Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, December 25, 2014

Hồ Chí Minh và sự dối trá ở Việt Nam ngày nay

Hồ Chí Minh và sự dối trá ở Việt Nam ngày nay
















Bài viết này dành tặng cho giới trẻ Việt Nam.

Đại Nghĩa (Danlambao) - Trước tiên tôi xin giới thiệu với các Bạn sự nhận định về ông HCM của ba nhà trí thức Việt Nam mà tuổi trẻ cần suy nghiệm và nghiên cứu:

1- Triết gia Trần Đức Thảo: Một nhà trí thức đã từ bỏ cuộc đời vàng son ở Pháp để trở về Việt Nam theo ông HCM để phục vụ đất nước, nhưng ông đã thất vọng vì ông HCM không phải là mẫu người để cho ông hợp tác.

Cụ Hồ là một tay chính trị nhiều thủ đoạn lắm chứ không phải là một tay hiền từ đâu! ... (NLTT-trang 82)

“Phải ghi nhận rằng lãnh tụ Hồ Chí Minh là một nhà chính trị ‘mưu thần chước quỉ’, chuyên hành động muôn hướng, muôn mặt, trí trá hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!” (TĐT Những lời trăng trối -trang 356)

2- Cựu Đại tá Bùi Tín: nguyên Tổng Biên Tập báo QĐND và báo ND, người từng có dịp tiếp xúc với ông Hồ Chí Minh nhận xét như sau:

“Về việc ca ngợi ông HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ nên biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng có sai lầm lớn là giả dối nhiều lắm. Một ví dụ đơn giản là ông ta tự viết ra quyển sách nói về tiểu sử của mình, ký tên Trần Dân Tiên… trong đó còn có ghi là HCM không có vợ con, suốt đời chỉ biết nghĩ đến dân tộc, thế nhưng thật ra, ông ta có nhiều vợ”. (RFA online ngày 19-5-2007)

3- Luật sư Nguyễn Văn Đài: một nhà tranh đấu trẻ, nguyên là người tù lương tâm của chế độ cộng sản trả lời phóng viên Đỗ Hiếu đài RFA:

“Lời nói lịch sử từ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến các lãnh đạo về sau, nhưng trên thực tế thì không phải như vậy, mà theo tôi, tất cả đều là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản thôi, tức là dối trá, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mang về Việt Nam, rồi những người thực hiện cũng lợi dụng đó mà cướp đất của dân, làm những điều gây bao nhiêu tình trạng lộn xộn ở đất nước này”. (RFA online ngày 16-2-2012)

Qua ba nhân vật nêu trên, chúng ta thấy được một phần nào về sự giả dối của xã hội Việt Nam ngày nay là do ông HCM du nhập từ chính sách lừa dối của chủ nghĩa Mác-Lê. Ngay chính ông HCM cũng là một con người có bản chất lừa dối cho nên ông tiếp thu chủ nghĩa lừa dối một cách hoàn hảo và thi hành nó một cách nhuần nhuyễn. Thế rồi từ sự nghiệp ông “trồng người” theo Hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục địa phận Sài Gòn trong bức thư gửi cho Linh mục Nguyễn Thái Hợp có đoạn viết:

"Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?” (ĐoiThoai online ngày 24-7-2007)

Giáo sư sử học Hà Văn Thịnh, trong lần trò chuyện với Mạc Việt Hồng báo mạng Đàn Chim Việt ngày 19-5-2010, nói về sự giả dối trong lịch sử Việt Nam thời cộng sản. Và cũng chính vì lịch sử giả dối cho nên khi đảng và nhà nước cộng sản bỏ tiền tỷ ra để dựng phim “Sống cùng lịch sử” chẳng có con ma nào coi, đành phải “tình cho không biếu không”.

“Tôi nói thật với chị, lịch sử Việt Nam hiện đại, chỉ có 30% sự thật70% giả dối. Đó là điều rất đau lòng. Ví dụ đánh nhau 30 năm, với Pháp và Mỹ mà không thua trận nào là không thể chấp nhận được…

Sự dối trá đó làm cho sinh viên không thích học sử nữa. Thấy sử là bịp bợm, chán quá! Tôi viết trên báo Lao Động năm 2005 “Lịch sử theo trang giấy học trò”, tôi vạch rõ, dậy sử mà suốt ngày phải nói dối, điều đó đau lòng lắm. Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều trí thức ở vào hoàn cảnh nan giải, giữa nói thật và không nói thật”. (ĐanChimViet online ngày 19-5-2010)

Môn sử của CSVN Việt Nam đã không dám dạy cho học sinh biết nỗi ô nhục của dân tộc Việt Nam một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ mà chỉ lợi dụng lòng yêu nước đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh “giải phóng” làm tay sai cho Nga-Tàu. Ngay cả đài truyền hình “Kỷ niệm 70 năm thành lập QĐND” cũng không dám đá động gì đến cuộc chiến tranh Biên giới Việt-Trung tháng 2 năm 1979 hay cuộc chiến giữ đảo Gạc Ma năm 1988 khiến cho giáo sư Tương Lai phải chạnh lòng.

“Chao ôi, nói một phần sự thật còn tệ hơn nói dối, sự lường gạt lịch sử là một tội ác. Làm sao mà đạo diễn tài ba Lại Văn Sâm lại có thể quên hẳn một cuộc chiến tranh: Cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược!...

Máu của các chiến sĩ ta thấm đẫm suốt dãi biên cương của Tổ Quốc, hàng chục nghìn dân thường bị quân xâm lược giết hại dã man”. (Boxitvn online ngày 22-12-2014)

Cố Trung tướng Trần Độ, người trọn đời theo đảng cộng sản nhưng vì nhận thấy đảng toàn là gian dối cho nên ông đã nói thẳng, nói thật và ông đã phải chịu thân bại danh liệt lúc cuối đời. Ông đã đem hết tâm huyết viết lại những điều trăn trở vào tập “Nhật ký Rồng-Rắn” để lại cho hậu thế.

Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò, bắt tất cả trẻ con phải đóng trò, bắt nhiều người già phải đóng trò.

Đặc điểm này đã góp phần quyết định vào việc tạo ra và hình thành một xã hội dối lừa, đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, đến gia đình cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hô lừa dối, hứa hẹn lừa dối…(NKRR-trang 42-43)

“…một hệ thống trường học hùng hậu để nhồi sọ chính trị, hàng nghìn báo cáo viên với những ‘lưỡi gỗ’, ‘nói lấy được’, để ngu hóa và mê hoặc nhân dân. Bộ máy này được trang bị hiện đại và đầy đủ, có quyền lực và tha hồ nói láo”.(NKRR-trang 80)

Qua sự trải nghiệm suốt thời gian “nằm trong chăn” của độc tài cộng sản, Triết giaTrần Đức Thảo đã nhận ra rằng “chăn có rận”, điều mà khi còn ở bên Pháp ông chưa bao giờ nghĩ tới.

“Một đời sống cảnh giác bệnh hoạn, đầy các biện pháp khủng bố, đe dọa tùy tiện, khiến không ai dám thành thật để lộ suy nghĩ của mình! Ai cũng phải đóng kịch: ‘nói và làm theo cách mạng!’ Từ đó thái độ giả dối, che giấu trở thành một phương thức tự vệ. Phải hết sức ngụy biện mới chứng minh được rằng thiên đường XHCN có thể xây dựng bằng phương pháp giả dối (NLTT- trang 137)

“Rõ ràng là chế độ ta đã tạo ra một lớp người ngu tín, vừa quá khích, vừa giả dối. Xấu nói tốt, gian nói ngay, làm thì láo, báo cáo thì hay. Khắp nơi cán bộ thì ươn hèn, ỉ lại vào tập thể, gian lận của công để mà sống no đủ trên đầu trên cổ nhân dân”. (TĐT NLTT-trang 315)

Nguyễn Lân Thắng một nhà tranh đấu tích cực cho Nhân quyền, trong một bức “Thư gửi bé Đậu” có đoạn mô tả sự băng hoại hằn sâu trong xã hội Việt Nam ngày nay và tuổi trẻ là lớp người phải gánh chịu qua tri thức bị nhồi sọ với sự hiểu biết hẹp hòi và nông cạn.

“Người ta đã phản bội tất cả những gì đã hứa với dân để vun vén cho quần thần, cho gia tộc họ. Tham nhũng tràn lan, đạo đức băng hoại, tài nguyên kiệt quệ, công nhân làm đĩ, nông dân ăn mày, trí thức hạ mình, tổ quốc lâm nguy, nợ nước ngoài đến đời con chắc chắn chưa trả được.

Tất cả những điều đó là hậu quả của sự nói dối. Người ta nói dối để có nhiều người ủng hộ cách mạng cướp chính quyền. Người ta nói dối để dân tộc lao vào đánh nhau như quân thù hòng phục vụ mưu đồ của nước lớn”. (DanLuan online ngày 29-7-2014)

Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy, người đã nêu lên thắc mắc “Vì sao dối trá”? Nhưng rồi cũng chính Bà đã tự trả lời một mình.

“…Cách mạng cộng sản luôn luôn là một sự tình cờ có tính lịch sử và một sự lừa dối vĩ dại…

…chính những người cộng sản đã nhìn ra rằng Chủ nghĩa cộng sản và sự dối trá là một; và để chúng ta thấy rằng dối trá là hiện tượng thuộc về bản chất của các xã hội cộng sản trên toàn thế giới. Sự dối trá ấy hoàn toàn không liên quan gì đến truyền thống dân tộc của chúng ta. Trái lại sự dối trá nhập khẩu này đang làm biến dạng tính cách dân tộc của chúng ta”. (Boxitvn online ngày 26-11-2014)

Do đâu mà ngày xưa dân tộc ta hiền hòa, chân chất mà ngày nay lại xảo trá gian manh? “Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng dân tộc

“Giáo sư Trần Kinh Nghị không khỏi lưu ý rằng: ‘Ở Việt Nam bệnh dối trá có những đặc thù riêng’. Những ‘đặc thù riêng’ ấy như thế nào? Tác giả giải thích:

Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua nhiều biến cố lịch sử với những phong trào thi đua và những đợt cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, nhân văn giai phẫm v.v… khiến xã hội bị xáo trộn, lòng người đảo điên. Những thời kỳ kinh tế khắc khổ khiến con người ta trở nên bon chen và thủ đoạn. Tất cả tạo nên lối sống và tư duy phức tạp, thường mang tính chất hai mặt,nói và làm không đi đôi với nhau”. (RFA online ngày 24-6-2012)

Hồ Bất Khuất, một người Pháp theo Việt cộng lấy tên theo họ “Hồ” là đủ biết ông ta đã từng ái mộ HCM như thế nào. Nhưng thời gian gần đây ông trở thành người “phản biện” có tiếng vì ông đã nhận ra “bộ mặt thật của CSVN”.

“Hiện nay đại bộ phận chúng ta không đói, không khát nhưng luôn luôn cảm thấy ngột ngạt, ấm ức, tức tối, vô vọng… Sở dĩ chúng ta có cảm giác này vì sự dối trá đang tràn lan trong cuộc sống.

Hầu như ngày nào chúng ta cũng ‘chạm trán’ với sự giả dối, nhưng chúng ta lại cố tình lờ đi vì đấu tranh với sự giả dối không dơn giản chút nào. Có những sự giả dối vô hại, thậm chí có chút lợi ích nho nhỏ, nhưng đại đa số giả dối có hại - cái hại đó lớn tới mức làm băng hoại đạo đức xã hội, suy tàn quốc gia”. (Boxitvn online ngày 4-3-2012)

Nhà văn Trần Mạnh Hảo, trả lời phóng viên Mặc Lâm nói lên hoàn cảnh của những người đã từng là đảng viên cộng sản…

“Ông Phó thủ tướng Trần Phương là một người cũng tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó thủ tướng nhưng các ông ấy ngồi lại để góp ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân chúng ta để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm.

Nhưng đảng cộng sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ, không biết sám hối. Đấy là một cán bộ cấp cao khi về hưu đã nói như thế…

Trong đám tang của Nguyễn Khải thì người ta mới biết bài viết của ảnh, được gửi cho những người trong đám tang và họ đưa lên mạng. Đau đớn như vậy, chết rồi mới dám nói ra sự thật, chết rồi mới dám sám hối. Đấy là một bi kịch đau đớn của người cầm bút”. (RFA online ngày 7-1-2012)

Sự dối trá của “xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ngày nay đã thành một hệ thống từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Sống trong chế độ CSVN không ai được quyền nói thật, dù kẻ đó là đảng viên cao cấp, là quan chức của cộng sản; chức tước càng cao thì nói dối càng nhiều.

Ông Hạ Đình Nguyên, người sinh viên “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” ngày nay mới biết và nói rõ:

“Đang làm quan mà nói thật, thì mất hết, thân có thể vào nhà lao, tinh thần có thể bị dày xéo, nhục mạ, đã và đang có bao nhiêu là điển hình! Vì thế mà không thể nói thật.

Nói dối cưỡng bức, lâu ngày thành nói dối hồn nhiên, bạo dạn, trơn tru…”(Boxitvn online ngày 27-9-2013)

Luật sư Lê Quốc Quân, nhà tranh đấu cho Nhân quyền đang ngồi tù vì đòi tự do dân chủ cho Việt Nam đã can đảm nói động đến gương nói dóc của bác cụ.

“Có lẽ họ thấy vô khối kẻ đang ăn cắp, ăn trộm hàng ngàn tiền tỷ của nhân dân vẫn lên TV nói về ‘đạo đức tư tưởng’ cho nên họ cũng ‘học tập và làm theo’ trộm cắp, gian dối để bớt lại chút tiền xăng, tiền phí đổ bãi để đưa về cho vợ con?... Tôi mà gặp nó chắc sẽ khuyên nó không nên học tập theo lời dạy của Hồ Chí Minh nữa mà phải ‘trực tiếp làm theo’ luôn đúng chính cuộc đời của ông Hồ - Đó là đi làm cách mạng! (DanLamBao online ngày 28-3-2012)

Cụ nhạc sĩ Tô Hải, tác giả bản nhạc “Sơn nữ ca” nổi tiếng từ thời Tiền chiến đã nằm trong guồng máy cộng sản phải “ăn gian nói dối theo đảng” đến khi tuổi hạt đã cao, cụ thấy không còn gì nữa để sợ nên cụ đã viết “Hồi ký của một thằng hèn” để tố cáo “Đảng cộng sản Việt Nam lấy gian dối làm phương châm” cho mọi chủ trương đường lối của chế độ.

“Nếu thấy cần, phải ‘bịa’ những ‘sự thật’ không hề có, mà điển hình là các vụ Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé…hoặc phóng đại những chiến thắng tưởng tượngbằng cách dấu nhẹm đi con số tử vong của ‘Ta’ để đổi lấy việc ‘chiếm đóng, san bằng một đồn, bốt và sau này một căn cứ, một thành phố, một chiến dịch chỉ có vài giờ, vài ngày rồi rút lui an toàn kiểu ‘Ba ngàn người xuống núi, họ trở về chỉ có 50…’ mà Chế Lan Viên lúc cuối đời đã viết trong bài thơ ‘Ai? Tôi!’…

Với phương châm: ‘Nói dối bắt dầu từ những điều lớn sau đó đến những điều nhỏ!’ hoặc ‘nói dối! nói dối nữa! Bao giờ cũng nói dối… Sẽ còn lại một cái gì đó! (DanLamBao online ngày 10-7-2011)

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, người cựu tù lương tâm vì tranh đấu cho Tự do Dân chủ cuối bài viết “Sự lừa dối tiếp diễn” đã khẳng định như sau:

“…căn bệnh ngụy biện, lừa mỵ, đạo đức giả vẫn luôn tồn tại và ngày càng tinh vi hơn, bởi một lẽ đơn giản: quyền lãnh đạo đất nước và quản trị quốc gia vẫn bị người cộng sản độc chiếm và như một vòng xoắn bệnh lý, sự dối lừa vẫn tiếp diễn.Sự dối lừa đã tiếp diễn suốt 61 năm qua. 61 năm dối lừa của chính quyền cộng sản Việt Nam tính tới ngày 2-9-2006”. (tudodanchu online ngày 1-9-2006)





Phía sau những kiến nghị


Phía sau những kiến nghị

Quyền công dân đích thực ở Việt Nam là gì ?



image





Download at 4shared
Preview by Yahoo


Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-12-24

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
12242014-behind-the-petitions.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
Tiếng nói người dân
Tiếng nói người dân
 RFA
Từ vài năm qua mỗi lần có sự việc quan trọng xảy ra người ta thấy xuất hiện những thư ngỏ, kiến nghị gửi cho nhà nước những đề nghị mà hàng ngàn người ký tên yêu cầu thực hiện. Những thư ngỏ, kiến nghị ấy chưa bao giờ được trả lời hay thực hành dù là một điều rất nhỏ. Câu hỏi đặt ra, tại sao không có kết quả nhưng hàng ngàn người vẫn tiếp tục ký những kiến nghị có vẻ vô vọng ấy?
Sau khi nhà văn Nguyễn Quang Lập tức Bọ Lập bị bắt vào ngày 6 tháng 12, bốn ngày sau một bức thư do nhà văn Nguyên Ngọc chủ xướng với hơn 600 chữ ký ban đầu gửi đến cho ba ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Đại Quang yêu cầu thả nhà văn vô điều kiện. Thư yêu cầu này có con số tăng hàng ngày cho tới hôm nay, trong ngày lễ Giáng Sinh năm 2014 con số người ký tên đã gần tới 1.500 người.

Phản ứng của dư luận
Lời lẽ trong thư yêu cầu cũng theo trình tự như những kiến nghị, thư ngỏ trước đây nghĩa là cũng chứng minh một cách thuyết phục rằng việc bắt nhà văn Nguyễn Quang Lập là vi phạm quyền tự do ngôn luận, là gây xúc động cho dư luận vì ông đang trọng bệnh, và tính chính đáng của việc bắt giữ là đáng nghi ngờ vì những dấu hiệu vi phạm luật pháp của việc bắt giữ rất rõ ràng.
Đạo diễn Trần Văn Thủy với tác phẩm nổi tiếng “Hà Nội trong mắt ai” lần đầu tiên đặt bút ký vào thư yêu cầu như thế cho biết cảm nghĩ của ông:
-Có lẽ tôi cũng chỉ một trong những người quan tâm và đã ký vào kiến nghị để yêu cầu trả tự do cho nhà văn Nguyễn Quang Lập. Tôi xin nói thêm một chút là trước giờ anh Lập là người được nhiều người quý mến và kính trọng trong đó có tôi bởi vì những gì anh ấy đã đóng góp cho xã hội qua quan điểm của anh ấy là con thuyền chở sự thật đến với mọi người thì tôi thấy rất đáng quý trọng.

Tôi có cái băn khoăn là khi chúng ta thả được Cù Huy Hà Vũ, rồi Điếu Cày và rồi chúng ta lại bắt thêm người khác thì tôi thấy nó cũng hòa cả làng. Người ta nhìn vào và thấy xã hội Việt Nam không thể có niềm hy vọng
Đạo diễn Trần Văn Thủy
Nói về chuyện chúng tôi tham gia ký vào kiến nghị thì trước tiên phải nói cái uy tín của nhà văn Nguyên Ngọc rất là lớn, ông là người khởi xướng việc này và rất nhiều người đã tham gia hưởng ứng và tôi thấy đây là việc nên làm. Có lẽ quyết định cuối cùng là phải có sự đổi mới hay xem xét như thế nào đấy ở những người có trách nhiệm, thẩm quyền bởi vì nó có rất nhiều lý do giống như trong bức thư mà GS Ngô Bảo Châu cùng với hai GS ở Mỹ đã đề nghị rằng không có lý do gì mà lại đi bắt những người đang ốm đau bệnh tật như thế. Có lẽ làm như vậy thì bộ mặt xã hội Việt Nam đối với bên ngoài nó không tốt đẹp.

Còn việc đúng sai, tốt xấu, hay dở thế nào thì nó phải dựa vào pháp luật. Nó phải dựa vào cái gì công khai minh bạch.

Tôi có cái băn khoăn là khi chúng ta thả được Cù Huy Hà Vũ, rồi Điếu Cày và rồi chúng ta lại bắt thêm người khác thì tôi thấy nó cũng hòa cả làng. Người ta nhìn vào và thấy xã hội Việt Nam không thể có niềm hy vọng.

Chữ ký dù của ai chăng nữa không phải là yếu tố mạnh nhất khiến nhà nước phải giải quyết nhưng những người ký tên tin rằng sự nhẫn nại kiên trì của mình rồi một lúc nào đó sẽ có kết quả vì kết quả của một kiến nghị không đến từ phía nhà nước mà đến từ sự phản ứng của dư luận. Chữ ký càng nhiều thì phản ứng càng lớn và phản ứng ấy tác động lên chính người nhận kiến nghị là một điều không thể tránh.

Không giống như nhân sĩ, trí thức, đa số người trẻ có hoạt động tranh đấu không ai tin rằng kiến nghị có thể làm thay đổi cục diện và kiến nghị mà không có hoạt động tiếp theo chỉ là một hành động tự an ủi mình. Bạn trẻ Lã Việt Dũng từ Hà Nội cho biết:

Chữ ký càng nhiều thì phản ứng càng lớn và phản ứng ấy tác động lên chính người nhận kiến nghị là một điều không thể tránh

-Thực ra bọn em không tin vì những việc ký như thế nó không tác dụng gì nữa cả mà em muốn rằng mọi người thay vì ký thì nên có hành động quyết liệt hơn. Thật ra nếu mà ký nằm trong một kế hoạch tổng thể thì OK chứ nếu mà ký chỉ để chỉ thỏa mãn cái tâm trạng của chính mình rằng tôi đã lên tiếng cho một việc nhỏ nhoi nào đó thì bọn em không đồng ý tức là bản thân của em em không ký và nghĩ rằng nên làm những việc khác to hơn.

Thực ra trước đây đã có rất nhiều lần ký rồi nhưng như bọn em mong chờ là người khởi xướng sau đó phải làm một cái gì với các chữ ký đó, phải làm gì đó…nhưng mà thực sự em không thấy có một hành động tiếp theo gì cả. Đối với cá nhân em thấy rằng việc ký đó như một cách tự an ủi chứ không phải là một hành động thật sự vì thế em không tham gia trong lần này.

Tác động của kiến nghị
Sẽ có người đặt câu hỏi: Nếu nói rằng không có tác động thì tại sao công an, dân phố mỗi lần có một kiến nghị xuất hiện lại tới từng nhà của người ký tên truy hỏi, vận động rút tên hay thậm chí là sách nhiễu hăm dọa? Những động thái này rõ ràng cho thấy nhà nước rất ngại dư luận vì chính kiến nghị là một tuyên ngôn gửi cho dư luận nhưng dùng chữ kiến nghị để ngụy trang mục đích của mình.

Ông Đào Tiến Thi một chuyên gia đang làm việc cho chính phủ khi được hỏi tại sao tất cả những  kiến nghị từ trước tới nay chưa bao giờ được phản hồi từ nhà nước nhưng ông vẫn kiến trì ký tên ông nói:

-Thực tế như anh nói là đúng, tức là chúng tôi ký không biết bao nhiêu kiến nghị rồi nhưng không bao giờ có một hồi âm gì mà nếu như có hồi âm thì nó sẽ có kiểu khác tức là người ta đi truy tìm để xem mình có phải là người ký không, tại sao ký? Có khi truy vấn ai thảo cái bức đó và một loạt sự răn đe khác. Ký là đã chấp nhận một sự phiền lụy có khi còn nguy hiểm nhưng chúng tôi vẫn ký.

Chúng tôi muốn nêu những điều đó cho tất cả dư luận chứ không riêng nhà cầm quyền bởi vì dư luận nhiều khi cũng không hiểu, người ta cứ thấy bắt là nghĩ rằng có tội gì đấy. Chúng tôi muốn thể hiện rằng những người ấy không có tội mà còn có công với đất nước
Ông Đào Tiến Thi

Thế còn như anh nói không bao giờ được phản hồi thì cái đó là đúng nhưng chúng tôi vẫn ký là vì những lý do như thế này. Thứ nhất, chúng tôi vẫn kiên trì cái tinh thần của mình là đấu tranh ôn hòa, nói lẽ phải và phân tích cho nhà cầm quyền những lẽ phải những điều ích nước lợi dân. Vẫn kiên trì tin rằng đến một lúc nào đó họ sẽ tỉnh ngộ. Thứ hai, chúng tôi muốn thể hiện cái chính nghĩa. Riêng trường hợp anh Nguyễn Quang Lập thì tôi thấy đã thể hiện cái tâm rất tốt của nhà văn và tất cả những gì mà nhà văn viết về tiêu cực, cái xấu của xã hội là mong đóng góp một cách chân thành đối với đất nước.

Cũng như kiến nghị của ba giáo sư người Việt ở Mỹ vừa rồi nêu cái ý thứ nhất là cái tâm rất tốt của nhà văn Nguyễn Quang Lập. Chúng tôi cũng khẳng định cái chính nghĩa, cai tinh thần đóng góp cho đất nước của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Chúng tôi muốn nêu những điều đó cho tất cả dư luận chứ không riêng nhà cầm quyền bởi vì dư luận nhiều khi cũng không hiểu, người ta cứ thấy bắt là nghĩ rằng có tội gì đấy. Chúng tôi muốn thể hiện rằng những người ấy không có tội mà còn có công với đất nước.
Kiến nghị tự bản thân là một sự xin phép nhã nhặn trước nhà cầm quyền tuy nhiên phía sau nó ẩn chứa sức mạnh của quần chúng. Từ xin phép đến yêu cầu là một chặng đường dài. Phải qua rất nhiều kiến nghị mới tới thư ngỏ. Từ thư ngỏ tới thư yêu cầu lại là một chặng khác cho thấy lòng dân ngày một tự tin hơn vào chữ ký của mình tuy không thay đổi ngay lập tức chính sách của nhà nước nhưng lay động được những người vốn chưa tin vào các bức thư như thế.

Nếu bản kiến nghị ngưng khai thác boxit vào tháng 10 năm 2010 được hàng ngàn tên tuổi trí thức khoa học gia ký tên nhưng không được nhà nước quan tâm thì khi kiến nghị thả TS Cù Huy Hà Vũ vào năm 2011 khiến không ít người ký kiến nghị lâm vào tai họa cho thấy mức độ lo lắng các kiến nghị lay động người dân ngày càng cao của nhà nước.

Kiến nghị tự bản thân là một sự xin phép nhã nhặn trước nhà cầm quyền tuy nhiên phía sau nó ẩn chứa sức mạnh của quần chúng
Cùng năm 2011 một kiến nghị khác yêu cầu bảo vệ và phát triển đất nước  rồi tới năm 2012 văn bản mang chữ ký của 71 trí thức gửi Quốc hội và lãnh đạo cũng gây chú ý cho dư luận trước những bế tắc, bất cập mà nhà nước bị bao vây.
Không ngừng ở đó, trong dịp sửa Hiến Pháp năm 2013, kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức đã như tiếng chuông cho thấy chính phủ không còn tự do tung hoành trên một phần đất linh thiêng mang tên hiến pháp mặc dù sau đó tiếng kêu của họ lại như những lần trước rơi vào im lặng.

Tuy biết không ai trong chính quyền sẽ lên tiếng trả lời nhưng ngày 28 tháng 7 năm 2014 bản kiến nghị mang chữ ký của 61 tướng lãnh cán bộ cao cấp được tiếp tục tung ra dư luận yêu cầu Đảng thay đổi cương lĩnh, từ bỏ theo đuổi đường lối chủ nghĩa xã hội và phải có biện pháp mạnh đối phó với Trung Quốc.

Thư yêu cầu thả Bọ Lập vào ngày 6 tháng 12 năm 2014 vì thế sẽ không phải là bức thư có hình thức kiến nghị, yêu cầu cuối cùng của người dân gửi cho nhà nước.

Nhìn vào nội dung từng sự việc người ta thấy có những yếu tố làm nảy sinh kiến nghị. Thứ nhất là sự dung dưỡng những sai trái của nhà nước trước việc khai thác tài nguyên quốc gia. Thứ hai là sự chủ quan và duy ý chí của một nhóm lãnh đạo cao cấp trước các vấn đề biển đảo. Thứ ba sự độc quyền cai trị đã dẫn đất nước tới một mô hình mất dân chủ không thể phát triển một cách bình thường. Và thứ tư là luật pháp bị diễn giải tùy tiện dẫn tới bất công khiến trí thức trở thành bù nhìn và dân oan xuất hiện trên mọi miền đất nước.

Những lý do cốt lõi ấy được bày trọn trong từng tờ kiến nghị với hàng ngàn chữ ký không thể là một việc làm nông nổi và vô vọng. Người ký tên đã bộc lộ quyền thực thi dân chủ của mình một cách ôn hòa và việc thực thi dân chủ ấy nếu tiếp tục nhân rộng sẽ là bài toán không lời giải cho bất cứ một chính quyền toàn trị nào.


Wednesday, December 24, 2014

Giết người quá dễ !!!

  
Giết người quá dễ !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 209 (15-12-2014)
          Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã lưu danh thơm trong lịch sử tư pháp Việt Nam nhờ bài “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” đọc tại Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30-10-1956. Trong bản văn lịch sử này, ông mạnh mẽ phê phán rằng cuộc CCRĐ đã được thực hiện với phương châm sắt máu "thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch"; phương châm ấy đi ngược với quy tắc cơ bản của pháp luật, trong trường hợp này là "thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan"! 

Ông còn cho biết nhiều quy tắc pháp lý khác đã bị cuộc CCRĐ vi phạm, chẳng hạn: “Muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng”; “Thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị can. Bị can có quyền nhờ luật sư bào chữa. Phải tôn trọng bị can trong quá trình truy tố và xét xử; khi bị can ra trước tòa không được xiềng xích và không được dùng nhục hình”. Bất hạnh thay, chính bài phát biểu này đã chấm dứt sự nghiệp của ông và khiến ông bị Hồ Chí Minh cùng đảng Cộng sản đày đọa bản thân lẫn gia đình cho đến chết.

                               
          Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (và những nạn nhân ông bênh vực) đã phải lãnh số phận bi đát như thế chẳng có gì lạ. Bởi lẽ vốn coi con người chỉ thuần túy là vật chất, chẳng có hồn thiêng, bất cần Thượng Đế; coi đời sống xã hội là một cuộc chiến sinh tồn, đấu tranh giai cấp, yếu thua mạnh được; coi chính quyền đẻ ra từ nòng súng, trường tồn nhờ dối trá, củng cố nhờ bạo lực, nên chế độ cộng sản là tay vô địch trong việc thảm sát và các lãnh tụ cộng sản (từ Lênin, Stalin đến Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh…) là những quán quân về việc giết người, đặc biệt giết chính đồng bào của chúng… Chúng giết người qua các cuộc chiến tranh chúng gây ra, các cuộc thanh trừng, các cuộc cải cách (như cải cách ruộng đất), cách mạng (như cách mạng văn hóa), chỉnh đốn (như chỉnh quân chỉnh đảng) và qua một hệ thống tư pháp rất khoái án tử hình (Nga cộng, Tàu Cộng, Hàn cộng và Việt cộng là tiêu biểu). Thói hiếu sát của các lãnh tụ ấy dĩ nhiên cũng truyền lại cho đồ đệ và đồng đảng. 

Điều đó đã khiến máu của dân Việt đổ ra dưới chế độ và triều đại CS nhiều hơn dưới bất cứ chế độ và triều đại nào của sử Việt. Nay dù trong thời bình, máu đó vẫn tiếp tục đổ ra nơi những người đi xe không đội mũ bảo hiểm bị cảnh sát quật cho vỡ sọ, nơi những người bị triệu đến đồn vì một cớ vu vơ nào đó để rồi bị công an tra tấn đến tử vong, nơi những người can đảm đi đòi công lý để rồi bị đánh cho thương tật trên đường hay bị hành hạ tới chết trong lao ngục, nơi những người tù không may bị vu cáo hay cưỡng bức nhận tội sát nhân để rồi phải lãnh án tử. Và đó là hai trường hợp đang gây công phẫn dư luận, hai “phạm nhân” trẻ có tên Nguyễn Văn Chưởng (sinh năm 1983) và Hồ Duy Hải (sinh năm 1985), vốn bị tòa sơ thẩm lẫn phúc thẩm kết án tử hình từ lâu và chờ bị tiêm thuốc độc cuối năm nay (NVC) và đầu năm tới (HDH), sau từng ấy năm bản thân họ kêu oan trong tức tưởi lẫn khắc khoải và gia đình họ đi đòi công lý trong đau khổ lẫn tuyệt vọng. Tưởng cũng nên nhắc lại chút ít hai án oan này

          Trước hết là vụ 1 thiếu tá công an ở Hải Phòng bị giết chết đêm 14-7-2007. Vụ án có 3 bị cáo gồm Vũ Đoàn Trung, ở Hải Phòng, nhận tội, 23 năm tù giam; Đỗ Văn Hoàng (bị Vũ Đoàn Trung tố cáo là đồng phạm), ở Hải Phòng, không nhận tội, tù chung thân; và Nguyễn Văn Chưởng, ở Hải Dương (bị Vũ Đoàn Trung tố cáo là chủ mưu), không nhận tội, tử hình! 

Có những bằng cớ cho thấy tháng 7 năm ấy, bị cáo Chưởng đang lao động ở Hải Phòng. Tuy nhiên, anh không có mặt tại đó vào thời điểm án mạng, vì thường về thăm nhà ở thôn 1, xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mỗi cuối tuần. Nhiều người thân lẫn người dân trong thôn đã làm chứng về sự có mặt của anh tại nhà đêm 14-7-2007, xa phạm trường tới 40km. Thế nhưng lời khai của các nhân chứng đã bị cơ quan điều tra hoặc xuyên tạc (như mẹ bị cáo) hoặc dùng tra tấn để buộc rút lại (như vợ bị cáo hoặc nhiều người dân trong thôn). Rốt cuộc, các chứng nhân ấy không được ghi lời khai trong cáo trạng cũng chẳng được triệu tập đến tòa trong ngày xử.
          Nhiều tình tiết cho thấy công an Hải Phòng (đứng đầu là Đỗ Hữu Ka, viên tướng khét tiếng từng dẫn quân tới bắn phá, cướp của và bắt bớ gia đình Đoàn Văn Vươn đầu năm 2013 tại Tiên Lãng) đã áp đặt tội cho Nguyễn Văn Chưởng ngay từ khi cuộc điều tra khởi sự. 

Đó là bắt giam em trai của Chưởng chính khi anh này đem nộp đơn của mẹ kêu oan cho con, sau đó tặng anh 2 năm tù vì “che giấu tội phạm”! Đó là tra tấn bị cáo Chưởng và nhiều chứng nhân hết sức dã man (xem thư Chưởng gởi gia đình ngày 07-04-2009) để hủy bằng cớ anh ngoại phạm. Đó là trong hồ sơ vụ án, giấy tờ giám định thương tích của Chưởng, lời khai của nhiều nhân chứng vắng bóng; chữ ký của em trai Chưởng bị giả mạo; lời khai của bị cáo Vũ Toàn Trung rất mâu thuẫn; yêu cầu của Chưởng xin được khôi phục các cuộc điện thoại của mình từ nhà tối ngày 14 và sáng ngày 15-07-2007 cũng bị lờ hẳn. 

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn gây khó khăn và chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa (hơn 3 tháng so với qui định là 3 ngày) khiến nhiều cuộc thẩm vấn và nhiều biên bản không có luật sư tham dự (hay nếu có thì công an chẳng giới thiệu là luật sư). Đến ngày xét xử, tòa án không triệu tập nhân chứng nào cũng chẳng cho các bị cáo đối chất nhau. Chưởng kêu bị tra tấn thì Hội đồng xét xử bác bỏ vì cho rằng không có trong biên bản.
         

 Nhận thấy vụ án bất công, gia đình thuê các luật sư bào chữa thì được họ trả lời rằng VN không có luật pháp mà chỉ có luật rừng của đám cầm quyền nên không thể cãi nổi. Gửi hàng ngàn đơn thư, thậm chí huyết thư đến Chủ tịch nước cũng vô vọng (x. RFA 3-12-2014). Hiện cả gia đình không làm đơn xin ân xá mà chỉ một mực kêu vô tội. Quá đỗi oan ức, bà mẹ còn cho biết sẽ nổ bom nếu Chưởng bị đem hành hình!

          Thứ hai là vụ 2 nữ nhân viên bưu điện bị hãm hiếp, giết chết đoạn cướp của ngày 14-01-2008 ở bưu cục Cầu Voi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An mà chẳng một ai chứng kiến. Khoảng 3 tháng sau, cơ quan công an điều tra bắt sinh viên Hồ Duy Hải, rồi cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên án tử cho anh về các tội “giết người”, “cướp tài sản”.




          Tuy trong các bản khai, HDH có nhận tội, nhưng trước hai tòa và khi gặp thân nhân, anh đều cho biết đó là do đã bị tra tấn dã man quá thể. Trong phiên sơ thẩm ngày 28-11-2008, luật sư bào chữa Nguyễn Văn Đạt

đã đưa ra đến 41 điểm sai phạm trong quá trình tố tụng và điều tra xét hỏi, như không vật chứng (dấu vân tay tại phạm trường chẳng phải của bị cáo, hung khí giết chết 2 nạn nhân là đồ đi mua ở chợ về sau…), cũng không nhân chứng xác nhận bị cáo có mặt tại phạm trường.

 Trong đơn đề nghị giám đốc thẩm (11-01-2012), luật sư Trần Hồng Phong cũng chỉ ra vô số điểm bậy bạ của hồ sơ (đặc biệt lời khai của nhiều nhân chứng đã bị sửa chữa không có chữ ký xác nhận của họ) để rồi nhận định: việc xét xử phiến diện, làm sai lệch hồ sơ, bất chấp kết quả giám định khoa học, bỏ qua tình tiết ngoại phạm của bị cáo, không phù hợp với thực tế khách quan vụ án, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng… Ngoài ra, nhiều tờ báo còn cho thấy hung thủ có thể là một kẻ khác và đã được cơ quan điều tra lấy lời khai ngay khi vụ việc mới phát hiện. 

Thế nhưng các tình tiết ấy đã không nằm trong hồ sơ. Đó là chưa kể có mật lệnh cấm báo chí viết về vụ HDH !?!

          Sau khi có bản án, bị cáo và gia đình không viết đơn xin ân xá mà chỉ liên tục kêu oan vô tội. Sáu năm qua, họ đã gửi đơn khắp nơi đề nghị giám đốc thẩm, nhưng chỉ được trả lời “đã đúng người đúng tội” hay “hết thẩm quyền xử lý vụ án”. Bà mẹ còn tìm đến Quốc hội, nhà riêng của các lãnh đạo cao cấp để kêu cứu nhưng vô vọng hoàn toàn.
          Người ta tự hỏi tại sao nền tư pháp VN giết người dễ như thế và các cơ quan tư pháp đồng lòng với nhau dễ như vậy? Đó là vì tại VN chỉ có tam quyền phân công chứ không phân lập, tư pháp hoàn toàn nằm dưới sự chi phối của CS, có nhiệm vụ bảo đảm quyền lực của đảng chứ không bảo toàn công lý và bảo vệ nhân quyền, nên nhiều vụ án oan khốc đã xảy ra, xổ toẹt luật pháp, thách thức công luận, với những bức cung nhục hình, cáo trạng dối chứng cứ giả, âm mưu cá nhân và ý đồ tập thể... 

Ở hai vụ án trên, các nạn nhân bị kết tội chủ yếu chỉ bằng "lời khai" đẻ ra từ đấm đá roi đòn, không cần vật chứng, lý chứng, nhân chứng thuyết phục. Điều này dễ hiểu khi mà cơ quan điều tra luôn được quyền hành động bí mật, loại bỏ vai trò luật sư trong tiến trình thẩm vấn.







          Việc công an nhất quyết cho bị cáo là thủ phạm dẫu hai bên chẳng có tư thù, điều ấy có thể lý giải bằng hai cách. Một là bị áp lực đạt chỉ tiêu phá án để bảo vệ thành tích của đơn vị, công an đã bắt đại một người nào đó để kết tội hay kết tội đại một người nào đó đã bắt. NVC và HDH không may trở nên vật tế thần. Hai là công an biết rõ thủ phạm, nhưng tên này lại có quyền hoặc có tiền và đã biết dùng lợi thế đó để khuynh đảo công lý. Đề nghị kết án tử nạn nhân nếu thành công thì vừa cứu kẻ được che chở vừa tránh hậu họa bị lỗi gây án sai (như vụ "tù oan Nguyễn Thanh Chấn"). 

Rồi khi hồ sơ điều tra chuyển lên viện kiểm sát, viện này hoặc miễn tố bị cáo vì không đủ chứng cớ, hoặc giúp công an bảo vệ thành tích phá án bằng cách khởi tố họ. Nên nhớ kiểm sát và công an là hai cơ quan cùng thuộc hệ thống tư pháp, dưới quyền chỉ đạo của cùng một đảng, nghĩa là có quan hệ "người nhà". Nên kiểm sát giúp công an bảo vệ thành tích là điều dễ hiểu. 

Khi hồ sơ được viện kiểm sát chuyển sang tòa án để xét xử, quan hệ "người nhà" giữa cả ba lại được vận dụng. Tòa án cũng hoặc xét không đủ yếu tố buộc tội nên yêu cầu công an điều tra lại, hoặc kết án theo hồ sơ gởi tới. Thực tế, kết quả tái điều tra thường không thay đổi, nên tòa án hay dựa trên hồ sơ công an để luận tội. Rồi cũng do sợ hậu quả bị khuyết điểm xử sai, mất thành tích công tác, tòa án sẽ đồng lõa với công an và kiểm sát kết án tử hình cho xong chuyện, chưa kể còn hưởng mối lợi từ thủ phạm thật đang có quyền hoặc có tiền.

          Đấy là sự khốn nạn của tư pháp VN và cũng là sự khốn nạn cho dân tộc VN bao lâu còn có đảng Cộng sản độc tài toàn trị. Chế độ này (khắp thế giới) từng xây dựng ngai vàng trên cả trăm triệu bộ xương, nên sẽ tiếp tục thản nhiên chà đạp sinh mạng con người để tồn tại.
          BAN BIÊN TẬP


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

'Khen' Nguyễn Tấn Dũng: Thủ đoạn mới của 'cụ cố' Lê Đức Anh


'Khen' Nguyễn Tấn Dũng: Thủ đoạn mới của 'cụ cố' Lê Đức Anh

















Hoàng Trần (Danlambao) - Cựu chủ tịch nước Lê Đức Anh vừa tiếp tục công khai thể hiện sự ủng hộ quyền lực đối với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước thềm hội nghị trung ương 10 chia chác nhân sự sắp diễn ra.

Trong cuộc nói chuyện được đăng trên báo Tri Thức Trẻ (Soha.VN), đại tướng Lê Đức Anh đã nêu lên vấn đề chủ quyền lãnh thổ, qua đó dành sự tâng bốc hết lời cho thủ tướng đương nhiệm.

Theo ông Anh, tại các hội nghị quốc tế, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã 'có thái độ rõ ràng, đúng đắn và rất đáng quý' trong vấn đề chủ quyền tại Biển Đông. 

“Đại tướng khẳng định những phát biểu này hợp lòng dân, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế”, báo Tri Thức Trẻ trích lời cựu chủ tịch nước Lê Đức Anh nói.

Cũng cần nói thêm, báo điện tử Tri Thức Trẻ (Soha.VN) thuộc sở hữu của Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VC Corp), được đầu tư bởi quỹ IDG Ventures do ông Nguyễn Bảo Hoàng, con rể thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm chủ.

Quyền lực 'cụ cố'

Hội nghị TW 10 tối quan trọng của đảng CSVN sắp diễn ra vào năm tới nhằm chuẩn bị nhân sự cho đại hội lần thứ 12. Dự kiến đây sẽ là cuộc chạy đua quyền lực khốc liệt giữa các đối thủ chính trị. 

Ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm thủ tướng hai nhiệm kỳ, nếu muốn được giữ lại bộ chính trị thì chỉ có con đường lên chứ không thể xuống. Hoặc là lên làm tổng bí thư hay chủ tịch nước; hoặc phải nghỉ hưu.

Do đó, động thái trên của đại tướng Lê Đức Anh cũng là dấu hiệu cho thấy sự công khai củng cố quyền lực cho vị thủ tướng sắp mãn nhiệm Nguyễn Tấn Dũng.

Một lần nữa, ảnh hưởng của Lê Đức Anh đã gợi lại vai trò của của các 'ông cố vấn', một định chế từng tồn tại trong đảng CSVN với quyền lực gần như tuyệt đối.

Sau khi về hưu năm 1997, Lê Đức Anh tiếp tục giữ chức danh cố vấn ban chấp hành trung ương đảng CSVN, nắm toàn quyền quyết định nhân sự cho vị trí tổng bí thư và các chức vụ chóp bu trong bộ chính trị. Vai trò tương tự như chức thái thượng hoàng dưới thời phong kiến.

Năm 2001, cả ba 'cụ cố' Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt đã dùng quyền lực để lật tổng bí thư đương nhiệm Lê Khả Phiêu vì dám đòi loại bỏ định chế 'cố vấn' trong đảng. Ông Lê Khả Phiêu sau đó buộc phải chấp nhận về hưu, chức danh cố vấn ban chấp hành trung ương đảng cũng không được nhắc tới từ đó.

Chiêu bài 'Thoát Trung, phò Dũng'

Năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng được đưa lên làm thủ tướng với hình ảnh một 'nhà cải cách' nhờ vào vai trò đắc lực của ôngLê Đức Anh. Ngược lại, con trai ông Anh là Lê Mạnh Hà sau đó cũng được lên giữ chức phó chủ tịch UBND TP. HCM.

Sau hai nhiệm kỳ làm thủ tướng, 'nhà cải cách' Nguyễn Tấn Dũng đã bộc lộ rõ sự bất tài trong việc điều hành kinh tế đất nước. Nguyễn Tấn Dũng gắn liền với hình ảnh của một thủ tướng tham nhũng số 1 tại Việt Nam. Có thể nói, hiếm có một vị thủ tướng nào bị nhân dân căm ghét nhiều như Nguyễn Tấn Dũng.

Để tiếp tục củng cố quyền lực, phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng buộc phải nặn ra một hình ảnh mới. Ban đầu, chiêu bài 'dân chủ' được dựng lên, nhưng đã nhanh chóng nhận thất bại thê thảm bởi cách hành xử thô bạo của Nguyễn Tấn Dũng đối với giới hoạt động nhân quyền tại Việt Nam.

Sau đó, trước việc Trung Cộng gia tăng xâm lấn tại Biển Đông, những tuyên bố hết sức tầm thường của Nguyễn Tấn Dũng bỗng chốc đưa ông ta lên thành 'lá cờ đầu' chống Trung Cộng.

Lá bài 'thoát Trung, phò Dũng' nhanh chóng được một số vị tự nhận 'trí thức' phò đảng biến thành những cuộc vận động sôi nổi, xem đây là một giải pháp tối ưu trong cơn tuyệt vọng.

Điều này trùng khớp với những tuyên bố mị dân xuất hiện nhiều một cách bất thường của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Trung Cộng.

Thậm chí, ngay cả những tuyên bố hoàn toàn vô nghĩa của 'lá cờ đầu' Nguyễn Tấn Dũng, khi được qua tay Lê Đức Anh bỗng chốc biến thành 'những phát biểu hợp lòng dân'.

Thủ đoạn mị dân lão luyện của những tay cáo già cộng sản ngày càng trở nên tinh vi và khó nhận biết.

Thông điệp của kẻ bán nước

Như đã nói ở trên, thế lực đã tạo dựng quyền lực cho Nguyễn Tấn Dũng - 'lá cờ đầu' chống Trung Cộng lại chính là những kẻ bán nước cho Trung Cộng.

Lê Đức Anh và Đỗ Mười là hai lãnh đạo cộng sản đang còn sống và phải chịu trách nhiệm chính về những thỏa ước đã lén lút ký với Trung Cộng tại Mật nghị Thành Đô năm 1990.

Năm 1988, Lê Đức Anh trong vai trò là bộ trưởng bộ quốc phòng đã hạ lệnh cho hải quân Việt Nam không được nổ súng trong trường hợp Trung Cộng đánh chiếm Gạc Ma. Hay bất cứ quần đảo nào tại Trường Sa.

Hậu quả là ngày 14/3/1988, quân Trung Cộng dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma và ra tay thảm sát 64 người lính hải quân Việt Nam chỉ sau một trận chiến ngắn.

Sau trận Hải chiến Trường Sa năm 1988, Lê Đức Anh đã trực tiếp ‘đi đêm’ với Trung Cộng, dẫn tới kết quả là Hội Nghị Thành Đô diễn ra vào năm 1990. Ít lâu sau, Lê Đức Anh được lên làm chủ tịch nước.

Vậy mà, trong cuộc phỏng vấn với báo Tri Thức Trẻ, Lê Đức Anh vẫn còn trơ trẽn tuyên bố: “Hoàng Sa và Trường Sa mãi mãi là của Việt Nam. Trong lần gặp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc trước đây - ông Giang Trạch Dân, tôi cũng đã công khai khẳng định điều này”.

Trước vong linh của 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam, rõ ràng Lê Đức Anh vẫn còn tiếp tục biện minh cho hành vi tiếp tay Trung Cộng cướp đảo, thảm sát lính Việt Nam. Dù ai cũng rõ chính ông ta là thủ phạm bán nước.

Quyền lực mà Lê Đức Anh có được chính là nhờ vào hành vi bán nước cho Trung Cộng. Do đó, nguồn gốc quyền lực của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được tạo dựng bởi bàn tay những kẻ bán nước.

Tương tự, nguồn gốc quyền lực phe thần phục Tàu trong đảng CSVN cũng được tạo dựng bởi bàn tay của Trung Cộng – những kẻ cướp nước.

Không bao giờ có sự lựa chọn giữa phe bán nước hay phe cướp nước. Phe nào thắng thì nhân dân đều bại, họa mất nước vẫn còn trực chờ trước mắt. 

Trò chơi phe phái với những thù đoạn chính trị nham hiểm sẽ không bao giờ có chỗ đứng cho nhân dân. Chúng ta cũng không thể đứng nhìn bọn chúng đấu đá, mặc cả dựa trên quyền lợi dân tộc. Chúng ta chỉ có một lựa chọn duy nhất, đó là tham gia vào cuộc đấu tranh lật đổ chế độ cộng sản độc tài toàn trị, thiết lập một chế độ tự do dân chủ tại Việt Nam.




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link