Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, January 8, 2015

Bệnh nhân Nguyễn Bá Thanh gây sốt chính trường Việt Nam


Đăng ngày 07-01-2015

Bệnh nhân Nguyễn Bá Thanh gây sốt chính trường Việt Nam

mediaÔng Nguyển Bá Thanh ( hình internet )DR

Trong lịch sử của Việt Nam dưới thời Cộng sản, có lẽ chưa có nhân vật lãnh đạo nào mà bệnh tình lại làm hao tốn nhiều giấy mực như ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Trong những ngày qua, nhất là khi có những tin đồn về việc ông Nguyễn Bá Thanh, cựu bí thư thành uỷ, cựu chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Đà Nẳng, đưa đưa từ Mỹ trở về thành phố này, người dân địa phương và phóng viên từ các nơi đã đổ xô đến sân bay Đà Nẳng để ngóng chờ chiếc chuyên cơ chở ông Thanh về.

Sau khi được thông báo là ông sẽ về đến Đà Nẳng ngày 02/01/2015, rồi ngày 06/01, hôm nay tin mới nhất là cho biết là do thời tiết xấu nên chiếc chuyên cơ chở ông Nguyễn Bá Thanh ngày mai mới cất cánh từ sân bay ở Washington và sẽ về đến Đà Nẳng vào ngày 09/01.

Nhưng điều đáng nói là lịch trình chi tiết của chuyến bay, cũng như rất nhiều thông tin liên quan đến ông Nguyễn Bá Thanh lại xuất phát từ một trang blog chẳng hiểu là từ đâu ra, mang tên « Chân dung quyền lực », chứ không phải từ báo chí chính thức. Thật ra, trên các báo Nhà nước trong những ngày qua cũng có khá nhiều bài viết, bài phỏng vấn về ông Nguyễn Bá Thanh, nhưng càng đọc càng rối mù, vì chẳng ai hiểu rõ tình trạng sức khỏe của cựu lãnh đạo thành phố Đà Nẳng hiện nay ra sao.

Mãi đến hôm nay, 07/01/2014, Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Trung ương mới tổ chức cái gọi là « trao đổi thông tin đầy đủ, khách quan » với báo chí ( chứ họ không gọi là họp báo) về tình hình sức khỏe ông Ngưyễn Bá Thanh. Phó trưởng ban Trần Huy Dụng cho biết cựu lãnh đạo Đà Nẳng Bá Thanh bị bệnh từ tháng 5/2014, được đưa vào bệnh viện 108 để điều trị rối loạn sinh tủy, sau đó được đưa sang Singapore điều trị, nhưng từ trung tuần tháng 8 được đưa sang Mỹ để điều trị.

Cũng theo lời ông Trần Huy Dụng, từ đó đến nay, các bác sĩ tại Mỹ đã điều trị hóa chất 3 đợt cho ông Bá Thanh để chuẩn bị ghép tủy, nhưng đến nay chưa đủ điều trị để ghép tủy nên không điều trị hóa chất nữa mà « tăng cường sức khỏe » ở Việt Nam. Phó trưởng Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Trung ương cũng bác bỏ thông tin ông Bá Thanh bị đầu độc, cho rằng đây là thông tin “sai lệch”.

Nhưng buổi « trao đổi thông tin đầy đủ, khách quan » với báo chí nói trên vẫn chưa giải tỏa được những câu hỏi liên quan đến ông Nguyễn Bá Thanh.

Theo lời một nhà báo ở Việt Nam, việc nhiều người dân ở Đà Nẳng thật sự lo lắng cho tình trạng sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh là điều dễ hiểu, bởi vì trong thời gian làm chủ tịch và bí thư thành uỷ, ông Bá Thanh được xem là đã có nhiều công sức làm thay đổi hẳn bộ mặt Đà Nẳng. Nếu ông Nguyễn Bá Thanh cũng giống như những lãnh đạo khác thì có lẽ người dân đã không bộc lộ tình cảm như vậy, nếu không muốn nói là họ sẽ hoàn toàn thờ ơ.

Nhưng nếu ông Nguyễn Bá Thanh chỉ là một lãnh đạo được người địa phương tin yêu, thì tại sao thông tin về tình trạng sức khỏe của ông lại « nhạy cảm » đến thế ? Trong cương vị Trưởng ban Nội chính Trung ương, ông Nguyễn Bá Thanh đóng vai trò chính trong việc chống tham nhũng trong Đảng, mà ai cũng biết rằng chống tham nhũng chính là cái võ bọc cho nhiều đấu đá nội bộ.

Thông tin ông Nguyễn Bá Thanh được đưa ra vào lúc Đảng Cộng sản Việt Nam đang họp ban chấp hành trung ương và lần này đấu đá chắc là sẽ thêm gay gắt với việc lần đầu tiên các ủy viên Ban chấp hành trung ương sẽ « lấy phiếu tín nhiệm » đối với các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tức là những chức danh lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 Theo tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, việc này rất « hệ trọng và nhạy cảm », vì nó « liên quan đến uy tín và sự lãnh đạo chung của Đảng ». Ông Trọng cũng cảnh báo là không nên để các « thế lực thù địch » lợi dụng việc lấy phiếu tín nhiệm này để « chống phá ».

Nhưng cái gọi là « thế lực thù địch » có vẻ như xuất phát từ chính nội bộ Đảng, chứ không phải là từ bên ngoài, cũng giống như trong vụ Nguyễn Bá Thanh, dường như có ai đó cố tuồng thông tin ra bên ngoài, trong khi chính quyền thì cố gắng ngăn chận thông tin về nhân vật này.

‘Không nên làm nóng vấn đề' ông Bá Thanh

  • 7 tháng 1 2015
http://ichef.bbci.co.uk/news/ws/660/amz/worldservice/live/assets/images/2015/01/07/150107110452_nguyen_ba_thanh_640x360_nguyenbathanh_nocredit.jpg
Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương nói hoàn toàn không có chuyện ông Bá Thanh bị đầu độc và cảnh báo giới báo chí VN về thông tin “giật gân câu khách”.


Bình luận được Phó Ban Tuyên giáo Trung Ương Nguyễn Thế Kỷ đưa ra trong cuộc “tiếp xúc” với truyền thông trong nước với sự tham gia của lãnh đạo Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Trung ương.
Phản hồi lại câu hỏi của phóng viên báo Tuổi Trẻ rằng căn cứ nào để Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương khẳng định ông Bá Thanh không bị đầu độc, ông Kỷ nói “ Vậy căn cứ nào nói bị đầu độc?

“Trên mạng có nhiều thông tin xấu độc, chia rẽ nội bộ, tung tin. Phải sàng lọc thông tin, không thể nghe bất kỳ thông tin nào trên mạng. Hoàn toàn không có chuyện đó.

“Báo chí không được biến đây thành thông tin bất thường, giật gân câu khách. Mạng xã hội đưa thông tin xấu là ông Thanh bị đầu đọc bằng phóng xạ, đấu đá tranh giành quyền lực… phải phản bác để định hướng dư luận.


“Đội ngũ bác sĩ trong nước làm mọi cách để cứu chữa ông. Cần bình tĩnh, tỉnh táo, khoa học, khách quan chính xác. Không nên làm nóng vấn đề…”

Trưởng Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương Nguyễn Quốc Triệu, chủ tọa cuộc “tiếp xúc với báo giới” tại Hà Nội vào chiều ngày 07/01, nói lưu ý báo giới rằng “luật Khám chữa bệnh quy định bệnh viện có quyền giữ bí mật bệnh tật. Do đó việc tiếp cận hồ sơ bệnh của ông Bá Thanh sẽ được cân nhắc, xin ý kiến cấp trên.”
“Từ tháng Tám đến giờ tôi chưa gặp ông Thanh, bệnh án không được nhìn. Đại sứ Nguyễn Quốc Cường (Đại sứ tại Mỹ) lúc đó đến đúng lúc điều trị vô trùng cũng không được vào thăm”, ông Triệu nói thêm.

Trả lời các nhà báo, bác sỹ Phạm Gia Khải một thành viên của Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương được dẫn lời nói rằng “Làm khoa học phải có chứng cứ, không thể dựa vào quan hệ cá nhân. Chúng tôi không gạt mọi khả năng, nhưng chọn khả năng có nhiều bằng chứng nhất. Đến nay chưa có triệu chứng nhiễm độc ở bất cứ nơi nào trong cơ thể ông Thanh.
Trong khi đó phó giáo sư Nguyễn Quốc Khánh nói "Phải có hồ sơ từ Mỹ mới có thể đưa ra phác đồ điều trị cho ông Thanh."
'Chưa nắm hồ sơ bệnh án'

Dư luận trong những ngày qua quan tâm nhiều tới thông tin về sức khỏe và kế hoạch đưa ông Bá Thanh về nước sau thời gian chữa bệnh tại Hoa Kỳ.


Ông Phạm Chí Dũng, một nhà báo tự do, viết trên Facebook cá nhân rằng “Mâu thuẫn lớn lao đã xảy ra khi lãnh đạo Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương khẳng định thông tin ông Nguyễn Bá Thanh bị đầu độc là thông tin sai lệch, nhưng Phó Giáo sư Nguyễn Quốc Khánh lại cho biết "Để biết được tình trạng của ông Thanh thế nào phải chờ hồ sơ từ bên Mỹ”.

“Nếu chưa nắm được hồ sơ bệnh án, làm sao Ban BVCSSK TƯ có thể khẳng định tin ông Nguyễn Bá Thanh bị đầu độc là "xuyên tạc"? Đáng lý ra, lãnh đạo ban này cần những cơ sở xác đáng hơn nhiều trước khi khẳng định một vụ việc nghiêm trọng liên quan đến cán bộ cao cấp như ông Thanh,” ông Dũng viết.

Phó trưởng Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương Trần Huy Dụng trước đó cung cấp cho báo chí những thông tin căn bản liên quan sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh.

“Ông Bá Thanh bị bệnh từ tháng 5/2014, được đưa vào bệnh viện 108 để điều trị rối loạn sinh tủy. Sau đó, ông được đưa sang Singapore điều trị vào tháng 6-7, mỗi tháng 1 tuần rồi về nước. Sau đó, theo giới thiệu tư vấn của Singapore, ông Bá Thanh được đưa sang Mỹ để điều trị, bắt đầu từ trung tuần tháng 8.

“Từ đó đến nay, các bác sĩ tại Mỹ đã điều trị hóa chất 3 đợt cho ông Bá Thanh để chuẩn bị ghép tủy. Nhưng đến nay chưa đủ điều trị để ghép tủy nên thống nhất không điều trị hóa chất nữa mà tăng cường sức khỏe ở Việt Nam.

Giới lãnh đạo Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương cũng xác nhận rằng họ đã liên hệ với bộ phận đưa ông Thanh về nước và được cho biết chưa có lịch lên đường vì thời tiết bên Mỹ chưa tốt.
Họ cũng nói thêm rằng gia đình ông Thanh đề nghị được đưa về Đà Nẵng điều trị.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Diễn biến vụ thảm sát ở tòa soạn Charlie Hebdo


Đăng ngày 07-01-2015

Nổ súng tại tòa soạn báo Charlie Hebdo ở Paris, 12 người chết

media
Một cảnh tòa soạn Charlie Hebdo, sau vụ nổ súng ngày 7/01/ 2015.AFP PHOTO / PHILIPPE DUPEYRAT
Hai người vũ trang tấn công tòa soạn tuần báo Charlie Hebdo, một tờ báo trào phúng, ở Paris, khiến ít nhất 12 người chết, trước khi tẩu thoát. Cảnh sát đang ráo riết truy lùng thủ phạm.

Vào khoảng 11h30, giờ Paris hôm nay, 07/01/2015, hai người mang súng kalachnikov và súng phóng rocket đã xông vào tòa soạn tuần báo Charlie Hebdo ở quận 11 Paris và nổ súng, trước khi tẩu thoát. Tổng cộng đã có ít nhất 12 người thiệt mạng, trong đó có 2 cảnh sát, theo thống kê sơ bộ. Ngoài ra còn có 4 người bị thương.Trong số các nạn nhân, có bốn họa sĩ vẻ tranh châm biếm nổi tiếng của tờ Charlie Hebdo.
Khi tẩu thoát, hai hung thủ đã cướp một xe hơi và đụng một người đi bộ. Cảnh sát đang ráo riết truy lùng hai kẻ này. Theo lời các nhân chứng mà nguồn tin từ cảnh sát thuật lại, trước khi tẩu thoát, hai hung thủ đã hô to : « Chúng tôi đã trả thù cho đấng tiên tri ».
Tại hiện trường vụ tấn công, Tổng thống François Hollande đã lên án một hành động « cực kỳ man rợ » và khẳng định đây chính là một vụ « tấn công khủng bố ».
Văn phòng Thủ tướng Manuel Valls thông báo nâng cấp độ báo động ở vùng Paris lên mức tối đa. Các cơ quan báo chí, các cửa hàng lớn, các phương tiện giao thông được tăng cường bảo vệ an ninh.
Đây lần đầu tiên xảy ra một vụ tấn công đẫm máu như thế vào tòa soạn một tờ báo ở Pháp và là vụ tấn công đẫm máu nhất tại Pháp từ ít nhất 40 năm qua.
Charlie Hebdo đã nhiều lần bị đe dọa kể từ khi tuần báo trào phúng này đăng các bức biếm hoạ vẽ Mohhamed, vào năm 2006. Vào tháng 11/2011, tòa soạn của Charlie Hebdo đã bị đốt cháy, một hành động mà chính phủ thời đó gọi là khủng bố.
Vào năm 2013, một thanh niên đã bị kết án tù treo vì đã kêu gọi trên internet chặt đầu chủ nhiệm tờ Charlie Hebdo sau khi tờ báo này đăng các bức biếm họa Mohammed.


Diễn biến vụ thảm sát ở tòa soạn Charlie Hebdo

media

Một nạn nhân được đưa ra khỏi tòa soạn Charlie Hebdo, 07/01/2015.REUTERS/Jacky Naegelen

Thảm sát bằng kalachnikov ngay trong cuộc họp tòa soạn, sát hại một cảnh sát giữa trung tâm Paris, cướp xe…Đó là diễn tiến của vụ tấn công vào tuần báo trào phúng Charlie Hebdo hôm nay 07/01/2015.

Vào khoảng 11 giờ 20, hai người đàn ông mặc đồ đen, nón trùm đầu, mỗi người trang bị một khẩu kalachnikov xuất hiện trước ngôi nhà số 6 đường Nicolas-Appert, quận 11 Paris. Họ gào lên: « Có phải Charlie Hebdo là ở đây không ? » Thấy rằng nhầm địa chỉ, hai kẻ này quay sang nhà số 10 cùng đường – trụ sở của tuần báo Charlie Hebdo.

Khi vào được trong tòa nhà, các hung thủ xả súng vào bộ phận thường trực và leo lên tầng hai, nơi ban biên tập đang họp. Một nguồn tin cảnh sát cho AFP biết : « Cả hai tên đã lạnh lùng nổ súng, giết hại những người đang ngồi họp bàn về nội dung trong phòng, và cả viên cảnh sát có nhiệm vụ bảo vệ họa sĩ Charb – vì bất ngờ nên không kịp bắn trả ».

Chỉ có mỗi một người thoát chết nhờ trốn dưới gầm bàn. Người này nghe hai hung thủ hét to: « Chúng ta đã báo thù cho đấng tiên tri », và hô « Allah Akbar ! ».
Khoảng 11 giờ 30, số điện thoại khẩn cấp của cảnh sát nhận được cuộc gọi báo tin vụ xả súng ở tòa soạn Charlie Hebdo. Hai cảnh sát được điều đến hiện trường ngay lập tức.

Cả hai kẻ tấn công vừa chạy trốn vừa hô tiếp « Allah Akbar ! ». Chúng chạm trán với một toán tuần tiễu của đội cảnh sát hình sự địa phương. Một cuộc đọ súng diễn ra. Hai tên khủng bố chạy thoát được bằng chiếc xe hơi Citröen C3 màu đen và phóng thẳng đến trước mặt một xe cảnh sát. Bọn chúng bắn khoảng 12 phát vào kính trước của xe, nhưng các cảnh sát viên ngồi bên trong không ai bị thương.
Cảnh sát nổ súng vào các hung thủ, và chúng bắn trả. Trên đại lộ Richard-Lenoir, một cảnh sát mặc sắc phục khoảng ba mươi tuổi bị trúng đạn, nằm gục trên mặt đất – theo một video đăng trên internet. Hai kẻ khủng bố bèn ra khỏi xe, chạy lại gần. Người cảnh sát giơ tay, hỏi : « Các ông muốn giết tôi sao ? » Một tên trả lời : « Đúng thế » và vừa chạy vừa bắn một viên đạn vào đầu người cảnh binh này.

Hai hung thủ chạy về phía chiếc xe hơi của chúng, hô to : « Chúng ta đã báo thù cho tiên tri Mahomed ! Chúng ta đã giết Charlie Hebdo ! » và lái xe đi. Bọn chúng sau đó tông vào một xe khác khiến người lái bị thương nhẹ, và bỏ lại chiếc xe hơi ở Porte de Pantin, phía đông bắc Paris. Tại đây chúng cướp một chiếc xe khác, chạy trốn về hướng bắc. Lực lượng an ninh bị mất dấu các hung thủ từ đó.
Tổng cộng có 12 người chết trong đó ít nhất có 5 thành viên ban biên tập Charlie Hebdo, và 8 người bị thương.

Bộ trưởng Nội vụ Pháp, Bernard Cazeneuve cho biết có « ba tên tội phạm » tham gia vụ tấn công này đang được tích cực truy lùng, nhưng không nói rõ vai trò của tên thứ ba. Ông tuyên bố, tất cả đều được huy động để « vô hiệu hóa càng nhanh càng tốt ba kẻ tội phạm ».



http://france3-regions.francetvinfo.fr/corse/sites/regions_france3/files/styles/top_big/public/assets/images/2015/01/07/je_suis_charlie_hebdo_2.jpg?itok=7TJf6eU-

babui_07012015
We’ re Charlie Hebdo too.Babui.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

KẺ XẤU ĐÃ THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM


KẺ XẤU ĐÃ THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Tác giả: Uwe Siemon-Netto
Người dịch: Trần Văn Minh
01-12-2013
clip_image002
Một phụ nữ Việt đang than khóc bên cạnh xác chồng, được tìm thấy trong số 47 người khác tại một ngôi mộ tập thể gần Huế. Ảnh Corbis
Vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, Ralph White đã tìm cách gia nhập Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhưng bị từ chối vì mắt bị chấn thương khi chơi tennis trước đó. Tuy nhiên, khi cuộc chiến đầy biến động gần tới hồi kết thúc hồi tháng 4 năm 1975, ông White khi ấy 27 tuổi, đang ở Sài Gòn, đã làm đúng với phương châm người lính thủy quân lục chiến “luôn luôn trung thành” – chỉ với phương cách dân sự.

Bằng cách khuyến dụ, thuyết phục và khéo léo qua mặt các thủ tục hành chánh, White đã tìm được một phương cách tuyệt vời để cứu thoát 112 nhân viên Việt Nam của Ngân hàng Chase National Bank và những người gia đình của họ: ông chỉ đơn giản nhận bảo trợ tất cả những người đó, trước sự chứng kiến của các thẩm phán Mỹ đang làm nhiệm vụ khẩn cấp tại sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Trong khi đối mặt với thất bại sắp xảy ra của đồng minh Hoa Kỳ là người Việt ở miền Nam, người công dân Mỹ này đã đạt được một chiến thắng tuy nhỏ bé nhưng thật nổi bật.

Bốn ngày sau đó, vào ngày 30 tháng 4, xe tăng T-54 của Liên Xô đã hoàn tất cuộc chinh phục của cộng sản đối với miền Nam Việt Nam bằng cách cán qua cổng rào của dinh tổng thống ở Sài Gòn. Ở bên trong, Tổng thống miền Nam, Việt Nam là ông Dương Văn Minh (Big Minh) đề nghị chuyển giao quyền hành. Đại tá Bắc Việt Bùi Tín trả lời: “Không có chuyện chuyển giao quyền lực… Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có”.

Đối với tôi, một người Đức, những lời này nghe có vẻ giống các điều khoản của Đồng Minh áp đặt lên đất nước chúng tôi năm 1945, khi tôi còn là một đứa trẻ: đầu hàng vô điều kiện. Sự trớ trêu là trong khi vào cuối Đệ Nhị Thế chiến, một chính phủ rõ ràng là độc ác đã bị buộc phải đầu hàng theo cách này, điều trái ngược lại xảy ra 30 năm sau ở Sài Gòn: một chế độ độc tài toàn trị với các đặc điểm vô nhân đạo đến tận cùng uy hiếp một đối thủ nhân đạo hơn nhiều – mặc dù có những khuyết điểm – vào tình thế đầu hàng vô điều kiện, và được thế giới hoan hô.

Sau thời gian tường thuật về Việt Nam cho một nhà xuất bản lớn nhất của Tây Đức trong khoảng thời gian 5 năm, tôi kết luận rằng: kẻ xấu đã thắng. Không có lý do gì để vui mừng. Tuy nhiên, khi Tổng thống Gerald Ford tuyên bố tại Đại học Tulane ở New Orleans rằng chiến tranh Việt Nam “đã chấm dứt, ít nhất là đối với Hoa Kỳ”, một tuần trước khi miền Nam, Việt Nam cuối cùng đã bị tiêu diệt, ông đã nhận được sự hoan hô nồng nhiệt.

Đáng lẽ ra các phản ứng này nên được kềm lại trước số phận tăm tối của số lượng lớn những người Việt bị chuyển giao. Đối với họ, hành trình tử nạn thực sự chỉ mới bắt đầu với chiến thắng của cộng sản. Khoảng từ 200.000 tới 400.000 người đã bị chết chìm trong khi chạy trốn khỏi đất nước của họ trên những chiếc thuyền đánh cá và thuyền chắp vá tạm bợ, theo Cao ủy LHQ về người tị nạn. Khoảng 65.000 người đã bị hành quyết. Một triệu người bị đẩy vào các trại tập trung, ở đó, 165.000 người bị tra tấn hay bị bỏ đói đến chết. Trong số những người bị giết gồm có 30.000 người trong danh sách tình báo viên của CIA bị sót lại tại tòa đại sứ, theo tường trình của National Review.

Tính theo tỷ lệ, Ralph White thành công vượt trội so với chính phủ Hoa Kỳ: anh đã đem được tất cả người của mình ra, như đã dự tính khi anh tình nguyện chuyển từ Bangkok đến Sài Gòn để làm quyền tổng giám đốc cho chi nhánh Chase ở Việt Nam hai tuần trước khi Sài Gòn thất thủ. Trong báo cáo với cấp trên của mình tại Chase sau này, ông viết rằng “việc duy trì mối liên lạc giữa ngân hàng Mỹ và tòa đại sứ để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong kế hoạch di tản” là “mục đích duy nhất” cho sứ mạng của anh.

“Đọc lại báo cáo của mình làm cho tôi khá tự hào về người đàn ông 27 tuổi này,” Ông White, người bây giờ là một nhà văn ở Litchfield, Connecticut cho biết.

Gần bốn thập niên sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, tôi gặp một câu chuyện cảm động về một công dân Mỹ dũng cảm và trung thành với những giá trị của mình như bất cứ người lính nghiêm chỉnh nào. Patricia Palermo là một cô gái tiếp viên hàng không tóc vàng của hãng máy bay Pan Am từ Nebraska, tình nguyện làm tiếp viên trưởng cho các chuyến bay liên tục từ Guam đến Sài Gòn, đưa “những chàng trai trẻ má hồng và tinh thần phấn khởi” ra mặt trận, như cô nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Khi tôi thấy họ một lần nữa 12 tháng sau đó, họ trông giống như những người đàn ông 50 tuổi. Nhiều người bị thương và tàn phế, một số bị đánh thuốc mê. Họ không được phép lên máy bay cho đến khi sau những ‘người trở về’ khác đã được xếp vào khoang hàng hóa – những người nằm trong quan tài kẽm”.

Palermo hiện đang sống ở New York, cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng bà bị tác động tình cảm dữ dội về các chuyến bay này đến nỗi bà đã loại ra khỏi tâm trí của mình cho đến năm 1980, khi bà xem trên truyền hình về tường thuật trực tiếp cuộc diễu hành đầu tiên vinh danh các cựu chiến binh Việt Nam. “Tôi lập tức lao ra khỏi nhà và cùng tham gia”, bà nhớ lại.
Phần đáng ghi nhớ nhất trong sự nghiệp hàng không của mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi Pan Am đem ít nhất 2.000 trẻ sơ sinh, hầu hết là người Mỹ gốc Á đang chờ được nhận làm con nuôi ở Hoa Kỳ, ra khỏi Sài Gòn. “Chúng tôi không được phép rời khỏi máy bay vì hỏa lực địch, nhưng chúng tôi có thể thấy một số bà mẹ tuyệt vọng ném con em của họ qua hàng rào tại Tân Sơn Nhất để được phi hành đoàn chúng tôi đưa đến nơi an toàn. Tôi nhớ một ai đó đưa cho tôi hai em bé giấu trong một cái giỏ. Một lần tôi đếm được hơn 400 trẻ sơ sinh trên chiếc máy bay Boeing 747 của chúng tôi. Trẻ sơ sinh ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các ngăn để hành lý phía trên chỗ ngồi, và chúng nó rất yên lặng, luôn luôn yên lặng…. “

Tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của Sài Gòn trên truyền hình trong căn chung cư của tôi ở Paris với nỗi đau buồn và tức giận vô cùng. Tôi ngạc nhiên trước việc thi hành hoàn hảo Chiến dịch Gió lốc, đã di tản 1.373 người Mỹ cuối cùng, cộng với 5.595 người Việt Nam và người các nước khác, chủ yếu bằng máy bay trực thăng từ một bãi đáp trên nóc nhà của văn phòng tùy viên quân sự ở Tòa Đại sứ Mỹ ngày 29 và 30 tháng 4. Tôi đã ở đó bảy năm trước trong dịp Tết Mậu Thân và theo dõi từ bên kia đường cuộc tấn công bị đánh bại của cộng sản vào Tòa Đại sứ. Bây giờ họ sắp sửa chiến thắng; vì thế tôi đau buồn.

Tuy nhiên, cơn giận của tôi chủ yếu hướng về các sinh viên và trí thức, những người cổ vũ chiến thắng của cộng sản là một hành động giải phóng. Họ hành xử như thế ở khắp mọi nơi: bên kia sông Seine ở Bờ trái; ở đất nước của tôi, Tây Đức; và ở Hoa Kỳ. Chứng kiến một biển cờ Việt Cộng màu xanh đỏ trên TV làm cho tôi cảm thấy muốn mửa, bởi vì đối với tôi, những màu sắc này tiêu biểu cho các vụ thảm sát tàn khốc mà tôi đã chứng kiến ở Việt Nam.
Chẳng hạn như, một đêm ở Tây Nguyên, tôi đã tình cờ gặp những xác chết bị chặt chân tay của một ông xã trưởng, vợ ông và 12 đứa con của họ, tất cả đã bị các tay sai cộng sản tra tấn. Theo như những người dân làng nói với tôi, gia đình đó đã bị giết chết bởi vì ông xã trưởng vẫn trung thành với chính quyền Sài Gòn. Đó là vào năm 1965. Trong năm 1967 là năm bầu cử, Việt Cộng đã thi hành ít nhất 100.000 hành vi khủng bố như thế chống lại dân thường để ngăn cản họ không đi bỏ phiếu.

Khi xướng ngôn viên Pháp thông báo sự kết thúc của miền Nam Việt Nam, tự nhiên tôi với lấy một cuốn sách nằm trên bàn cạnh giường ngủ của tôi ở khách sạn Continental Palace ở Sài Gòn và tôi mang theo tới Paris: “Hai nước Việt Nam”. Tôi đã từng gặp tác giả cuốn sách, nhà khoa học chính trị Pháp Bernard B. Fall, nhiều lần ở Sài Gòn và Washington trước khi ông bị giết bởi một quả mìn Việt Cộng. Đối với tôi, ông là một trong những chuyên gia sắc bén nhất về Đông Dương. Một đoạn trong cuốn sách của ông đã ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Fall trích lời một chiến lược gia chủ yếu của Bắc Việt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã qua đời ngày 4 tháng 10 [năm 2013] ở tuổi 102, nói với các chính ủy của một trong những sư đoàn của ông: “Kẻ thù (có nghĩa là phương Tây) … không có… các phương tiện tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến tranh kéo dài”.

Giáp chưa bao giờ nghi ngờ khả năng quân sự của Mỹ, nhưng tin rằng ông đã tìm thấy gót chân Asin của hệ thống dân chủ, như Fall giải thích: “Trong tất cả các khả năng, Giáp kết luận, công luận trong các nền dân chủ sẽ đòi hỏi chấm dứt sự ‘đổ máu vô ích’, hay cơ quan lập pháp của họ sẽ yêu cầu được biết trong bao lâu nữa họ sẽ phải bỏ phiếu gia tăng không ngừng tín dụng khi không có một chiến thắng rõ ràng trước mặt. 

Đây là những điều luôn luôn bắt ép các nhà lãnh đạo quân sự của các quân đội dân chủ phải hứa hẹn một kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến – để ‘đưa các chàng trai về nhà vào dịp Giáng sinh’ – hoặc buộc các chính trị gia dân chủ phải đồng ý với hầu hết các loại thỏa hiệp nhục nhã, thay vì chấp nhận ý tưởng về chiến dịch chống du kích bán thường trực”.

Phải chăng sự thể thảm khốc này nảy sinh từ thất bại của Washington trong việc đáp trả, như đã hứa, “với lực lượng quân sự đáng kể” đối với bất kỳ vi phạm nào của Bắc Việt trong việc thi hành Hiệp Định Paris 1973, tôi tự hỏi? Hiệp định đã cho phép Hà Nội giữ lại 80.000 quân chính quy ở miền Nam, nhưng không có gì xảy ra khi con số đó tăng lên đến 200.000. 

Khi thảm kịch Việt Nam diễn ra quá tàn khốc, tôi cũng tự hỏi làm thế nào chúng tôi trong giới truyền thông, bao gồm đại đa số trong chúng tôi không đứng về phía Việt Cộng (một cách công khai hay âm thầm), đã không làm cho độc giả của chúng tôi nhận ra những bằng chứng không thể chối cãi nhất, rằng hầu hết người dân miền Nam không bao giờ ủng hộ cộng sản: từ đầu, chúng tôi, các phóng viên, đã nhìn thấy họ chạy trốn Việt Cộng.

Họ chạy trốn không phải vượt qua sông Bến Hải vào Bắc Việt, cũng không vào cái gọi là vùng giải phóng – “giải phóng” bởi những người cộng sản. Cho đến cuối cùng, những người tị nạn đổ xô về phần thu hẹp của đất nước dưới quyền kiểm soát của Sài Gòn; 2 triệu người đổ vào thành phố Đà Nẵng. Những con đường về Sài Gòn đã quá đông đúc với những gia đình chạy trốn đến nỗi làm chậm lại bước tiến quân của Bắc Việt, và khi mọi chuyện lắng dịu, “thuyền nhân” không những ra đi từ phía Nam với số lượng khổng lồ mà còn từ các cửa khẩu phía Bắc. 

Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có một cuộc di cư hàng loạt khỏi đất nước như vậy – không phải trong những ngày dưới quyền Trung Hoa, Pháp hay Mỹ. Và điều này được cho là giải phóng? Bằng cách nào đó, lúc đó tôi nghi ngờ và bây giờ đã tin, lối lập luận đó là một trong những thiệt hại của chiến tranh Việt Nam. Và cũng như sự trung thực trí thức.

Một hình ảnh lóe sáng trên màn hình TV ở Paris đã ghi khắc trong tôi nhiều thập niên vì đã đâm sâu vào suy tư của tôi. Hình ảnh cho thấy Phó Tổng thống Miền Nam Nguyễn Cao Kỳ đang cầm lái chiếc trực thăng UH-1A (Huey) hạ cánh trên boong của hàng không mẫu hạm USS Midway. Tôi đã được biết ông Kỳ khá rõ và thích ông. 

Đúng thế, ông là tướng lãnh hào nhoáng của Không lực Việt Nam, một con công như nhiều nhà quân sự trong suốt lịch sử. Nhưng ông không phải là anh hề quanh co như thường được mô tả.

Sáu năm trước, tháng 5 năm 1969, Kỳ và tôi đã đi du lịch với nhau từ Paris đến vào Sài Gòn, nơi tôi làm phóng sự về các cuộc đàm phán hòa bình của Việt Nam và ông dẫn đầu đoàn đại biểu Sài Gòn. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lủng củng một cách bất thường, có lẽ bởi vì cả hai chúng tôi biết rằng mọi chuyện đã không diễn ra tốt đẹp ở Paris cho phía của ông; rõ ràng là một nhận thức sai lầm ở Hoa Kỳ và các nơi khác về Tết Mậu Thân năm 1968 đã phá vỡ ý chí của Mỹ để mang cuộc xung đột này đến một kết luận chiến thắng.

“Nhưng chúng tôi đã thắng vào dịp Tết!” Kỳ nổi giận. “Tại sao người Mỹ nghĩ khác đi?”
Tôi trả lời: “Tôi biết, thưa Thiếu tướng, tôi ở Huế trong thời gian ông giành chiến thắng. Nhưng công chúng tại Hoa Kỳ và Âu châu đã nhận được thông tin khác nhau”.

Tại Huế, tôi đã đứng bên mép một ngôi mộ tập thể, chứa thi thể của ít nhất 1.000 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị những người cộng sản tàn sát. Một nhóm truyền hình Mỹ lảng vảng quanh hiện trường một cách vô định. “Tại sao bạn không quay phim cảnh này?” Đồng nghiệp của tôi, Peter Braestrup, báo The Washington Post, hỏi họ. Người quay phim của họ trả lời: “Chúng tôi đến đây không phải để tuyên truyền chống cộng sản”.

Tôi đã nói với Kỳ điều này, và ông ta đã không bình luận. Ông ta biết tôi biết rằng chiến thắng quân sự của Mỹ và VNCH vào dịp Tết đã bị biến thành một thất bại chính trị khi Walter Cronkite tuyên bố chiến tranh không thể thắng trên CBS trong một chuyến thăm ngắn sau Tết. Điều này trái ngược hẳn với những gì nhiều người trong chúng tôi, phóng viên chiến trường, đã chứng kiến và tường thuật từ Huế. “Nếu tôi mất Cronkite, tôi mất Trung Mỹ”, Tổng thống Lyndon B. Johnson được cho là đã nói như thế. Tôi chia sẻ cảm giác mất mát của Tổng thống và không bao giờ tha thứ thần tượng Cronkite về hành động bất cẩn báo chí của ông.

Ông Kỳ nhìn chằm chằm vào cánh cửa dẫn đến buồng lái của chiếc máy bay Air France.
“Tại sao ông cứ nhìn vào đó?” Tôi hỏi ông.
“Tôi chỉ muốn trở lại làm một phi công,” ông nói khẽ.
Cuộc chạy thoát của ông đến Midway bằng chiếc Huey đánh dấu sự nghiệp bay của ông kết thúc.

Một vài năm trước đây, tôi dạy một lớp báo chí cao cấp tại Đại học Concordia, Irvine, California. Chúng tôi tập trung vào cộng đồng tị nạn người Việt lớn mạnh và thành công tại Quận Cam. Sinh viên Kellie Kotraba, bây giờ là một nhà báo thành công ở Missouri, đã xem qua nghiên cứu của một nhóm gồm tám nhà nghiên cứu nổi tiếng dẫn đầu bởi bác sĩ tâm thần Richard F. Mollica của đại học Harvard, có tiêu đề “Sự bất thường cơ cấu não bộ và di chứng sức khỏe tâm thần nơi những cựu tù nhân chính trị miền Nam Việt Nam, những người đã sống sót sau chấn thương đầu và tra tấn”.

Nghiên cứu, được Hiệp hội Y khoa Mỹ công bố, cho thấy hàng ngàn tù nhân chính trị trước đây hiện đang sống tại Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng nặng nề từ hậu quả của tra tấn gây ra cho họ trong thời gian bị giam cầm nhiều thập niên trước đây. “Phải trên 100.000 người như họ,” Mollica nói với Kotraba, người sau đó đã yêu cầu Tòa Đại sứ Việt Nam tại Washington bình luận. Cô nhận được một lời từ chối qua điện thư từ tùy viên báo chí của Tòa Đại sứ, Tùng Phạm, với lời lẽ: “Thông tin nói rằng các tù nhân của trại cải tạo (sic) đã (sic) bị tra tấn là hoàn toàn không đúng sự thật”.

Chuyện này chẳng có gì lạ. Đáng ngạc nhiên hơn là một thực tế rằng các nghiên cứu của Mollica ít được chú ý trong giới truyền thông Mỹ khi nghiên cứu được công bố năm 2009, và khi tôi cung cấp những câu chuyện hấp dẫn của Kotraba cho nhiều nhà xuất bản, các biên tập viên của họ không mấy thích thú.

Tôi tự hỏi: tại sao các biên tập viên Mỹ làm ngơ trước thông tin về sự khổ đau ở quy mô lớn như vậy đang xảy ra, hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam? Có một sự tương đồng mạnh mẽ giữa những gì đã xảy ra ở một số trong 300 ngục tù cộng sản ở Việt Nam với các trại tập trung ở vùng chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Âu châu. Tôi vừa đọc xong một bản dịch tiếng Pháp về trường hợp của Cha Andrew Nguyễn Hữu Lễ, một linh mục Công giáo hiện đang sống ở New Zealand, về 13 năm của cha trong điều kiện giam giữ của cộng sản, 2.020 ngày cha trải qua trong cùm sắt – gây ra những vết thương mưng mủ với giòi bọ nảy nở.

Trong “Je dois vivre” (“Tôi phải sống”), Lễ mô tả chi tiết khủng khiếp như thế nào về bạn tù Đặng Văn Tiếp, một cựu đại úy quân đội VNCH và là thành viên của Quốc hội, đã bị giết chết trong sự vui mừng của đám đông quan chức cộng sản và vợ con họ hò hét đầy phấn khích. Ông bị bắt buộc phải uống một lượng lớn nước. Sau đó, tù nhân tay sai Bùi Đình Thi, cai tù tàn bạo nhất trong trại tù Thanh Cẩm, nhảy lên bụng của Tiệp cho đến khi nổ tung và ruột đổ ra ngoài. Tiệp chết.

Thi từng là một đại úy trong quân đội VNCH. Kẻ bị giam cầm tại Thanh Cam gọi ông là “Kapo”, một thuật ngữ được sử dụng cho những “kẻ được tin dùng” trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Giống như một số cựu Kapo Đức Quốc xã, ông đã tới Hoa Kỳ. Ông đã bị phát hiện tại Garden Grove, California, bị bắt giữ và bị trục xuất. Theo tin tức sau cùng, ông sống ở quần đảo Marshall.
Trong cuốn sách của mình, Lễ mô tả các nỗi ám ảnh thường xuyên của ông, trong đó gồm đau bụng dữ dội.

 Nỗi ám ảnh là một triệu chứng mà nhiều cựu chiến binh Mỹ biết quá rõ. Khi tôi làm việc với vai trò tuyên úy tập sự trong số những người này tại các trung tâm y tế Cựu Chiến binh ở St. Cloud, Minnesota, Tôi đã gặp một người làm bánh từ St. Paul, ông có cơn ác mộng cứ tái diễn. Mỗi ngày, ông mơ màng về một sự kiện gần Đà Nẵng. Ông đang ngồi ở ghế sau của một chiếc xe tải quân sự và thấy một cậu bé kéo chốt một quả lựu đạn, sẵn sàng liệng vào xe tải, có lẽ sẽ giết chết toàn bộ tiểu đội.

Người lính đã giết đứa trẻ. Nhưng rồi, đêm đêm, ông nhìn thấy khuôn mặt méo mó của cậu bé đã chết. “Đứa bé ấy khoảng 8 tuổi,” người cựu chiến binh nói, “bây giờ tôi có con sinh đôi và trong giấc mơ của tôi, khuôn mặt của đứa trẻ khoác lên hình ảnh con tôi”. Đây là một trong những câu chuyện buồn nhất tôi được nghe trong thời gian tập sự của tôi, đó là một phần của giáo dục thần học mà tôi đã bắt đầu vào khoảng giữa đời, có lẽ để trả lời cho những kinh nghiệm làm phóng viên ở Việt Nam.

Nhưng có điều gì đó tồi tệ hơn mà tôi tìm thấy trong số những cựu chiến binh Việt Nam: hầu hết mỗi thành viên của ba nhóm chăm sóc mục vụ mà tôi hướng dẫn, cùng với một nhà tâm lý học, đã bị xem là một kẻ sát hại trẻ em trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi từ giã chiến tranh. Một người thậm chí còn được yêu cầu không trở lại nhà thờ cho đến khi tóc của ông mọc trở lại, và xin xuất hiện trong bộ quần áo dân sự.

Hầu hết những người trong nhóm của tôi tin vào Thiên Chúa, nhưng nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi họ ở Việt Nam. Vì vậy, họ đã “quẳng Chúa đi”, theo kiểu họ gọi. Tôi đã viết một luận án thần học cho các cựu chiến binh Việt Nam với tựa đề “Sự tha thứ của Chúa”, nhắc nhở họ về cái nhìn sâu sắc của nhà thần học tử đạo người Đức Dietrich Bonhoeffer. 

Ông nói rằng loài người được kêu gọi để “chịu đau khổ với Chúa trong một thế giới vô thần”, mà trong trường hợp của họ hàm ý Chúa đang đau khổ với họ và luôn hiện diện với họ trong đau khổ – cả ở Việt Nam và sau khi họ trở về. Vì vậy, Chúa không bỏ rơi họ nhưng là người cùng chịu đau khổ với họ. Nhiều người trong số bệnh nhân tìm thấy ý nghĩ này hấp dẫn.

Cho đến hôm nay, tôi nghe các cựu chiến binh Việt Nam hỏi: “Phải chăng sự hy sinh của chúng ta vô ích?” Là một phóng viên chiến trường lớn tuổi, tôi không thể trả lời câu hỏi này một cách sáng tỏ. Nhưng là một nhà thần học tôi có câu trả lời. Trong bài tiểu luận nổi tiếng, “Ngay cả binh lính cũng có thể được giải thoát”, Martin Luther so sánh công việc của binh sĩ với bác sĩ giải phẫu, có thể phải cắt bỏ chân tay của bệnh nhân để cứu các phần còn lại của cơ thể. Thông thường bệnh nhân chết trong vài ngày hoặc vài tháng sau khi phẫu thuật. Nhưng liệu điều này có nghĩa là ca giải phẫu vô ích?

Là một phóng viên chiến trường, tôi thấy đại đa số các binh sĩ Mỹ và Việt Nam tận tình với công việc phục vụ người khác. Kẻ xấu đã thắng; điều này là sự thật. Là một nhà thần học, tôi phải nói thêm: con người không phải là chủ thể của lịch sử, và lịch sử luôn luôn rộng mở cho tương lai. 

Có thể sẽ mất nhiều thập niên nữa cho đến khi chúng ta nhìn thấy sự hy sinh của những người lính ở Việt Nam (thời xưa) đơm hoa kết trái và chế độ cộng sản biến mất, như các chế độ độc tài khác đã từng biến mất trong quá khứ. Có lẽ tới khi đó, thế giới sẽ khám phá ra rằng máu của người Mỹ và các đồng minh đổ ra ở Việt Nam trở thành hạt giống của một chiến thắng đặc biệt hơn chiến thắng mà họ đã bị từ chối ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tác phẩm mới nhất của Uwe Siemon-Netto là “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Phạm Chí Dũng - Bắt blogger: Vì sao báo chí nhà nước 'nín thở?'

 

Phạm Chí Dũng - Bắt blogger: Vì sao báo chí nhà nước 'nín thở?'

Thứ Ba, ngày 06 tháng 1 năm 2015

Vì sao tổng thống Obama đột ngột “bắt tay” với Cuba?



image





Preview by Yahoo



Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang có lẽ là chính khách cao cấp đầu tiên gián tiếp phác họa một trong những nguồn cơn dẫn đến chiến dịch bắt giam đến 3 bloggers riêng tại Sài Gòn chỉ trong tháng cuối cùng của năm 2014: “Phải ngăn chặn thông tin bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo,” theo một số dư luận ngoài lề.

Song dư luận chính thống thì lại suy trầm một cách hết sức khó hiểu: Gần như không một tờ báo nhà nước nào lên tiếng bình luận về các vụ bắt bớ.


Hội nghị “tối quan trọng”
Thời điểm cuối năm 2014 cũng là lúc công tác tổng kết cho năm cũ và định hướng cho năm mới được ngành công an tiến hành. “Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập” được xem là một nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng an ninh các tỉnh thành, đã được đích thân Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang nhắc đi lặp lại từ vài năm trước và đặc biệt trong trong “tình hình xã hội vẫn còn nhiều phức tạp” như năm qua.

Tuy vậy, không ít người không hề hoài nghi rằng với bầu không khí cô siết chính trị ở Việt Nam, chẳng dễ gì cho bất cứ tổ chức chính trị đối lập hay đảng phái độc lập nào thoát thai từ trứng nước mà không bị bóp chết từ nguyên thủy. Vì thế cho tới giờ, nỗi lo sợ về trào lưu đối lập vẫn chưa hẳn được chứng nghiệm nơi giới quan chức sớm bạc tóc bởi trí tưởng tượng vượt trước thời đại. 

Nhưng thay vào đó, điều thường xuyên được mô phỏng hóa một cách hết sức mẫu mực như “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” lại đang phát sinh với gia tốc dồn dập từ ngay trong lòng đảng. Trước cơn bão đủ thứ đơn thư tố cáo và bài viết đả kích lãnh đạo đảng và nhà nước, nhiều người trong giới dân chủ ở Việt nam và hải ngoại đã phải công nhiên lắc đầu: các “thế lực thù địch” không thể có lấy một chút cơ may để tiếp cận với những tài liệu quá thâm sâu và sống động ấy. Hiển nhiên, phần đa cho rằng nếu tính xác thực của những tài liệu ấy là có, đương nhiên chúng phải phát ra từ “nội bộ” chứ chẳng thể từ xó xỉnh nào khác.

Nếu việc khơi mào và hoạt động của tổ chức chính trị đối lập có thể còn lâu mới ra tấm ra món ở Việt Nam, hội nghị trung ương 10 - được dư luận coi là “tối quan trọng” về chuyện ai sẽ là tổng bí thư, thủ tướng... ở Đại Hội Đảng 12 - lại sừng sững ngay trước mắt. 

Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng CSVN, mới đây đã phải than vãn: “Nhiều năm qua, cứ mỗi khi Việt Nam sắp diễn ra một sự kiện chính trị quan trọng là một số tổ chức, cá nhân lại ráo riết triển khai chiến dịch bịa đặt, vu cáo, tung tin thất thiệt,... để làm tổn hại uy tín, hình ảnh của Đảng, Nhà Nước Việt Nam.”


Từ Dương Vũ đến chân dung quyền lực và sao băng
Chân dung quyền lực là hình thái mới nhất cho một loại ảo giác chính trị dễ làm xiêu lòng giới độc giả hồn nhiên. Chỉ mới ra đời từ tháng 10, 2014, cho đến nay blog này đã tung ra quá nhiều bài công kích trực tiếp “một số đồng chí lãnh đạo,” với quá nhiều con số, dẫn chứng và cả hình ảnh..., mà ngay giới chức đảng và chính quyền cũng phải thật sự lo lắng rằng tính ảnh hưởng trong dân chúng và cán bộ từ những bài công kích này không còn là cái không thể đo đếm được.

Tình thế như đang trở về nửa cuối năm 2012 với Hội Nghị Trung Ương 6. Khoảng 4 tháng trước khi diễn ra hội nghị đặc biệt sôi động về công tác kỷ luật đảng này, Blog Quan Làm Báo đã xuất hiện. Ngay lập tức, vô số tin tức và bài viết của trang tin mang cung cách hành văn không quá chỉn chu này đã khiến chính phủ phải “tập trung toàn lực” ngăn chặn. Tuy nhiên cho đến tận giờ này, vẫn chưa có bất kỳ tuyên bố hoặc thông tin công khai nào cho thấy Blog Quan Làm Báo bị triệt đường sống. Nhiều độc giả vẫn có thể thoải mái truy cập trang tin này, tuy không còn nhận ra hình bóng những tài liệu hoặc phân tích đậm đặc tình tiết nội bộ nữa.

Bài viết mới đây trên báo Nhân Dân cũng lần đầu tiên nêu ra hiện tượng một blog mà nếu vào năm 2011 chỉ đăng 3 bài, năm 2012 có 9 bài, năm 2013 có 10 bài, nhưng đến năm 2014 đã tăng vọt lên 81 bài “có nội dung bịa đặt, phao tin, đồn nhảm, nhằm hạ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà Nước Việt Nam.” Không hiểu vì lý do đủ tế nhị nào mà báo Nhân Dân không nêu tên blog này, nhưng dù sao trong con mắt số ít ỏi bạn đọc trung thành với tờ báo đảng này, đó vẫn là một sự can đảm vượt hơn mức thu nén thông thường.

Rõ là chuyện “bếp núc” đang không bình thường, hoặc có cảm giác như đang hết sức bất ổn. Những gì tích tụ chán chê như đang chạm vào giới hạn dồn nén. Nồi nước không thể tự nhiên mà sôi lên được. Còn các “lực lượng thù địch” thì còn lâu mới được dây phần trong đó. 

Chiến dịch “đánh phá đảng và nhà nước” dường như được khởi động một cách quy mô và có “lộ trình” từ tháng 4, 2014, với một cây bút có ẩn danh là Dương Vũ. Đó cũng là khoảng thời gian chuẩn bị diễn ra Hội Nghị Trung Ương 9 và kỳ họp Quốc Hội liền sau đó. 

Chỉ trong vòng nửa năm, bút danh Dương Vũ đã tung lên mạng đến 12 bài viết nhan đề “Ai đang làm khánh kiệt đất nước,” xoáy sâu vào nội bộ triều chính, với rất nhiều tình tiết, chi tiết mà giới quan sát chỉ còn biết tròn mắt kinh ngạc.

Sau Dương Vũ, một tác giả khác với bút hiệu là Nguyễn An Dân tiếp tục khuấy động dư luận mạng và cả chính trường với hàng loạt bài viết không mấy kém thua Dương Vũ. 

Những luận bàn công khai của giới tranh đấu dân chủ cho đến giờ này vẫn cho thấy hiếm ai đoán được Dương Vũ hay Nguyễn An Dân là ai. Tuy nhiên, bút hiệu không quá quan trọng. Câu hỏi còn lại khiến dư luận nhức mỏi là liệu vô số tin tức mà các bút hiệu này khuếch tán có tính xác cứ hay không, và nếu có thì chúng được tung lên mạng nhằm mục đích gì.

Một khi không thể tìm ra lời giải thích đáng nào, mọi người lại chép miệng: “Công an mà không tìm được thì còn ai tìm ra!”

Vào sát ngày cuối năm 2014, trên bầu trời “phản biện nội bộ” lại vụt hiện ra một ngôi sao lạnh lẽo. Sao Băng là bút hiệu của tác giả bài viết “Sự thật nào đang diễn ra trong cung đình Việt Nam.” Phong cách hành văn chính luận xen trào lộng có tính ngẫu hứng và đầy chất cay Hồ Xuân Hương của tác giả này có thể khiến nhiều người hình dung ra một cây bút đầy tiềm năng, thậm chí hứa hẹn có thể trở thành chất đối kháng đầy nguy hiểm đối với một số chính khách đương nhiệm. Đây cũng là tác phẩm báo chí đầu tiên khẳng định ngày khai mạc hội nghị trung ương 10 là 5 tháng 1, 2015, trong lúc trên tất cả các trang thông tin khác đều chưa xuất hiện thông tin này. 

Những thông tin hiếm hoi về “quy hoạch nhân sự Bộ Chính Trị” được tác giả Sao Băng nêu ra trong bài viết cũng có vẻ đối trọng xứng tầm với Blog Chân Dung Quyền Lực.

“Ba không”
Lồng trong bối cảnh chính trị tê tái đến thế, báo chí nhà nước gần như hoàn toàn lặng lẽ. Hiện tượng trở nên rất minh bạch là nếu sau khi Blogger Hồng Lê Thọ bị bắt vào cuối tháng 11, 2014, một số tờ báo còn đưa tin theo nguồn của Cổng Thông Tin Công An TP.HCM, thì gần như chẳng một tờ báo nào đưa tin, và càng không có lấy một bài “lên án” sau khi Cơ Quan An Ninh Điều Tra bắt giữ hai blogger khác là Nguyễn Quang Lập và Nguyễn Đình Ngọc vào tháng 12, 2014. Thái độ lắng tiếng quá bất thường như vậy là khác hẳn với không khí công kích ồn ào của báo chí nhà nước đối với blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh khi nhân vật này bị bắt vào tháng 5, 2014, cũng như Blogger Trương Duy Nhất bị bắt vào giữa năm 2013.

Giới quan sát bình luận: báo chí nhà nước đang nín thở. 

Nhưng nín thở vì cái gì?

Người ta giải thích: Từ quá lâu nay, báo chí là công cụ của đảng và chịu sự chi phối hầu như toàn diện của Ban Tuyên Giáo Trung Ương. Câu trả lời đơn giản nhất mà giới quan sát có thể nghĩ ra là nếu Ban Tuyên Giáo quyết tâm “cấm,” sẽ không một tờ báo nào dám đăng tin bài về những vụ việc được xem là “nhạy cảm.”

Cũng có một lý do khác mang tính dung dị hơn: Không ai biết thời thế sẽ thay đổi thế nào. Tâm lý thủ thế và thủ thân là đặc trưng thời đại của những người viết báo và đặc biệt tồn đọng trong não trạng của giới quan chức tập tạnh làm báo - chiếm đến 30% hoặc hơn trong tổng số hơn 800 đầu báo nhà nước. Họ - những quan chức này - thường sẵn lòng lấy thành tích bằng cách sẵn sàng lao ra tiền tuyến để đối đầu với các “thế lực thù địch.” 

Nhưng nếu những tác giả như Dương Vũ, Nguyễn An Dân, Sao Băng hay Blog Chân Dung Quyền Lực không phải là thế lực thù địch mà lại là người của “ai đó,” hậu vận bản báo sẽ ra sao?

Hẳn tâm lý phủ trùm về thuyết âm mưu như thế cũng là một loại thước đo cho nhiệt kế chính trị Việt Nam đã sôi đến mức nào. 

Có lẽ khó có ban biên tập nào dám cam đoan sẽ tránh thoát hậu sự “không phải đầu cũng phải tai.” Kinh nghiệm làm báo cũng là làm chính trị ở Việt Nam từ lâu đã chứng nghiệm quá phong phú rằng nếu tình thế không đủ an toàn, báo chí tốt nhất nên quán triệt chính sách “ba không”: không biết, không viết, không đăng.




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link