Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, November 12, 2014

Đạo đức và kinh tế–Gương Sáng Thụy Sĩ: Lương Tối Đa bằng Lương Tối Thiểu Nhơn 12.


Đạo đức và kinh tế–Gương Sáng Thụy Sĩ: Lương Tối Đa bằng Lương Tối Thiểu Nhơn 12.  

Dân oan ba miền Nam Trung Bắc tiếp tục xuống đường tại Hà Nội trong hai tháng 10 11 2014

Dân oan ba miền Nam Trung Bắc tiếp tục xuống đường tại Hà Nội trong hai tháng 10 11 2014


image





Dân oan ba min Nam Trung Bc tiếp tc xung đường ti...
View on www.youtube.com
Preview by Yahoo


Phan Văn Song, TS 
November 6, 20140 Bình Luận

Đi làm, lãnh lương. Chế độ lương bổng và hệ thống lương bổng là trung tâm của tất cả những chương trình, những lý thuyết kể cả những suy nghĩ chánh trị-kinh tế ngày nay.

Lương bổng giải quyết kinh tế gia đình, lương bổng giải quyết mãi lực cá nhơn, lương bổng giải quyết đời sống chung của  xã hội, lương bổng là đầu đề số một để tạo một chương trinh phát triển kinh tế quốc gia hay quốc tế. Vậy thì thử nghĩ một giải pháp kinh tế dùng lương bổng làm đầu đề suy nghĩ. 

Hạn chế mức tối đa của lương bổng các lãnh đạo xí nghiệp để giảm bất công xã hội ? Hạn chế lương lãnh đạo, nhưng đồng thời phải nâng cao lương tối thiểu của công nhơn ? 

 Đó là cân bằng chế độ lương bổng,  đó là  công bằng chế độ chuyên nghiệp.

 Cân bằng kinh tế để  công bằng xã hội ?  Nhưng có đi ngược với lý tưởng tự do kinh doanh, đi ngược với phát triển hửu hiệu không ? 
  
2008-2014 : Khủng Hoảng Kinh tế Hay Khủng Hoảng Đạo Đức?

6 năm rồi, nền kinh tế – tài chánh thế giới vẫn còn hỗn loạn. Mặc cho những tuyên bố các nhà trách nhiệm quản trị kinh tế thế giới. Từ các nguyên thủ các quốc gia tiên tiến, đến các tổng trưởng kinh tế hay giám đốc các cơ quan tài chánh quốc tế.

 Mặc cho những ồn ào chánh trị, mặc cho những thay đồi chương trình, thay đổi chánh phủ, khi quay hướng phải tư bản tự do, lúc quẹo hướng trái Xã hội Dân chủ. Dân chủ, Tự do, Tư bản, Xã hội, khi rầm rộ báo chí truyền thông quảng cáo sơn đông mãi võ, trống kèn rộn đám, lúc âm thầm thương thuyết, rỉ tai nhỏ giọt, đi đêm, im lìm. 

 Bao nhiêu cuộc họp, thượng đỉnh, trung đỉnh tốn  kém tài sản quốc gia, phung phí của cải mồ hôi nước mắt nhơn dân thế giới, rút cục đều là những cuộc nói chuyện, những cái bắt tay, chụp hình, những buổi  tiệc tùng, những lời tuyên bố rỗng tuếch, thùng rỗng kêu to. Khủng hoảng vẫn hoàn khủng hoảng, nợ nần vẫn nần nợ, quan chức đại gia vẫn đại gia quan chức, vẫn ăn chơi phung phí ; công dân nghèo và công nhơn thất nghiệp, nghèo đói  vẫn tiếp tục muôn đời đói  nghèo, thất nghiệp vẫn muôn năm thất nghiệp.

Các quốc gia tiên tiến thế giới, trước khủng hoảng năm 2008, tám nước đại cường, loại nhà lầu cao ốc, villas biệt thự, họp thành khối đại gia G8, quyết quản trị thế giới, gánh vác, chủ trì vận mạng toàn cầu. Nhưng ngày nay, với khủng hoảng,  anh nào cũng nợ, anh nào cũng đói, gánh nặng không cam nổi, đành phải mở rộng « sân chơi, » đểu giả,  « đạo đức giả »,  « rộng lượng» mở cửa mời 12  nước đàn em  nhảy  vào gánh vác sơn hà, chung lưng đấu cật, (chung tiền)  cùng nhau họp thành khối đại cường nhà ngói, khối nhà ngói G20 ! 

Rồi chia sơn hà , rồi giao trách nhiệm, xưng hùng xưng bá hùng cứ từng vùng, nhưng vẫn chẳng đi vào đâu, vì các quốc gia đầu đàn chưa hoàn toàn phục hồi phong độ, nên các đàn em quốc gia  hạng hai, thường được được gom lại gọi chung tên là « khối đang lên »  và nay  5 tên khá nhứt thuộc hạng hai, được đặt tên chung và gom lại dưới cái tên chung là  BRICS gồm chữ cái đầu của  Brazil, Russia, India, China, South Africa.  Các quốc gia hạng hai ấy đều mang một mẫu số chung là nếu chỉ số chung của kết quả kinh tế rất khả quan, nhưng những chỉ số chung về kinh tế đầu người, về giáo dục, về an sanh xã hội thì hoàn toàn yếu kém. 

Nói tóm lại, nếu các  quốc gia Brazil, Ấn độ, Nga và Trung Cộng giàu, thì người dânẤn,người dân Nga, và người dân Tàu vẫn còn nghèo.  Và cái hố cách biệt giàu nghèo càng ngày càng được đào sâu. . Mặc những lời khuyên các kinh tế gia từng trúng giải Nobel kinh tế, mặc những lý thuyết mới về kinh tế, mặc những chương trình cải tổ, mặc những đàm phán, thiên hạ ngày nay vẫn phải sống với hai thế giới, với hai quan niệm chạy song song đầy nghịch lý:
§  Một bên,  một thiên đường kinh tế phát triển, rất lý thuyết, với thị trường ảo, thị trường mạng, với những thị trường dịch vụ tài chánh ngân hàng…Với …những chỉ số các  thị trường chứng khoán quốc gia có tầm vóc quốc tế như  chỉ số Down của Mỹ,  chỉ số CAC 40 của Pháp…, tăng trưởng đều đặn hằng ngày vùn vụt lên cao ;  những hoạt động đầy năng nổ của các traders-courtiers chứng khoán. 

Ấy là chưa kể những dịch vụ hoạt động không ngừng không nghỉ, ngày đêm không ngủ, của các trung tâm dịch vụ  tài chánh, dịch vụ  ngân hàng, dịch vụ thương mãi của  những khu Wall Street ở thành phố New York của Mỹ hay khu City  của thủ đô London Anh quốc…càng ngày càng nháo nhiệt. Hay những desks ngân hàng làm việc chóng mặt. Hãy theo dõi con số các tỷ phú trên thế giới càng ngày càng tăng, theo dõi con số các « đại gia » tàu, ấn, nga, và ngay cả « việt nam chơi ngông của ta », càng ngày càng nhiều. 

Một thí dụ, hảng đóng tàu của Pháp ở Saint Nazaire vừa nhận được hai hợp đồng đóng hai chiếc tàu Cruse to nhứt thế giới. Các máy bay chuyên cở hạng to Aibus 380, Boeing dreamer 777 làm không kịp để giao hàng. …và còn nhiều thí dụ khác, các hảng dịch vụ bán hàng qua mạng càng ngàycàng phát triển, các hảng thông tin, truyền thông càng ngày càng lớn…Facebook, Google, Amazon, Twitter.

§  Và trái lại, một thế giới thứ hai, một địa ngục xã hội đầy thực tế, của cuộc sống hằng ngàynghèo đói,  thất nghiệp.  Ở Liên Âu chúng tôi, nói riêng, chỉ số thất nghiệp vẫn còn mức cao. Nạn đói trên thế giới vẫn chưa giải quyết được cứ mỗi 4 người trên thế giới, có một người đói.Một phân nửa dân thế giới không có nước sạch. Và di dân, và tỵ nạn biến thành nạn. .. 

Hình ảnh chỉ những dân Phi châu tỵ nạn,  chỉ người dân Ấn độ tỵ nạn là những hình ảnh xưa. Ngày nay, chẳng những các dân các quốc gia hồi giáo trung đông hay bắc phi tỵ nạn vì chiến tranh, vì bất ổn, mà cả công dân một nước giàu nhứt thứ giới là Tàu cũng đi lánh nạn.

Là những người ty nạn, an cư lập nghiệp tại các quốc gia tiên tiến âu mỹ tây phương, chúng ta phải thông cảm những người tỵ nạn, chẳng những chánh trị, chiến tranh mà cả kinh tế xã hội nữa. Tỵ nạn một nơi như nước Pháp – lấy trường hợp cá nhơn của chúng tôi để làm thí dụ – thật là giải quyết hết mọi  vấn đề sanh tồn. Từ lúc trẻ mang gia đình đến an cư lập nghiệp, sanh sống an nhàn, đến nay về già hưu trí  yên thân, bản thân người tỵ nạn được bảo vệ từ cuộc sống hằng ngày đến tương lai con cháu, hậu duệ ! .. . 

Từ con cái học hành miễn phí, đến sức khỏe gia đình cũng miễn phí, đến lúc  con cái trưởng thành ra đời nghề nghiệp, người dân tỵ nạn hoàn toàn sống  với những bảo đảm xã hội của một người bản xứ, với tất cả những bảo vệ an sanh, với tất cả những cơ chế hành chánh  an ninh và tôn trọng quyền con người. Quê hương người nay là quê hương ta. Tổ quốc người nay là tổ quốc ta. Buồn thay, tủi thay cho quê hương xưa cũ Việt Nam ta đang  trên đường tụt hậu, lún  sâu vào của sự nghèo đói, dốt nát, thiếu văn minh, kém văn hóa, và vô đạo đức. 

Cũng có vài bạn tánh tình khó khăn, nhiều đòi nhiều hỏi than phiền với chúng tôi, “sao anh cứ khen xứ người ?”.  Nào xứ người vẫn xứ người, phải xứ ta đâu ?  “ Ao nhà vẫn hơn”, dù lắm đỉa, lắm lăn quăng, lắm …

 !   Cũng có vài bạn than phiền rằng làm việc  Tây rất cực nhọc và bị kỳ thị !...

Tất cả các bạn ấy đều có lý cả, tất cả mọi trường hợp đều có gặp cả. Riêng về kỳ thị,  thiển nghĩ cũng nên công bằng mà tự xét lòng, người tây phương kỳ thị ta hay ta kỳ thị người tây phương ? Thằng tỵ nạn ta cũng thử tự hỏi xem cá nhơn thằng tỵ nạn ta muốn con mình lấy vợ, lấy chồng người tây phương không ? Người tỵ nạn ta có muốn có nhà thờ cất gần nhà mình không ? 

Phe ta có thích ở khu tây trắng, khu người đen, khu người rệp, ..  hay trái lại xúm  nhau đế tụ họp, dắt nhau về ở gần khu ta giữa những thằng tỵ nạn ta, và nếu được ở khu cùng với dân cùng làng cùng xóm? Huế ở với Huế, Quảng chơi với Quảng, mà Quảng nào ? Nam ? Ngãi, hay Bình Trị… Chưa bao giờ trong lịch sử cận đại Việt Nam các Bang  Hội Đồng Hương Việt Nam đông như lúc nầy. …   

Ai kỳ thị hơn ai ? 

Người Việt mình đặc biệt là cái gì cũng nhứt, 4000 năm văn hiến, lâu hơn Pháp Mỹ Anh Đức Nhựt…lâu hơn Tàu, vì người Việt là thủy tổ người Tàu mà !!??, người Việt đồng bằng Sông Hồng, cái nôi của nhơn loại, ăn thịt chó mắm tôm, là  đĩnh cao trí tuệ, đánh thằng ba cường quốc Pháp Nhựt Mỹ…Mề đay vàng trong tất cả mọi hiểu biết: hiểu biết tất cả. 

Người Việt ta là thủy tổ của người Á đông, là chủ nhơn của văn hóa và chữ viết của Tàu…Và văn minh Tàu do người Việt mình mang từ Nam lên Bắc. Thí dụ từ ngữ  Trung Nguyên Tàu là do từ ngữ Trong Nguồn Việt biến dạng thành. Khổng Tử  người nước Lổ, là người Nam Hoa tức  là người Việt.

 Vì vậy không nên sợ các Viện Khổng tử bành trường tại Việt Nam ta. Khổng tử Hóa không phải Hán hóa mà là Việt ( cổ) hóa, là Châu về Hợp Phố. Vi vậy từ nay không còn sợ nạn Hán Hoá  nữa. Vì nếu Trung Cộng đớp Việt Nam, thì cũng Châu về Hợp Phố  thôi !  Lo gì ! Thoát Trung ? còn lâu. Ta “Đớp”, Ta “Xâm nhập Trung” chứ !!

Xin lỗi quý độc giả thằng tui lại việt vị – hors jeu – ọt rơ  rồi. Ta hãy trở về với nghịch lý một thế giới nghèo đói càng ngày càng nghèo đói, nằm ngay bên cạnh một thế giới đại gia càng ngày đại gia giàu có, nghịch lý một bên càng giàu, một bên càng nghèo đang đi vào bế tắc và càng  ngày càng đào sâu.

 Thụy Sĩ:
Người Thụy sĩ  dám nghĩ và dám làm. Để giải quyết cái nghịch lý nói trên, người dân Thụy sĩ,  qua những cuộc trưng cầu dân ý, có những hành sử sau đây:
Xin phép mở một dấu ngoặc đê giới thiệu một tập tục rất dân chủ của xứ đồng hồ và chocolat.

 Tập tục ấy là trưng cầu dân ý. Bất cứ một công dân Thụy sĩ nào có một đề nghị một ý kiến khà dĩ để giài quyết mỗt vấn đề xã hôi, kinh tế, hành chánh  hay kể cả chánh trị nếu hội đủ một số chữ ký cho ý kiến, hay đề nghị ấy, thì nhà chức trách địa phương hay quốc gia  phải tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, tùy theo ý kiến hay đề nghị có tầm vóc địa phương hay quốc gia. Và kết quả cuộc trưng cầu dân ý có thể biến thành luật. 

Một thí  dụ, năm kia ý kiến “cho phép xây cất, thành lập, nhà thờ Hồi giáo ở Thụy sĩ” : Trưng cầu dân ý không thông qua, kết quả ngày nay Luật ở Thụy sĩ  cấm, không thể  xâycất hay thành lập một nhà thờ Hồi giáo. Đóng dấu ngoặc.  

Trở về câu chuyện, nghịch lý và bất công xã hội và kinh tế giữa hai thế giới con người. Để tìm giải pháp cho bất công xã hội, nghịch lý giàu nghèo quá cách biệt, thói thường người ta nghĩ đến vai trò giá cả hàng hóa và lương bổng công dân. Lý do giá cả lương bổng bảo đảm đời sống vật chất công dân và bảo vệ người công nhơn không bị chủ nhơn bóc lột.

 Ở Pháp, có truyền thống luật Lao động với mức lương tối thiểu SMIG ( Salaire Minimum Indexé Garanti) vừa bảo đảm người công nhơn không bị bóc lột vừa bảo đảm sức mãi lực vì thay đổi theo thị trường thời giá mắc mỏ. Nhưng ở Thụy sĩ, dân Thụy sĩ không làm vậy.

Ngày 18 tháng năm năm 2014, dân Thụy sĩ  bỏ phiếu với một đại đa số từ chố không chấp nhận viết một con số vào mức lương tối thiểu. Mặc dù lương tối thiểu ở Thụy sĩ hiện nay lớn nhứt thế giới: 4000 quan Thụy sĩ CHF – gần 3200 euros, xêm xêm 4000 dollars Huêkỳ ! 

Kết quả nầy vừa đến cùng dịp với kết quả sáu tháng trước, dân Thụy sĩ cũng từ chối không chịu hạn chế lương tối đa các lãnh đạo. Từ chối không ra số lương tối đa, từ chối không ra số lương tối thiểu, dân Thụy sĩ nhất  định không làm luật lê lương bổng. Truyền thống Tin lành, Calvin, Luther, đối với dân Thụy sĩ tất cả là thương thuyết, thương lượng.  

Để chung sống hoà bình: Chỉ số 12
12 ?  tại sao 12 ?, chỉ số 12. Ngộ quá ! Trước thời gian bầu cử Tổng thống Pháp vào đầu năm 1912, hai nhà kinh tế học Pháp, gốc tu sĩ Thiên chúa giáo la mã Gaël Giraud, dòng Tên-jésuite, và Cécile Renouard nữ tu sĩ dòng Đức Mẹ lên Trời-assomptionniste viết cuốn sách có tựa đề Chỉ số 12-Le facteur 12, và với giòng tựa nhỏ để cắt nghĩa con số 12 nầy : tại sao phải hạn chế mức tối đa cho lương bổng-pourquoi il faut plafonner les revenus ?Hai nhà kinh tế học đã dùng bảng lương bổng của các nhơn viên nhà nước Pháp để nghiên cứu. Đúng vậy thứ tự lương bổng công chức Pháp đi từ 1 đến nhơn  11, kể cả những phụ cấp.

Hạn chế mức tối đa lương bổng các quan chức lãnh đạo tư bản ? Có quá lý tưởng chăng, ? không tưởng?  có nằm mơ chăng? Với Gaël Giraud: “ Tôi biết rằng khi tôi viết ra tôi biết rằng tôi quá lý tưởng, Nhưng tôi nghĩ con số 12 sẽ tạo một suy nghĩ đồng thuận giữa những ai thích công bằng và ổn định xã hội.”

Những năm tháng gần đây, một lô xì-căng-đan do những đồng lương với phụ cấp, một lô những hưu trí đặc biệt, những phần thưởng đặc biệt lần lượtđược chiếu cố bởi các cơ quan truyền thông đăng nhũng bài tố cáo. Những số tiền khổng lồ, những phần thưởng với những hàng zérô dài dòng dọc, không “ăn thua” gì đến kết quả của xí nghiệp được trả cho những đầu não, lãnh đạo về hưu, về an vườn, chiến thuật “bịt miệng và cho de!” hay “ khóa mõm cho ra chầu rìa!” vượt khổi những tầm mức của đạo đức.

Ngày hôm nay, số lương lớn nhứt của một ông Chủ của một trong các xí nghiệp lớn ở Pháp có tên trên thị trường chứng khoán CAC 40 Pháp, lớn hơn 20 000 lần lương SMIC tối thiểu của người công nhơn Pháp. Theo hai nhà tu sĩ Renouard và Giraud,  đó là một sự quá bất công ! 

Hãy nên nghĩ đến một sự cân bằng (tương đối) để giài quyết bất công !  Và đây cũng là một suy nghĩ đạo đức, một đạo đức dân chủ và một cân bằng xã hội mà ngày nay một số nền văn hóa đã lãng quên. Với một sự cách biệt to  lớn như vậy giữa hai nguồn lợi tức, làm sao có thể nghĩ rằng những công dân của một quốc gia có chung ý thức là cùng sống chung một xã hội, một quốc gia hay một thế giới

Phải làm sao thúc đẩy được ý thức ấy?
Chỉ số 12.  Làm sao chắc chắn rằng lương tối đa lớn gấp 12 lần lương thiếu thiểu là lý tưởng ?  

Nhiều ý kiến  thuận cho ba lý do để cắt nghĩa:

Thứ nhứt, về Kinh tế học, những mức lương khổng lồ thường chỉ tạo những tài sản vô dụng, nhiều tiêu cực và tác hại hơn tích cực, do những cuộc tranh tài vô dụng, hay thi đố chơi ngông ( kiểu đốt  tiền, hay tắm bằng champagne) những cuộc đấu giá (tranh nhau mua cho bằng được một bức trangh, một cuộc chơi), những đầu cơ – kiến trúc, vật hiếm, loại trứng cút …) tạo những bong bóng tài chánh kinh tế, những thị trường vô luật lệ chỉ làm hại nền kinh tế. 

Nếu những số lương cao biết phân phối chia xẻ công bằng cho xã hội sẽ tạo những công ăn việc làm mới, phát triển nền kinh tế dịch vụ xã hôi, tạo một thị trường xã hôi, nội địa, phá được cái vòng lạm phát, tạo mãi lực tức tạo lại nền kinh tế.

Thứ hai về mặt Xã hội học, một cơ chế lương bổng công bằng, tạo một thị trường cân bằng. và dễ dàng đi đến một chế độ dân chủ công bằng.

Và cuối cùng về mặt Môi trường, một xã hôi cân bằng chú ý đến môi trường hơn. Vì tạo mãi lực cho số đông giúp số đông sống cạnh môi trường lân bang láng giềng,  chăm sóc môi trường và ít tàn phá môi trường. 

Khi những cán bộ cao cấp và trung cấp  cùng với những công nhơn của hạ từng cơ sở chia xẻ những chỉ số lương bổng gần nhau,  tự nhiên họ hợp thành một cộng đồng xí nghiệp, một cộng đồng xã hội cùng sống, cùng ăn,  và cuối cùng ít có dị biệt hơn trái với một cộng đồng xí nghiệp có chỉ số lương bổng quá nhiều  cách biệt  

Lợi dụng hạn chế đồng  lương tối đa là  dỉ nhiên phải năng cao đồng lương tối thiểu

Do đó mức lương trung bình sẽ cao. Số người nằm chung quanh điểm trung bình càng đông, Toàn bộ cán bộ và công nhơn họp thành một công đồng có chung một giắc mơ, một chương trình, một ý chí, một mục tiêu . Đó là đoàn kết!

Thụy sĩ đang làm. Chừng nào Pháp? Chừng nào Mỹ, chừng nào thế giới? Và Chừng nào Việt Nam?
Mong lắm !
Hồi nhơn Sơn đầu tháng 11 năm 2014
Phan Văn Song



Bàn về câu chuyện lá cờ (phần 2)

Bàn về câu chuyện lá cờ (phần 2)




Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) - Bài học đầu đời trong trường tiểu học thời VNCH, tất cả học trò phải biết: không được "ăn hiếp" bạn. Thầy - cô là người phân xử phải trái. Chúng tôi còn được dạy về nghĩa hiệp và hào sảng, phải chịu trách nhiệm những việc mình gây ra. Hạ nhục người khác tức là dẫm đạp lên danh dự chính mình.

It has always been a mystery to me how men can feel themselves honoured by the humiliation of their fellow beings - Mahatma Gandhi. Tôi không thể giải thích nổi, làm sao người ta có thể chạm đến giá trị danh dự bằng cách hạ nhục đồng loại (tạm dịch).

Biến đổi không thể nào ngờ.

VNCH, với tư cách bên thua trận, đã bị sỉ nhục tàn nhẫn, bằng mọi cách hạ đẳng nhất. Cờ Vàng cũng chịu chung số phận bi đát. Điều đau đớn nhất cho dân tộc Việt Nam, những người cùng máu mủ lại làm "công việc" đó.


Tôi từng đặt câu hỏi với ba tôi về "danh dự" của "bên thắng cuộc", sau khi anh rể tôi (binh chủng không quân)[*], cùng các người anh khác bị lừa đưa vào "trại cải tạo" và đã "học tập" xong (!). Ông im lặng trong bất lực và tê tái!

Quá khứ của VNCH như nốt nhạc thống thiết và thê lương từ "Lời Kinh Đêm" [1] dành nguyện cầu cho những oan hồn, trên bước đường lưu vong.

Quá khứ của Cờ Vàng từng là khúc ca bi ai hoài niệm về một thời, dù không chắc là vàng son, nhưng êm ả với cuộc sống thường nhật. Nó có ngay trong tiếng rao hàng, vang vọng những đêm mưa mùa hè.

Quá khứ của Cờ Vàng sẽ chôn vùi trong điêu linh một thuở, nếu như người Việt lưu vong chấp nhận cuộc sống lặng lẽ trên xứ người gần 40 năm qua.

Nhưng không, người Việt hải ngoại (NVHN) đã không dừng lại, như tìm một nơi "nương nhờ chút thở than".

Người phụ nữ Mỹ gốc Việt nổi tiếng - Lê Duy Loan, cho đến ngày thành đạt rực rỡ, vẫn tự hào là Người Việt Nam với dòng máu đỏ da vàng. 

Lê Duy Loan trải lòng trong một cuộc phỏng vấn [2]: Dù cho bà có trở thành tỉ phú đi chăng nữa, bà cũng không thể nào mua được Danh Dự mà nó đánh đổi bằng toàn bộ nghị lực, khả năng, sự bền chí và nhận được hỗ trợ rất nhiều từ các đồng nghiệp, tất cả đã giúp bà có được thành công vang dội trong sự nghiệp. 

Không dừng tại đó, Lê Duy Loan đem những thành công bản thân chia sẻ, hỗ trợ và nâng đỡ con người trên nhiều nơi trên thế giới, trong đó có "Sunflower Mission" - một tổ chức thiện nguyện giúp cho trẻ em Việt Nam. Điều ngưỡng mộ và đáng trân trọng dành cho Lê Duy Loan: Miệt mài làm việc, dành thời gian diễn thuyết và làm thiện nguyện, bà không có phút giây nào để nói về "dân trí thấp" như là trách nhiệm của những người dân nghèo phải tự gánh chịu. 

Không chỉ riêng Lê Duy Loan, NVHN thành công vang dội trên: chính trường, thương trường, chiến trường; cả trong lĩnh vực thể thao, văn hóa, y học v.v...: Ngô Thanh Hải (Thượng nghị sĩ Canada), Janet Nguyễn (Thượng nghị sĩ tiểu bang California), Lương Xuân Việt (Chuẩn tướng người Mỹ gốc Việt đầu tiên), Đinh Đồng Phụng Việt (tác giả bộ luật Patriot), Cung Lê (võ sĩ nổi tiếng kiêm diễn viên điện ảnh), Dương Nguyệt Ánh (tác giả bom nhiệt áp), Võ Tá Đức (từ cậu bé đạp xích lô trở thành khoa học gia nguyên tử ở Mỹ), Nguyễn Thanh Mỹ (từ cậu bé bán cà-rem trở thành tiến sĩ), Lưu Lệ Hằng (tên tiếng Anh Jane Luu - một người Việt lưu vong năm 1975, trở thành nhà thiên văn học), Chính Chu (tỉ phú người Mỹ gốc Việt), Elizabeth Phạm (Nữ Thiếu tá Thủy quân Lục chiến), cùng hàng trăm tên tuổi khác, không thể dẫn ra đầy đủ để nói về sự thành đạt nổi trội và vang danh tại Mỹ cũng như trên thế giới.

Khi buộc phải bỏ xứ ra đi tị nạn cộng sản, không ai có thể ngờ những con người mang thân phận vong quốc, lại có ngày như thế. Một kết quả ngọt ngào và rực rỡ. 

Khi hay tin bạn bè và bà con của mình đào thoát, thật lòng, tôi cũng chỉ cầu mong họ an toàn và có cuộc sống bằng an, cũng không bao giờ dám nghĩ một ngày nào đó có cơ hội gặp lại. Chỉ thế thôi.

Thời gian kỳ lạ. Thời cuộc kỳ diệu. Tôi không biết gọi những thành công nổi trội với đời sống tự do khoáng đạt của NVHN là gì, ngoài tên "Số Phận". Tôi cũng tin vào Nhân - Quả. Một niềm tin vững chắc, thuở còn bé, tôi hay đọc trong truyện cổ tích. Bây giờ, những câu chuyện cổ tích đó biến thành hiện thực. 

Cờ vàng bị dẫm dưới chân người CS. Bằng chính nghị lực, bằng chính nỗ lực kiên trì được chắp cánh từ đời sống tự do - dân chủ, NVHN đã giương cao Quốc Kỳ một thuở. Trong màu vàng óng ánh, những vết bẩn năm xưa bị cố tình và ác tâm tạo ra, NVHN đã gột sạch nó bằng thành công từ chính nội lực, xuất phát từ con tim nóng bỏng, chan chứa dòng máu Việt Nam nồng nàn. Tình yêu quê hương trở nên giản dị.

Giờ đây, NVHN hoàn toàn đủ tư cách ngẩng mặt nhìn đời với câu hát [3]:

Cười lên đi em ơi
Dù nước mắt rớt trên vành môi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn đổi thay ta vang tiếng cười...

Không chỉ bù đắp những đau thương mà còn chất ngất tôn tạo ý chí ngạo nghễ và quật cường của người Việt Nam với bóng Cờ Vàng lấp lánh, bay phất phới trong cộng đồng NVHN, hôm nay.

Hòa hợp hòa giải? Tiếc thay (!)

Người Việt bị đuổi xua bằng mọi cách ra khỏi nơi "chôn nhao cắt rún". Cay đắng và đứt ruột ra đi, không chỉ những phận người chòng chành trên những chiến thuyền con, thế giới gọi là "boat people", mà còn từ những chiếc "tàu há mồm" thuở 1954. 

Từ đó, những con người vong quốc dần dần thành đạt và đóng góp trí tuệ cho quê hương thứ hai. Chỗ đứng của cộng đồng NVHN, cũng từ đấy chiếm một vị trí trang trọng tại nơi cưu mang mình. 

NVHN đã từng bị hạ nhục với tư cách những kẻ chỉ biết ăn bám và dành thời gian ngồi khóc lóc, nuối tiếc quá khứ hư hao. Không! Những "con người mất nước" đã chứng minh ngược lại - đầy thuyết phục, đủ trí tuệ.

Thành công trong sự nghiệp, dù lãnh vực này hay lãnh vực khác, tất nhiên, từ đó mang lại cho NVHN một sức khỏe tài chánh tốt hơn lên. 

Dân tộc Việt Nam có câu: "Thấy sang bắt quàng làm họ".

Từ đấy, tại quốc gia CHXHCNVN, vở hài kịch mang tên "Khúc Ruột Ngàn Dặm" ra đời trong bối cảnh đó. Hơi lố lăng một chút với tiếng cười khẩy, vọng về từ bên kia Thái Bình Dương. Tôi đã từng nghe nhiều lần như vậy.

Rồi "Nghị quyết 36" ra đời cách đây hơn 10 năm. Lời đàm tiếu vọng vang không ngớt.

Trở thành "thuyết khách gia" cần phải học. Để ve vãn nhằm đạt được lợi ích mong muốn từ NVHN, lẽ ra người CS cần phải rút kinh nghiệm xương máu từ quá khứ. Rất tiếc, ngay cả "nghệ thuật ngoại giao", trong việc chiêu dụ NVHN, người CS cũng bỏ qua nốt. 

Thông thường, để "sạch nước cản", không một nhà ngoại giao nào đi "thuyết", lại cào xé "vết thương lòng" mà sự hạ nhục đó do chính tay mình gây ra đối với "khách", hơn nữa lại động chạm đến biểu tượng, NVHN vốn có đủ căn cứ lịch sử, khoa học và sự thành đạt nổi bật ngày nay để tự hào. Người CS sai lầm khi đào bới lịch sử Cờ Vàng mang ra so sánh với lịch sử Cờ Đỏ. Vì thế, thật nực cười khi người CS dùng hai tiếng "đồng bào" (!)

Quốc Kỳ là biểu tượng quốc gia, dù quốc gia đó không còn tồn tại, nhưng lịch sử lại mang trong mình những yếu tố bất ngờ, như thế giới đã cho thấy sự sụp đổ khối CS Liên Xô và Đông Âu. Lịch sử Việt Nam hoàn toàn có thể lặp lại dưới hình thức khác, nhưng nội dung giống nhau. 

Vì thế, Cờ Vàng lại bước vào "chiến cuộc", những tưởng nó phải yên ngủ theo mong muốn của... Cờ Đỏ. Chính người CS tiếp tục tạo "cảnh lá lai" khi họ nghịch lý gọi tên "hòa giải hòa hợp".

"Hòa giải hòa hợp"? Nếu thật sự người CS có tinh thần đó, họ đã phải làm từ 20 năm trước, khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận. Cơ hội trôi tuột đi, như nền kinh tế trương phồng bọt xà bông và đang giãy giụa trong phút lâm chung.

Cũng thời đoạn những năm 1990, người CS lại lún dần và lún sâu vào "con đường trụy lạc" với mật nghị Thành Đô. 

Những tướng lãnh và các ông (bà) CS cao cấp hồi hưu còn đang đòi làm cho ra lẽ. Người CS sẽ "thuyết" như thế nào, trước biến cố kinh khủng và đầy ám muội đó, đối với "khúc ruột ngàn dặm" bằng câu hát "gác lại quá khứ" chán ngắt, cùng lời tỉ tê "hướng tới tương lai" đầy ma mị?!

Hình như người CS cũng không hề biết rằng [4]: Một quốc gia với nhân tâm tan nát như Afganistan vẫn đang rất nhiêu khê đứng trước "đoàn kết dân tộc", dù "...với sự trung gian môi giới của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry..."? Hiên thực hóa "đoàn kết" phải có căn cứ khoa học, chứ không phải lời kêu gọi suông.

Do đó, giấc mơ "hòa hợp hòa giải" của CSVN chỉ là "giấc mơ hoang đường". Nói cách khác, chỉ là những lời vô vị và giả tạo.

Một khi chiếc bàn "hòa giải hòa hợp" được dọn ra, có lẽ một "chiếc ghế súp" là chỗ thích hợp nhất, cần ban bố cho người CS?

Kết

Một số ý kiến cho rằng, bàn về lịch sử Cờ Vàng và Cờ Đỏ sẽ rơi vào bế tắc và không mang lại thiết thực nhiều lắm cho cuộc đấu tranh hiện nay.

Có thể đúng, nếu như lịch sử hai lá cờ, hai chế độ, với dân tộc Việt Nam hai miền Nam - Bắc được đặt dấu chấm hết từ bàn tay những kẻ từng hãnh diện "thắng làm vua thua làm giặc". Lịch sử như thế là một lịch sử phi khoa học. Lịch sử như thế chỉ có giá trị riêng cho những ai xem nó là nơi ngụy biện bằng chiến thắng phi nghĩa, bất chính danh và vô nhân đạo. 

Lịch sử như thế là lịch sử được viết lên từ những kẻ không biết trọng Danh Dự. Những con người không biết trọng danh dự, đừng trông mong vào họ tính trách nhiệm, khi cả Tổ Quốc Việt Nam đang lâm vào tình thế nguy nan.

Tổ Quốc - Danh Dự - Trách nhiệm - luôn gắn liền nhau - giờ đây phải được nhắc lại, phải được thét vang lên cho tất cả người Việt Nam trong và ngoài nước cùng nghe và đồng lên tiếng.

Ngày lụi tàn của chế độ độc tài toàn trị, ắt đến trong tương lai. Một tương lai rất gần.

Như nhiều ý kiến khác, một chính thể tự do - dân chủ cho Việt Nam khi hình thành, không biết Cờ Vàng hay lá cờ nào được vinh dự trở thành biểu tượng quốc gia, nhưng chắc chắn, sách lịch sử sẽ dành nhiều chương cho thế hệ con cháu khóc cười theo vận nước điêu linh bởi Cờ Đỏ - nỗi ám ảnh kinh hồn cả dân tộc Việt Nam.

(Hết)









Đời Mồ Côi

Em sinh ra đã không hề biết mẹ
Hàng ngày Em theo chị để ăn xin
Ngày đầu đường đêm ghế đá công viên
Sống lay lắt nhờ đồng tiền thiên hạ.













Nhiều khi đói sữa thay bằng nước lã
Hai chị em vật vã dạ cồn cào
Dế ve Sầu nướng lót dạ đêm thâu
Mong trời sáng xin cơm thừa hàng quán.













Cha chết sớm mẹ bị người ta bán
Sang bên Tàu vào động bán dâm
Nhà cửa ruộng nương
Đảng qui hoạch chẳng bồi thường
Nghe người nói cán bộ phường chia chác














Mình sống được nhờ tấm lòng cô bác
Nín đi nào chị sẽ hát ầu ơ
Mất mẹ cha đời đói rét bơ vơ
Đừng khóc nữa em thơ xin hãy hiểu.













Chuyện xui xẻo đẩy đưa đời cô lựu
Chị bị tông xe nằm ngất bên đường
Khi mọi người đưa chị đến nhà thương
Chị đã chết từ trên đường nhập viện.
















Kẻ tông chị là đảng viên say xỉn
Sợ liên quan chúng đã biến vào đêm
Hết họ hàng giờ chỉ còn mình em
Nên ánh mắt mới buồn lên đến thế.















Anh xin lỗi mấy tháng rổi mới kể
Chỉ mong sao ánh mắt bé vơi buồn
Trẻ ăn mày không được đảng yêu thương
Nhưng còn có những trại cô nhi viện


MUA ĐÀN BÀ VN : Không ưng được đổi lại

Đây là thời đại siêu xa lộ tin tức, đâu phải chúng muốn làm gì thì làm.

TIẾN LÊN HONG KONG !





image





Preview by Yahoo

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link