đâu mà có nạn đàn áp dân oan, do đâu mà có tình hình kinh tế sa sút trầm trọng, do đâu mà các khu chợ người Hoa mọc lên như nấm tại nhiều vùng của VN. Đó không chỉ là “Thoát Trung” mà phải “Thoát Cộng”là cội nguồn mọi yếu kém, kềm hảm đất nước Việt Nam trước tiến trình “Toàn Cầu Hoá Dân Chủ”.
II-Những  hệ lụy sau khi ký kết Hội Nghị Thành Đô:
Sau năm 1990 ký kết HNTĐ năm 2000 CSVN đã ký kết với Trung Quốc nhiều hiệp ước tiếp theo mà phần thiệt hại luôn về phiá Việt Nam. Vì thế trong dư luận có sự bất bình, không tán thành hiệp định vì cho rằng chính phủ Việt Nam đã nhượng bộ cho Trung Quốc quá nhiều:
“Về phương pháp phân chia trong Vịnh Bắc Việt thì đây là một phương pháp phân chia hoàn toàn bất bình đẳng mà Việt Nam bị thiệt hại rất nhiều mặt.”[xiii]
Ông Trương Nhân Tuấn


Vụ Trung Cộng ngang nhiên xâm phạm lãnh hải Việt Nam qua giàn khoan Hải Dương 981:
“Thảm trạng không dám “thoát Cộng” rồi bây giờ không dám “thoát Trung” sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 tự do đến ngày 02/05 (2014) rồi thanh thản ra đi khỏi vùng biển Việt Nam ngày 15/07 (2014) đã cho ta thấy rõ cái não trạng sợ hãi và ươn hèn của đảng CSVN đối với nhiệm vụ bảo quyền lợi của dân và của nước bi thiết đến nhường bao ?
  
              Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Cộng               Khi đảng đổi hướng, cờ Tàu thêm một ngôi sao nhỏ - ngôi sao nô lệ. (vietinfo.eu)
Một thái độ “im hơi lặng tiếng” đến lạnh người của đảng và nhà nước CSVN từ sau khi gìan khoan HD 981 rút về phía nam đảo Hải Nam (Trung Cộng) dường như đã phản ảnh sự hài lòng tự mãn của lãnh đạo vừa ra khỏi cơn ác mộng.

Cũng từ khi gìan khoan rút đi, không còn thấy Việt Nam bắn tiếng “đã chuẩn bị sẵn hồ sơ đấu tranh pháp lý” với Trung Quốc nữa.”[xiv]

Sau đây là hàng loạt các áp đặt nghịch lý của Trung Cộng đối với Việt Nam gây ra sự bất mản Trung Quốc gia tăng khắp thế giới  và nhiều cuộc biểu tình đốt phá các công ty Trung Quốc diễn ra nhiều nơi tại Việt Nam.
Theo thống kêquốc tế trêntrang mạng qianzhan.com Trung Quốc ngày 17 tháng 7 có bài viết dẫn các nguồn tin cho rằng, một cuộc khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew tiến hành ở 11 nước châu Á cho biết, có khoảng một nửa người được hỏi có thiện cảm với Trung Quốc, nhưng, rất nhiều người được hỏi lo ngại về tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với nước mình (thực ra chủ yếu là Trung Quốc nhảy vào tranh chấp và xâm lược), lo ngại xảy ra xung đột quân sự.

93% người Philippines, 85% người Nhật Bản, 84% người Việt Nam, 83% người Hàn Quốc lo ngại về xung đột quân sự với Trung Quốc.[xv]Ngưng trích

Số người dân Việt Nam phản đối Trung Quốc gia tăng nhưng tỷ lệ nghịch với chính phủ CSVN ngày càng ve vuốt quỵ lụy với Trung Cộng. Đó là một nghịch lý cần phải được giải quyết vì nhà cầm quyền CSVN đi ngược lại với nguyện vọng toàn dân Việt.
Những nghịch lý đó là:
-Những công trình xây dựng do Trung Quốc luôn trúng thầu và xây dựng cẩu thả kém phẩm chất. 
-Những khu phố người Hoa hiện diện nhiều nơi trên đất nước Việt Nam như chỗ không người
-Những khu rừng đầu nguồn cho thuê dài hạn.
-Khu công ngiệp Bauxit Tây Nguyên do Trung Quốc quản lý  gây ô nhiểm trầm trọng.
h- Biện pháp giải quyết dứt điểm:
Muốn “Thoát Cộng” và “Thoát Trung”một cách trọn vẹn và có hiệu quả là phải do toàn dân Việt Nam quyết định. Mọi sự vận động từ Người Việt Hải Ngoại và của quốc tế chỉ có tính cách hỗ trợ, nổ lực chính là do Toàn Dân Việt định đoạt. Trong phía Quốc Tế, vai trò của Hoa Kỳ là chính yếu, do đó vận động quốc tế Giải Thể chế độ cần phải vận động người dân, lưởng viện Quốc Hội,các hiệp hội Dân Sự tại Hoa Kỳ là cần thiết và quan trọng.
Người Việt Hải Ngoại toàn thế giới cần phải tham gia nhiều hơn nữa vào vòng chính. Sự có mặt đông đảo trên chính trường, nhất là trong nghành Lập Pháp và Hành Pháp tại các quốc gia trên toàn thế giới hưởng ứng thì mới mang lại kết quả mong muốn. 
Tiến trình Giải Thể chế độ Cộng Sản tại Việt Nam cần có sự tiếp tay của mọi thành phần xã hội, trong đó đảng viên các cấp trong đảng CSVN, công an, bộ đội và công chức CSVN cũng phải được chú trọng vận động đúng mức.
 Toàn dân Việt Nam quyết định vận mệnh đất nước vào thời điểm lịch sử nầy đánh dấu một trang sử Mới cho Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam.
Long Điền
 25 tháng 8 năm 2014


 

[i] http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2013/06/02/nhung-mam-non-khong-con-chet-yeu-dang-chi-hung/ NHỮNG MẦM NON KHÔNG CÒN CHẾT YỂU (Đặng Chí Hùng)

[ii] http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/le-duan-qua-mot-tai-lieu-moi-tim-111uoc/  Lê Duẩn qua một tài liệu mới tìm được do Đặng Phong đưa lên Internet.

[iii] http://vi.wikipedia.org/wiki/Nicolae_Ceau%C5%9Fescu  Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Romania bị hành quyết.

[iv] http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%B1_s%E1%BB%A5p_%C4%91%E1%BB%95_c%E1%BB%A7a_Li%C3%AAn_X%C3%B4_v%C3%A0_%C4%90%C3%B4ng_%C3%82u  Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu

[v] http://chinhnghiaquocgia.blogspot.com/2011/09/le-duan-va-trung-quoc.html  Lê Duẩn và Trung Quốc

[vi] http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_bi%C3%AAn_gi%E1%BB%9Bi_Vi%E1%BB%87t-Trung,_1979  Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979

[vii] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/07/100728_laoshan_battle.shtml 3.700 liệt sỹ VN trong mộ tập thể ở TQ.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/av/2010/07/100728_buitin_iv.shtml Bùi Tín nói về trận Núi Đất.

[viii] http://vietland.wordpress.com/2007/12/12/trung-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%A5n-cong-va-tan-sat-d%E1%BA%A9m-mau-h%E1%BA%A3i-quan-nhan-dan-vi%E1%BB%87t-nam-t%E1%BA%A1i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-sa-nam-1988/  Trung Quốc Tấn Công Và Tàn Sát Đẩm Máu Hải Quân Nhân Dân Việt Nam Tại Trường Sa Năm 1988

[ix] http://songnews.net/D_1-2_2-219_4-935/bi-mat-tham-khoc-ve-so-phan-cua-nu-tu-binh-viet-trong-cuoc-chien-trung-viet-1979-1989.html   Bí mật thảm khốc về số phận của nữ tù binh Việt trong cuộc chiến Trung-Việt 1979-1989
[x] http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_C%C6%A1_Th%E1%BA%A1ch#cite_note-2 Nguyễn Cơ Thạch

[xi] http://www.rfa.org/vietnamese/blog/thanhdo-conf-trust-tranpa-08102014110958.html  Uẩn khúc Hội nghị Thành đô: Lòng tin và sự minh bạch

http://www.banthedao.net/thongbaotintuc/loithutoi/loithutoi.html Lời thú tội kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

[xii] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/07/140729_veterans_open_letter.shtml  Đảng viên lão thành kêu gọi thoát Trung

http://anhbasam.wordpress.com/2014/07/29/thu-ngo-gui-bch-trung-uong-va-toan-the-dang-vien-dang-csvn/  Danh sách thư ngỏ và văn bản chính thức .

[xiii] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Interview-scholar-truong-nhan-tuan-on-the-sino-vietnamese-issue-part2-nan-11302008144044.html  Phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000.

[xiv] http://www.vietcatholic.net/News/Html/128149.htm CÀNG “ĐỊNH HƯỚNG” CÀNG “CHỆCH ĐƯỜNG”

[xv] http://m.phunutoday.vn/quan-su-quoc-phong/bao-tq:-viet-nhatphi-coi-trung-quoc-la-moi-de-doa-an-ninh-lon-nhat-51115.html 93% người Philippines, 85% người Nhật Bản, 84% người Việt Nam, 83% người Hàn Quốc lo ngại về xung đột quân sự với Trung Quốc.

  




__._,_.___


Posted by: "8406news ." <khoi8406hoaky@gmail.com

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link