Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, September 23, 2014

SỰ THẬT LỊCH SỬ Bắc Kinh và cuộc Nội Chiến Việt Nam, 1954-1965:



BẰNG CHỨNG ĐÈN CÙ BỊP:

SỰ THẬT LỊCH SỬ
Bắc Kinh và cuộc Nội Chiến Việt Nam, 1954-1965:
Trung Hoa Tài Liệu Mới :
tác giả Qiang Zhai





Vai Trò CS-Trung Quốc trong Chiến Tranh VN, 1954-1963
-Nhất Thanh Tóm Dịch-

Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng giúp đỡ Hồ Chí Minh thành công trong mặt trận chống Thực Dân Pháp cũng như ký hiệp định Geneva chia đôi VN 1954. Trong những thập niên sau cuộc họp mặt Geneva, Bắc Kinh vẫn tiếp tục bành trướng ảnh hưởng trong những sự thay đổi của Việt Nam. 

Trong quá trình của cuộc họp mặt Geneva, CSVN không ngừng bám theo cũng như “xin” CS-Trung Quốc giúp đỡ và tiếp viện để củng cố quyền lực Đảng CSVN tại miền Bắc, thành lập cũng như huấn luyện quân đội CSVN, thi hành dự án Cải Cách Ruộng Đất, tu chính lại Đảng CSVN, củng cố bộ chính trị Bắc Việt, quản lý thành phố lớn và tái tạo nền kinh tế. Và như đã biết, Bắc Kinh đã cho Fang Yi lãnh đạo một đoàn Trung Quốc Kinh Tế Gia đến miền Bắc Việt Nam.

Theo tài liệu Quân Sử của Bộ Trung Hoa Quân Mưu (Chinese Military Advisory Group-CMAG), ngày 27 tháng 6, 1955, Võ Nguyên Giáp người nắm binh quyền Bắc Việt đã âm thầm đến Bắc Kinh trong vai trò đại biểu CSVN với sự giúp đỡ của người cầm đầu CMAG ở Việt Nam là Wei Guoqing. Võ Nguyên Giáp bàn thảo với Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Hoa Minister Peng Dehuai, và tướng Petroshevskii, một Quân Mưu cao cấp của Liên Xô tại Trung Quốc, 


về dự án tái tạo quân đội của Đảng CSVN và những dự án chiến tranh trong tương lai. Đại Biểu CSVN ghé thăm Trung Hoa Hạm Đội Bắc Hải trước khi trở về Hà Nội vào giữa tháng 7. Trong quá trình đól, ngày 15 tháng 10, 1955, Võ Nguyên Giáp lại âm thầm dẫn đầu một phái đoàn đại diện sang Trung Quốc, và đã bàn với Peng Dehuai và Tướng Quân Liên Xô Gushev kỳ này cũng là về những dự án củng cố quân sự và quân đội của CSVN cũng như chiến lược tương lai. Đoàn đại biểu CSVN đã tham quan những Trung Tâm Quân Sự Trung Hoa, quân trường và nhìn Quân Đội Trung Hoa học tập trước khi trở về Bắc VN vào ngày 11 tháng 12.


Tài Liệu Quân Sử của CMAG, ghi rõ rằng trong suốt 2 quá trình sang Bắc Kinh của Giáp, Giáp đã báo cáo "thành công ký kết" với CSTQ và Liên Xô "trên những điều chính." Nhưng lại không giải thích tại sao Giáp lại mau lẹ ghé thăm lần thứ 2 đến Bắc Kinh sau không xa chuyến âm thầm thứ nhất, và tại sao sự hiện diện phía Liên Xô lại khác với lần đầu. Có lẻ sư bàn thảo lần thứ nhất của Giáp, đã bỏ lại sau lưng vài vấn đề chưa giải quyết. Sự thật thì, theo tài liệu tham khảo của Quảng Đông Đại Học Xã Hội Học, thì Trung Hoa và Liên Xô đã có sự bất đồng ý kiến về dự án làm sao thống nhất Việt Nam.


 Cố Vấn LiênXô ủng hộ sự hoà bình chung sống giữa Nam, Bắc Việt Nam, kêu gọi Hà Nội " thống nhất đất nước qua và trong dự án Hoà Bình Độc Lập Dân Chủ Hoá", ngược lại thì phía Trung Hoa cho rằng “tại vì sự phá hoại của chế độ quân chủ nên không thể nào thống nhất Việt Nam qua cái gọi dân chủ bầu cử như đã viết trong Hiệp Định Geneva, và như vậy con đường duy nhất là CS-Bắc Việt nên chuẩn bị cho một chiến tranh sắp tới”.

Ngày 24 Tháng 12, 1955, CSTQ quyết định rút Bộ Quân Mưu CMAG ra khỏi Vietnam; Peng Dehuai đã cho Võ Nguyên Giáp biết cái quyết định này. Tới vào giữa tháng 3, 1956, cán bộ cuối cùng của CMAG đã rời khỏi CSVN. Để thay thế Bộ Quân Mưu CMAG, Bắc Kinh đã gửi đến một Ban Quân Mưu nhỏ hơn dưới quyền của Hoàng Văn Quân để giúp đỡ CSVN.

Sự thay đổi này đã dẫn đến nhiều cuộc tranh luận lớn trong nội bộ ban lãnh đạo CSVN 1956, về quyết định “người nào sẽ phải gánh vác trách nhiệm về bắt trước dự án Cải Cách Ruộng Đất của Trung Quốc từ năm 1953” . Trường Chinh, Tồng Thư Ký Đảng CSVN, người đã lãnh đạo trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất, đã bị cách chức tại Quốc Hội Trung Ương vào tháng 9, 1956. Lê Duẫn, lên thay thế lãnh chức vụ Tổng Thư Ký CSVN, đã chỉ chứng Trường Chinh, tội danh thi hành Cải Cách Ruộng Đất của Trung Quốc với Việt Nam bất chấp những sự thật xảy ra tại Việt Nam.

Sự thất bại của Cải Cách Ruộng Đất đã khiến trong Đảng CSVN biết rõ là con đường thống nhất Việt Nam, như trong Hiệp Định Geneva bầu cử Dân Chủ, đã không thể thực thi. Khi cái hy vọng thống nhất bằng lòng dân qua bầu cử của Đảng CSVN bị sụp đổ, thì CSVN cũng phải đang đối diện với vấn nạn kinh tế của XHCN.


 Nguồn cung cấp gạo tại Hà Nội trở thành vấn nạn, CSVN vì đã quay lưng với hiệp dịnh Geneva, âm thầm quậy phá miền Nam bôi nhọ và ám sát nhân viên Cao cấp của miền Nam, nên CSVN không thể mở miệng xin mong sự giúp đõ từ kinh tế Miền Nam, CSVN ngoài phải tự trồng trọt kiếm ăn mặt khác, ban lãnh đạo Hà Nội tiếp tục quay về với Trung Quốc bất chấp vì nghe lời Bắc Kinh mà kết quả là những đau thương của Cải Cách Ruộng Đất.

Tháng 4, 1956, Phó Thủ Tướng CSTQ Chen Yun, một nhà kinh tế gia chuyên môn trong Đảng CS Trung Quốc, đã âm thầm không công khai đến Hà Nội. Trước lời yêu cầu của Hồ Chí Minh, Chen đưa ra dư án chính về “Ưu Tiên Kỷ Ghệ Nông Nghiệp và cũng như đặt kỷ nghệ nhỏ lên trước kỹ nghệ lớn” (light industry ahead of heavy industry) để nâng cao nền kinh tế Bắc Việt. Ban lãnh đạo CSVN chấp nhận dự án của Chen. 


Sự thật bằng chứng là CSTQ đã bỏ ra rất nhiều trong việc nâng cao kinh tế trong phần kỹ nghệ lớn tại Trung Hoa trong 5 năm đầu vào thời gian đó, sự khoa chương phóng đại của Chen về nông nghiệp và những kỹ nghệ nhỏ rất là khác thường, và cũng như sự chứng minh là Trung Quốc luôn quan tâm nhiều đến hình trạng tại VN trong sự “cố vấn” và tài trợ của Bắc Kinh đối với CSVN. Chu Ân Lai lập lại sự quyết định của Chen về sự cận trọng trong những dự án kinh tế trong qua trình viếng thăm Hà Nội vào ngày 18-22 tháng 11, 1956, cũng như Lai đã nói với Hồ Chí Minh phải kiềm chế những sự hấp tấp về những dư án thu hoạt Nông Nghiệp: "sự thay đổi đó phải đi từng bước một."

Nhà văn Donald S. Zagoria đã phản luận trong cuốn sách Vietnam Triangle (VN Tam Giác) là trong thời gian 1957 và 1960, CSVN đã thay đổi từ trung thành với Bắc Kinh qua Liên Xô để có sự tài trợ của Liên Xô về những dự án nâng cao nền kinh tế XHCN-VNt.11 Trên thực tế, ban lãnh đạo Hà Nội vẫn tiếp tục, báo cáo và xin lệnh CSTQ về những quyết định quan trọng như củng cố nền kinh tế tại Miền Bắc và công cuộc cách mạng nơi Miền Nam. 


Trong quá trình tái tạo nền kinh tế của XHCN-VN 1958, bộ chính trị CSVN bắt đầu đặt tâm vào công cuộc cách mạng tấn công Miền Nam VN. CSVN báo cáo và xin quyết định từ CSTQ. Vào mùa Hạ 1958, Bộ Chính Trị CSVN đưa trình lên CSTQ để xin quyết định cho 2 dự án "Sự nhận định về dự án Căn Bản cho ViệtNam trong giai đoạn mới " và "Ý kiến về dự án thống nhất vỹ tuyến Unification Line và con đường cách mạng nơi miền Nam."

Sau khi tham khảo cẩn thận, Ban Lãnh Đạo CSTQ đã trả lời bằng một lá thư, chỉ thị "nền tảng chủ yếu nhất, những quyết định quan trọng nhất, và những dự án khẩn cấp nhất" cho công cuộc cách mạng của CSVN là phải thực thi Cách Mạng Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa Xây Dựng Xã Hội tại miền Bắc. 


Về phía miền Nam, CSTQ tiếp tục chỉ thị, dự án mà Hà Nội phải thực thi là phải nâng cao khẩu hiệu "Quốc Gia và Cách Mạng Dân Chủ." Tuy nhiên, khi trong thực tại sự nhận thức về công cuộc cách mạng trong lúc đó vốn dĩ bất khả thi, CSTQ kết luận, CSVN nên "thành lập một công cuộc đường hầm dài lâu, dưỡng sức, thành lập bộ tuyên truyền đến với đa số, và chờ đợi cơ hội thích hợp." Nói thẳng ra, Bắc Kinh thật sự không mong muốn lâm vào cảnh CSVN chính thức ra mặt đối kháng với Hoa Kỳ. Judging by subsequent developments, CSVN đã không dám cải lời CSTQ, trong thời gian 1958 và 1960 Hanoi luôn chú tâm vào nền kinh tế miền Bắc VN, thực thi “Dự Án 3 Năm” cải tổ chủ nghĩa về mặt kinh tế và xã hội.

Chính sách trở lại với thủ đoạn Cách mạng Bạo Lực được Trung Ương Đảng CSVN thực thi vào tháng 5, 1959 nhưng lại không nói rõ phải đi theo đường hướng nào. Thậm chí cũng không nhắc đến những trắc trở của sự hợp nhất giữa quân sự và chính trị phải đối diện. Trong 2 năm kế tiếp, ban lãnh đaọ CSVN tiếp tục tranh luận về những mựu lược và sách lược. Hồ Chí Minh tiếp lục báo cáo và thỉnh lệnh với CSTQ. 


Vào tháng 5, 1960, CSVN và lãnh tụ CSTQ đã mở cuộc thảo luận tại Hà Nội và Bắc Kinh về những sách lược xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đưa ra lập luận rằng trong những sự tranh giành trong chính trị nên hợp nhất với vũ khí và quân sự khi những thực trạng đang xãy ra giữa những thành phố và những vùng quê trong miền Nam, một sách lược tranh đấu uyễn chuyễn cần nên được thi hành.

 Với trong Thành Phố, CSTQ đưa quyết định, tranh đấu bằng chính trị nên được làm sách lược chính, tuy nhiên nếu muốn đánh sụp chế độ ông Diệm, thì vũ lực thật sự là cần thiết. Bởi vì đã có nhiều và đa số những căn cứ nơi những vùng quê, thì lực lượng quân sự nên được thành lập tại đó, tuy nhiên đấu tranh bằng quân sự nên kèm theo với đấu tranh chính trị.

Vào tháng 9- 1960, CSVN mở Đại Hội Đảng CS lần thứ 3, nhưng lại không có quyết định gì về những tình trạng thối nát hiện tại nơi miền Bắc, thay vào đó là chỉ âm mưu đánh chiếm khi nền chính trị miền Nam Việt Nam đang lung lay. Để lợi dụng cơ hội mới này, 


Quốc Hội CSVN kêu gọi và ra lệnh cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thực thi cả 2 chính sách đấu tranh bằng chính trị và quân sự đối với miền Nam VN, và kêu gọi sự yểm trợ tối đa từ miền Bắc. Sách lược liên kết đấu tranh bằng quân sự và chính trị với miền Nam vốn là những dự án và quyết định từ CSTQ.

Vào mùa Xuân 1961, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy chấp thuận tăng viện trợ về Quân Sự và Ban Quân Mưu (MAAG) với 100 cố vấn và đã gửi đến Việt Nam 400 lực lượng đặc biệt để huấn luyện quân đội miền Nam những cách tiếp chiến khẩn cấp. Sự viện trợ của Hoa Kỳ với Đông Nam Á đã khiến Lãnh đạo Bắc Kinh không yên tâm. Trong lúc Thủ Tướng CS là Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh vào tháng 6-1961, Mao Trạch Đông đã quyết định tăng thêm viện trợ cho mặt trận xâm lấn miền Nam trong khi Chu Ân Lai tiếp tục hối thúc phải thực thi những sách lược uyển chuyển và quan trọng nhất là “liên hợp giữa chính sách đấu tranh hợp pháp và đấu tranh bằng thủ đoạn đen tối phi pháp cũng như phải liên kết đấu tranh bằng chính trị và quân sự.”

Năm 1962 một sự kiện thay đổi lớn giữa sư nhúng tay của Hoa Kỳ và thái độ cũng như hành động của Trung Quốc đối với cuộc nội chiến của Việt Nam. Vào tháng 2, Hoa Thịnh Đốn (Washington) thành lập tại Sài Gòn một ban Quân Mưu (Military Assistance Command, Vietnam (MAC,V)), để thay thế MAAG. Chính Phủ Kennedy buộc ghép ban hành hành động này với số tăng trưởng mạnh về mặt Cố Vấn Hoa Kỳ và số lượng quân sự tiếp viện với chính phủ Diệm, đánh dấu cho một tầng lớp mới về mật tham dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Vào mùa Xuân năm đó, một cuộc tranh luận xảy ra trong nội bộ ban lãnh đão Trung Quốc phán đoán một Thế Chiến sẽ xảy ra, và dự định có thể hoà bình sống với những quốc gia tư bản, và mức độ tài trợ của TrungQuôc đối với “công cuộc Giải Phóng”. Vào ngày 27 tháng 2, Wang Jiaxiang, Bộ Trưởng Bộ Liên Lạc Ngoại Giao, gửi một lá thư cho Chu Ân Lai, Đặng tiểu Bình và Chen Yi ( bộ 3 cầm quyền về chích sách ngoại giao), phản đối và chỉ trich khuynh hướng đánh giá cao về mặt nguy cơ Thế Chiến xảy ra, và đã đánh giá thấp về những cơ hội hoà bình chung sống với những đế quốc. 


Về mặt yểm trợ cho “công cuộc giải phóng toàn quốc”, Wang đã thận trọng thận trọng nhấn mạnh, kêu gọi sự chú ý đến những vấn nạn kinh tế của Trung Quốc và hạn hẹp tài nguyên. Về vần đề của Việt Nam, Wang yêu cầu Đảng CS Trung Quốc "cảnh giác đối với những đường lối chiến tranh của Đế Quốc Mỹ đã thực thi ở Đại Hàn" và cũng cảnh báo về nguy cơ "Khrushchev và những người cùng phe đang kéo chúng vào một cạm bẫy chiến tranh." Wang đưa ra dự án, nếu muốn chỉnh đốn và tái tạo lại nền kinh tế và thắng lợi vượt qua những sóng gió giai đoạn khó khăn, 

Trung Quốc nên chấp nhận một chính sách hoà bình và và thoả hiệp về mặt ngoại giao, và với lãnh vực ngoại vận Trung Quốc không nên làm những gì không có khả năng. Nhưng Mao Trạch Đông đã bỏ ngoài tai những ý kiến và dự án nêu ra của Wang, thậm chí còn phán tội danh cho Wang là kẻ nâng cao “chủ nghĩa xét lại” chính sách ngoại giao của “3 điều thoả mản và một sự giảm bớt” (sự thoả mản với đế quốc, chủ nghĩa xét lại, và thế giới bảo thủ hoá , và giảm bớt sự yểm trợ cho công cuộc Giải Phóng Toàn Quốc.)

Sự biến diễn của cuộc tranh luận đã tạo ra những quyết định chính cho những chính sách của CSTQ đối với Việt. Nếu như ý kiến của Wang được chấp nhận, thì nó sẽ có nghĩa là vai trò của CSTQ đối với Đông Nam Á phải bị hạn chế. 


Nhưng Mao Trạch Đông đã quay sang con đường quân sự, chọn lựa đối mặt với Hoa Kỳ. Sự việc này đã chuyển sang bên trái của những chính sách ngoại giao, với sự nhấn mạnh của Mao trạch Đông về tranh đấu giai cấp và chính sách cấp tiến trong sự liên hệ nội bộ Trung Quốc 1962. Sự việc này cũng ảnh hưởng đến vai trò của CSTQ đối với những vấn nạn chưa dàn xếp nơi Việt Nam. Với sự bỏ ngoài tai ý kiến của Wang, một cơ hội đã trồi lên sau này cho Hoa Kỳ len lõi vào Đông Nam Á đã bị hụt.

Vào mùa Hạ 1962, Hồ Chí Minh và Nguyễn Chí Thanh đến Bắc Kinh để bàn thảo với ban lãnh đạo CSTQ về tình trạng quan trọng do sự nhúng tay của Hoa Kỳ với Việt Nam và có thể Hoa Kỳ sẽ có một cuộc tấn công Bắc Việt Nam. Hồ Chí Minh “xin” CSTQ tài trợ cho công cuộc du kích tại miền Nam. Bắc Kinh đã thoả mán sự “xin cầu” của Hồ Chí Minh bằng cách đồng ý gửi cho CSVN 90,000 cây súng trường và súng máy (AK), số lượng này có thể trang bị cho 230 bộ binh tác chiến hat could equip 230 infantry battalions. 


Những vũ khí này sẽ được dùng để yểm trợ mặt trận du kích tại miền Nam. Vào tháng3,1963, Luu Thieu Ky, Bộ Trưởng Dân Nhân Giải Phóng Quân của Trung Hoa (Chief of Staff of the Chinese People's Liberation Army (PLA)), ghé thăm CSVN và bàn luận với CSVN, CSTQ sẽ yểm trợ cho CSVN bằng cách nào nếu Hoa Kỳ tấn công miền Bắc. 

Hai tháng sau, Lưu thiếu Kỳ, chủ tịch của PRC, đến Hà Nội, và nói với Hồ Chí Minh: “Chúng tôi luôn sát cánh bên đồng chí, và nếu như chiến tranh bùng nổ, đồng chí có thể nhìn Trung Hoa như là một cánh tay.”

Sự thật thì, Bắc Kinh đã sớm chính thức ký kết với Hà Nội vào đầu năm 1963. Đến cuối năm đó, cán bộ của CSTQ và CSVN đã bàn thảo về sự viện trợ giúp đỡ của Bắc Kinh về dự án xây dựng những công trình phòng chiến và căn cứ Hải Quân ở vùng Đông Bắc lãnh thổ CSVN. Theo tài liệu từ Trung Hoa, vào năm 1963 CSTQ và CSVN đã ngầm ký kết hiệp định là Bắc Kinh sẽ gửi quân tác chiến vào Bắc Việt Nam khi cần. Quân đội CSTQ sẽ ở lại và chiến đấu tại miền Bắc để đoàn quân VC được rãnh tay xuống miền Nam. Nhưng ngày giờ và điều kiện trong bản hiệp địh tới nay vẫn không rõ ràng.


Tổng kết, trong giai đoạn từ 1954 và 1963 Trung Quốc đã và luôn chặt chẻ tham dự vào trong những sự phát triển và quyết định của nền tảng chính trị Hà Nội. Đảng CS Trung Quốc “yêu cầu” Hồ Chí Minh phải chú tâm vào củng cố Đảng CSVN và liên kết sách lược đấu tranh bằng chính trị và quân sự đối với miền Nam VN.. 


Trong những năm từ 1956 và 1963, CSQT đã tiếp trợ cho CSVN 270,000 cây súng, trên 10,000 đại pháo , trên 200 triệu đạn dược, 2.02 triệu Trái Pháo , 15,000 dây truyền tin, 5,000 radio thông tin, trên 1,000 xe vận tải, 15 chiếc máy bay, 28 tàu chiến, và 1.18 triệu quân phục. Tổng số viện trợ từ CSTQ đối với CSVN trong thời gian này là hơn 320 triệu nhân dân tệ. Năm 1962 là một năm chủ yếu của những sự quyết định của những hành động cũng như thái độ của Trung Quốc đối với Việt Nam. 

Bỏ rơi dự án tiến tới trong thận trọng, Mao Trạch Đông đã chọn con đường đối đầu với Hoa Kỳ và quyết định đẩy mạnh sự tài trợ cần thiết từ Trung Quốc đến Hà Nội. Số lượng lớn viện trợ vũ khí từ Bắc Kinh đến với CSVN vào năm 1962 đã giúp đỡ Hồ chí Minh đẩy mạnh mặt trận du kích trong miền Nam, và đã khơi dậy thêm sự nhúng tay của Hoa Kỳ. Vào cuối năm 1963, ban lãnh đạo Trung Quốc rất là bất an về sự quyết định của Hoa Kỳ đối với Việt Nam tuy nhiên CSTQ vẫn luôn yểm trợ và tài trợ tối đa cho CSVN đối mặt với Hoa Kỳ.

xxx


Tài Liệu Tham Khảo

http://the-puzzle-palace.com/files/77dca02bb70b3021852564ba0070aeff.html

1. Tài Liệu từ Trung Quốc, Chen Jian's "Sự Tham Chiến của Trung Quốc trong Chiến Tranh VN, 1964-69," Sự Trung Kết của Trung Hoa 142 (June 1995), 357-387, đã đưa rõ tất cả sự thật tài liệu và những cái nhìn bên trong về vai trò của Trung Quốc cũng như những quyết định của Trung Quốc đã giúp Hà Nội trong chiến tranh VN.

2. Qiang Zhai, "Transplanting the Chinese Model: Trung Hoa Cố Vấn Quân Sự và và Đệ Nhất chiến tranh VM, 1950-1954," Nhật Ký của Quân Sự Sử Lược 57 (October 1993), 698-715; idem., "Trung Quốc và Hội Nghị Geneva 1954," Phần Tư Trung Hoa 129 (March 1992), 103-122; Chen Jian, "Trung Hoa và Đệ Nhất Chiến Tranh Đông Nam Á, 1950-1954," Phần Tư Trung Hoa” 133 (March 1993), 85-110.


DVD bịp "Sự thật về Hồ Chí Minh"







-Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-


Trong những ngày gần đây, cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoaị đang nô nức tìm xem bộ DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh", [1] do ông Trần Quốc Bảo thực hiện và sản xuất dưới danh xưng Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sàigòn. Tuy nhiên, sau khi được xem, đại đa số tỏ ra có rất nhiều điều lấn cấn, để đi đến thất vọng và chán nản. Theo đa số dư luận cho rằng, những hình ảnh và những bài phòng vấn một số nhân vật trong DVD không nói lên được Sự thật về Hồ Chí Minh với những nét đặc thù của một tên tội đồ, buôn dân, bán nước, làm tay sai cho ngoại bang phá hoại giang sơn, và ngược lại hầu như có phần ca tụng và chạy tội cho tên tội đồ này nhiều hơn.


Nhìn vào Sự thật về Hồ Chí Minh qua những hình ảnh được đưa ra trong DVD, thực sự mà nói, nó chỉ là những tiểu tiết, mà hầu người Việt Nam ai cũng biết. Điều mà đa số kỳ vọng sẽ được biết qua DVD là những gì nơi hậu trường, chưa từng được công bố, bạch hoá, như Hồ đã làm tay sai cho Nga, Tầu thế nào và tàn hại đất nước ra sao... Nó không phải là những hình ảnh khi Hồ đi gặp lãnh tụ này, nhân vật kia với những bộ quần áo Đại cántươm tất, hay những bài diễn văn hùng hồn bịp bợp mà Hồ đã đọc, nơi này, nơi nọ, hoặc với những mô tả Hồ chỉ là một tên dâm tặc vợ nọ, con kia, ác độc, đã từng hiếp dâm Nông Thị Xuân rồi thủ tiêu.,v,v... Tất cả những điều gian ác của Hồ được mô tả trong DVD, chỉ thể hiện được những thú tính của một tên vô loại, nó không lột trần được cái tội tầy trời đối với quốc gia, dân tộc. Nếu nói đến những tên vô loại như thế, thì trong thế gian cũng không phải là hiếm. Chẳng lẽ những tên vô loại đó đều phải được liệt kê vào danh sách tội đồ của dân tộc Việt Nam hay sao?

Riêng những cuộc phỏng vấn trong DVD, đa số những nhân vật được phỏng vấn đều là những người có danh vọng, tước vị trong xã hội, nhưng rất tiếc họ chỉ đưa đến cho người xem những tư tưởng, lập trường kém trong sáng. Những nhận định của họ không nói lên được cái nét đặc thù tay sai, buôn dân, bán nước của Hồ. Ngược lại, chỉ đưa đến những hoài nghi như chủ đích hướng dẫn người xem thay đổi tư tưởng, để có một cái nhìn nhẹ nhàng hơn về con người của Hồ so với những gì đại đa số đã biết từ xưa đến nay. Để chứng minh cho sự kiện này, xin trích dẫn một số nhận định của một số nhân vật được phỏng vấn trong DVD, hầu mong có thể làm sáng tỏ hơn cho vấn đề.

Trong một đoạn phỏng vấn, ông Minh Võ nhận định:

bộ ba Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đều không hiểu chủ nghĩa CS đến nới đến chốn.
Như vậy, nếu Hồ và đồng bọn được hiểu chủ nghĩa CS đến nới đến chốn thì đất nước Việt Nam sẽ tươi sáng và dân tộc Việt Nam sẽ hạnh phúc hay sao? Nói như thế thì tại sao cả khối CS Đông Âu phải giác ngộ từ bỏ. 

Ngay Liên sô là cái nôi CS, mà ngày nay họ cũng đã phải vất cái chủ nghĩa khốn nạn đó vào sọt rác của lịch sử. Do đó, nhận định của ông Minh Võ chẳng những không nói lên được điều gì về sự thật cái gọi là tội đồ dân tộc của Hồ. Ngược lại, chỉ thấy như ông đang cố chạy tội cho Hồ chỉ vì ngu ngơ không hiểu chủ nghĩa CS đến nới đến chốn để vô tình đưa đến những tang thương cho đất nước, điếm nhục của quê hương, và dân tộc phải lầm lũi đau khổ trong suốt hơn nửa thể kỷ qua.

Trong một đoạn phỏng vấn khác, Bùi Tín, một nhân vật mang nhiều khuất lấp nhận định:

Hồ bị chủ nghĩa Marx mê hoặc.
Với nhận định này xem ra cũng không khác của ông Minh Võ là bao nhiêu, nó cũng chỉ nói lên một sự ngu ngơ bị mê hoặc, nó không phải là yếu tố thể hiện bản chất của một tên tội đồ đối với dân tộc Việt Nam. Như thế, theo ông Bùi Tín, Hồ vẫn là một người yêu nước, nhưng chỉ vì ngu ngơ bị mê hoặc bởi chủ nghĩa Marx, mà vô tình đưa dân tộc đến chốn lầm than, và quê hương cũng vô tình bị điếm nhục cho đến hôm nay.
Cũng trong phần phỏng vấn, ông Trương Vĩnh Kính cho biết:

Hồ đánh phá và lũng đoạn các tổ chức Quốc gia, thủ tiêu các nhà yêu nước.
Thiết nghĩ, đây lại là một nhận định quá hời hợt, sơ sài, vô tình hay cố ý, ông Kính cũng đang chạy tội cho Hồ, thay vì nói lên tội ác của Hồ đối với dân tộc Việt Nam.
Thực sự mà nói, một kẻ có dã tâm ... đánh phá và lũng đoạn các tổ chức Quốc gia, thủ tiêu các nhà yêu nước, cũng không phải là một sự hiếm hoi đặc biệt. Nó từng xẩy ra khá nhiều, vì mục tiêu tranh giành quyền lợi cá nhân hay tổ chức trong một giai đoạn nào đó của lịch sử. Điểm này khó có thể cho đó là yếu tố then chốt để kết tội làm tay sai cho ngoại bang, tàn hại đất nước và dân tộc của Hồ.
Trong một đoạn khác, ông Vũ Ngự Chiêu đưa ra nhận định

Hồ là một nhà độc tài, có nhiều tham vọng.
Đây là một nhận định mang tính cách huề tiền, nó chẳng nói lên được điều gì với chủ đề Sự thật về Hồ Chí Minh trong tội ác với quê hương, dân tộc. Khi đưa ra nhận định này, rất tiếc ông Chiêu đã quên rằng, trong một hoàn cảnh nào đó, sự độc tài chưa hẳn là một điều xấu, điều quan trọng của mục đích độc tài để làm gì, để ổn định đất nước trong một giai đoạn cần thiết, hầu phát triển quốc gia và thăng hoa đời sống người dân, hay làm tay sai, trấn áp, bóc lột, dâng cho ngoại bang như Hồ xưa kia và tập đoàn CSVN ngày nay đã và đang thực hiện.

Hơn nữa, thử hỏi trên thế gian này có nhà độc tài nào mà không có nhiều tham vọng, nhưng tham vọng như thế nào mới là điều quan trọng. Thí dụ, người ta thường nói ông Lý Quang Diệu là một nhà độc tài, nhưng sự độc tài của ông Diệu đã đưa Singapore lên một vị thế vững mạnh, biến Singapore từ một quốc đảo nhỏ bé trở thành một trong những con rồng của Châu Á và đã được xếp hạnh đứng thứ tư trên thế giới với mức thu nhập bình quân của người dân là 22.000 USD một năm. 

Trong khi đó, với chính sách độc tài toàn trị, làm tay sai của Hồ đã đưa đến cho đất nước đến sự tàn mạt, và biến dân tộc trở thành nô lệ. Như vậy, nhận định của ông Chiêu chẳng những mang tính vô thưởng, vô phạt, mà còn là một sự tránh né có chủ đích tung hỏa mù, chạy tội cho Hồ một cách khéo léo biến một tên tội đồ dân tộc trở thành một nhà độc tài bình thường như tất cả những nhà độc tài trên thế giới.
Với một nhận định khác xem ra rất ấu trĩ và khôi hài, nhưng cũng đã được ông Tần Quốc Bảo thực hiện trong DVD Sự thật về Hồ Chí Minh và coi như là một điều quan trọng cần phải có. Gs Nguyễn Ngọc Bích nhận định:Hồ Chí Minh có nhiều ngày sanh khác nhau, chứng tỏ là một người thiếu thành thật. 

Với một nhân vật khá nổi tiếng mà lại đưa ra nhận định như thế này thì thật là không còn gì để nói. Chẳng lẽ với kiến thức của một Giáo sư mang học vị tiến sĩ như ông Bích, mà lại không hiểu được, trong các tổ chức đảng phái chính trị, sự thay tên đổi họ, thay đổi ngày sanh chỉ là một chuyện rất bình thường, nó lệ thuộc vào không gian và thời gian hoạt động của họ.

 Vì thế, Sự thật về Hồ Chí Minh phải là một kẻ làm tay sai cho ngoại bang, gian trá, bịp bợm, lừa đảo và đưa cả một dân tộc, vùi sâu dưới vũng bùn nhơ nhớp của nhân loại, nó không phải chỉ là một sự thiếu thành thật một cách đơn thuần và bình thường trong nhân gian như ông Bích đã đưa ra. 

Như vậy, một câu hỏi được đặt ra ở đây, câu nói của ông Bích mang ẩn ý gì???. Nói về ông Bích, những hoạt động của ông trong những năm tháng gần đây chứng tỏ, ông cũng là một nhân vật có nhiều khuất lấp. Bằng chứng cho thấy, trước đây ông Bích đã từng cùng Bs Nguyễn Trọng Việt, một Ủy Viên Trung Ương Đảng Việt Tân, lên đài phát thanh Tiếng Nước Tôi kêu gọi đi biểu tình chống Trung cộng chiếm đóng Hoàng sa, ông khuyên cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại, nên chấp nhận lá cờ Vàng quốc gia và là cờ máu cuả CSVN cùng đi chung hoà hợp với nhau, hay không mang cờ nào cũng được, hoặc mang cờ nào cũng được... Trong chiến dịch này đại đa số cũng đã nhận định, mục đích của ông Bích và Việt Tân chỉ muốn cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại chấp nhận lá cờ máu CSVN một cách tự nhiên, danh chính ngôn thuận, nhằm giảm thiểu hay triệt tiêu ngọn lửa đấu tranh đòi dân chủ, tư do cho quê hương đang dâng cao. Như vậy, ông Bích là ai, tại sao phải tránh né sự thật, chạy tội cho tên tội đồ Hồ Chí Minh một cách khôi hài và trĩ như vậy ???

Cũng trong phần phỏng vấn, một nhận định rất đặc biệt được thể hiện, đặc biệt đến nỗi khó có ai có thể chấp nhận. Ông Bùi Diễm, một cựu Đại sứ VNCH nhận định:


Tư tưởng Hồ không lấy gì làm xuất sắc và đạo đức Hồ không lấy gì làm tốt đẹp cho lắm....
Với câu nói này, vô tình hay cố ý, ông Diễm đã hướng dẫn dân tộc Việt phải hiểu Hồ là một kẻ cũng có tư tưởng không xấu, nhưng chỉ không lấy gì làm xuất sắc, và ông Diễm cũng đã xác nhận Hồ là một kẻ có đạo đức, tuy có tốt đẹp đấy, nhưng không lấy gì làm tốt đẹp cho lắm.... Như vậy, phải chăng ông Diễm đang cố gắng bóp méo lương tâm, ca tụng Hồ một cách nghịch lý, thay vì nói lên những tư tưởng và hành động vô luân, gian ác của sự thật???. Với nhận định của một cựu Đại sứ VNCH như ông Diễm, nếu đem chuyển tải về trong nước, thì thử hỏi có lợi hay có hại??... Điều này chứng tỏ ông Diễm cũng đang xuyên tạc lịch sử một cách rất thô thiển và có thể nói là thô bỉ.

Qua DVD Sự thật về Hồ Chí Minh, đại đa số nhận định, đây không phải là một sự vô tình, mà là một chủ trương. Cái chủ trương chính đáng, cao đẹp của Lm Lễ đã bị bóp méo thảm hại, để trở thành những điều thất vọng và phẫn nộ của dư luận. Dư luận cũng cho rằng, dù sao chăng nữa, không ai có thể phủ nhận Lm Lễ là một nhà tu, một người tù lương tâm và cũng là một nhà đấu tranh không ngừng nghỉ. 

Tuy nhiên, vì là một nhà tu, nên Lm Lễ không thể nào có những thủ đoạn bỉ ổi của chính trị và cũng không thể lường trước được những thủ đoạn bỉ ổi đó đang vây quanh ngài. Như vậy theo dư luận chung, Lm Lễ cũng chỉ là một nạn nhân, vô tình bị kẻ xấu lợi dụng danh nghĩa thao túng, trong đó có nhân vật Trần Quốc Bảo là then chốt, là người mang trách nhiệm thực hiện và sản xuất bộ DVD Sự thật về Hồ Chí Minh. Nói về Trần Quốc Bảo, có lẽ chưa ai quên chính ông Bảo rất hăng hái trong chiến dịch đòi CSVN xóa bỏ điều bốn hiến pháp và đã từng gian dối, lường gạt dư luận, tạo sự kiện ảo đối thoại với Nguyễn Minh Triết trên mạng lưới Paltalk cách đây không lâu.

Tóm lại, bộ DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh" do Lm Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo thực hiện dưới danh xưng Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon hoàn toàn không nói lên được những sự thật bỉ ổi của một tên tội đồ dân tộc. Ngược lại, nó đã tạo cho người xem thấy được sự sáng sủa phần nào về nhân vật tội đồ Hồ Chính Minh, điều này đi ngược lại sự thật và sự mong mỏi của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS nói riêng và dân tộc Việt nói chung. Ngoài ra, với nội dung với hình ảnh và những sự nhận định của một số nhân vật được phỏng vấn, thiết nghĩ rất bất lợi cho công cuộc đấu tranh chung của toàn dân Việt hiện nay. Do đó, kính mong Lm Lễ nên ngưng những cuộc phát hành, quảng bá bộ DVD này càng sớm càng tốt.

Phạm Thanh Phương
Tham khảo:
Lm Nguyễn Hưũ Lể & Trần quốc Bảo, 2009 ."Sự thật về Hồ Chí Minh", DVD

Chiến Dịch Hoả Mù

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Trong những ngày gần đây, dư luận một lần nữa lại bàn tán xôn xao về Hồ Chí Minh, một nhân vật đại gian manh và đầy tội ác, một nhân vật đã tạo nên một vết nhơ điếm nhục nhất trong dòng lịch sử Việt Nam, và những hệ lụy từ những tội ác ấy vẫn còn tồn đọng và kéo dài lê thê cho đến hôm nay. Để đánh bóng hình ảnh của nhân vật đại gian ác này, Dương Thu Hương đã cho ra mắt tác phẩm “Au Zénith” có tựa đề Việt ngữ“Đỉnh Cao Chói Lọi” [1] với nội dung cố gắng tô son, trét phấn tạo ra những huyền thoại, biến hình ảnh một tên đại gian ác buôn dân, bán nước trở thành yêu nước thương dân. Cũng trong hiện tượng này, một số “ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS” xuất hiện chạy theo phụ hoạ, ca tụng với những lý luận mơ hồ, nhất là trên các diễn đàn Paltalk, và cũng đã tạo ra một trận hỏa mù, tranh cãi lòng vòng, lẩn quẩn.

Nói về sự kiện này đại đa số cho rằng, đây là một chiến dịch rất lưu manh hầu như để yểm trợ cho chiến dịch bịp bợm qua chiêu bài học tập và pháp huy “tư tưởng, thân thế và sự nghiệp của HCM” đã và đang được CSVN phát động rầm rộ trong nước từ năm năm qua. Một điều nực cười một cách trơ trẽn nhất là họ đang cố gắng tô son điểm phấn, vẽ rồng, vẽ rắn lên cái xác thối tha đầy tội lỗi ấy say mê một cách vô thức. Nhưng đến khi nếu ai chặn lại, vạch rõ sự thật thì họ lại cho rằng, ”HCM chết đã lâu, không còn ảnh hưởng đến hiện tại”,và lên mặt đạo đức khuyên mọi người nên tôn trọng người đã chết, tạm cất vào quá khứ, để lịch sử sau này sẽ có những phán xét công bằng. 

Qua tác phẩm “Đỉnh Cao Chói Lọi”, những người còn sáng suốt chắc chắn nhận ra đây chỉ là một bức tranh ngụy tạo mà Dương Thu Hương cũng như một số “theo đóm ăn tàn” đang rêu rao, tô son điểm phấn, nó cũng chỉ quanh đi, quẩn lại cố gắng thêu dệt làm sao để có thể chứng minh “Bác kính yêu” của họ muôn đời trong sạch, sống có đạo đức, nhân bản. Tất cả những tội lỗi, hiếp dâm, cướp của, giết người không thể che giấu, thì đưa vào hoàn cảnh bất đắc dĩ do áp lực của đảng CSVN, không phải đó là dã tâm từ bản chất dã thú của Hồ. 

Hơn nữa Dương Thu Hương lý luận, vì áp lực của đảng mà HCM không thể có được một đời sống bình thường, có gia đình, con cái đàng hoàng, nên đời sống tình dục của Hồ phải lén lút vô luân ... Nói như thế có thể hiểu tất cả tội lỗi cũng đều do đảng CSVN, cũng vì đảng mà Hồ bị lâm vào hoàn cảnh bị ức chế tâm sinh lý và trở thành một kẻ băng hoại, hoang dâm. Còn lại bản thân Hồ vẫn là một kẻ đạo đức sáng suốt, tâm hồn lúc nào vẫn trinh trắng như Kiều trong chốn Thanh Lâu ngày xưa. Tuy vậy, không thấy Dương Thu Hương và đám tay sai giải thích đảng là ai, họ chỉ nói một cách mơ hồ trong cái cảnh “lập lờ đánh lận con đen”, hướng dẫn độc giả đi vào một trận hỏa mù đầy mê lộ.

Nói về tình yêu nước của HCM, số người bênh vực cũng lý giải “vì căm thù thực dân Pháp giày xéo quê hương”, vì cứu cánh “giải phóng dân tộc”, nên “Bác” của họ phải dùng những phương tiện đốn hèn như làm tay sai cho Nga Tàu, tàn nhẫn với dân tộc. 

Tuy nhiên, những đầu óc bệnh hoạn nô dịch này chỉ biết say mê nói như một cuốn băng, nhai đi, nhai lại một luận điệu cũ rích từ cả nửa thế kỷ qua, không có gì mới lạ. Họ không thể nhìn vào sự thật để tìm xem cái“tình yêu nước” đốn mạt của HCM từ đâu ra. Tất cả những dữ kiện lịch sử thế giới hầu như họ đã cố tình quên để “Đời đời nhớ ơn Bác, đảng” đã đưa dân Việt thoát ra khỏi bàn tay thực dân, để ngày nay đất biển bị cắt xén và con dân được đi làm nô lệ trên khắp thế giới. 

Đọc lại lịch sử có lẽ khó ai chó thể phủ nhận, Pháp đã thua Nhật tại Việt Nam và để kết thúc đệ nhị thế chiến, Nhật đã đầu hàng đồng minh sau hai trái bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki. Vì vậy, vai trò thực dân của Nhật và Pháp không thể tồn tại tiếp tục khống chế, bóc lột thuộc địa như trước, mà bắt buộc phải quyền tự quyết cho thuộc địa. Tuy vậy, số “theo đóm ăn tàn” vẫn cố ắng rêu rao tất cả đều là “công ơn của bác”do tình yêu nước vĩ đại của “bác” mà có. Họ giả vờ quên đi sự kiện, sau khi HCM tuyên bố độc lập tháng 8 năm 1945, và qua tháng 3-1946 cũng chính HCM đã rước Pháp vào lần thứ hai qua cái gọi là “Hiệp Định Sơ Bộ”. Một hành động khác thể hiện tình yêu nước quá “nồng nàn” đến độ vào năm 1949, chính HCM phải chạy sang Liên sô, nhận lệnh giết 5% dân số miền Bắc lúc đó với tội danh “Trí, Phú, Địa, Hào” qua chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất”. Nói đến “Cải Cách Ruộng Đất”, nếu còn là một con người có lẽ không ai có thể phủ nhận đây là một tội ác “vô tiền, khoáng hậu” của nhân loại. Cái “vô tiền khoáng hậu” ở đây không phải chỉ là giết hàng loạt người dân vô tội một cách dã man, mà là sự đảo lộn và hủy hoại cả một nền tảng văn hóa, đạo đức của dân tộc. Chính HCM đã dùng bạo lực để ép những người dân hiền lành, mộc mạc trở thành những con dã thú một cách bất đác dĩ. HCM đã ép người dân đến cùng cực, để chỉ vì bản năng sinh tồn, họ phải đảo cả lộn luân thường, đạo lý qua những cảnh tượng khủng khiếp con giết cha, vợ giết chồng, cháu giết ông bà. Như vậy, thử hỏi cái tình yêu nước của HCM là cái gì... Phải chăng là sự khát máu từ một bản chất dã thú vong nô. 

Nói về sự kiện đảo lộn lịch sử một cách trơ trẽn này, đa số cho rằng những con người đã được nuôi dưỡng, nhồi sọ bởi chế độ CS họ không thể chấp nhận sự thật là vì mặc cảm, mặc cảm chính bản thân và gia đình họ đã đi theo một tập đoàn dã thú, và đôi khi chính bàn tay họ cũng trực tiếp hay gián tiếp đã nhúng đấy máu của dân tộc. Điều đáng nói ở đây là nếu dùng cái mặc cảm để biện minh thì ngược lại càng chứng tỏ cái ngu dốt của chính họ, bởi họ đã quên rằng con sông có khúc cong, khúc thẳng, con người có lúc tỉnh lúc mê. Điều đáng qúy là những người đã tỉnh trí thoát ra từ mê lộ để tìm ra ánh sáng chân lý của nhân bản, như vậy phải chăng những con người này chưa thực sự thoát khỏi cái mê lộ mà họ đã từng đắm chìm, mà vẫn u mê tiếp tục cho đến hôm nay.

Tuy nhiên, cái khó hiểu hơn nữa là những con người không nằm trong qũy đạo của CS, họ là những người được sống và đào tạo trong những môi trường nhân bản, dựa trên nền tảng văn hoá, đạo dức truyền thống của dân tộc, nhưng họ vẫn cố gắng gói kín lương tri, tiếp tay tung hô tên tội đồ HCM một cách máy móc như một vài hiện tượng xẩy ra rải rác khắp nơi hiện nay. Thậm chí họ còn vô liêm sỉ đến độ dám vỗ ngực xưng tên là những “sỹ quan” VNCH mới thật là quái đản. Không hiểu thành phần này có phải sỹ quan VNCH thật không, hay đây chỉ là một sự tiếm danh và nếu là thật thì chắc chắn cũng chỉ là loại nằm vùng, tay sai “theo đóm ăn tàn”, không thể khác.

Xuyên qua một số sự kiện như tác phẩm ”Đỉnh Cao Chói Lọi” của Dương Thu Hương và một số lý luận khác rải rách trên các diễn đàn Internet, có lẽ chúng ta cũng rút ra được một ít kết luận dù không lấy gì gọi là hoàn hảo, đó là bất cứ một con người CS nào hay chỉ mới nhiễm trùng CS đều mang một đặc tính như nhau, lương tri đã bị ung thối và tâm hồn cũng đã bị khánh kiệt. 

Tóm lại, những sự kiện tung hô HCM đang xẩy ra chung quanh chúng ta chính là một chiến dịch do CSVN tung ra. Chiến dịch này không ngoài mục đích tuyên truyền đầu độc giới trẻ, những người sinh sau, đẻ muộn thiếu phương tiện để am tường lịch sử. Đồng thời gây ra những trận hỏa mù, nhiễu loạn nhân tâm, mong giảm thiểu tối đa ngọn lửa đấu tranh của cộng đồng người Việt tỵ nạn nói riêng và toàn dân tộc nói chung. Chúng ta nên cảnh giác. 

• Phạm Thanh Phương (Úc Châu) 







__._,_.___

Posted by: thanh pham

Monday, September 22, 2014

Phần 1: Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam

 

Phần 1: Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam

Ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do xin gửi đến quý vị loạt bài về cuộc Cải Cách ruộng đất diễn ra đầu thập niên 1950 tại miền bắc Việt Nam. Loạt bài do Nguyễn An thực hiện.

Việt Nam Đi Về Đâu: NỖI SỢ KHÔNG LỐI THOÁT CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM

https://www.youtube.com/watch?v=6jNlMUEpogE

 

Nguyễn An, phóng viên RFA
2008-02-07

 

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này

·         In trang này

·         Chia sẻ

·         Ý kiến của Bạn

·         Email

CCRD-P1.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

ccrd-622.jpg

Cải cách ruộng đất 1946-1957.

 File photo

 

50 năm trước, tại miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam, tức là đảng Cộng sản sau này, đã diễn ra một cuộc cách mạng được chính những người phát động mô tả là “long trời lở đất”. Đó là cuộc cải cách ruộng đất.

Nói đúng ra thì năm 1956 chỉ là năm cuối của giai đoạn 5, tức cũng là giai đoạn cuối của cuộc cải cách ruộng đất đã bắt đầu bẩy năm trước đó. Tuy nhiên, mốc thời gian này đáng nhớ thứ nhất vì cuộc cải cách ruộng đất đến năm đó đã đụng trần, với những án tử hình thi hành tại chỗ, những án tù dài hạn, mà hầu hết nạn nhân đều chết trong khi đang bị giam cầm, và một bầu không khí nặng nề, đe doạ đã lan rộng khắp nơi, khiến ngừơi dân phải chìm đắm trong nỗi e sợ mênh mông.

“Đào tận gốc, trốc tận rễ”

Thống kê chính thức của nhà nước được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam tập hai cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam.

Con số này có thể không chính xác, nhưng số nạn nhân quyết không thể thấp hơn thế được vì nó được ghi trong Văn kiện đảng toàn tập do nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành, và vì nó không nói gì đến những người bị kết án là Quốc Dân đảng thừơng thì bị bắn ngay tại chỗ. Trong số này, có cả những đảng viên Cộng sản trung kiên, mà trước khi chết vẫn còn hô to khẩu hiệu, đảng Cộng sản muôn năm.

Năm 1956 cũng là năm mà ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động công khai lên tiếng nhận sai sót trong quá trình thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, rồi thực hiện một số biện pháp kỷ luật và tiến hành sửa sai. Bản thống kê chính thức cho biết là trong số 172.008 ngừơi bị quy là địa chủ và phú nông trong cải cách ruộng đất thì 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỷ lệ là 71,66%. Có lẽ chưa bao giờ và ở đâu tỷ lệ giữa số bị oan và nạn nhân lại cao đến như thế.

Nhà thơ Tố Hữu lúc bấy giờ là trưởng ban tuyên truyền trung ương đảng sau này nhớ lại đã phải nói: “Không thể tả hết được những cảnh tượng bi thảm mà những người bị quy oan là địa chủ, ác bá (mà trong thực tế là trung nông) phải chịu đựng ở những nơi được phát động.”

Bạn nghĩ gì về cuộc cải cách ruộng đất tại Việt Nam và những hậu quả của chính sách này? Xin email về Vietweb@rfa.org

Lời dặn “nhân ái”

Trong “Nội san cải cách ruộng đất” số ra ngày 25 tháng hai năm 1956, có đăng toàn văn lời căn dặn của ông Hồ Chí Minh rằng: “Nhục hình là lối dã man” và “ tuyệt đối không được dùng nhục hình, nếu dùng nhục hình là trái chính sách của đảng, của chính phủ, trái tác phong của cách mạng.”

Căn cứ trên thời gian phát hành của báo, thì lời căn dặn “nhân ái” này được đưa ra bốn năm sau khi bắt đầu thực hiện thí điểm, và chỉ ba tháng trước khi cuộc cải cách ruộng đất chấm dứt bằng đợt sửa sai. Khi đó, nhục hình đã phổ biến khắp nơi và sự sợ hãi đến mụ mẫm cả người đã bao trùm toàn lãnh thổ.

Cũng xin nhắc rằng ngay từ khi thực hiện thí điểm, địa chủ đã bị xác định là kẻ thù của nhân dân, như lời ông Nguyễn Minh Cần, nguyên phó chủ tịch thành phố Hà nội kể lại: "Trước đây, chúng ta coi địa chủ là một thành phần ở trong nhân dân, nhưng bây giờ thì không phải như vậy rồi. Bây giờ thì địa chủ không phải là nhân dân. Nhân dân chỉ là nhân dân thôi, còn địa chủ thì không phải, đó là những ngừơi chống lại nhân dân, là kẻ địch của nhân dân."

Không chỉ những nạn nhân đau đớn, mà gia đình họ cũng chịu hoạ lây vì bị xã hội cô lập theo chính sách của đảng. Không chỉ gia đình của những người bị kết tội địa chủ phải chịu nhục nhằn, mà những cảnh tượng diễn ra hàng ngày ở mọi nơi những năm đó vẫn còn in dấu cả mấy chục năm sau nơi những chứng nhân.

Ngay trong đề cương báo cáo của bộ chính trị đảng năm 1956 mỗi khi nói đến các cuộc thanh trừng thời cải cách ruộng đất cũng đều phải dùng hình dung từ “tàn khốc” để nói lên những gì xẩy ra hàng ngày, hàng giờ tại miền bắc trong suốt mấy năm trời cao điểm của Cải cách ruộng đất.

Nhà văn Dương Thu Hương trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Đinh Quang Anh Thái của Little Saigon Radio mới đây vẫn còn nhắc lại: "Đối với tôi, lý tưởng Cộng sản là một cái gì đó khủng khiếp và xa lạ. Vì ngay trứơc cổng nhà tôi là một người chết treo năm cải cách ruộng đất, và tám tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến những cụôc đấu đá địa chủ. Sau lưng nhà tôi, đừơng tàu, cũng là xác một ngừơi tự tử chết bằng cách tự đặt cổ mình vào đường ray. Khi tôi tám tuổi, buổi sáng tôi đi tưới rau, tôi đã thấy những ngừơi chết đó, và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp."

Và nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, khi nói lên lý do tại sao ông muốn từ bỏ chủ nghĩa Mác đã phát biểu: "Tôi nhận ra cái điều này cũng lâu rồi, mà nhận từ từ, bởi vì tôi đã đựơc chứng kiến cụôc cải cách ruộng đất ở ngoài miền Bắc mà gia đình tôi là nạn nhân. Tôi thấy nó rất là khủng khiếp. Tôi không hiểu cái chủ nghĩa gì mà nó chỉ có một biện pháp duy nhất là trấn áp ngừơi ta, mang người ta ra đấu tố và bắn bỏ ngừơi ta, mà không có xét xử công minh, cũng không có bằng cớ gì cả. Cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc diệt chủng như là Pon Pot và Yeng Sari (đã làm bên xứ chùa Tháp) mà thời đó tôi đã chứng kiến.

Gia đình nhà tôi may mắn là ông nội tôi và các chú các cô, toàn bộ đã di cư vào nam. Bố tôi là con trưởng nên phải ở lại để giữ đất, cho nên không di cư đựơc, phải gánh chịu cái tai hoạ của ông nỗi cũng như các chú, một mình phải chịu trận, cho nên rất là khổ."

Còn nhà văn Vũ Thư Hiên mới đây, khi nói chuyện về cuộc cải cách ruộng đất với đài Á châu tự do, đã nhớ lại lời bà cô của ông dặn dò như sau: "Tôi có một bà cô ruột ấy, chồng bà cũng bị đấu, mà ông ấy là chủ nhiệm Việt Minh của một xã, mà lại có chân trong Liên Việt huyện, Liên Việt tức là Mặt Trận Tổ Quốc bây giờ. Ông ấy bị đấu, bị giam trong chuồng trâu chuồng bò, nói chung là khổ lắm, rồi ăn uống kém cỏi, đến lúc đựơc thả về nhà thì ông ấy chết, chết tại nhà. Bà cô tôi chỉ nói, cháu ạ, mình phải lựa bạn mà chơi. Cái bọn Cộng sản nó gian ác và bất nhân lắm đấy. Tôi nói, nhưng bố cháu là Cộng sản cơ mà! (Bà cô trả lời) Thì bố cháu không hiểu, bố cháu mới đi với bọn ấy."

Vết thương chưa lành

Cuộc cải cách ruộng đất chấm dứt 50 năm trước đây quả nhiên vẫn còn là một vết thương chưa lành đối với quá nhiều con người dù có trực tiếp là chứng nhân hay không. Đáng tiếc là những sách báo viết về giai đoạn ấy quá ít, lại thường bị tịch thu ngay sau khi phát hành, và dù 50 năm đã qua đi, thì cải cách ruộng đất vẫn còn là một đề tài cấm kỵ, trong khi những chứng nhân cứ già đi và chết đi dần.

Đó là lý do khiến ban Việt ngữ đài Á châu tự do chúng tôi quyết định thực hiện một loạt bài về cuộc cải cách ruộng đất để vẽ lại bức tranh thực xẩy ra của một thời mà không ai không xót xa khi nhớ lại.

Loạt bài sẽ bắt đầu với nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng. Ông sẽ điểm lại tám đợt phát động quần chúng giảm tô và 5 đợt cải cách ruộng đất kéo dài suốt bẩy năm kể từ năm 1949. Sau đó, là lời kể lại của ông Nguyễn Minh Cần là người từng trực tiếp tham gia đoàn cải cách ruộng đất cũng như công tác sửa sai.

Xen kẽ sẽ là lời kể của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện từng chứng kiến từ đầu đến cuối một phiên xử của toà án nhân dân, của ông Trần Anh Kim có ông nội và bố đều là nạn nhân của Cải cách ruộng đất, lời kể của nhà văn Vũ Thư Hiên khi ông có dịp qua những nơi đã diễn ra cuộc cách mạng được gọi là “long trời lở đất” ấy, của nhạc sĩ Trịnh Hưng là người bạn chí cốt của nhà thơ Hữu Loan, tác giả màu tím hoa sim, vốn là người mà những biến chuyển của đời sống gắn liền với cuộc cải cách ruộng đất.

Trước khi bắt đầu vào loạt bài cải cách ruộng đất kể từ buổi phát thanh tới, ban Việt ngữ trân trọng cảm ơn các vị vừa nêu tên đã nhiệt thành cộng tác và giúp đỡ chúng tôi trong cố gắng lật lại bộ hồ sơ đầy oan khuất này.

Bấm vào đây để xem toàn bộ loạt bài về "Cải Cách Ruộng Đất"

 

 

 

HỒ CHÍ MINH CÓ MẤY VỢ và BAO NHIÊU NGƯỜI TÌNH LẺ ?

TÀI LIỆU LỊCH SỬ DÀNH CHO 90 TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG SỢ ĐỌC ĐỂ BIẾT SỰ THẬT VỀ CUỘC ĐỜI TÌNH ÁI CỦA HỒ CHI MINH !  HỒ CHÍ MINH CÓ MẤY VỢ và BAO NHIÊU NGƯỜI TÌNH LẺ ? Sử gia Trần Gia Phụng  (Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ
 ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó  thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp  bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.)  - 1.Tăng Tuyết Minh (vợ chính thức có hôn thú, đã có thai với Hồ, nhưng sau phải phá thai vì mất liên lạc với Hồ) - 2.Nguyễn Thị Minh Khai (người đồng chí, người tình đã ăn nằm như vợ chồng với Hồ, nhưng Hồ bệnh chết năm - 1932, nên sau đó Minh Khai lấy Lê Hồng Phong sau Hội nghị 7 CSQT) - 3.Nông Thị Ngát (gái Nùng có 1 con trai với Hồ, tên Nông Đức Mạnh) - 4.Đỗ Thị Lạc (có một người con gái với HCM) - 5.Nông Thị Xuân (gái trẻ sơn
 cước, có 1 con trai Nguyễn tất Trung sinh năm 1956 với Hồ) - 6.Nông Thị Vàng (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm) - 7.Nguyệt (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm) - 8.Marie Bière  (người tình lẻ Pháp) - 9.Véra Vasiliéva (người tình lẻ trong đảng CS Nga) - 10.Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, đòi Hồ phải làm công khai làm đám cưới, nhưng đảng ko cho, sau đó hủy bỏ  !  (Đây chỉ là mặt nổi của những người đàn bà qua tay cha già dzâm tặc HCM, còn những cháu gái miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc cho bác
















Sử gia Trần Gia Phụng


(Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.)

- 1.Tăng Tuyết Minh (vợ chính thức có hôn thú, đã có thai với Hồ, nhưng sau phải phá thai vì mất liên lạc với Hồ)
- 2.Nguyễn Thị Minh Khai (người đồng chí, người tình đã ăn nằm như vợ chồng với Hồ, nhưng Hồ bệnh chết năm - 1932, nên sau đó Minh Khai lấy Lê Hồng Phong sau Hội nghị 7 CSQT)

- 3.Nông Thị Ngát (gái Nùng có 1 con trai với Hồ, tên Nông Đức Mạnh)
- 4.Đỗ Thị Lạc (có một người con gái với HCM)
- 5.Nông Thị Xuân (gái trẻ sơn cước, có 1 con trai Nguyễn tất Trung sinh năm 1956 với Hồ)
- 6.Nông Thị Vàng (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)
- 7.Nguyệt (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)
- 8.Marie Bière (người tình lẻ Pháp)
- 9.Véra Vasiliéva (người tình lẻ trong đảng CS Nga)
- 10.Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, đòi Hồ phải làm công khai làm đám cưới, nhưng đảng ko cho, sau đó hủy bỏ !

(Đây chỉ là mặt nổi của những người đàn bà qua tay cha già dzâm tặc HCM, còn những cháu gái miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc cho bác "CẤY HẠT GIỐNG ĐỎ" để mang về Nam thì ko thể đếm hết ?!)

Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường. Nhưng bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con. Thực sự có phải như thế không?

1. TĂNG TUYẾT MINH, người vợ Trung Quốc :



Khoảng giữa tháng 11-1924, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Lý Thụy, đáp tàu thủy từ Vladivostok (Liên Xô) đến Quảng Châu (Trung Hoa) với tư cách là thư ký kiêm thông ngôn cho phái đoàn cố vấn Borodin (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoạ Trong thời gian sống ở Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy lấy một cô gái Quảng Châu tên là Tăng Tuyết Minh, đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa, làm nghề nữ hộ sinh, ngày 18-10-1926.

Sau đây là lá thư của Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng Đông Dương phát hiện ngày 14-8-1928:

“Dữ muội tương biệt, Chuyển thuấn niên dư, Hoài niệm tình thâm, Bất ngôn tự hiểụ Từ nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị nã da vọng. Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thụy. Tóm dịch: “Cùng em chia tay nhau, Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm, Nhớ nhung tình sâu, Không nói cũng tự biết. Nay nhân gởi tin hồng nhớn, Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng, Mong em yên tâm, Là điều anh trông ngóng. Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về Thụy”
.
Theo tác giả Daniel Hémery, L Thụy không gặp lại được Tăng Tuyết Minh từ sau năm 1927, có thể vì Tuyết Minh bị thất lạc do chiến tranh quốc cộng ở Trung Hoa vào đầu năm 1927.

Cộng Sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tới Quảng Châụ. Chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm) thì không thể là thư liên lạc bình thường.

2. NGUYỄN THỊ MINH KHAI, người đồng chí:

Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tới Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình là nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930. Ở Hồng Kông, tới trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạỵ Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai người


Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.

Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dung.

Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hồng Kông, đến đầu năm sau thì được thả rạ Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt và bị trục xuất ra khỏi Hồng Kông. Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi Moscow.

Ngày 25-7-1935, tới Moscow khai mạc đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đại diện đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm có: Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, vợ Quốc và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (3)

Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.

Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng... (5) Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng Sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lới trong Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra đới hội nầy, ông Lin (tức Hồ chí Minh) hay ghé lới nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow. (6)Minh Khai học ở Viện Thợ thuyền Đông Phương tức trường Staline đến tháng 2-1937 thì về nước qua đường Pháp, đến Sài Gòn năm 1938. Năm 1940, Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941.

Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Nhưng trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh. Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Hồ Chí Minh là kỷ niệm về Minh Khaị Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là "Vừa đi đường vừa kể chuyện". Cũng theo tác giả Thành Tín, biết đâu chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.

3. ĐỖ THỊ LẠC LÀ AI ??

Sau đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được Quốc tế Cộng Sản gởi về nước hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) bị thất sủng và bị giữ lại ở Liên Xô cho đến cuối năm 1938, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.

Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. (8) Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả một báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển.(9)

Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. (10) Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư đảng, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(11) Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn.

Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhaụ Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành đới hội tới Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba ủy viên giám sát.

Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậỵ Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, và một số súng đớn, thuốc men và tiền bớc. Tiêu Văn đồng Ọ cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự dựới Kiều (gần Liễu Châu), cộng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức "chị Thuần." Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi đã cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh. Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945.

Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó. Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Minh Khai, Tăng Tuyết Minh bị giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa.
4. NÔNG THỊ XUÂN, Gái sơn cước


Sau khi hiệp định Genève được ký ngày 20-7-1954, đất nước chia hai, hòa bình tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển 1 phụ nữ thuộc "gia đình cách mạng" (16) tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổị Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theọ Cả ba được sắp đặt sinh sống trong ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nộị Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa Nông Thị Xuân và Hồ Chí Minh, chính bộ trưởng bộ Công an của chính phủ Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về. Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một con trai năm 1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cướị.

Thế rồi bỗng nhiên "vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội]. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng, đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn..."

Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư. Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tới Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ Chí Minh, hoặc Bộ Chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đã quyết định thanh toán bà Xuân khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với ông Hồ và đòi chính thức nhìn nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị mình bị hãm hiếp và bị đem đi giết chết là cô Vàng cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay 3-11-1957.

Ở đây, có lẽ nên mở một dấu ngoặc để tìm hiểu vì sao Trần Quốc Hoàn, ủy viên bộ Chính trị, bộ trưởng bộ Nội vụ nắm giữ ngành công an là một bộ quan trọng trong chế độ cộng sản, quyền lực đầy đủ trong tay, dư điều kiện và phương tiện để hành lạc trác táng, lại hành xử lạ lùng như vậỷ Trước hết, tuy được coi là lãnh tụ số một của chế độ công sản Hà Nội lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh không được các lãnh tụ khác cũng như bộ hạ thực tâm kính trọng. Điều nầy được bộc lộ rõ nét trong những quan hệ riêng tư nội bộ mà dân chúng bên ngoài không được biết, ví dụ tuy bà Xuân đã từng là vợ của Hồ Chí Minh, Trần Quốc Hoàn vẫn xem thường và xài xễ cho bỏ ghét. 

Cũng có thể việc xài xễ nầy bắt nguồn từ quan niệm dùng người hết sức tàn bạo của cộng sản: đó là khi một người đã hết sử dụng được thì tuyệt đối không còn được chút lưu tình chút nào, và bị coi là một thứ công cụ vứt đị, Hồ Chí Minh quyết định thanh toán bà Xuân, cho Trần Quốc Hoàn muốn làm gì thì làm; hoặc Trần Quốc Hoàn biết bà Xuân sắp bị thanh toán, coi bà như một thứ đồ dùng, xài kẻo phí của trờị Ngoài ra, hành vi của Trần Quốc Hoàn còn chứng tỏ một tâm lý kiêu hãnh và tự cao, lãnh tụ số một dùng được thì "ta" cũng dùng được, "ta" có thua gì lãnh tụ đâu?

SỐ PHẬN NGUYỄN TẤT TRUNG SAU KHI BÀ XUÂN CHẾT RA SAO ?


Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904-1979), bí danh Sao đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôị Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung.

Ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác giả Thành Tín tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong cuộc đời Hồ Chí Minh còn có một vài cuộc tình nhỏ như khi còn ở Paris, ông Hồ có một người tình tên là Marie Bière, lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Laị. Sau đây là lời Thành Tín viết về hai "mối tình con" nầy của ông Hồ: "...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó..." Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp : "... 


Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliévạ Chị Sophia kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lới rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm..."

Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để điều hòa tâm sinh lý, giúp giữ gìn sức khỏe được tốt. 


Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóạ Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận, nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng. Ông Hồ và các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn (?) nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Về sau, cô Phương Mai được đưa lên làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nộị. Qua các cuộc tình của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rõ ông Hồ và cả đảng Cộng Sản Việt Nam muốn ông ta có cơ hội giải quyết sinh lý của một con người bình thường, nhưng không chịu công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản thân cho đới cuộc của đất nước.

Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến cùng tột, và sự say mê đó được thể hiện rõ qua việc đảng Cộng Sản đã in cả hàng chục triệu quyển sách để thần thánh hóa ông Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa mãn. Ông ta còn lấy những bút hiệu khác để viết sách tự đề cao mình. Đó là hai quyển “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” bút hiệu Trần Dân Tiên, và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” bút hiệu T. Lan.

Các danh nhân trên thế giới viết hồi ký kể lại quá trình hoạt động của mình là chuyện bình thường. Trong hồi ký của họ, đôi khi họ cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ tự đề tên thật và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu mình qua những tên khác để tự ca tụng mình. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ đã mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau: "Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lới thân thế của mình..." Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao mình: "...

Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe bình sinh của người được?..." (23) Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản 

Sự Thật đã viết lời dẫn nhập như sau: "...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giớị.."

(24) Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rõ lai lịch của quyển sách, lý lịch của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T. Lan, thì chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do đó, chắc chắn những được in trong nước, mà các sách nầy còn được nhà xuất bản Ngoại Văn dịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau để phát hành khắp các nước trên thế giới trong suốt cuộc chiến tranh từ 1960 đến 1975. Đây không phải chỉ là ý đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà còn là chủ tâm của toàn đảng Cộng Sản Việt Nam nhắm suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh để đánh lừa chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà còn cả toàn thể dư luận thế giới trong thời gian chiến tranh trước đây.

Trở lại chuyện vợ con của ông Hồ, ông ta cũng chỉ là một con người bình thường như mọi người, có vợ có con, nhưng lúc trẻ tham vọng trở thành lãnh tụ chính trị đã thúc đẩy ông chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha, và nhất là giấu kỹ tất ca? những quan hệ tình cảm cá nhân, nhắm tự tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ chính trị độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân để suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường lối cộng sản của ông ta. Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng rãi huyền thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản.

Nhưng một khi nhà lãnh tụ vong thân trong huyền thoại thì họ không còn được cuộc sống bình thường của con người, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy của chủ nghĩa độc tàị. Do đó, khi trở thành lãnh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông Hồ muốn quyết định bất cứ việc gì, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ý kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lãnh đạo chóp bu của đảng Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ.
Vì thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi tìm phụ nữ cho Hồ Chí Minh thỏa mãn nhục dục, nhưng một khi các cô gái đòi chính thức hóa bằng hôn lễ công khai, thì lại thoái thác rằng "bác" không lấy vợ để lợi cho uy tín chính trị hơn. Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp điển hình là Hồ Chí Minh, mà có thể còn nhiều khuôn mặt khác nữa...

Hiện tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung của thế giới cộng sản. Lý do chính là trong thế giới cộng sản không có cơ chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí từ đó không có sự chế tài đối với các lãnh tụ và các lãnh tụ vượt ra ngoài vòng dư luận, muốn làm gì thì làm, không sơ. sự phê bình của dân chúng. Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng và lâu dài cho đất nước, khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như tình trạng Việt Nam ngày nay.



Trần Gia Phụng

Featured Post

Bản Tin Cuối Ngày-19/4/2026

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link