Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, March 27, 2015

Ai là kẻ thù của Việt Nam?


Ai là kẻ thù của Việt Nam? 

Nguyễn Hưng Quốc
26.03.2015

Ở Việt Nam lâu nay, giới cầm quyền cũng như giới truyền thông hay nói đến những “thế lực thù địch”. Không ai giải thích rõ, nhưng hầu như mọi người đều biết, với nhóm từ ấy, người ta nhắm đến các quốc gia Tây phương, đặc biệt là Mỹ, trong cái gọi là âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm làm thay đổi chế độ tại Việt Nam.

Tuy nhiên, chỉ cần bình tĩnh và sáng suốt một tí, người ta sẽ thấy ngay là Mỹ không có lý do gì để trở thành “thù địch” với Việt Nam. Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (miền Bắc) đã chấm dứt từ 40 năm trước. 

Cuộc chiến tranh lạnh, nguyên nhân làm bùng nổ chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ, cũng đã chấm dứt cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu thập niên 1990. 

Với Mỹ, một trong những nguyên tắc nền tảng của mọi chính sách đối ngoại là không có bạn cũng như không có kẻ thù vĩnh viễn. Bạn hay thù tùy thuộc vào lợi ích quốc gia, nghĩa là tuỳ thuộc vào hoàn cảnh. Hoàn cảnh hiện nay là Mỹ muốn làm bạn với Việt Nam. Có hai lý do chính: Một, Mỹ muốn tăng cường hợp tác kinh tế với Việt Nam để làm ăn; và hai, Mỹ cần Việt Nam để bảo vệ Biển Đông, một trong những con đường hàng hải tấp nập và quan trọng nhất trên thế giới.

Trong quan hệ với Việt Nam, Mỹ hay nhấn mạnh đến yếu tố nhân quyền như một trong những điều kiện để hợp tác. Điều đó khá dễ hiểu. Một, đó là một trong những nguyên tắc căn bản trong các chính sách ngoại giao của Mỹ: để làm bạn, cả hai nước phải chia sẻ với nhau một bảng giá trị chung. Cốt lõi của bảng giá trị ấy là tôn trọng quyền làm người. Hai, riêng với Việt Nam, Mỹ lại càng cần nêu lên nguyên tắc ấy chủ yếu để đáp ứng lại sự đòi hỏi của một bộ phận khá đông dân chúng Mỹ. 

Ở trên, tôi có nói với Mỹ, không có kẻ thù vĩnh viễn. Đó là về phía chính phủ. Với dân chúng thì khác. Những người từng tham gia vào chiến tranh Việt Nam cũng như thân nhân của những người đã từng bị hy sinh tại Việt Nam không dễ gì quên hẳn được quá khứ. Đó là chưa kể cộng đồng người Việt khá đông đảo tại Mỹ. 

Tất cả đều yêu sách chính phủ Mỹ cần đặt ra những điều kiện nào đó khi muốn đẩy mạnh quá trình hợp tác với Việt Nam. Tuy nhiên, nên lưu ý: nhân quyền là điều kiện nhưng không phải là điều kiện tiên quyết. Trên thực tế, lâu nay, chính phủ Mỹ vẫn hợp tác với khá nhiều chế độ độc tài nếu họ thấy sự hợp tác ấy là cần thiết và có lợi.

Bởi vậy, có thể nói với Việt Nam, Mỹ sẽ không đẩy yêu sách dân chủ hoá trong chừng mực mối quan hệ giữa hai nước tốt đẹp đủ để bảo vệ những lợi ích chung. Cái gọi là âm mưu “diễn biến hoà bình” của Mỹ, nếu có, chỉ có một ý nghĩa rất tương đối trong cái gọi là chủ nghĩa thực tiễn (realism) của những nhà hoạch định chính sách tại Mỹ. Đó là chưa kể, để bảo vệ các lợi ích của họ, điều Mỹ cần nhất ở Việt Nam là sự ổn định về chính trị. Điều đó lại cũng dễ hiểu. Không ai có thể an tâm làm ăn buôn bán cũng như bàn chuyện hợp tác chiến lược ở những nơi thường xuyên thay đổi chính phủ cả. Ở điểm này, chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam rất gần nhau: mọi người đều muốn ổn định dù cái giá để trả cho sự ổn định, về phía dân chúng, là cái ách độc tài nặng trĩu trên lưng của họ.
Nếu Mỹ không phải là lực lượng thù địch của Việt Nam thì là ai?
Câu trả lời hầu như ai cũng rõ: Trung Quốc. Chỉ có thể là Trung Quốc. Chứ không có bất cứ ai khác.

Nói đến âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, nhiều người nghĩ đến viễn cảnh Trung Quốc tấn công trên đất liền. Tôi nghĩ viễn cảnh ấy sẽ không xảy ra. Trung Quốc không phiêu lưu một cách dại dột như thế. Bởi chọn thế trận như vậy là phải đối diện với cuộc chiến toàn dân của Việt Nam. Có chiếm cũng không giữ được đất. Vả lại, Trung Quốc cũng không cần chiếm Việt Nam khi họ có thể tác động dễ dàng lên guồng máy lãnh đạo Việt Nam để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị của họ.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc chỉ diễn ra trên biển. 

Nói đến âm mưu xâm chiếm trên biển của Trung Quốc, phần lớn chỉ để ý đến các sự kiện cụ thể như vụ cắt dây cáp ngầm của Việt Nam, việc đem giàn khoan HD-981 đến thềm lục địa Việt Nam, việc cải tạo bãi đá Gạc-Ma hay việc bắt bớ các ngư dân Việt Nam đang đánh cá gần Hoàng Sa hay Trường Sa.

 Chỉ chú ý đến các sự kiện ấy nên người Việt Nam dễ thấy thỏa mãn khi một số khó khăn đã được giải quyết: dây cáp ngầm được nối, giàn khoan được rút về nước hay những ngư dân bị bắt được thả. Có lẽ nghĩ như thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho là Việt Nam đã “thắng lợi” trong cuộc đương đầu với giàn khoan HD-981 hồi đầu năm ngoái. Thật ra, đó chỉ là những sự kiện lặt vặt. Âm mưu thực sự của Trung Quốc lớn hơn nhiều: làm chủ hơn 90% diện tích Biển Đông của Việt Nam.

Mà Trung Quốc không hề giấu giếm điều đó. Bằng hành động cũng như bằng lời nói, lúc nào họ cũng cho Biển Đông là “sân nhà” của họ, là “lợi ích cốt lõi” mà họ không thể từ bỏ hay nhân nhượng. Có thể hình dung chiến lược xâm lấn Biển Đông của Trung Quốc được bao gồm ba giai đoạn: một, tuyên bố con đường lưỡi bò (hoặc con đường gồm chín khúc); hai, tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên trời tương ứng với con đường lưỡi bò dưới biển; và ba, thực hiện việc kiểm soát ngặt nghèo cả trên trời lẫn dưới biển để bất cứ một chiếc thuyền hay một chiếc máy bay nào đi ngang qua con đường lưỡi bò ấy cũng đều phải xin phép Trung Quốc và chịu sự kiểm tra của Trung Quốc. Xong giai đoạn thứ ba, cuộc xâm lấn của Trung Quốc coi như kết thúc.

Khi cuộc xâm lấn ấy kết thúc, nước nào bị thiệt hại nhiều nhất? Câu trả lời rất đơn giản: Việt Nam. Brunei nhiều lần tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa nhưng họ chưa bao giờ thực sự làm chủ bất cứ hòn đảo hay bãi đá nào. Chỉ thực sự làm chủ một số đảo hay bãi đá ở Trường Sa và Hoàng Sa là Philippines, Đài Loan, Malaysia và Việt Nam. Trong số các quốc gia ấy, nước làm chủ nhiều nhất là Việt Nam. Do đó, nếu Biển Đông mất, Việt Nam cũng sẽ là nước bị mất mát nhiều nhất. Hơn nữa, ngoài đảo, còn có vùng biển. Nếu con đường lưỡi bò của Trung Quốc được xác lập chính thức, Việt Nam sẽ mất khoảng 90% chủ quyền trên Biển Đông.

Mất 90% cũng có nghĩa là mất trắng Biển Đông.

Tất cả những sự phân tích đều không có gì mới mẻ. Hầu như ai cũng biết trừ… chính quyền Việt Nam.
http://www.voatiengviet.com/content/ai-la-ke-thu-cua-vietnam/2694184.html

 Tháng 11/2014 NATO tại Ba Lan luyện tập kịch bản các nước vùng Baltic bị Nga xâm lược .RFI/ Olivier Fourt

Tuần trước, Nga cho Hạm đội Baltic tập trận và tới thứ Hai tuần này, Tổng thống Nga Vladimir Putin đột ngột ra chỉ thị đặt Hạm đội Phương Bắc vào trạng thái trực chiến. 

Chiến dịch luyện tập kéo dài 5 ngày nói trên được sự tham dự của 38 ngàn quân nhân Nga. 

Không phải ngẫu nhiên mà hành động của Nga đã khiến người dân các nước vùng biển Baltic hoảng sợ trước hiểm họa lại bị Nga đưa trở lại "vùng ảnh hưởng" của nước này như thời Xô-viết.

Lý do và hệ lụy lịch sử
Những hệ lụy trong lịch sử là nguyên nhân chính gây nên tâm trạng lo âu của ba nước Baltic, khiến các quốc gia này rất lo lắng trước nguy cơ mất nền độc lập, đặc biệt là khi mối quan hệ giữa nước Nga và Phương Tây trở nên căng thẳng cùng cực như hiện tại. Chính vì vậy, tất cả các lực lượng chính trị đáng kể vùng Baltic đều là tín đồ của khối quân sự Bắc Đại tây Dương NATO và Liên hiệp Châu Âu EU.

Trở lại lịch sử, người Estonia và Litva cho đến thế kỷ 18 còn chưa có quốc gia riêng, mà luôn chịu ảnh hưởng của các đế chế Đức và Thụy Điển. Đầu thế kỷ 18, các vùng đất của người Estonia và Latvia vào tay Đế chế Nga, và đến cuối thế kỷ này, với sự chia cắt của Ba Lan, Đại công quốc Liva - vốn sở hữu một lãnh thổ khổng lồ, trải dài tới Biển Đen thời đó - cũng thuộc về sự quản lý của Matxcơva.

Chỉ sau khi Đế chế Nga sụp đổ trong Thế chiến thứ nhất và dưới ảnh hưởng cuộc chính biến tháng 10 của phe Bolshevik, người Estonia, Litva và Latvia mới trở thành những quốc gia độc lập. Tuy nhiên, những nền độc lập ấy chỉ tồn tại đến năm 1939, khi nước Đức quốc xã và Liên Xô ký hiệp ước bất tương xâm, kèm theo một điều khoản bí mật theo đó đôi bên chia nhau vùng Trung Âu và Baltic.

Cho đến năm 1940, cả ba nước Baltic đều được "sáp nhập" vào Liên Xô, tuy nhiên sau đó nó bị quân Đức chiếm đóng cho đến năm 1944 trong cuộc chiến giữa Đức và Liên bang Xô-viết. Đáng chú ý là người dân ở đây sợ Liên Xô hơn là sợ Đức, và họ đã có những đơn vị tình nguyện hợp tác với Đế chế thứ ba, chống lại Liên Xô với mục tiêu giành lại độc lập dân tộc và cho tới nay, họ vẫn được coi là những anh hùng.

Tuy nhiên, sau 1945, vùng Baltic lại thuộc vòng kiềm tỏa của Matxcơva, trở thành ba nước cộng hòa của Liên bang Xô-viết, cho tới khi Liên Xô sụp đổ. Ở cả ba quốc gia này, những cuộc dày ải đã diễn ra hàng loạt, nhiều gia đình bị bắt đưa đi hệ thống trại cải tạo Gulag tại Nga, và chỉ đến cuối thập niên 50, trong quá trình "phi Stalin hóa", họ mới dần dần được hồi hương. Dầu vậy, tỉ lệ người Nga tại đây vẫn tăng vọt.

Một phần do chính sách của Matxcơva nhằm đưa công dân Nga tới những nước cộng hòa khác, một phần do sự di cư tự nhiên, khi người Nga muốn chuyển tới vùng Baltic (được coi là có mức sống cao hơn hẳn các khu vực khác của Liên Xô), và nhiều quân nhân Nga sau khi rời quân ngũ cũng ở lại "đất lành chim đậu", nên cho tới nay, tỉ lệ người Nga ở Litva là 25%, ở Estonia chừng 33%, còn ở Latvia thì ít hơn, gần 6%.

Quan ngại vì bài học nhãn tiền Ukraina

Mối quan hệ giữa Matxcơva và các nước vùng Baltic vốn dĩ đã hàm chứa nhiều mâu thuẫn xuất phát từ lịch sử. Điện Kremlin không hài lòng khi vùng Baltic coi Hồng quân là những kẻ chiếm đóng, chứ không phải những người tới giải phóng miền đất này. Việc xóa bỏ hoặc di dời những tượng đài kỷ niệm Thế chiến, tượng đài chiến sĩ Xô-viết cũng từng là yếu tố gây mâu thuẫn lớn giữa Liên bang Nga và ba quốc gia Baltic.

Ngay sau khi Liên bang Nga cho "sáp nhập" bán đảo Crimea, ba nước Baltic đã lập tức đề nghị khối NATO huy động thêm các lực lượng quân sự vì sự lo ngại, Matxcơva sau khi gây hấn ở vùng Đông - Ukraina, sẽ chuyển sang Baltic. Bởi lẽ, trên cương vị thành viên NATO và EU, ba nước này chỉ có lực lượng quân sự tối thiểu, và Nga vẫn cho rằng việc họ gia nhập NATO năm 2004 là sự phản bội những cam kết khi kết thúc Chiến tranh lạnh.

Hiểm nguy đối với các nước Baltic là rất thực tế, đó là ý kiến của nhiều bình luận viên chính trị và báo giới. Những cuộc tập trận và di chuyển quân diễn ra thường xuyên ở vùng biển Baltic và TP. Kaliningrad có thể coi là sự đe dọa trực tiếp và thường nhật, và đặc biệt đe dọa Litva, khiến nước này đã phải tái lập chế độ quiân dịch đã được xóa bỏ năm 2008, tức bốn năm sau khi Litva gia nhập khối NATO.

Theo đó, đàn ông ở độ tuổi 19-26 từ mùa thu năm nay sẽ phải nhập ngũ trong thời gian chín tháng, và một kế hoạch đã được đặt ra để có 16 ngàn quân nhân dự bị trong vòng năm năm. Mục tiêu được đặt ra là các nước Baltic phải có khả năng cầm cự ít nhất là ba ngày, trong trường hợp bị Nga tấn công. Litva còn nhanh chóng cho ra một cuốn "cẩm nang chiến tranh" và đặt ở mọi thư viện công để mọi người có thể tham khảo.

Đối với Estonia, cuộc khủng hoảng Ukraine cũng là đề tài rất quan trọng trong cuộc bầu cử đầu tháng 3 vừa rồi. Trong chiến dịch tranh cử, Thủ tướng Taavi Roivas thường xuyên xuất hiện trước dàn máy bay, chiến xa NATO, và một đảng nhỏ còn làm một bộ phim ngắn với mục đích tranh cử, trong đó có hình ảnh Nga sẽ tấn công Estonia vào năm 2016 theo kịch bản đã diễn ra một năm nay ở bán đảo Crimée và vùng Donetsk.

"Lịch sử đã dậy chúng ta là nếu không tự bảo vệ được mình thì sẽ không ai giúp cả", đó là tuyên bố của Tổng tham mưu trưởng Quân đội Estonia, ông Riho Terras. "Những gì xảy ra ở Ukraine cho thấy một cách rõ ràng rằng chúng ta cần phải duy trì những biện pháp an ninh phòng vệ manh mẽ hơn". Hôm 24-1 vừa qua, trong lễ Độc lập, Estonia đã biểu dương lực lực ngay tại gần biên giới Nga với sự tham gia của chiến xa Mỹ và binh lính Anh, và đây là điều hiếm khi xảy ra.

Latvia, quốc gia thứ ba trong vùng Baltic thì tìm cách củng cố đường biên giới chung với Nga và Belarusia - đây đồng thời cũng là biên giới phía ngoài của EU, và trong vòng bốn năm tới, một hàng rào biên giới 16 mét cùng hệ thống an ninh hiện đại sẽ được dựng lên ở đây, để ứng phó với hậu quả của khủng hoảng Ukraine, và làn sóng người vượt biên trái phép ngày một tăng. Bộ trưởng Quốc phòng Latvia Raimond Vejonis cho rằng, khả năng một cuộc chiến trực diện là rất nhỏ.

TTV Hoàng Linh - Budapest 21/03/2015 nghe

Tuy nhiên, theo ông, không thể lường được những hành động của Liên bang Nga, nhất là trong trường hợp của Latvia, một quốc gia luôn bị Matcơva cáo buộc là cắt giảm quyền lợi của người gốc Nga sinh sống tại đây. Thủ đô Riga, đô thị lớn nhất trong vùng, có vị thị trưởng gốc Nga, và chính đảng thân Nga thì năm ngoái nhận được nhiều phiếu bầu nhất trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 10 năm ngoái. Dễ hiểu là cộng đồng gốc Nga tại Baltic luôn là mối lo ngại tiềm ẩn với chính quyền sở tại.

Kịch bản Ukraina liệu có tái diễn với các nước vùng Baltic?

Mô hình can thiệp vào Ukraina được Matxcơva thể hiện một cách rất rõ ràng: kích động cư dân gốc Nga, tuyên truyền rằng họ bị chính quyền sở tại phân biệt đối xử, cắt bỏ quyền lợi, lợi dụng những phần tử có xu hướng ly khai để gây rối loạn và gây hấn. Một câu hỏi luôn được đặt ra từ một năm nay với vùng Baltic: ở những nơi mà tỉ lệ cư dân gốc Nga hoặc nói tiếng nga lên tới 33%, hoặc 25%, điện Kremlin có thể lặp lại kịch bản này?

Trước mắt, có thể thấy những cáo buộc từ phía Matxcơva đã được đưa ra, chẳng hạn trong trường hợp Estonia và Litva. Sau khi tuyên bố độc lập, hai nước này buộc những ai không sinh ra tại đây, hoặc không có cha mẹ, ông bà là người sống tại đây trong thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, thì phải biết tiếng địa phương mới được nhận quốc tịch. Bằng không, hiọ sẽ không được đi bầu cử và làm việc tại các cơ quan chính quyền.

Tại hai quốc gia nói trên, cho tới nay vẫn còn vài trăm ngàn người gốc Nga không chịu học tiếng để nhận quốc tịch, vì cho rằng điều đó là bất công đối với những người đã sống cả đời tại vùng Baltic. Tuy nhiên, trạng thái "vô quốc tịch" này khiến họ cho dù không được tham gia bầu cử Quốc hội, nhưng lại được sang Nga không cần thì thực, và Matxcơva vẫn coi họ là "đạo quân thứ năm" trong những toan tính chính trị và quân sự của mình.

Có điều, khác với cư dân gốc Nga ở miền Đông - Ukraina, những thăm dò dư luận và phỏng vấn với người địa phương cho thấy, người gốc Nga ở vùng Baltic hội nhập tốt hơn rất nhiều vào xã hội bản địa. Nhiều người dù nhận mình là người Nga, nhưng vẫn nhấn mạnh là "Nga Baltic", và không nhất thiết đồng tình với những hành động can thiệp của Matxcơva. Số người muốn trở lại Nga, và hưởng ứng điện Kremlin, chỉ là thiểu số.

Có lẽ nhận thức được rằng mình chưa có "thiên thời, địa lợi và nhân hòa" ở vùng Baltic, nên trước mắt Liên bang Nga mới thể hiện sức mạnh của mình qua chuỗi những cuộc tập trận liên tục, mà theo nhận định của giới chuyên môn thì tương quan lực lượng đôi bên rất rõ ràng: một cuộc chiến chớp nhoáng có thể khiến Moscow chiếm được cả ba nước Baltic trong vòng vài giờ, và lực lượng phản ứng nhanh của NATO cũng phải bó tay.

Tuy nhiên, việc vi phạm điều 5 của thỏa thuận giữa các nước trong khối NATO - tạo điều kiện và lý do để quân đội NATO lập tức can thiệp để tự vệ - có lẽ không phải là ý đồ hiện tại của Nga. Thay vào đó, Matxcơva đã cho khởi động chiến dịch truyền thông hết sức mạnh mẽ trên các kênh tiếng Nga tại vùng Baltic, gây kích động về chủng tộc, ngôn ngữ và vùng miền bằng những thông tin thất thiệt, với sự hỗ trợ của cả các ký giả địa phương.

Chiến thuật này của Nga không thể là cái cớ để Phương Tây can thiệp, và xét về dài hạn, vẫn là mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với ba nước vùng Baltic, theo nhận định của giới chuyên môn. Ngay cả khi, trong thời gian gần đây, lãnh đạo Châu Âu đã nhóm họp để bàn bạc về khế hoạch tăng cường sự độc lập của giới truyền thông trong những vùng ảnh hưởng của Nga, và chống lại những luận điệu tuyên truyền bóp méo thông tin của Matxcơva.

Một giải pháp khả dĩ có thể là đề xuất của Chủ tịch Hội đồng Châu Âu, ông Donald Tusk, theo đó chỉ có thể ngăn chặn được chính sách bành trướng hung hãn của Nga với các láng giềng, nếu EU và Hoa Kỳ có được lập trường đồng thuận về mọi mặt, điều hiện thời chưa được thể hiện trong mọi hành động...

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20150321-noi-so-nga-cua-cac-nuoc-baltic-da-co-tu-trong-lich-su/

__._,_.___
________________________________________
Posted by: ly vanxuan

Gió Xuân đã đổi chiều


Gió Xuân đã đổi chiều 


Bùi Tín
26.03.2015 
Hà Nội đang sôi động. Ngày 20/3 đã có hơn 300 người Hà Nội tự động xuống đường để bảo vệ cây xanh của thành phố, chống lại cuộc “tàn sát cây cổ thụ” được chính quyền chủ trương một cách kiên quyết, không hỏi ý kiến dân.

Sáng ngày 22/3 lại có thêm 400 người Hà Nội xuống đường để bảo vệ cây xanh. Một blogger của thủ đô đưa tin là đã có đến 500 người Hà Nội từng lúc xuống đường trong dịp này. Quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm, trước vườn Bách thảo, dọc đường Hùng Vương, trên đường Hoàng Hoa Thám… khu phố nào cũng có những cuộc xuống đường tự phát. Đông nhất là trước công viên Thống nhất, rồi quanh hồ Thuyền Quang.

Có những bức ảnh đáng được lưu giữ. Những cây cổ thụ vạm vỡ hồng hào nằm dài như rên xiết, những gốc cây cụt đầu như vừa bị hành hình oan uổng, bên cạnh hình một em nhỏ mang dòng chữ “Em là cây xanh”; một em bé khác chụp hình bên gốc cây xà cừ mang dòng chữ “Tôi khỏe mạnh, đừng giết tôi!”. 

Bà con kể lại ở Lò Đúc có 2 cô gái thủ đô khi thấy xe cưa gỗ đến đã trèo lên cây rất cao, công an gọi không xuống, được bà con ta cổ võ, thế là xe cưa gỗ cuối cùng phải chuồn. Có nơi các em tổ chức nhảy múa, ca hát, chơi đàn dưới bóng cây xanh mát với những biểu ngữ “Cây xanh là nguồn sống”, “Hãy chấm dứt cuộc tàn sát cây xanh!”, “Chặt cây là hủy hoại môi trường sống”.

Ca sỹ Ái Vân lên tiếng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo làm thơ khóc cây xanh bị tàn sát, nhà toán học Ngô Bảo Châu chia sẽ nỗi niễm phẫn uất…
Cuối cùng chính quyền phải lùi. Chiến dịch tàn sát cây xanh, dự định cắt cổ 6.700 cây vừa khởi đầu phải đình lại. Nhân dân thủ đô, công luận, cuộc đấu tranh chính đáng bảo về cây xanh thắng lợi. Dư luận được huy động để phát huy đà thắng. Đã có yêu cầu phải xử lý kỷ luật những người đã tàn sát cây xanh quý giá không qua cân nhắc và hỏi ý kiến nhân dân. Khẩu hiệu đảng CS đề ra “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để đâu?

Đây cũng là trường hợp rất hiếm người công dân thủ đô gửi thư chất vấn Chủ tịch thành phố được trà lời gần như lập tức bằng văn bản hẳn hoi. Xin nhớ trước đây hàng ngàn lá thư của cả các vị đảng viên công thần kỳ cựu họ còn không thèm trả lời nữa là. Phải chăng Xuân này, gió đã bắt đầu đổi chiều?

Đầu xuân đã có một cán bộ quân đội cấp cao, Thiếu tướng Lê Mã Lương, đăng đàn kể lại sự kiện một đại tướng từng nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng đã ra lệnh cho lực lượng hải quân ở tuyến đầu không được nổ súng cả khi bị tiến công, gây nên cái chết oan uổng của 64 quân nhân ở đảo Gạc Ma năm 1988. 

Ngay sau đó, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng xác nhận chuyện trên, còn công khai lên án Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên là Bộ trưởng Quốc phòng rồi Chủ tịch nước, hiện còn sống, là phạm tội “phản quốc”, cần phải được xem xét, kết luận và xét xử công minh. 

Cũng chưa bao giờ cái ghế có tay vịn hai đầu rồng mạ vàng chóe theo kiểu ngai vua của ông Nông Đức Mạnh cũng như trống đồng, tượng đồng của ông Lê Khả Phiêu, ngôi nhà ở vàng son của 2 ông nguyên Tổng bí thư CS được công luận bàn tán và phân tích sôi nổi, đặt ra nhiều câu hỏi về nguồn gốc các tài sản ấy, cũng như về tài năng, đức độ của các ông vua tập thể ấy.

Trong các cơ quan chính phủ, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nhắc đi nhắc lại chính kiến của mình là «làm gì có cái định hướng XHCN trong thực tiễn cuộc sống mà mất công đi tìm». Thứ trưỏng Nguyễn Chí Dũng cũng của Bộ Kế hoạch Đầu tư có chung nhận định: «Không biết xây dựng XHCN ra sao, như thế nào, bao giờ thì xong mà cứ nói lấy được». Rõ ràng là đã có những cán bộ CS then chốt công khai phủ định đường lối kinh tế của đảng CS, phủ định thẳng thừng Cương lĩnh cốt tử được coi là thiêng liêng của đảng.

Điều này cũng không có gì là lạ. Trước đó, ngay trong Quốc hội, đại biểu Sài Gòn Trần Trọng Nghĩa đã phát biểu chỉ rõ những yếu kém trong lãnh đạo kinh tế - tài chính, và công khai lên án thái độ phụ thuộc Bắc Kinh cực kỳ nguy hiểm, để hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường, con buôn Trung Quốc lũng đoạn khắp nơi, đôg đảo công nhân TQ cắm chốt trên các địa bàn chiến lược. 

Trước đây, chưa có một đại biểu nào nói rõ, gọn, với nhiều dẫn chứng như thế.

Về phần mình, khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội bàn về hoạt động làm luật năm nay, có ý kiến hoãn lại việc làm Luật về biểu tình và về Lập hội, một số đại biểu lập tức lên tiếng phản bác, cho rằng đó là 2 Luật cấp bách nhất trong cuộc sống, không thể trì hoãn mãi.
Đầu Xuân năm nay Hội Cựu tù nhân lương tâm mở Đại hội lần thứ nhất, nhân kỷ niệm 1 năm hoạt động, củng cố tổ chức, mở rộng lực lượng với một chương trình hoạt động mới thiết thực.

Để chuẩn bị cho Đại hội Liên minh Nghị viện Quốc tế (IPU) gồm 150 nước, với 2.000 đại biểu sẽ họp phiên thứ 132 tại Hà Nội từ ngày 28/3 này, các lực lượng Dân chủ và Nhân quyền nước ta đã chuẩn bị các văn kiện, báo cáo, tham luận để cho thế giới hiểu bản chất Quốc hội VN là của đảng CS, Hiến pháp VN là phản ánh Cương lĩnh của đảng CS VN. 

Đồng thời, để yêu cầu các văn kiện sẽ được thảo luận và thông qua phản ánh đúng tôn chỉ của Liên minh là phổ cập quyền con người theo đúng Hiến chương của Liên Hiệp Quốc, một văn kiện lịch sử chủ trương phổ cập Dân chủ, Tự do, Nhân quyền ra toàn thế giới, trong đó phải kể đến Việt Nam, một đất nước khao khát tự do và nhân quyền.

Những ngày đầu Xuân này, nhân dân Việt Nam đang thức tỉnh, đang hội nhập với thế giới văn minh, đang nhận ra sức mạnh tập thể chính nghĩa của mình.
http://www.voatiengviet.com/content/gio-xuan-da-doi-chieu/2694156.html


CA không cho dân "cựa quậy" chống việc triệt hạ cây xanh ở Hà Nội


Cựa quậy 
Tuấn Khanh

CA không cho dân "cựa quậy" chống việc
triệt hạ cây xanh ở Hà Nội

Trong những ngày cuộc “cách mạng cây xanh” bùng nổ, không ít người đã tâm tình trên facebook rằng rồi các vị quan chức sẽ nhận ra sai lầm, khi chúng ta nhắc nhở họ bằng cách hình thức ôn hòa như treo biểu ngữ, thắt nơ xanh, hoặc ca hát nơi những gốc cây đã bị chặt bỏ. 

Thế nhưng đối lại thiện chí ấy, là những hàng xe chống bạo động lừ lừ chuẩn bị tư thế. Những sinh viên hiền lành kêu gọi bảo vệ cây xanh bị công an, chính quyền Hà Nội bắt giữ, dọa nạt như một loại “phản động”. Những biểu ngữ đầy tính người dán ở các hàng cây bị dân phòng, công an ập đến, xé đi như một thái độ chính trị.

Trái ngược những cuộc diễu hành đầy tính ngớ ngẩn và rỗng tuếch mà Nhà nước vẫn hay tổ chức về Giờ trái đất, Tắt máy xe 20 giây ở các ngã tư để bảo vệ môi trường… công cuộc bảo vệ môi trường rất thực tế của người dân Hà Nội đã bị coi là một loại cựa quậy nguy hiểm.

Như những con cá vàng vẫn cựa quậy trong chiếc bình thủy tinh, đôi khi chúng ta cũng hay như vậy đó: cụng đầu vào phần phong bế trong suốt đó với niềm tin mãnh liệt rằng rồi một ngày, sự bao vây tù hãm sẽ thay đổi.

Chúng ta cựa quậy, có vẻ như đáng thương, trong một môi trường xã hội thật bất an. Tất cả những người trong phong trào đòi chấm dứt tình trạng công dân chết vô cớ trong các đồn công an đều bị đủ loại công an chất vấn nghiêm ngặt. Ý thức công dân cơ bản bị bóp chết với chiếc mũ “phản động”, bất chấp con số thống kê cho biết 226 người chết trong ba năm, ở các đồn công an, nhà tạm giữ.

 Hầu hết lại được hồ sơ ghi chú đầy ngụy biện là do tự treo cổ. Thật hài hước khi đại biểu Quốc Hội Đỗ Mạnh Hùng hỏi rằng “Vậy thì treo cổ là tự treo hay bị người khác treo?”. Câu trả lời có như thế nào, thì việc lên tiếng của ông Đỗ Mạnh Hùng cũng chỉ là một kiểu cựa quậy. Làn kính trong suốt của hồ thủy tinh cho thấy mọi việc, nhưng có sự thật nào được tìm thấy đâu.

Chúng ta có nên tự mình gọi là những kẻ cựa quậy đáng thương không? Khi các quan chức vẫn mở miệng nói dối, nói bằng giọng của kẻ cai trị chứ không phải là một viên chức hành chánh nhà nước. Như Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Phan Đăng Long tuyên bố rằng việc chặt cây, không cần phải hỏi đến dân. Chỉ đến khi dư luận ồn ào, Long mới nói bằng giọng của người thích mị kẻ khác, rằng mọi người đã hiểu sai ý ông.

Không phải chỉ riêng chúng ta, mà lịch sử cả thế giới hôm qua, hôm nay vẫn phải đang cựa quậy trong lẽ phải, mệt mỏi cựa quậy để bảo vệ cuộc sống của chính mình mà trớ trêu thay, những kẻ nắm quyền lực thì đang âm thầm tàn phá nó, thậm chí đang trục lợi trên đó.

Tháng 12, năm 1956, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến gặp Chu Ân Lai, người giữ chức thủ tướng của Trung Cộng từ 1949 đến 1976, ông bị họ Chu thuyết phục rằng trên thế giới này, chủ nghĩa Cộng sản là bất diệt. Đức Đạt Lạt Ma, khi ấy còn rất trẻ, đã nói rằng mọi lý thuyết đều có tính hữu hạn và sẽ phải thay đổi theo thời gian, thì cái gì sẽ đảm bảo rằng chủ nghĩa Cộng sản sẽ mãi mãi chân lý? Bối rối trước câu hỏi này, họ Chu đã nói ngang rằng “nhưng riêng chủ nghĩa Cộng sản là ngoại lệ, là chân lý mãi mãi”. (The Dalai Lama, tác giả Lowell Thomas, Jr, xuất bản 1961).

 Thoạt tiên nghe thì lý thú, nhưng với không ít ý kiến bình luận, đó cũng chỉ là một lần cựa quậy trong lẽ phải của vị Phật sống. Nhiều năm sau, ông vẫn phải lưu vong, né tránh nhiều cuộc ám sát của Trung Cộng và vẫn phải làm tang lễ tượng trưng cho hơn 100 người dân Tây Tạng tự thiêu để phản đối sự tiêu diệt văn hóa Tây Tạng của chính quyền Trung Cộng. 

Thậm chí, nói một cách nào đó, những vụ tự thiêu đó mang đầy màu sắc tuyệt vọng của những người Tây Tạng trong một vòng vây của kẻ xâm lược.

Cựa quậy, nên hay không? Chắc chắn khác với loài cá vàng, con người cựa quậy trong lẽ phải và mãi mãi phải vận động trong thế giới của mình, không chấp nhận cam chịu. Quyền lực không giống như bình thủy tinh, quyền lực chỉ là ảo ảnh dễ vỡ nếu lẽ phải là một nguồn lực được vận động thực tế. B. Pascal (1623-1662) nói rằng con người đúng là rất yếu ớt, như một cây sậy trước tạo hóa vô biên, nhưng “đó là một cây sậy biết tư duy”. 

Một dân tộc biết tư duy, sẽ là một dân tộc có thể trường tồn với thời gian dù trãi qua thảm nạn hay bị xâm chiếm. Tư duy với lẽ phải, và không cúi đầu trước bạo lực bao vây mình, là một sự cựa quậy cao quý và cần thiết. Dù có bị coi là yếu đuối hay vô vọng, người Tây Tạng vẫn đang cựa quậy để đến hôm nay, Trung Cộng chưa bao giờ đồng hóa được họ cũng như luôn nhơ nhuốc với bộ mặt một kẻ xâm lược.

Hãy lắng nghe một ai đó vẫn hay nói quanh bạn ngôn ngữ “để làm gì” hay “chẳng được gì” trước một sự kiện xã hội mà lẽ phải hay quyền lợi của đám đông bị xâm phạm. 

Sống lâu trong sợ hãi và yên lặng, nhiều người đã trở thành một loại vật nuôi trang trí của một quốc gia. Khác những con cá vàng vô tri chấp nhận cuộc sống và cái chết trở thành trò tiêu khiển của kẻ khác, chúng ta là giống loài có suy nghĩ và hành động cho tương lai. 

Dù là cựa quậy, nhưng đó là một thái độ được phân biệt giữa con người và động vật. Cựa quậy trong hy vọng, và đừng quên trên hành tinh này, chỉ có con người là loài biết hy vọng.

nguồn: http://www.rfavietnam.com/node/2511



Thursday, March 26, 2015

NATO tại Ba Lan luyện tập kịch bản các nước vùng Baltic bị Nga xâm lược


 Tháng 11/2014 NATO tại Ba Lan luyện tập kịch bản các nước vùng Baltic bị Nga xâm lược .RFI/ Olivier Fourt

Tuần trước, Nga cho Hạm đội Baltic tập trận và tới thứ Hai tuần này, Tổng thống Nga Vladimir Putin đột ngột ra chỉ thị đặt Hạm đội Phương Bắc vào trạng thái trực chiến. Chiến dịch luyện tập kéo dài 5 ngày nói trên được sự tham dự của 38 ngàn quân nhân Nga. Không phải ngẫu nhiên mà hành động của Nga đã khiến người dân các nước vùng biển Baltic hoảng sợ trước hiểm họa lại bị Nga đưa trở lại "vùng ảnh hưởng" của nước này như thời Xô-viết.

Lý do và hệ lụy lịch sử
Những hệ lụy trong lịch sử là nguyên nhân chính gây nên tâm trạng lo âu của ba nước Baltic, khiến các quốc gia này rất lo lắng trước nguy cơ mất nền độc lập, đặc biệt là khi mối quan hệ giữa nước Nga và Phương Tây trở nên căng thẳng cùng cực như hiện tại. Chính vì vậy, tất cả các lực lượng chính trị đáng kể vùng Baltic đều là tín đồ của khối quân sự Bắc Đại tây Dương NATO và Liên hiệp Châu Âu EU.
Trở lại lịch sử, người Estonia và Litva cho đến thế kỷ 18 còn chưa có quốc gia riêng, mà luôn chịu ảnh hưởng của các đế chế Đức và Thụy Điển. Đầu thế kỷ 18, các vùng đất của người Estonia và Latvia vào tay Đế chế Nga, và đến cuối thế kỷ này, với sự chia cắt của Ba Lan, Đại công quốc Liva - vốn sở hữu một lãnh thổ khổng lồ, trải dài tới Biển Đen thời đó - cũng thuộc về sự quản lý của Matxcơva.

Chỉ sau khi Đế chế Nga sụp đổ trong Thế chiến thứ nhất và dưới ảnh hưởng cuộc chính biến tháng 10 của phe Bolshevik, người Estonia, Litva và Latvia mới trở thành những quốc gia độc lập. Tuy nhiên, những nền độc lập ấy chỉ tồn tại đến năm 1939, khi nước Đức quốc xã và Liên Xô ký hiệp ước bất tương xâm, kèm theo một điều khoản bí mật theo đó đôi bên chia nhau vùng Trung Âu và Baltic.

Cho đến năm 1940, cả ba nước Baltic đều được "sáp nhập" vào Liên Xô, tuy nhiên sau đó nó bị quân Đức chiếm đóng cho đến năm 1944 trong cuộc chiến giữa Đức và Liên bang Xô-viết. Đáng chú ý là người dân ở đây sợ Liên Xô hơn là sợ Đức, và họ đã có những đơn vị tình nguyện hợp tác với Đế chế thứ ba, chống lại Liên Xô với mục tiêu giành lại độc lập dân tộc và cho tới nay, họ vẫn được coi là những anh hùng.

Tuy nhiên, sau 1945, vùng Baltic lại thuộc vòng kiềm tỏa của Matxcơva, trở thành ba nước cộng hòa của Liên bang Xô-viết, cho tới khi Liên Xô sụp đổ. Ở cả ba quốc gia này, những cuộc dày ải đã diễn ra hàng loạt, nhiều gia đình bị bắt đưa đi hệ thống trại cải tạo Gulag tại Nga, và chỉ đến cuối thập niên 50, trong quá trình "phi Stalin hóa", họ mới dần dần được hồi hương. Dầu vậy, tỉ lệ người Nga tại đây vẫn tăng vọt.
Một phần do chính sách của Matxcơva nhằm đưa công dân Nga tới những nước cộng hòa khác, một phần do sự di cư tự nhiên, khi người Nga muốn chuyển tới vùng Baltic (được coi là có mức sống cao hơn hẳn các khu vực khác của Liên Xô), và nhiều quân nhân Nga sau khi rời quân ngũ cũng ở lại "đất lành chim đậu", nên cho tới nay, tỉ lệ người Nga ở Litva là 25%, ở Estonia chừng 33%, còn ở Latvia thì ít hơn, gần 6%.

Quan ngại vì bài học nhãn tiền Ukraina
Mối quan hệ giữa Matxcơva và các nước vùng Baltic vốn dĩ đã hàm chứa nhiều mâu thuẫn xuất phát từ lịch sử. Điện Kremlin không hài lòng khi vùng Baltic coi Hồng quân là những kẻ chiếm đóng, chứ không phải những người tới giải phóng miền đất này. Việc xóa bỏ hoặc di dời những tượng đài kỷ niệm Thế chiến, tượng đài chiến sĩ Xô-viết cũng từng là yếu tố gây mâu thuẫn lớn giữa Liên bang Nga và ba quốc gia Baltic.

Ngay sau khi Liên bang Nga cho "sáp nhập" bán đảo Crimea, ba nước Baltic đã lập tức đề nghị khối NATO huy động thêm các lực lượng quân sự vì sự lo ngại, Matxcơva sau khi gây hấn ở vùng Đông - Ukraina, sẽ chuyển sang Baltic. Bởi lẽ, trên cương vị thành viên NATO và EU, ba nước này chỉ có lực lượng quân sự tối thiểu, và Nga vẫn cho rằng việc họ gia nhập NATO năm 2004 là sự phản bội những cam kết khi kết thúc Chiến tranh lạnh.

Hiểm nguy đối với các nước Baltic là rất thực tế, đó là ý kiến của nhiều bình luận viên chính trị và báo giới. Những cuộc tập trận và di chuyển quân diễn ra thường xuyên ở vùng biển Baltic và TP. Kaliningrad có thể coi là sự đe dọa trực tiếp và thường nhật, và đặc biệt đe dọa Litva, khiến nước này đã phải tái lập chế độ quiân dịch đã được xóa bỏ năm 2008, tức bốn năm sau khi Litva gia nhập khối NATO.

Theo đó, đàn ông ở độ tuổi 19-26 từ mùa thu năm nay sẽ phải nhập ngũ trong thời gian chín tháng, và một kế hoạch đã được đặt ra để có 16 ngàn quân nhân dự bị trong vòng năm năm. Mục tiêu được đặt ra là các nước Baltic phải có khả năng cầm cự ít nhất là ba ngày, trong trường hợp bị Nga tấn công. Litva còn nhanh chóng cho ra một cuốn "cẩm nang chiến tranh" và đặt ở mọi thư viện công để mọi người có thể tham khảo.

Đối với Estonia, cuộc khủng hoảng Ukraine cũng là đề tài rất quan trọng trong cuộc bầu cử đầu tháng 3 vừa rồi. Trong chiến dịch tranh cử, Thủ tướng Taavi Roivas thường xuyên xuất hiện trước dàn máy bay, chiến xa NATO, và một đảng nhỏ còn làm một bộ phim ngắn với mục đích tranh cử, trong đó có hình ảnh Nga sẽ tấn công Estonia vào năm 2016 theo kịch bản đã diễn ra một năm nay ở bán đảo Crimée và vùng Donetsk.

"Lịch sử đã dậy chúng ta là nếu không tự bảo vệ được mình thì sẽ không ai giúp cả", đó là tuyên bố của Tổng tham mưu trưởng Quân đội Estonia, ông Riho Terras. "Những gì xảy ra ở Ukraine cho thấy một cách rõ ràng rằng chúng ta cần phải duy trì những biện pháp an ninh phòng vệ manh mẽ hơn". Hôm 24-1 vừa qua, trong lễ Độc lập, Estonia đã biểu dương lực lực ngay tại gần biên giới Nga với sự tham gia của chiến xa Mỹ và binh lính Anh, và đây là điều hiếm khi xảy ra.
Latvia, quốc gia thứ ba trong vùng Baltic thì tìm cách củng cố đường biên giới chung với Nga và Belarusia - đây đồng thời cũng là biên giới phía ngoài của EU, và trong vòng bốn năm tới, một hàng rào biên giới 16 mét cùng hệ thống an ninh hiện đại sẽ được dựng lên ở đây, để ứng phó với hậu quả của khủng hoảng Ukraine, và làn sóng người vượt biên trái phép ngày một tăng. Bộ trưởng Quốc phòng Latvia Raimond Vejonis cho rằng, khả năng một cuộc chiến trực diện là rất nhỏ.

TTV Hoàng Linh - Budapest 21/03/2015 nghe
Tuy nhiên, theo ông, không thể lường được những hành động của Liên bang Nga, nhất là trong trường hợp của Latvia, một quốc gia luôn bị Matcơva cáo buộc là cắt giảm quyền lợi của người gốc Nga sinh sống tại đây. Thủ đô Riga, đô thị lớn nhất trong vùng, có vị thị trưởng gốc Nga, và chính đảng thân Nga thì năm ngoái nhận được nhiều phiếu bầu nhất trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 10 năm ngoái. Dễ hiểu là cộng đồng gốc Nga tại Baltic luôn là mối lo ngại tiềm ẩn với chính quyền sở tại.

Kịch bản Ukraina liệu có tái diễn với các nước vùng Baltic?
Mô hình can thiệp vào Ukraina được Matxcơva thể hiện một cách rất rõ ràng: kích động cư dân gốc Nga, tuyên truyền rằng họ bị chính quyền sở tại phân biệt đối xử, cắt bỏ quyền lợi, lợi dụng những phần tử có xu hướng ly khai để gây rối loạn và gây hấn. Một câu hỏi luôn được đặt ra từ một năm nay với vùng Baltic: ở những nơi mà tỉ lệ cư dân gốc Nga hoặc nói tiếng nga lên tới 33%, hoặc 25%, điện Kremlin có thể lặp lại kịch bản này?

Trước mắt, có thể thấy những cáo buộc từ phía Matxcơva đã được đưa ra, chẳng hạn trong trường hợp Estonia và Litva. Sau khi tuyên bố độc lập, hai nước này buộc những ai không sinh ra tại đây, hoặc không có cha mẹ, ông bà là người sống tại đây trong thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, thì phải biết tiếng địa phương mới được nhận quốc tịch. Bằng không, hiọ sẽ không được đi bầu cử và làm việc tại các cơ quan chính quyền.

Tại hai quốc gia nói trên, cho tới nay vẫn còn vài trăm ngàn người gốc Nga không chịu học tiếng để nhận quốc tịch, vì cho rằng điều đó là bất công đối với những người đã sống cả đời tại vùng Baltic. Tuy nhiên, trạng thái "vô quốc tịch" này khiến họ cho dù không được tham gia bầu cử Quốc hội, nhưng lại được sang Nga không cần thì thực, và Matxcơva vẫn coi họ là "đạo quân thứ năm" trong những toan tính chính trị và quân sự của mình.

Có điều, khác với cư dân gốc Nga ở miền Đông - Ukraina, những thăm dò dư luận và phỏng vấn với người địa phương cho thấy, người gốc Nga ở vùng Baltic hội nhập tốt hơn rất nhiều vào xã hội bản địa. Nhiều người dù nhận mình là người Nga, nhưng vẫn nhấn mạnh là "Nga Baltic", và không nhất thiết đồng tình với những hành động can thiệp của Matxcơva. Số người muốn trở lại Nga, và hưởng ứng điện Kremlin, chỉ là thiểu số.

Có lẽ nhận thức được rằng mình chưa có "thiên thời, địa lợi và nhân hòa" ở vùng Baltic, nên trước mắt Liên bang Nga mới thể hiện sức mạnh của mình qua chuỗi những cuộc tập trận liên tục, mà theo nhận định của giới chuyên môn thì tương quan lực lượng đôi bên rất rõ ràng: một cuộc chiến chớp nhoáng có thể khiến Moscow chiếm được cả ba nước Baltic trong vòng vài giờ, và lực lượng phản ứng nhanh của NATO cũng phải bó tay.
Tuy nhiên, việc vi phạm điều 5 của thỏa thuận giữa các nước trong khối NATO - tạo điều kiện và lý do để quân đội NATO lập tức can thiệp để tự vệ - có lẽ không phải là ý đồ hiện tại của Nga. Thay vào đó, Matxcơva đã cho khởi động chiến dịch truyền thông hết sức mạnh mẽ trên các kênh tiếng Nga tại vùng Baltic, gây kích động về chủng tộc, ngôn ngữ và vùng miền bằng những thông tin thất thiệt, với sự hỗ trợ của cả các ký giả địa phương.

Chiến thuật này của Nga không thể là cái cớ để Phương Tây can thiệp, và xét về dài hạn, vẫn là mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với ba nước vùng Baltic, theo nhận định của giới chuyên môn. Ngay cả khi, trong thời gian gần đây, lãnh đạo Châu Âu đã nhóm họp để bàn bạc về khế hoạch tăng cường sự độc lập của giới truyền thông trong những vùng ảnh hưởng của Nga, và chống lại những luận điệu tuyên truyền bóp méo thông tin của Matxcơva.

Một giải pháp khả dĩ có thể là đề xuất của Chủ tịch Hội đồng Châu Âu, ông Donald Tusk, theo đó chỉ có thể ngăn chặn được chính sách bành trướng hung hãn của Nga với các láng giềng, nếu EU và Hoa Kỳ có được lập trường đồng thuận về mọi mặt, điều hiện thời chưa được thể hiện trong mọi hành động...
http://vi.rfi.fr/quoc-te/20150321-noi-so-nga-cua-cac-nuoc-baltic-da-co-tu-trong-lich-su/

__._,_.___
________________________________________
Posted by: ly vanxuan

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link