Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, March 19, 2015

NGUYỄN TẤN DŨNG BỊ THỦ TƯỚNG ÚC ÔNG TONY ABBOTT LÀM NHỤC NGAY MẶT!

Anh Việt - NGUYỄN TẤN DŨNG BỊ THỦ TƯỚNG ÚC ÔNG TONY ABBOTT LÀM NHỤC NGAY MẶT!

Lời dẫn: Sự thật vẫn là sự thật, tin  hay không tin, thì nó vẫn hiện hữu. Nhiều người nói tưởng như chuyện đùa. Mà ra nước ngoài bị khinh bỉ quá sức... thủ tướng nước Úc nói thẳng vô mặt thủ tướng Vietnam là "ăn bám. Phải biết tự đứng lên." TT.Nguyễn Tấn Dũng... cười cười. Nhục chưa hay chỉ cười trừ!!!  Ai là nguời Việt không tự ái dân tộc? Không buồn? Không đau? Cho nên mới nói... cộng sản là nổi nhục cho quốc thể!... Ai DÁM nhìn thẳng vô sự thật mà tìm hiểu, thì may ra mới có cách giải quyết, còn chửi bới, quậy phá chối đi sự thật, HAY BƯNG BÍT nó thì KHÔNG BAO GIỜ HẾT NHỤC. - Ông Thủ Tướng Tony Abbott CẮT viện trợ VN luôn đấy. 

Nguyễn Ngọc Nhi

Nguyễn Tấn Dũng bị Thủ tướng Úc nói cho vào mặt không dám trả lời đành cười trừ!
Trong cuộc họp báo với Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 18 tháng 03 tại thủ đô Canberra vừa qua, Thủ tướng Úc là ông Tony Abbott thông báo cho ông Dũng biết rằng trong tương lai, Úc sẽ cắt giảm viện trợ cho các nước trong khu vực Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, và sẽ giảm tới 11 tỷ. Được biết trong quý 2014 - 2015, Úc đã viện trợ cho Việt Nam số tiền là 140 triệu đô la.

































Ông Abbott nói thẳng vào mặt ông Dũng: " Viện trợ là để giúp cho nước ông (và các nước còn nghèo khác ) có thêm điều kiện để cải tổ và xây dựng kinh tế vững mạnh , để nước đó có thể phát triển đến mức tự lo cho dân của mình được , chứ không phải để nước đó tạo thành thói quen ăn bám "  - Nhục chưa hả ông Dũng?
Ông Abbott còn nói: "Hai nước Úc và Việt Nam đều đã có hòa bình trong suốt 40 năm qua , đó là điều kiện để dễ dàng phát triển kinh tế . Nhất là dưới sự lãnh đạo tài tình của ông Dũng đây thì Việt Nam phải phát triển thật tốt."

Móc họng ông đó ông Dũng , đầu óc y tá rừng của ông có hiểu nổi không ? Người ta chửi xéo ông lãnh đạo kiểu gì mà 40 năm hòa bình rồi mà đất nước vẫn đói nghèo phải đi ăn xin hoài vậy?
Cuối cùng ông Abbott bồi thêm 1 câu"Đương nhiên điều quan trọng nhất là ông phải lo cải tổ kinh tế trong nước sao cho ổn định, chứ kinh tế trong nước không ổn định được thì ra ngoài thế giới rất khó làm người bạn tốt hay làm láng giềng tốt ."  

Hiểu ông Abbott nói gì không hả ông thủ tướng cộng sản? 

- Ông ta nói ông mà để cho tham nhũng hối lộ lan tràn, khiến cho kinh tế Vietnam ngày càng lụn bại và vô tổ chức, thì thế giới không ai thèm chơi với các ông đâu! Phải lo mà bài trừ tệ nạn tham nhũng đi, bao gồm bản thân ông và gia đình ông đầu tiên đó ông Dũng ạ!

Sau khi nghe ông Abbott nói thẳng như vậy, và được hỏi có cảm tưởng gì, thì ông Dũng không dám trả lời mà đành cười gượng gạo, rồi lảng qua chuyện khác.
Tại sao ông Dũng không dám trả lời ? 
  1. Thứ nhất là vì tuy nghe qua thông dịch viên , nhưng đầu óc bã đậu của tay y tá rừng xài bằng luật giả này chưa chắc đã hiểu ông Abbott nói gì! 
  2. Thứ 2 quan chức Việt Nam , bao gồm lãnh đạo cao cấp , ra nước ngoài chỉ biết cầm giấy do ban Tuyên Giáo soạn sẵn mà đọc , có tên nào dám mở miệng cho ý kiến riêng ? Thứ 3 là sợ trả lời lại bị hỏi tiếp , bị moi ra các vấn đề tham nhũng , bị hỏi tài sản của ông có bao nhiêu thì chết ! Vì vậy làm thân thủ tướng 1 nước mà bị hỏi 1 câu cũng không dám trả lời ! Thật là nhục nhã !!
Tờ báo The Guardian của Úc đã đăng tải các thông tin trên. Ngoài ra phần còn lại bài báo đưa tin và hình ảnh đồng bào Úc châu biểu tình đả đảo Nguyễn Tấn Dũng và chế độ cộng sản, tố cáo những vi phạm nhân quyền và hành vi bán nước cho Trung Cộng của nhà cầm quyền Việt Nam.
Bài báo còn nhắc đến bản tường trình về Nhân Quyền của ông Heiner Bielefeldt, báo cáo viên đặc nhiệm của Liên Hiệp Quốc, sau khi đi thị sát ở Việt Nam đã nhận định rằng tình trạng nhân quyền tại đây hiện nay còn rất tồi tệ!
Đi ăn xin nước người mà 1 mặt bị đồng hương ở hải ngoại tố cáo, đả đảo,  Một mặt bị người ta nói như mắng thế, có nhục không hả ông thủ tướng cộng sản Vietnam?
Tony Abbott defends $11bn cut to foreign aid during Vietnamese PM's visit

Tony Abbott has defended his government’s decision to cut Australia’s foreign aid budget by $11bn at a joint press conference with the Vietnamese prime minister, Nguyen Tan Dung.
Dung and Abbott addressed the media after a formal ceremony, where the former signed a “declaration on enhancing the comprehensive partnership” between the two countries with the foreign minister, Julie Bishop.
Asked if he was embarrassed to explain Australia’s reduced aid budget to Dung, Abbott said Australia had made “modest reductions” but that remaining aid would focus on countries in the Asia-Pacific region, including Vietnam.
“Look, obviously it’s important for all countries to ensure that their own domestic economic house is in order, because if you don’t have your domestic economic house in order, it’s very difficult to be a good friend and neighbor abroad,” Abbott said.
Abbott said it was important to remember the “objective” of aid, saying, “the objective of aid is not to create a relationship of permanent dependency, the objective of aid is to ensure that countries are helped to develop to the point where they don’t need aid any more”.
“And obviously the very strong economic growth that Vietnam has enjoyed in the past few years, particularly under the economic stewardship of prime minister Dung, means that the need for this kind of aid will be less and less as the years go on.”
Dung, who was listening through a translator and offered a small smile at the end of Abbott’s response, declined to answer the question directed at him which asked if he was concerned at the effect aid cuts would have on Vietnamese people.
Australia gave about $140m in aid to Vietnam in the 2014/15 budget.
The declaration reaffirmed Australia’s trade, security, education and cultural ties to Vietnam.
Speaking through a translator, Dung said the declaration would “further deepen” ties between the two countries and made particular reference to the education and agricultural sectors, as well as increased cooperation in security and defense operations.
Chief among those concerns were freedom of navigation in the South China Sea and an agreement to “exercise self-restraint and refrain from anything that may inflame tensions in the region”.
Abbott said the Australian-Vietnamese relationship was going “from strength to strength” and would be enhanced by the Trans-Pacific Partnership, which is still being negotiated.
“We have both prospered in peace over the last 40 years because of the stability that our region has enjoyed, and anything which destroys that stability is something we would mutually deplore and mutually work to ensure didn’t happen,” he said.
Dung’s delegation was met by human rights protesters when it arrived at Parliament House on Wednesday morning. The protesters, a large number of whom were Vietnamese-Australians, circulated this month’s report of the UN special rapporteur on the freedom of religion and belief, which found that “the scope of freedom of religion and belief remains extremely limited and unsafe” in Vietnam.
The special rapporteur, Heiner Bielefeldt, said Vietnam breached the terms of his visit to allow him confidential and unsupervised contact with people, saying some he met with had suffered “intimidation, police interrogations and even physical injuries” before and after his visit.
Vietnam did not support the report.
 A protest against the visit of Vietnam’s prime minister Nguyen Tan Dung in Canberra on Wednesday. Photograph: Mick Tsikas/AAP





Kính thưa Quý Ban Điều Hành các Diễn Đàn,

Xin được chuyển đến quý vị bài viết của chúng tôi với hy vọng, được sự quan tâm và chia sẻ.
Nếu quý vị nhận được email này hơn một lần, xin thông cảm.
Trân trọng
Hữu Nguyên

------------------------
​Cộng Đồng Mạng News 

Úc Châu biểu tình phản đối Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng

Hữu Nguyên (
 A protest against the visit of Vietnam’s prime minister Nguyen Tan Dung in Canberra on Wednesday. Photograph: Mick Tsikas/AAP





Kính thưa Quý Ban Điều Hành các Diễn Đàn,

Xin được chuyển đến quý vị bài viết của chúng tôi với hy vọng, được sự quan tâm và chia sẻ.
Nếu quý vị nhận được email này hơn một lần, xin thông cảm.
Trân trọng
Hữu Nguyên

------------------------
​Cộng Đồng Mạng News 

Úc Châu biểu tình phản đối Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng

Hữu Nguyên (


TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TẠI ÚC

Duy trì và phát huy truyền thống đấu tranh chống cộng trước sau như một của người Việt yêu nước khắp thế giới, Cộng Đồng NVTD Úc Châu đã ra Thông Báo, kêu gọi đồng hương tham dự hai cuộc biểu tình phản đối Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng, tại Sydney 17.3 lúc 9 giờ sáng trước Quốc Hội NSW, và Canberra 18.3.2015 lúc 9 giờ sáng trước Quốc Hội LB Úc. (nguyên văn Thông Báo Biểu Tình ở cuối bài).

Khác với chuyến viếng thăm quan trọng có tính đột phá của Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt vào năm 1993 và Tổng Bí Thư VC Nông Đức Mạnh vào năm 2010 khi Úc và VC cùng ký kết Thoả Hiệp Hợp Tác Toàn Diện, chuyến viếng thăm Úc lần thứ hai của NTD (lần trước vào năm 2008) chỉ có tính hình thức như GS Carlyle Thayer tuyên bố với lời lẽ hoa mỹ "tạo ra một động lực mới cho quan hệ song phương hai nước".

Bang giao Úc - VC có từ năm 1973, nhưng 20 năm sau, thương mại hai chiều vẫn ì ạch ở mức hơn $30 triệu Mỹ kim mỗi năm. Cho đến 10 năm trở lại đây, mức độ thương mại giữa hai nước gia tăng nhanh chóng, lên tới hơn $6 tỷ Mỹ kim vào năm 2014; và đầu tư trực tiếp của Úc vào VN lên tới $1 tỷ 650 triệu Mỹ kim. Tuy nhiên, số lượng đầu tư của người Úc gốc Việt vào thị trường VN vẫn gần như số không. Nguyên nhân chính, hơn 300 ngàn người Việt yêu nước tại Úc, nhờ thoát khỏi chế độ CS bằng con đường tỵ nạn, du học, xuất ngoại lao động, hôn phối.v.v. đều coi VC là nguồn gốc của mọi bất hạnh cho dân tộc VN, và là những kẻ tráo trở, độc ác, không thể tin tưởng. Vì vậy, suốt mấy chục năm qua, tất cả những chuyến viếng thăm Úc của các nhà lãnh đạo cao cấp VC đều bị người Việt yêu nước tại Úc biểu tình chống đối quyết liệt, khiến họ phải chui cửa hậu, phải lãnh cà chua trứng thối... Chính thân nhân của cán bộ tại toà lãnh sự và đại sứ VC ở Úc cũng thú nhận, mỗi khi tổng bí thư, thủ tướng VC sang thăm Úc là họ phải ngược xuôi tìm đủ mọi cách để có được vài chục người cầm cờ máu VC đón chào ở phi trường, rồi chụp hình gửi đăng báo trong nước tuyên truyền gỡ quê cho VC, nhưng cho đến nay vẫn không làm được.

Tinh thần chống đối VC quyết liệt và trước sau như một của người Việt yêu nước tại Úc đã khiến VC vô cùng hoảng sợ, và chính phủ Úc đau đầu. Muốn giữ thể diện cho VC, cả VC lẫn chính phủ Úc đều tìm đủ mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, hăm doạ, lôi kéo gây phân hoá... nhằm biến cộng đồng người Việt tại Úc thành "Việt kiều yêu nước" dưới sự lãnh đạo của đảng VC, nhưng không thành công. Lý do, mặc dù một số cá nhân hoặc tổ chức bị VC mua chuộc, nhưng trong một xã hội tự do dân chủ, họ không thể nào công khai cam tâm tiếp tay kẻ phi nghĩa VC, đi ngược lại ý chí và nguyện vọng chân chính của tất cả những người Việt yêu nước chống cộng tại Úc. Ngay cả các chính trị gia Úc, tuy đã được VC quà cáp hậu hĩ và long trọng đón rước nhiều lần, cũng không dám có thái độ bênh vực hay ca ngợi VC khi gặp cử tri gốc Việt. Nhiều chính trị gia, thương gia Úc có quan hệ với VC cũng thẳng thắn nhìn nhận, trong chiến tranh VN, VC đã không có chính nghĩa; và bây giờ trong hoà bình, VC cũng là kẻ phi nghĩa. Đó là sự thực hiển nhiên không thể chối bỏ, cho dù chính phủ Úc có bang giao với VC suốt 40 năm qua hay trong tương lai.
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG BANG GIAO ÚC - VC

Quan hệ ngoại giao giữa Úc và VC được đặt trên nền tảng giữa VC và đảng Lao Động Úc, trong đó có nhiều thành viên thiên tả, thậm chí là cựu đảng viên CS Úc, từng biểu tình chống Úc tham chiến tại VN. Vì vậy, khi đảng Lao Động thắng cử vào năm 1972, Thủ Tướng  Whitlam đã nhanh chóng bang giao với VC vào ngày 26 tháng 2 năm 1973, trong khi vẫn duy trì Đại Sứ Quán Úc tại Saigon.

Sau khi vi phạm Hiệp Định Ba Lê, cưỡng chiếm Miền Nam năm 1975, xâm lăng và sa lầy tại Campuchia từ 1978, VC hầu như bị cô lập trên trên chính trường thế giới, ngoại trừ những quốc gia trong khối cộng sản, và một số ít quốc gia thuộc thế giới Tự Do, trong đó có Úc. Nhờ có quan hệ ngoại giao từ 1973, cộng mối quan hệ mật thiết từ thời chiến tranh VN với Đảng Lao Động Úc trong đó có những đảng viên đảng CS, VC luôn coi Úc là một đầu cầu quan trọng tiến tới bình thường hoá ngoại giao với Hoa Kỳ. Đặc biệt, Hoa Kỳ cũng nhận rõ điều đó, nên bí mật hậu thuẫn Úc trong việc giúp VC hội nhập với cộng đồng thế giới, mở đường cho bang giao Mỹ Việt. 

Sau một loạt chiến thắng của Đảng Lao Động Úc kể từ năm 1983 và Bob Hawke trở thành Thủ Tướng Úc liên tục 4 nhiệm kỳ, ảnh hưởng của Úc đối với VC càng trở nên quan trọng, nhất là sau chuyến viếng thăm VN của Ngoại Trưởng Úc Bill Hayden vào tháng 6 năm 1983, và Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch đến Úc vào tháng 4 năm 1984. Để giúp VC thoát khỏi sự cô lập về ngoại giao, Úc đã cố vấn Bộ Chính Trị VC thông qua Nghị Quyết số 13 vào tháng 5 năm 1988 với định hướng "tăng bạn bớt thù" (more friends and fewer enemies). Để chứng minh định hướng này một cách cụ thể với thế giới, cơ quan tình báo Mỹ, Úc đã bí mật thuyết phục VC trả tự do cho ông Võ Đại Tôn, cựu Đại Tá QLVNCH, một biểu tượng bền bỉ theo đuổi lý tưởng chống cộng phục quốc suốt thời gian hơn một thập niên kể từ 1975. Trước sức ép của dư luận quốc tế, VC bắt buộc phải đồng ý, và ngày 9 tháng 12 năm 1991, ông VĐT được trả tự do, trở lại Úc, sau thời gian 10 năm bị VC đầy đoạ và cấm cố trong các lao tù cộng sản.

Quanh vấn đề này, có những bằng chứng hậu thuẫn cho một giả thuyết quan trọng cần được nêu lên. Trước khi trả tự do cho ông VĐT, VC đã xảo quyệt giật dây cho NS, một chính trị gia Úc gốc Việt đứng ra thu thập chữ ký, vận động trả tự do cho ông VĐT. VC tin rằng, như vậy, khi ông VĐT được trả tự do, NS sẽ có uy tín để dễ dàng thâm nhập và thao túng cộng đồng người Việt yêu nước tại Úc. Tuy nhiên, vì bất tài và không có chính nghĩa, NS đã không làm nên trò trống gì, và phải nhanh chóng lui vào bóng tối sau khi bị thất bại trong âm mưu, móc nối truyền thông Việt ngữ về VN dự lễ khánh thành Cầu Mỹ Thuận vào tháng 5 năm 2000; và thành lập phái đoàn "tìm hiểu những tiến bộ về nhân quyền của VC trong 10 năm" vào năm 2005.

Có điều, khi giành được tự do cho ông VĐT, mở đường cho VC hội nhập với thế giới Tây Phương, tình báo Úc, Mỹ không thể ngờ họ đã đi chậm một nước cờ chiến lược, khiến cục diện chính trị tại Châu Á và Thái Bình Dương có những thay đổi vô cùng bất lợi. Nguyên do là trước đó một năm, 3 nhân vật trùm sỏ VC là TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ Tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng đã âm thầm tham dự Hội Nghị Thành Đô, tại Tứ Xuyên, Trung Quốc, ký kết với TBT Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng một hiệp ước với những điều khoản khủng khiếp và bí mật tới độ đến nay sau 25 năm, cả hai nước đều thoả thuận không công bố. (?!)
HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ, VC CAM TÂM LÀM ĐẦY TỚ CHO TC

Cuối thập niên 1980, chứng kiến sự sụp đổ hàng loạt của các nước cộng sản Đông Âu, và thấy CS Nga đang trên đà tan rã, VC hoảng hốt vội vã xin làm đầy tớ trung thành của Trung Cộng, bất chấp thực tế, 10 năm trước, Trung Cộng xua quân xâm lăng VN; và Hiến Pháp cũng như điều lệ của đảng Cộng sản Việt Nam đều ghi, bá quyền Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, trực tiếp và nguy hiểm nhất. Hậu quả, chỉ trong thời gian ngắn ngủi 10 ngày (22.8 đến 3.9.1990), VC từ thái độ điên cuồng chống TC, trở thành đầy tớ của TC.

Lịch sử ghi nhận, ngày 22.8.1990, Tổng Bí Thư VC Nguyễn Văn Linh gặp Trương Đức Duy, đại sứ TC tại Hà Nội, chính thức xin xỏ được trực tiếp gặp lãnh đạo cao cấp TC. Hiểu rõ sự hoảng hốt lo sợ và vị thế cô lập trên chính trường quốc tế của VC, TC đồng ý cho gặp nhưng đưa ra những điều kiện ngang ngược, trong đó có 4 điều kiện quan trọng: 1. VC phải chấm dứt mọi can thiệp về chính trị quân sự đối với Campuchia; 2. VC phải chấp nhận thương thảo vẽ lại biên giới Việt Trung để giải quyết mọi tồn đọng giữa hai nước trong thời gian 10 năm. 3. Về cuộc chiến xâm lăng VN được TC mệnh danh "Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến" (对越自卫还击战), TC đòi VC phải xin lỗi và thừa nhận, việc TC "dậy cho VC một bài học" là hợp lý; đồng thời VC phải chấm dứt ngay mọi hành động và luận điệu tuyên truyền đánh phá TC. 4. Trong vòng 2 năm, VC phải huỷ bỏ bản Hiến Pháp đã thông qua ngày 18.12.1980, trong đó có đoạn chống phá TC: "Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình." 5. Vì Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch có thái độ chống đối TC, TC đòi VC phải truất phế NCT khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, không để ông giữ bất kỳ chức vụ nào về đảng và nhà nước, kể cả Bộ Ngoại Giao.

Biết những đòi hỏi của TC là quá ngang ngược và vô lý, những vì quyền lợi của đảng và bản thân, VC đã vội vàng chấp thuận mọi điều kiện do TC đưa ra. Kết quả, ngày 28.8.1990, đại sứ TC tại Việt Nam cho biết, TC đồng ý cho lãnh đạo VC được gặp nhưng chỉ có ba người là TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng.

Theo “Nhật ký Lý Bằng”, "sáng ngày 3/9/1990 chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ chiều tới Thành Đô, hai giờ chiều đoàn Việt Nam tới nhà khách Kim Ngưu, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân đón tiếp họ tại phòng khách, rồi cuộc hội đàm bắt đầu.” Mặc dù, tuổi của NVL, PVĐ và ĐM đều bảy, tám chục tuổi, nhưng để ba người không thể bàn bạc với nhau về những đòi hỏi của TC, TC đã buộc ba người ở ba biệt thự cách xa nhau. Kết quả, hội đàm đã được tiến hành chóng vánh, ngày trước ngay sau đã kết thúc. Điều đó chứng tỏ cả 3 nhà lãnh đạo VC đều cúi đầu chấp nhận mọi đòi hỏi của TC.

Cho đến nay, sau phần tư thế kỷ, những điều khoản bí mật được hai bên ký kết tại Thành Đô vẫn không được hai bên công bố. Tuy nhiên, thực tế cho thấy 5 đòi hỏi của TC đều được VC thực hiện nghiêm chỉnh. Cụ thể: 1. Một năm sau Hội Nghị Thành Đô, VC đã ký  Paris Peace Agreement với Campuchia vào ngày 23.10.1991; 2. Không đầy 10 năm sau, năm 1999, Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung đã được ký kết với những điều khoản cho thấy VC đã cắt đất cắt biển, bao gồm cả Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, dâng cho TC; 3. VC đã không dám tuyên truyền chống lại TC, thậm chí ngay cả bia mộ chôn những bộ đội VC chết trong chiến tranh Biên Giới Việt Trung, cũng bị xoá bỏ những dòng chữ ghi "hy sinh chống TC xâm lăng"4. Không đầy 2 năm sau, ngày 18.4.1992, VC cho công bố Hiến Pháp mới, huỷ bỏ đoạn văn chống TC. 5. Năm sau, 1991, Nguyễn Cơ Thạch bị ngưng chức Ngoại Trưởng và bị truất phế khỏi Bộ Chính Trị và BCH Trung Ương Đảng VC.

Ngoài ra, dư luận còn cho rằng, tại Hội Nghĩ Thành Đô, ba nhà lãnh đạo VC còn cam tâm ký kết nhiều điều khoản bất lợi khác, trong đó có việc chấp nhận để VN sáp nhập với TC như là một khu tự trị giống như Tây Tạng. Điều này thực hư chưa biết, nhưng việc cả TC lần VC đều không chịu công bố những điều khoản hai bên đã ký kết tại Hội Nghị Thành Đô, cho thấy đó là những chuyện động trời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc thể và quyền lợi của dân tộc VN.

NGUYỄN TẤN DŨNG LÀ MỘT TÊN KHỦNG BỐ

Tuy là Thủ Tướng VC từ năm 2006, nhưng với quá khứ sinh trưởng tại Cà Mâu năm 1949, con của chính trị viên phó tỉnh đội Rạch Giá, 12 tuổi đã tình nguyện theo VC, 18 tuổi được kết nạp đảng CS, 4 lần bị thương... rõ ràng Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là một tên khủng bố đánh phá chế độ hợp pháp hợp hiến VNCH ngày từ năm 1961, khi chưa có một người lính Mỹ hay Úc nào trên lãnh thổ VN. Thêm vào đó, chặng đường từ một tên khủng bố VC trở thành Thủ Tướng VC, chắc chắn NTD đã phạm phải nhiều tội lỗi nghiêm trọng đối với dân tộc VN cũng như nhân loại. Quan trọng hơn, là một trong ba kẻ đầu sỏ của chế độ VC hiện đang tiếp nối bước chân của những kẻ bán nước đã tham dự Hội Nghị Thành Đô, chắc chắn NTD đã cam tâm làm đầy tớ của TC. Dĩ nhiên, để có thể làm đầy tờ TC một cách trọn vẹn và thành công, NTD luôn luôn thủ đoạn nói những lời chống TC được TC chấp thuận. Phải chăng vì hiểu rõ điều đó, nên NTD đi đến đâu cũng bị người Việt yêu nước biểu tình chống đối. Phải chăng vì hiểu rõ điều đó, nên hầu hết báo chí của Úc đều thờ ơ không loan tin chuyến viếng thăm của NTD cả lần trước, lẫn lần này.

Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là một tên khủng bố. Hiện tại Nguyễn Tấn Dũng là Thủ Tướng VC, một chế độ độc tài. NTD tham nhũng hối lộ với gia tài lên đến cả chục tỷ Mỹ kim.... Đó là những thực tế cả thế giới đều biết, và chính bản thân NTD cũng biết rõ điều đó. Vì vậy, về nghi lễ ngoại giao, Úc sẽ đón tiếp NTD như là một quốc khách; nhưng trong thâm tâm của những người Úc tự trọng có lương tâm, chắc chắn họ, cũng giống như tất cả những người Việt yêu nước, không thể không khinh bỉ NTD.

Bên cạnh đó, dĩ nhiên cũng có một số người Úc, Việt... cong lưng uốn gối đón tiếp NTD. Nhưng trên đời, ở đâu và thời nào mà chả có cảnh "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" (birds of a feather flock together).
Hữu Nguyên

​​














TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TẠI ÚC

Duy trì và phát huy truyền thống đấu tranh chống cộng trước sau như một của người Việt yêu nước khắp thế giới, Cộng Đồng NVTD Úc Châu đã ra Thông Báo, kêu gọi đồng hương tham dự hai cuộc biểu tình phản đối Thủ Tướng VC Nguyễn Tấn Dũng, tại Sydney 17.3 lúc 9 giờ sáng trước Quốc Hội NSW, và Canberra 18.3.2015 lúc 9 giờ sáng trước Quốc Hội LB Úc. (nguyên văn Thông Báo Biểu Tình ở cuối bài).

Khác với chuyến viếng thăm quan trọng có tính đột phá của Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt vào năm 1993 và Tổng Bí Thư VC Nông Đức Mạnh vào năm 2010 khi Úc và VC cùng ký kết Thoả Hiệp Hợp Tác Toàn Diện, chuyến viếng thăm Úc lần thứ hai của NTD (lần trước vào năm 2008) chỉ có tính hình thức như GS Carlyle Thayer tuyên bố với lời lẽ hoa mỹ "tạo ra một động lực mới cho quan hệ song phương hai nước".

Bang giao Úc - VC có từ năm 1973, nhưng 20 năm sau, thương mại hai chiều vẫn ì ạch ở mức hơn $30 triệu Mỹ kim mỗi năm. Cho đến 10 năm trở lại đây, mức độ thương mại giữa hai nước gia tăng nhanh chóng, lên tới hơn $6 tỷ Mỹ kim vào năm 2014; và đầu tư trực tiếp của Úc vào VN lên tới $1 tỷ 650 triệu Mỹ kim. Tuy nhiên, số lượng đầu tư của người Úc gốc Việt vào thị trường VN vẫn gần như số không. Nguyên nhân chính, hơn 300 ngàn người Việt yêu nước tại Úc, nhờ thoát khỏi chế độ CS bằng con đường tỵ nạn, du học, xuất ngoại lao động, hôn phối.v.v. đều coi VC là nguồn gốc của mọi bất hạnh cho dân tộc VN, và là những kẻ tráo trở, độc ác, không thể tin tưởng. Vì vậy, suốt mấy chục năm qua, tất cả những chuyến viếng thăm Úc của các nhà lãnh đạo cao cấp VC đều bị người Việt yêu nước tại Úc biểu tình chống đối quyết liệt, khiến họ phải chui cửa hậu, phải lãnh cà chua trứng thối... Chính thân nhân của cán bộ tại toà lãnh sự và đại sứ VC ở Úc cũng thú nhận, mỗi khi tổng bí thư, thủ tướng VC sang thăm Úc là họ phải ngược xuôi tìm đủ mọi cách để có được vài chục người cầm cờ máu VC đón chào ở phi trường, rồi chụp hình gửi đăng báo trong nước tuyên truyền gỡ quê cho VC, nhưng cho đến nay vẫn không làm được.

Tinh thần chống đối VC quyết liệt và trước sau như một của người Việt yêu nước tại Úc đã khiến VC vô cùng hoảng sợ, và chính phủ Úc đau đầu. Muốn giữ thể diện cho VC, cả VC lẫn chính phủ Úc đều tìm đủ mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, hăm doạ, lôi kéo gây phân hoá... nhằm biến cộng đồng người Việt tại Úc thành "Việt kiều yêu nước" dưới sự lãnh đạo của đảng VC, nhưng không thành công. Lý do, mặc dù một số cá nhân hoặc tổ chức bị VC mua chuộc, nhưng trong một xã hội tự do dân chủ, họ không thể nào công khai cam tâm tiếp tay kẻ phi nghĩa VC, đi ngược lại ý chí và nguyện vọng chân chính của tất cả những người Việt yêu nước chống cộng tại Úc. Ngay cả các chính trị gia Úc, tuy đã được VC quà cáp hậu hĩ và long trọng đón rước nhiều lần, cũng không dám có thái độ bênh vực hay ca ngợi VC khi gặp cử tri gốc Việt. Nhiều chính trị gia, thương gia Úc có quan hệ với VC cũng thẳng thắn nhìn nhận, trong chiến tranh VN, VC đã không có chính nghĩa; và bây giờ trong hoà bình, VC cũng là kẻ phi nghĩa. Đó là sự thực hiển nhiên không thể chối bỏ, cho dù chính phủ Úc có bang giao với VC suốt 40 năm qua hay trong tương lai.
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG BANG GIAO ÚC - VC

Quan hệ ngoại giao giữa Úc và VC được đặt trên nền tảng giữa VC và đảng Lao Động Úc, trong đó có nhiều thành viên thiên tả, thậm chí là cựu đảng viên CS Úc, từng biểu tình chống Úc tham chiến tại VN. Vì vậy, khi đảng Lao Động thắng cử vào năm 1972, Thủ Tướng  Whitlam đã nhanh chóng bang giao với VC vào ngày 26 tháng 2 năm 1973, trong khi vẫn duy trì Đại Sứ Quán Úc tại Saigon.

Sau khi vi phạm Hiệp Định Ba Lê, cưỡng chiếm Miền Nam năm 1975, xâm lăng và sa lầy tại Campuchia từ 1978, VC hầu như bị cô lập trên trên chính trường thế giới, ngoại trừ những quốc gia trong khối cộng sản, và một số ít quốc gia thuộc thế giới Tự Do, trong đó có Úc. Nhờ có quan hệ ngoại giao từ 1973, cộng mối quan hệ mật thiết từ thời chiến tranh VN với Đảng Lao Động Úc trong đó có những đảng viên đảng CS, VC luôn coi Úc là một đầu cầu quan trọng tiến tới bình thường hoá ngoại giao với Hoa Kỳ. Đặc biệt, Hoa Kỳ cũng nhận rõ điều đó, nên bí mật hậu thuẫn Úc trong việc giúp VC hội nhập với cộng đồng thế giới, mở đường cho bang giao Mỹ Việt. 

Sau một loạt chiến thắng của Đảng Lao Động Úc kể từ năm 1983 và Bob Hawke trở thành Thủ Tướng Úc liên tục 4 nhiệm kỳ, ảnh hưởng của Úc đối với VC càng trở nên quan trọng, nhất là sau chuyến viếng thăm VN của Ngoại Trưởng Úc Bill Hayden vào tháng 6 năm 1983, và Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch đến Úc vào tháng 4 năm 1984. Để giúp VC thoát khỏi sự cô lập về ngoại giao, Úc đã cố vấn Bộ Chính Trị VC thông qua Nghị Quyết số 13 vào tháng 5 năm 1988 với định hướng "tăng bạn bớt thù" (more friends and fewer enemies). Để chứng minh định hướng này một cách cụ thể với thế giới, cơ quan tình báo Mỹ, Úc đã bí mật thuyết phục VC trả tự do cho ông Võ Đại Tôn, cựu Đại Tá QLVNCH, một biểu tượng bền bỉ theo đuổi lý tưởng chống cộng phục quốc suốt thời gian hơn một thập niên kể từ 1975. Trước sức ép của dư luận quốc tế, VC bắt buộc phải đồng ý, và ngày 9 tháng 12 năm 1991, ông VĐT được trả tự do, trở lại Úc, sau thời gian 10 năm bị VC đầy đoạ và cấm cố trong các lao tù cộng sản.

Quanh vấn đề này, có những bằng chứng hậu thuẫn cho một giả thuyết quan trọng cần được nêu lên. Trước khi trả tự do cho ông VĐT, VC đã xảo quyệt giật dây cho NS, một chính trị gia Úc gốc Việt đứng ra thu thập chữ ký, vận động trả tự do cho ông VĐT. VC tin rằng, như vậy, khi ông VĐT được trả tự do, NS sẽ có uy tín để dễ dàng thâm nhập và thao túng cộng đồng người Việt yêu nước tại Úc. Tuy nhiên, vì bất tài và không có chính nghĩa, NS đã không làm nên trò trống gì, và phải nhanh chóng lui vào bóng tối sau khi bị thất bại trong âm mưu, móc nối truyền thông Việt ngữ về VN dự lễ khánh thành Cầu Mỹ Thuận vào tháng 5 năm 2000; và thành lập phái đoàn "tìm hiểu những tiến bộ về nhân quyền của VC trong 10 năm" vào năm 2005.

Có điều, khi giành được tự do cho ông VĐT, mở đường cho VC hội nhập với thế giới Tây Phương, tình báo Úc, Mỹ không thể ngờ họ đã đi chậm một nước cờ chiến lược, khiến cục diện chính trị tại Châu Á và Thái Bình Dương có những thay đổi vô cùng bất lợi. Nguyên do là trước đó một năm, 3 nhân vật trùm sỏ VC là TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ Tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng đã âm thầm tham dự Hội Nghị Thành Đô, tại Tứ Xuyên, Trung Quốc, ký kết với TBT Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng một hiệp ước với những điều khoản khủng khiếp và bí mật tới độ đến nay sau 25 năm, cả hai nước đều thoả thuận không công bố. (?!)
HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ, VC CAM TÂM LÀM ĐẦY TỚ CHO TC

Cuối thập niên 1980, chứng kiến sự sụp đổ hàng loạt của các nước cộng sản Đông Âu, và thấy CS Nga đang trên đà tan rã, VC hoảng hốt vội vã xin làm đầy tớ trung thành của Trung Cộng, bất chấp thực tế, 10 năm trước, Trung Cộng xua quân xâm lăng VN; và Hiến Pháp cũng như điều lệ của đảng Cộng sản Việt Nam đều ghi, bá quyền Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, trực tiếp và nguy hiểm nhất. Hậu quả, chỉ trong thời gian ngắn ngủi 10 ngày (22.8 đến 3.9.1990), VC từ thái độ điên cuồng chống TC, trở thành đầy tớ của TC.

Lịch sử ghi nhận, ngày 22.8.1990, Tổng Bí Thư VC Nguyễn Văn Linh gặp Trương Đức Duy, đại sứ TC tại Hà Nội, chính thức xin xỏ được trực tiếp gặp lãnh đạo cao cấp TC. Hiểu rõ sự hoảng hốt lo sợ và vị thế cô lập trên chính trường quốc tế của VC, TC đồng ý cho gặp nhưng đưa ra những điều kiện ngang ngược, trong đó có 4 điều kiện quan trọng: 1. VC phải chấm dứt mọi can thiệp về chính trị quân sự đối với Campuchia; 2. VC phải chấp nhận thương thảo vẽ lại biên giới Việt Trung để giải quyết mọi tồn đọng giữa hai nước trong thời gian 10 năm. 3. Về cuộc chiến xâm lăng VN được TC mệnh danh "Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến" (对越自卫还击战), TC đòi VC phải xin lỗi và thừa nhận, việc TC "dậy cho VC một bài học" là hợp lý; đồng thời VC phải chấm dứt ngay mọi hành động và luận điệu tuyên truyền đánh phá TC. 4. Trong vòng 2 năm, VC phải huỷ bỏ bản Hiến Pháp đã thông qua ngày 18.12.1980, trong đó có đoạn chống phá TC: "Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình." 5. Vì Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch có thái độ chống đối TC, TC đòi VC phải truất phế NCT khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, không để ông giữ bất kỳ chức vụ nào về đảng và nhà nước, kể cả Bộ Ngoại Giao.

Biết những đòi hỏi của TC là quá ngang ngược và vô lý, những vì quyền lợi của đảng và bản thân, VC đã vội vàng chấp thuận mọi điều kiện do TC đưa ra. Kết quả, ngày 28.8.1990, đại sứ TC tại Việt Nam cho biết, TC đồng ý cho lãnh đạo VC được gặp nhưng chỉ có ba người là TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng.

Theo “Nhật ký Lý Bằng”, "sáng ngày 3/9/1990 chuyên cơ Việt Nam rời Hà Nội, 1 giờ chiều tới Thành Đô, hai giờ chiều đoàn Việt Nam tới nhà khách Kim Ngưu, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân đón tiếp họ tại phòng khách, rồi cuộc hội đàm bắt đầu.” Mặc dù, tuổi của NVL, PVĐ và ĐM đều bảy, tám chục tuổi, nhưng để ba người không thể bàn bạc với nhau về những đòi hỏi của TC, TC đã buộc ba người ở ba biệt thự cách xa nhau. Kết quả, hội đàm đã được tiến hành chóng vánh, ngày trước ngay sau đã kết thúc. Điều đó chứng tỏ cả 3 nhà lãnh đạo VC đều cúi đầu chấp nhận mọi đòi hỏi của TC.

Cho đến nay, sau phần tư thế kỷ, những điều khoản bí mật được hai bên ký kết tại Thành Đô vẫn không được hai bên công bố. Tuy nhiên, thực tế cho thấy 5 đòi hỏi của TC đều được VC thực hiện nghiêm chỉnh. Cụ thể: 1. Một năm sau Hội Nghị Thành Đô, VC đã ký  Paris Peace Agreement với Campuchia vào ngày 23.10.1991; 2. Không đầy 10 năm sau, năm 1999, Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung đã được ký kết với những điều khoản cho thấy VC đã cắt đất cắt biển, bao gồm cả Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, dâng cho TC; 3. VC đã không dám tuyên truyền chống lại TC, thậm chí ngay cả bia mộ chôn những bộ đội VC chết trong chiến tranh Biên Giới Việt Trung, cũng bị xoá bỏ những dòng chữ ghi "hy sinh chống TC xâm lăng". 4. Không đầy 2 năm sau, ngày 18.4.1992, VC cho công bố Hiến Pháp mới, huỷ bỏ đoạn văn chống TC. 5. Năm sau, 1991, Nguyễn Cơ Thạch bị ngưng chức Ngoại Trưởng và bị truất phế khỏi Bộ Chính Trị và BCH Trung Ương Đảng VC.

Ngoài ra, dư luận còn cho rằng, tại Hội Nghĩ Thành Đô, ba nhà lãnh đạo VC còn cam tâm ký kết nhiều điều khoản bất lợi khác, trong đó có việc chấp nhận để VN sáp nhập với TC như là một khu tự trị giống như Tây Tạng. Điều này thực hư chưa biết, nhưng việc cả TC lần VC đều không chịu công bố những điều khoản hai bên đã ký kết tại Hội Nghị Thành Đô, cho thấy đó là những chuyện động trời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc thể và quyền lợi của dân tộc VN.

NGUYỄN TẤN DŨNG LÀ MỘT TÊN KHỦNG BỐ

Tuy là Thủ Tướng VC từ năm 2006, nhưng với quá khứ sinh trưởng tại Cà Mâu năm 1949, con của chính trị viên phó tỉnh đội Rạch Giá, 12 tuổi đã tình nguyện theo VC, 18 tuổi được kết nạp đảng CS, 4 lần bị thương... rõ ràng Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là một tên khủng bố đánh phá chế độ hợp pháp hợp hiến VNCH ngày từ năm 1961, khi chưa có một người lính Mỹ hay Úc nào trên lãnh thổ VN. Thêm vào đó, chặng đường từ một tên khủng bố VC trở thành Thủ Tướng VC, chắc chắn NTD đã phạm phải nhiều tội lỗi nghiêm trọng đối với dân tộc VN cũng như nhân loại. Quan trọng hơn, là một trong ba kẻ đầu sỏ của chế độ VC hiện đang tiếp nối bước chân của những kẻ bán nước đã tham dự Hội Nghị Thành Đô, chắc chắn NTD đã cam tâm làm đầy tớ của TC. Dĩ nhiên, để có thể làm đầy tờ TC một cách trọn vẹn và thành công, NTD luôn luôn thủ đoạn nói những lời chống TC được TC chấp thuận. Phải chăng vì hiểu rõ điều đó, nên NTD đi đến đâu cũng bị người Việt yêu nước biểu tình chống đối. Phải chăng vì hiểu rõ điều đó, nên hầu hết báo chí của Úc đều thờ ơ không loan tin chuyến viếng thăm của NTD cả lần trước, lẫn lần này.

Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là một tên khủng bố. Hiện tại Nguyễn Tấn Dũng là Thủ Tướng VC, một chế độ độc tài. NTD tham nhũng hối lộ với gia tài lên đến cả chục tỷ Mỹ kim.... Đó là những thực tế cả thế giới đều biết, và chính bản thân NTD cũng biết rõ điều đó. Vì vậy, về nghi lễ ngoại giao, Úc sẽ đón tiếp NTD như là một quốc khách; nhưng trong thâm tâm của những người Úc tự trọng có lương tâm, chắc chắn họ, cũng giống như tất cả những người Việt yêu nước, không thể không khinh bỉ NTD.

Bên cạnh đó, dĩ nhiên cũng có một số người Úc, Việt... cong lưng uốn gối đón tiếp NTD. Nhưng trên đời, ở đâu và thời nào mà chả có cảnh "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" (birds of a feather flock together).
Hữu Nguyên

​​














Nỗi nhục Trường Sa !?



From: dong tam <
Sent: Sunday, March 15, 2015 4:38 PM
Subject: Fwd: Fw: : Ban nguyet san Tu do Ngon luan so 215 (15-03-2015) [1 Attachment]

Kính gởi tới Quý Ân nhân, Quý Ủng hộ viên, Quý Độc giả và Đồng bào Việt Nam trong lẫn ngoài nước
Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận và bài xã luận số 215, phát hành ngày 15-03-2015.
Xin vui lòng giúp phổ biến rộng rãi, nhất là ngược về trong nước cho Đồng bào quốc nôi.
Chúng tôi chân thành cảm ơn.
Ban Biên tập bns Tự do Ngôn luận

Nỗi nhục Trường Sa !?!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 215 (15-03-2015)
          Ngay từ cuối năm 1986, tình hình vùng biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích của hải quân Tàu cộng. Cuối tháng 2-1988, lực lượng ngoại bang này tăng thêm 4 tàu hộ vệ trang bị tên lửa và đại pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa. Trước tình hình ấy, bộ tư lệnh hải quân Hà Nội mở chiến dịch bảo vệ chủ quyền các đảo của Việt Nam, lấy tên là chiến dịch CQ (chủ quyền)-88.

          Vào sáng ngày 14-3-1988, 73 chiến sĩ hải quân, đúng ra là công binh (không mấy lúc cầm súng) của tàu HQ 604 đến đảo đá nửa chìm nửa nổi Gạc Ma, mang theo vật liệu xi măng, cốt thép và các cột bê tông đúc sẵn để xây dựng công sự trên đó, ngõ hầu xác nhận rõ rệt chủ quyền. Về khí giới, họ chỉ mang theo một số khẩu AK, nhưng lại có quân lệnh là không được nổ súng. Chiến hạm Tàu cộng ùa tới, vây chặt. Sau một hồi trao đổi trên loa mà bên nào cũng cho mình có chủ quyền, rốt cục các chiến sĩ công binh VN không vũ trang đang đứng trên đảo đã trở thành bia hứng đạn đại liên của kẻ thù mà trước đó vẫn ngỡ là bạn. Chỉ chưa đầy nửa giờ, 64 người đã vĩnh viễn nằm xuống trong nỗi tức tưởi và uất hận. Con tàu vận tải HQ-604 rỉ sét đang thả neo giữa biển cũng đành phơi bụng lãnh đủ lửa pháo 100 ly từ mấy chiếc khu trục tối tân, trang bị cả tên lửa đối hạm. Quả như câu đối tưởng niệm đầy chua chát của ai sau đó: "Cướp Gạc Ma, bắn tàu bạn, xưng danh tình đồng chí! Trấn Len Đảo, giết mạng người, kêu tiếng tình anh em!". Sau khi 64 người bị thảm sát, 9 chiến sĩ còn lại được tàu Trung Quốc vớt lên làm tù binh và đem về tỉnh Quảng Đông giam giữ gần 4 năm trời.
          Đúng là một cuộc chiến bi thương, không cân sức, nhưng những người lính đã ngã xuống trong lòng biển quả đã vị quốc vong thân, xứng danh hiệu anh hùng của Dân tộc và đáng được vinh danh ngàn đời. Thế nhưng, lại có lắm điều ô nhục xoay quanh biến cố ấy, kể từ đó đến nay, những ô nhục chỉ có trong cái chế độ vô đồng bào, vô tổ quốc là chế độ Việt cộng.

          Ô nhục thứ nhất: không cho chống trả quân thù: Khi tình hình trở nên hết sức căng thẳng đầu năm 1988, Bộ Tư lệnh hải quân đã liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay là: Trung Quốc là thù hay là bạn? Chúng đánh ta, ta có đánh trả không? Bộ Chính trị và bộ quốc phòng lúc ấy vẫn im lặng hay trả lời không rõ rệt. Ấy là vì chính vào thời điểm đó, trong lúc bọn bành trướng Tàu cộng đã lộ rõ dã tâm xâm lược thì lãnh đạo Hà Nội, dưới sự thao túng của Lê Đức Anh, Ủy viên BCT, Bộ trưởng Quốc phòng, đang tìm cách bắt tay với lãnh đạo Bắc Kinh để âm mưu thực hiện cái gọi là “Giải pháp đỏ” ở Căm-pu-chia nhằm đưa cả bọn Khơ-me đỏ vào chính phủ liên hiệp mặc dù Nhà nước hợp pháp xứ Chùa tháp phản đối quyết liệt. Thành thử các chiến sĩ hải quân đã ra tiền tuyến bảo vệ Tổ quốc mà lại không được quyền nổ súng chống giặc.
          Về chuyện này, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc, đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh như sau (theo RFA 12-03-2015): “Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành vi phản động, phản quốc. …Tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

          Ô nhục thứ hai: không dám nhắc đến tên quân thù: Sau nhiều năm im lặng, ngày 9-5-2010, lễ tưởng niệm các tử sĩ Gạc Ma đã được tổ chức trên biển gần quần đảo Trường Sa. Điều đáng lưu ý là trong diễn văn tưởng niệm, Thượng tá Trịnh Lương Vượng, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn M46 vùng D Hải quân đã không dám nói thẳng nói thật là hải quân Tàu giết hại hải quân Việt. Thay vào đó ông đã dùng từ “nước ngoài” và “lực lượng quân sự nước ngoài”: “Lực lượng quân sự nước ngoài đã ngang nhiên chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt NamCác chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của các lực lượng tàu chiến hải quân nước ngoài. Báo Thanh Niên ngày 14-03-2011 cũng cho biết Đại tá hải quân Nguyễn Kiều Kinh đứng trên mảnh đất thuộc chủ quyền VN, đọc diễn văn thay cho 14 Ủy viên Bộ Chính trị, cũng thản nhiên nói : «Với mưu đồ thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ cuối năm 1987, đầu năm 1988, nước ngoài đã ngang nhiên đưa lực lượng quân sự chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của VN…». Đúng là chỉ có bọn khiếp nhược trước kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc mới có giọng điệu như thế.

          Ô nhục thứ ba: không cho nhắc tới trận chiến và các tử sĩ: Sau khi trận chiến trên đảo Gạc Ma kết thúc với chỉ một người bị thương về phía Tàu cộng, họ đã vinh danh một đặc nhiệm hải quân tên Du Xiang Hou, kẻ đã xé bỏ lá cờ đỏ sao vàng trên đảo. Họ làm phim giáo dục con cháu về trận chiến mà đối với họ là một chiến thắng vẻ vang kiêu hùng. Và họ xem đó là bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của họ trên đảo Gạc Ma. Vậy mà đã 27 năm nay tại Việt Nam, cuộc chiến này bị né tránh không nói đến, đặc biệt trong các tài liệu chính thức và trong sách giáo khoa sử, như thể đó là một phần lịch sử cần được giấu nhẹm. Có lẽ trận chiến Gạc Ma chẳng phải là một vết son trong Việt sử như những chiến thắng của đội quân Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, tuy nhiên nhân dân vẫn cần một lịch sử thật hơn là một lịch sử đẹp.

          Ngoài ra, người Việt ở miền Nam trước đây hay khắp thế giới hiện giờ, ai cũng biết thiếu tá hải quân VNCH Ngụy Văn Thà, nhiều kẻ nhớ cả ngày ông tử trận: 19-01-1974. Tên tuổi vị anh hùng ấy (cùng với các chiến hữu tử sĩ) vang dội ngay sau khi chiến hạm Nhựt Tảo bị Tàu cộng đánh chìm. Nhưng người Việt sống dưới chế độ cai trị cộng sản mấy ai biết tên tuổi 64 chiến sĩ đã ngã xuống và 9 chiến sĩ đã bị bắt tại Trường Sa? Đó là chưa kể những kỷ niệm cuộc chiến năm xưa của họ không được trân trọng. Như vào tháng 9-2011, một cuộc gặp mặt lần nhất 8 chiến sĩ còn sống đã được tổ chức tại nhà nghỉ Suối Lương, Đà Nẵng, song không phải do nhà nước mà do Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa. Nhưng chả hiểu sao đến sáng ngày khai mạc chỉ còn lại ba người, năm anh đã lặng lẽ bỏ về tối hôm trước. Ban tổ chức lại còn quy định là người tham dự không được trực tiếp tiếp xúc hay phỏng vấn các nhân chứng. Thảm hại hơn nữa, tổng số người tham dự, tính luôn ban tổ chức, thành phần khách mời (không có đại diện chính quyền), an ninh và nhà báo …chỉ khoảng 30 mạng. Chưa hết, ngày 14-3-2012, nhà cầm quyền và hải quân dự tính tổ chức một cuộc gặp mặt 34 gia đình liệt sĩ Gạc Ma tại Cam Ranh (Khánh Hòa). Tất cả mọi việc đã hoàn tất, giấy mời đã được đem gởi. Đùng một cái, trước đó 3 hôm (11-3-2012), có “lệnh trên” yêu cầu hủy cuộc gặp mặt. Một nhà báo đã thốt lên cay đắng: "Chẳng lẽ đi lừa phỉnh các mẹ liệt sĩ? Giỗ anh em hy sinh mà không dám tổ chức sao? Khóc anh em hy sinh cũng không được phép à?” (RFA 20-03-2012). Mới hôm qua thôi (14-03-2015), hoạt động tưởng niệm của một số người dân Hà Nội tại tượng đài vua Lý Thái Tổ đã bị quấy rối bởi một đám dư luận viên trẻ, do bị đảng đầu độc và được công an bảo vệ; hoạt động tưởng niệm tại Sài Gòn thì lại bị lực lượng công an giám sát chặt chẽ còn báo chí chính thống im lặng làm lơ.
          Ô nhục thứ tư: Không đi tìm xác chiến sĩ tử trận và đãi ngộ các chiến sĩ còn sống: Ngày 22-12-2008, báo Tuổi Trẻ và Tiền Phong điện tử có loan tin rằng trong khi đánh bắt hải sản ở gần đảo Gạc Ma, một số ngư dân phát hiện và vớt được hài cốt của bốn chiến sĩ đã hy sinh tại đó và giao cho hải quân. Hải quân đã đưa bốn bộ hài cốt liệt sĩ nói trên về đất liền, làm lễ tưởng niệm tại đoàn M29. Thế nhưng, ngay trong ngày, cả hai tờ báo đã gỡ tin này xuống. Chả biết thực hư ra sao? Mà mãi cho tới hôm nay, nhà cầm quyền VN vẫn chưa cho tiến hành tìm kiếm, thu gom hài cốt hơn sáu chục binh sỹ bị chìm trên bãi đá ngầm đó. Bộ Quốc phòng chẳng có một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới. Ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết chua chát nhận định (RFA 12-03): “Cho đến hôm nay 64 anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ Thập Đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi”.

          Về các chiến sĩ Gạc Ma còn sống, mãi tháng 10-2009, báo VietnamNet mới đăng bài về anh Trương Văn Hiền và cho biết anh sống rất nghèo tại thôn 3 xã Hòa Thắng, Buôn Mê Thuột, bản thân lại có trở ngại về sức khỏe với vết thương ở sườn và cánh tay trái. Phóng viên Quốc Nam, trong bài “Những người lính Gạc Ma bây giờ” (báo Tuổi Trẻ 13-03-2015) cho hay rằng sau trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma, những người lính còn sống trở về như anh Nguyễn Bá Ngọc và anh Mai Xuân Hải tại Quảng Bình vẫn sống trong cùng cực với bệnh tật.

          Ô nhục thứ năm: mãi tin quan hệ Việt-Trung tốt đẹp: Tất cả những điểm ô nhục nói trên liên quan tới Gạc Ma, Trường Sa, có lẽ phải nói là xuất phát từ niềm tin mù quáng hay hy vọng hão huyền nơi lãnh đạo Cộng sản Hà Nội rằng quan hệ Việt-Trung sẽ mãi mãi tốt đẹp. Niềm tin mù hay hy vọng hão này dựa trên chuyện Việt cộng đã phải gắn bó với Tàu cộng quá ư lâu dài: từ quá khứ (nơi Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ), đến hiện tại (nơi Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng) và cả tương lai (nơi nhân sự sau đại hội đảng lần thứ 12 vốn được Tàu cộng chọn lựa); qua những sợi dây ngày càng thít vào họng: ân tình giúp cướp miền Nam và món nợ chiến phí khó trả nổi, sự  lệ thuộc vào chính trị, kinh tế, tài chánh, văn hóa, sự cam kết hết sức dại dột tại Thành Đô sau cơn hoảng loạn vì Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và nhất là bàn tay Trung Nam Hải che chở cho Ba Đình tiếp tục thống trị dân Việt. Có thể có lúc, có kẻ trong lãnh đạo Hà Nội nghĩ tới mối nhục đó, nhưng cái khát vọng vô độ về quyền lực và của cải trên đất Việt làm chúng sẵn sàng bán nước và trở thành vô liêm sỉ.
          Hỡi tử sĩ Gạc Ma, các vị vẫn mãi là những oan hồn và nỗi nhục Trường Sa vẫn mãi còn đó bao lâu đất Việt còn nòi Cộng sản!
          BAN BIÊN TẬP
_

__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B?TkdVWeG7hE4gVsOCTiBUw5lORw

Sau 40 Năm Bí Mật


On Monday, February 23, 2015 9:17 AM, tankimthanh nguyen <> wrote:


KHUI HŨ MẮM NGẤU SAU 44 NĂM

RE-OPENING THE JAR OF FERMENTED FISH AFTER 44 YEARS 

Kinh Chuyển,
NĐK

KHUI HŨ MẮM NGẤU SAU 44 NĂM
RE-OPENING THE JAR OF FERMENTED FISH AFTER 44 YEARS 

The Pentagon Papers

http://www.archives.gov/research/pentagon-papers/

All files in the "Title" column are in PDF format.
Due to the large file sizes, we recommend that you save them
 rather than try to open them directly.

Sau 40 Năm Bí Mật

Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng. Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói. Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng. 

Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay! Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.

Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này? Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ.

Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ. Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.

Ông Daniel Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội. Ông từng là nhân viên của RAND Corporation. Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.

Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ. Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người. Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng. Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự.

Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt.

 Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam.

Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh.

 Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers.

 Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.

Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang . Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.” Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng. Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ. Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần. Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett. Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. 

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ. Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.

Lời Kết: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.

Trở lại vấn đề Biển Đông, chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.

 Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.


__._,_.___


Posted by: =?UTF-8?B?TkdVWeG7hE4gVsOCTiBUw5lORw==?= 

“Sinh nghề, tử nghiệp”


“Sinh nghề, tử nghiệp”

Thiện Tùng

“Rau nào sâu nấy”. Thể chế chính trị dân chủ đa nguyên sẽ sản sinh ra nhà nước dân chủ pháp quyền, thật sự của dân, do dân, vì dân; thể chế chính trị độc tài toàn trị sẽ sinh ra nhà nước độc quyền chuyên chế, thật sự của phe nhóm, do phe nhóm, vì phe nhóm.
Chính quyền của dân, do dân, vì dân, chỉ có truất phế những thành viên không còn xứng đáng chớ không có chuyện lật đổ hay cướp chính quyền – chẳng lẽ cướp cái đã là của mình, không có mầm mống nội chiến; chính quyền của phe nhóm, do phe nhóm, vì phe nhóm  thì phải đón nhận mọi nguy cơ, không sớm thì muộn, tất yếu xảy ra.

Thể chế chính trị độc tài toàn trị, chỉ cho ra đời nhà nước chuyên chế. Nó là thể chế chính trị hẹp hòi, ích kỷ, vì quyền lợi cục bộ, phe nhóm. Độc tài chuyên chế không phải để giải trí, mà để tham nhũng – độc tài chuyên chế chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích tham nhũng.

Tham nhũng là ỷ quyền cậy thế “cướp ngày”. Vì biết việc mình làm trái đạo lý, tất yếu sẽ bị công chúng thù ghét, thể chế độc tài chuyên chế dường như bị ám ảnh, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Để giữ ngôi vị, bắng mọi cách họ sở hữu hệ thống thông tin đại chúng để mị dân (lừa đảo chính trị), được xem là bàn tay nhung; sở hữu lực lượng vũ trang (Công an và Quân đội) để trấn áp đối thủ khi cần, được xem là bàn tay sắt. 

Thể chế độc tài chuyên chế tối kỵ thông tin ngoài luồng và những tổ chức không do mình xác lập.
Thể chế độc tài toàn trị là sản phẩm phong kiến lỗi thời, sở dĩ chúng còn tồn tại ở một số quốc gia nào đó, nhờ “tài” mị dân với những động tác giả điêu luyện. Thể chế độc tài toàn trị sợ sự thật như chim cú sợ ánh sáng. Khoa học về thông tin bùng nổ là nỗi bất hạnh đối với chúng. Vì sự sống còn của phe đảng, chúng giở mọi thủ doạn chống trả đến kỳ cùng.
Như đã nói, thực thi thể chế độc tài toàn trị không phải để giải trí mà để thu vén cho cá nhân và băng nhóm. Tham nhũng vừa là bản chất, vừa là mục đích của thể chế độc tài toàn trị – quan mà không tham mới là lạ. Nếu chưa tin nhận xét của người viết, hãy vào mạng Internet gõ https://clbnokia.wordpress.com/ sẽ thấy cơ ngơi của quí quan ông, quan bà từ Trung ương đến cơ sở của cái thể chế bịnh hoạn này.

Thể chế độc tài toàn trị đang tấn thối lưỡng nan trong việc chống tham nhũng – chống tham nhũng đồng nghĩa với tôi chống ta, chống cũng chết, không chống cũng chết. Bởi vì tham nhũng đã phổ biến trong giới cầm quyền, loại hết tham nhũng thì còn chi là chế độ;  ngược lại, nếu dung dưỡng nó, dân chúng sẽ nổi loạn, trước sau gì thể chế cũng sụp đổ thôi. (Xem hình ảnh dân phản ứng không chừa cặn trong video “Biểu tình ở huyện Thạnh Hóa, Long An 10/02/2015”).
“Sinh nghề, tử nghiệp”, thể chế độc tài toàn trị sinh ra tham nhũng, cũng sẽ chết vì tham nhũng. Bởi vì, giới cầm quyền bất kỳ như cá, còn dân như nước – nước mà không có cá nước vẫn là nước, còn cá không nước thì cá chết khô – “dân là gốc” nói lên ý nghĩa đó. 

Thể chế độc tài toàn trị chỉ sợ duy nhứt mất lòng dân – mất lòng dân là mất tất cả. Mỗi khi thấy dân nổi giận thì họ gào lên Dân vận, Dân vận và Dân vận.
Ở Việt Nam ta, trải qua hơn nửa thế kỷ sống dưới thể chế độc tài Đảng trị, tham nhũng không còn là cá biệt, cha truyền con nối, tham nhũng sau cao hơn tham nhũng trước, sức chịu đựng của người dân đã hết hạn. Họ có quyền buộc giới lãnh đạo phải xử lý bọn mọt nước sâu dân (tham nhũng). Xử lý bằng cách nào?

 – Đó là chuyện của nội bộ đảng cầm quyền, không phải chuyện của dân.

Tham nhũng đang phổ biến trong Đảng cầm quyền, trở thành bịnh ung thư giai đoạn cuối, chỉ còn duy nhứt một lối thoát là cải tổ thể chế chính trị theo kiểu Đông Âu: từ bỏ thể chế chính trị độc tài chuyên chế, lui ra hậu trường chữa bịnh, giao quyền cho dân thiết lập nhà nước dân chủ pháp quyền, đa nguyên chính trị…

Hoặc chọn một trong hai kiểu chết:
– Làm theo “sát thủ” Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, chấp nhận giải phẫu “đả hổ, diệt ruồi”, dù đau đớn như cắt da xẻo thịt, dầu phải nát tan Đảng Cộng sản.  Đâm lao phải theo lao, xem mòi hai vị sẵn sàng đón nhận phản ứng sinh tồn của những thế lực tham nhũng.

– chọn giải pháp ủ bịnh, không chấp nhận giải phẫu, mặc cho số phận đẩy đưa; sau khi “sát thủ” Nguyễn Bá Thanh qua đời, không còn ai đủ can đảm “gặp hốt liền, không nói nhiều”, Tổng Bí thư Đảng, trưởng ban chống tham nhũng giờ đây sợ “vỡ bình”.

Xem mòi, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tối mặt giải quyết không xong vấn đề nội bộ Đảng thì mong gì kham nổi việc nước việc dân?!
17/03/2015
T.T.
Tác giả gửi BVN.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link